2022
Vua đời ta
- Chúa Nhật Lễ Chúa Kitô Vua
2 Sm 5:1-3; Tv 122:1-2,3-4,4-5; Cl 1:12-20; Lc 23:35-43
Vua đời ta
Lễ Đức Kitô Vua là một ngày lễ rất gần đây bởi vì lễ này đã cử hành lần đầu tiên năm 1925. Những canh tân phụng vụ thời nào cũng có. Thật vậy, việc cử hành thật sự vương quyền của Chúa Giêsu là ngày lễ Thăng Thiên: Nhưng, trong Chúa nhật cuối cùng này của năm phụng vụ, chúng ta chiêm niệm “Triều đại của Thiên Chúa” đến từ từ xuyên qua, lịch sử và đạt đến sự thực hiện viên mãn vào thời cách chung.
Để mừng lễ Đức Kitô Vua chúng ta, một cách rất nghịch lý, Giáo Hội đưa ra cho chúng ta cảnh tượng mà Chúa Giêsu khai mạc triều đại của Người: ngai vàng của Người là thập giá. Vương miện Người là một vòng gai làm đổ máu khuôn mặt Người… lễ phong vương của Người là một “danh hiệu” của việc kết án tử được đóng đinh bên trên đầu Người. “Đây là vua dân Do Thái! Hai chứng nhân, hai nam tước của Người, là hai tên gian phi bị kết án với Người.
Nghịch lý cao cả của Tin Mừng! Vua ư? Phải! Nhưng chắc chắn không như cách hiểu của những người hoặc muốn đứng về phe Người để hoan hô tôn phong Người hoặc là những đối thủ của Người để lên án Người. Vua “theo cách của Thiên Chúa”!
Nếu Đức Ki-tô là khởi nguyên công trình tạo dựng trong trật tự tự nhiên, thì Ngài cũng là khởi nguyên toàn bộ sự sống siêu nhiên. Ngài là đầu Giáo Hội, thân thể mầu nhiệm của Ngài. Ngài là “Trưởng Tử trên mọi loài thụ sinh” như thế nào, thì Ngài là người đầu tiên từ cõi chết sống lại như vậy, nghĩa là Ngài đã khai mạc sự sống vinh quang; Ngài là Chủ Tể đời sống mới này. Thánh Gioan sẽ nói trong sách Khải Huyền: Chúa Giêsu Ki-tô là “An-pha và Ô-mê-ga, là Đầu và Cuối, là Khởi Nguyên và Tận Cùng” (Kh 22, 13).
Chính Đức Giê-su Ki-tô là tác giả của ơn cứu độ:“Nhờ máu Người đổ ra khi chết trên thập giá,Thiên Chúa đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời” (1, 20).
Vua trần gian có thần dân để cai trị, có quan quân để sai khiến, có tiền của mỹ nữ để truy hoan.
Chúa Giêsu trái lại, Người không làm vua theo kiểu thường tình ấy. Người đã khẳng định: “Nước tôi không thuộc về thế gian này” (Ga 18, 36). Vì thế, cung cách của vị vua Giêsu hoàn toàn mới lạ. Tin Mừng hôm nay sẽ nói lên tính cách Vương Quyền ấy của Người.
Dưới hình thức nhạo báng của các thủ lãnh Do thái, của lính tráng, của bản án treo trên thập giá, đã nói!ên vương quyền của Chúa Giêsu: “Hắn đã cứu được người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Ki tô của Thiên Chúa, người được Thiên Chúa tuyển chọn” (Lc 23, 35). “Đấng Kitô” chính là người được xức dầu, là tước hiệu của vua. “Người Thiên Chúa tuyển chọn” chính là tước hiệu Thiên Sai, là Đấng Cứu Thế. Nhất là lời tuyên xưng của người trộm lành đã nói lên vương quyền của Người: “Khi nào về Nước của Người, xin nhớ đến tôi” (Lc 35, 42).
Tuy nhiên, nước của Chúa Giêsu không nhằm tư lợi cá nhân như các thủ lãnh khiêu khích, cũng không để ra oai quyền uy như bọn lính thách thức. Nước của Người là Nước Tình Yêu, vương quyền của Người là để phục vụ. Vì thế, Người đã không “xuống khỏi thập giá” cách ngoạn mục, nhưng đã “kéo mọi người” lên với Người (Ga 13, 32). Người đã không “cứu lấy chính mình”, nhưng đã “cứu lấy mọi người” khỏi chết muôn đời nhờ cái chết của Người.
Người đã sẵn lòng chịu chết giữa hai tên gian phi, như lời Kinh Thánh rằng: “Người đã hiến thân chịu chết và bị liệt vào hàng phạm nhân” (ls 53, 12). Người đã hoà mình trong đám người tội lỗi, đã chịu chung số phận của họ, Người đã sống và đã chết giữa đám tội nhân, như lời đồn đại về Người: “Bạn của người thu thuế và phường tội lỗi” (Mi 11, 19).
Vâng, vương quyền của Người không cai trị bằng sức mạnh biểu dương, nhưng chinh phục bằng “khối” tình yêu thương. Chính vì thế mà Người đã chiến thắng cơn cám dỗ cuối cùng, là lời thách thức xuống khỏi thập giá, để sẵn lòng chịu chết hầu cứu chuộc con người tội lỗi, chính là thần dân của Người,
Thần dân đầu tiên mà vị Vua có vương miện là mão gai, và ngai vàng là gỗ thánh giá đã chinh phục, chính là người trộm lành. Giữa lúc những kẻ trước đây tung hô vạn tuế nay lại nhạo báng Người, giữa lúc các môn đệ thề sống chết với Người nay lại bỏ trốn hết, thì chỉ có một mình anh, người trộm lành, lên tiếng bênh vực Người: Anh mắng người trộm dữ: “Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ! Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này có làm điều gì trái!” (Lc 35, 40-41). Anh tỏ lòng kính sợ Chúa và ăn năn sám hối, đó là thái độ của người sẵn sàng đón nhận ơn cứu độ.
Song đối với sự hài hòa của vũ trụ là sự hài hòa của các tâm hồn mà việc tha thứ tội lỗi mang lại: sự bình an trong tâm hồn này là thành quả hy tế của Đức Ki-tô.
Khi trích dẫn thánh thi ca ngợi tính ưu việt của Đức Ki-tô này, thánh Phao-lô đã thấy ở đây trước tiên một vũ khí chống lại những lời nói vớ vẩn của các triết gia Cô-lô-xê; nhưng đồng thời thánh nhân cũng đã gặp thấy ở đây diễn ngữ thần học, diễn tả sâu xa thần học của thánh nhân. Biến cố trên đường Đa-mát đã mặc khải cho thánh nhân tầm quan trọng hàng đầu của vai trò Đức Ki-tô. Con người Đức Ki-tô ngự trị trên quan điểm về ơn cứu độ, quan niệm về Giáo Hội, cũng như kinh nghiệm nội tâm của thánh nhân. Đức Ki-tô là tất cả trong mọi sự.
Hôm nay là Chúa nhật cuối cùng của năm phụng vụ. Giáo hội đặt lễ Chúa Kitô Vua vào Chúa Nhật cuối cùng này, cũng có ý nghĩa: đó là ước nguyện sao cho cuối cùng tất cả mọi người đều ở trong Nước Chúa, một nước chỉ có hoà thuận yêu thương, một nước thái bình hạnh phúc.
Phần mỗi người chúng ta, hãy cố gắng xứng đáng là một công dân Nước Chúa, nghĩa là biết sống đúng tính người, sống theo lương tâm, sống hoà thuận, yêu thương, làm việc lành theo lời dạy của Tin Mừng. Chúng ta cũng hãy cố gắng mở mang Nước Chúa bằng cách làm cho thêm nhiều người khác cũng biết sống hoà thuận yêu thương sống theo lương tâm và làm việc lành như vậy.
2022
Niềm tin đời sau
19.11 Thứ bảy Tuần XXXIII
Niềm tin đời sau
Con người sinh ra từ đâu? Sống ở trên đời này để làm gì? Chết rồi sẽ đi về đâu? Đó là những câu hỏi luôn làm bận tâm và bám chặt vào thân phận con người. Các nhà khoa học, những nhà y khoa và các triết thuyết tôn giáo cũng đã tìm hiểu và đưa ra nhiều những câu trả lời khác nhau về cuộc sống mai hậu của loài người. Và dù có đưa ra được những bằng chứng, những công trình nghiên cứu hay những giáo lý riêng của mình đi chăng nữa, thì đó vẫn chỉ là những quan điểm khác nhau. Con người vẫn còn khắc khoải, chờ mong một câu trả lời rõ ràng và xác đáng.
Niềm tin Ki-tô giáo khác hẳn những triết thuyết và các giải thích của những trường phái trên. Niềm tin ấy cho biết một cách cụ thể trong bài Tin mừng ngày hôm nay như thế này, sau khi nhóm Sa-đốc chất vất Chúa Giê-su về sự sống đời sau, họ đưa ra bằng chứng về người phụ nữ đã lấy bảy anh em trong một gia đình, vậy sau khi chết, ai sẽ là người chồng đích thực của bà. Câu trả lời của Chúa Giêsu là, hạnh phúc vĩnh cửu đời sau, trên thiên đàng không còn chuyện dựng vợ gả chồng.
Và Thiên Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống chứ không phải của kẻ chết. Thật thế, căn bản của niềm tin vào sự sống lại là chính Chúa Giê-su. Có nghĩa là người Ki-tô hữu chúng ta phải để niềm tin này nuôi dưỡng mọi công việc chúng ta làm, và phải biết sống làm sao ở đời này để xứng đáng thừa hưởng cuộc sống mai sau.
Hay nói cách khác, niềm tin vào sự sống lại nơi người Ki-tô hữu là một ân ban, là một quà tặng Thiên Chúa dành riêng cho chúng ta. Vì thế, ngay tại thế này, chúng ta có nhiệm vụ làm cho quà tặng ấy được sinh hoa kết trái ngay nơi tâm hồn mình. Bằng chứng là chúng ta phải chịu trách nhiệm về mọi tư tưởng, hành động của mình trong đời sống hàng ngày. Hay nói rõ hơn, mọi việc chúng ta làm phải luôn hành động theo luật Chúa dạy và luật tự nhiên.
Luật Chúa dạy là mến Chúa, yêu người. Đây là hai thực tại đan xen lẫn nhau, đòi người Ki-tô hữu cùng lúc thực hành song song để tạo ra hoa trái sinh động. Tôi không thể yêu Chúa nếu như tôi không tôn trọng sự sống, cũng như tôi không thể yêu người nếu như tôi không thực sự mến Chúa.
Câu chuyện chàng thanh niên giàu có trong Tin mừng là một ví dụ điển hình. Anh muốn đi theo Chúa, muốn được hưởng kiến niềm vui Nước Trời, thế nhưng khi được Chúa đề nghị bán hết của cải cho người nghèo, anh lại không dám. Anh chỉ muốn được ở bên Chúa. Anh không quan tâm đến người khác. Như vậy, ơn gọi của anh bị thiếu mất vế sau. Trong lịch sử Giáo hội, hẳn những con người thể hiện hoàn trọn hai vế ấy hẳn là các thánh nhân. Họ không những đã thực hành Lời Chúa dạy một cách hoàn trọn, họ còn yêu thương, giúp đỡ con người một cách đầy đủ. Họ đã giới thiệu Chúa cho mọi người và đưa mọi người về cùng Chúa. Trái tim của họ đầy tràn tình yêu Chúa và cũng nồng nàn hơi ấm tình người.
Đó là những người đã chu toàn đầy đủ mười điều răn Chúa dạy và họ xứng đáng được diện kiến tôn nhan Chúa, sự chết không làm gì được, họ sống một cuộc đời hạnh phúc bất diệt ngay tại thế này. Những mẫu gương ấy chính là nền tảng mẫu mực đưa chúng ta vươn tới niềm hy vọng. Niềm hy vọng được sống trường tồn vĩnh cửu với Chúa Ki-tô phục sinh.
Bên cạnh việc chu toàn 10 điều răn, người Ki-tô hữa còn được thúc đẩy tuân giữ những luật tự nhiên. Xét như những gì là thực tại gần gũi, chúng ta cần bảo vệ môi trường sống, không phá hủy rừng, sử dụng nguồn nước và không khí có trách nhiệm. Xét về mặt luân lý, chúng ta không được can thiệp vào sự sống, không được chọn những cách thức can dự vào sự sống như sử dụng cái chết êm dịu, hay trợ tử; tất cả những việc làm đó đều đi ngược lại luật tự nhiên mà Thiên Chúa đã ấn định. Thiên nhiên, sự sống là quyền của Thiên Chúa, con người được thụ hưởng và có nhiệm vụ cộng tác nhưng không có quyền định đoạt hay phá bỏ.
Tiếc thay con người ngày nay thường nhân danh một chủ thuyết hay một cơ chế nào đó mà họ táng tận lương tâm hủy hoại mạng sống của đồng loại một cách không thương tiếc như tàn phá môi trường sống một cách vô tội vạ, hay lạm dụng chính sức lao động của đồng loại mình để tìm kiếm, đào bới những tài nguyên dẫn tới cạn kiệt. Nơi suy nghĩ của họ, tiền bạc, quyền hành và lợi tức vượt trên tất cả, và hậu quả là những người dân vô tội phải lãnh nhận là mưa lũ, ngập lụt.
Với người Ki-tô hữu, sự sống đời sau được khởi sự từ đời sống này. Một đời sống lấy chính Chúa và đời sống tha nhân làm trung tâm điểm của đời sống mình. Một đời sống được gọi mời phụng thờ Chúa và tôn trọng những giá trị tự nhiên, vì mọi sự đều là của Chúa, thuộc về Chúa. Một khi tuân giữ và thực thi nền giáo lý như vậy, chắc chắn người Ki-tô đã được hưởng trọn niềm vui đời sống mai hậu ngay nơi đời sống thực tại này.
2022
Tôn kính Đền Thờ
18.11 Thứ Sáu Tuần XXXIII
Kh 11:4-12; Tv 144:1,2,9-10; Lc 20:27-40
Tôn kính Đền Thờ
Mỗi khi nhìn thấy hay nhắc tới nhà thờ, trong cảm thức, chúng ta luôn hiểu rằng: nhà thờ là biểu tượng của Giáo Hội. Nơi nhà thờ, chúng ta sẽ dễ dàng gặp Chúa và gặp nhau. Nhà thờ là điểm hội tụ mọi thành phần dân Chúa để tôn thờ Thiên Chúa và chia sẻ bác ái với nhau.
Tuy nhiên, dù nhà thờ vật chất có to lớn, tráng lệ thế nào đi chăng nữa, nếu nó không được xử dụng đúng mục đích là tôn thờ Thiên Chúa và xây dựng tình huynh đệ giữa con người với nhau… thì nhà thờ ấy vô nghĩa!
Hôm nay, Tin Mừng cho thấy, Chúa Giêsu đã nổi nóng và đánh đuổi con buôn ra khỏi đền thờ, vì họ đã xử dụng sai mục đích của nơi thờ phượng. Vì thế, Đức Giêsu đã nói: “Nhà Ta là nhà cầu nguyện, thế mà các ngươi lại biến thành sào huyệt của bọn trộm cắp”.
Khi đánh đuổi con buôn ra khỏi đền thờ, Đức Giêsu đã thánh hiến đền thờ và trả lại cho nó ý nghĩa nguyên tuyền là nơi để thờ phượng Thiên Chúa chứ không phải là chốn trục lợi, kinh doanh, trao đổi, buôn bán…
Trong Tin mừng Gio-an 4, 23 – 24, khi Chúa Giê-su nói với thiếu phụ Sa-ma-ri: “Đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem…Nhưng giờ đã đến – và chính là lúc này đây – giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong Thần Khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật.” Hay ta nói cách cụ thể hơn là: “Thờ Phượng trong tinh thần và chân lý.” Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta đồng tình với những kẻ đắc ý vì sự lười biếng khô đạo của mình. Họ chủ trương ‘Đạo tại tâm’ cần gì phải đi lễ, đi nhà thờ, hoặc đọc kinh gia đình sáng tối…, vì đó là sự phô trương bề ngoài, là đạo đức giả… miễn là trong tâm tôi tin có Chúa và thần phục tôn thờ Người là được rồi.
Thực sự đó chỉ là những luận điệu giả trá biện minh cho đời sống đức tin kém cỏi của họ. Đúng là có rất nhiều người (nếu không nói là đa số tín hữu, nhất là tín hữu Việt Nam) thích đi nhà thờ, tham gia phong trào nọ, đoàn thể kia, nhưng đời sống đức tin đích thực không có. Họ đi lễ, đọc kinh nhiều, nhưng đời sống lại không có bác ái, không thi hành đức thương yêu như Chúa dạy. Thái độ của họ giống như những người Biệt phái mà Chúa trách ‘đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài… mà nuốt hết tài sản của bà góa’ (Mt 23, 5 – 14); Họ cũng gian tham và có những kẻ lòng dạ độc ác lừa đảo, đánh lận con đen, hoặc trong gia đình còn xào xáo gây gương mù, gương xấu…. Cũng bởi vì thế mà có những người bố đỡ đầu cho tân tòng lừa con thiêng liêng của mình chiếm đoạt đất đai, khiến anh ta tuyên bố bỏ đạo; có những vị chức sắc làm việc lâu năm trong Ban hành giáo lăng nhăng vợ bé hoặc lạc vào những ‘hang động làng chơi’ để cho vợ con ngậm đắng, nước mắt ngắn dài; có những người vào nhà thờ kinh kệ lâu giờ, khóc lóc thảm thiết, nhưng vừa bước ra khỏi đã mắng chửi những ai làm mất lòng mình, nói hành, nói xấu, vu oan giá họa…. Những người ấy Chúa Giêsu đã nói: “Những kẻ tôn kính ta bằng môi bằng miệng còn lòng chúng lại xa ta” (Mt 15,8)
Từ hình ảnh cao quý của đền thờ vật chất, chúng ta khám phá ra ý nghĩa cao trọng của đền thờ tâm hồn. Mỗi người đều là đền thờ tâm hồn cho Thiên Chúa ngự. Đền thờ ấy, không được để cho tính tự kiêu, tự phụ, ích kỷ, bất nhân, dửng dưng, vô cảm ngự trị, vì chúng không thuộc về đặc tính của Thiên Chúa và không phải lựa chọn của chúng ta. Đền thờ tâm hồn chúng ta sẽ có giá trị và xứng đáng để được Chúa ngự vào khi chúng ta tin Chúa tuyệt đối, sống yêu thương, bác ái với người nghèo, cư xử thắm đượm tình huynh đệ với anh chị em… Nếu chúng ta đi ngược lại những điều trên, hẳn ta sẽ dễ rơi vào tình trạng tôn kính Thiên Chúa trên môi trên miệng, còn tâm hồn thì xa Thiên Chúa.
Thực sự Chúa Giê-su không dạy ta không cần đến nhà thờ, vì chính Người đã vào Đền Thờ để phụng sự Thiên Chúa (c. 45), nhưng Người muốn chúng ta thờ phượng Thiên Chúa bằng cả con người, cả cuộc sống chúng ta – phải trí lòng như một, lý thuyết đi đôi với hành động; phải xây dựng Đền thờ Thiên Chúa đích thực trong tâm hồn mình. Nơi đó, mỗi người có thể tôn thờ, phụng sự Thiên Chúa bằng việc ca tụng Chúa vì tình thương và những điều kỳ diệu Người làm trong cuộc sống; bằng việc lắng nghe và sẵn sàng thực thi ý muốn của Người, sống theo sự thật, thực thi công bình và bác ái. Xây dựng Đền thờ đích thực trong tâm hồn để chúng ta có thể bước vào Đền Thờ – Nhà của Thiên Chúa mà không ngại ngùng, hổ thẹn. Chúng ta có thể đến với Chúa như người con thảo đến với cha của mình để cùng với anh em, bên cha bồi đắp tình huynh đệ…
2022
Giải đáp thắc mắc cho người trẻ – Kính nhớ tổ tiên theo truyền thống dân tộc
GIẢI ĐÁP THẮC MẮC CHO NGƯỜI TRẺ CÔNG GIÁO
Bài 65: KÍNH NHỚ TỔ TIÊN THEO TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC
Rômualđô M. Bùi Văn Nghĩa, CRM
Hỏi: Việc chưng trái cây, hoa nến lên trước hình ảnh ông bà tổ tiên có trái luật Công giáo không ạ? Người Công giáo có nên tổ chức làm lễ giỗ cho ông bà tổ tiên không? Trường hợp làm dâu gia đình ngoại giáo, có được phép tham dự nghi lễ gia tiên của nhà chồng không?
Trả lời:
Những câu hỏi các bạn nêu ra ở trên nói chung xoay quanh vấn đề thờ cúng tổ tiên, là vấn đề đã được bàn thảo khá nhiều, và đã được Lm. Giuse Phạm Đình Ngọc S.J. giải đáp trong tập đầu của bộ sách này. Giờ đây chúng ta bàn thêm về vài chi tiết nhỏ: việc chưng trái cây, hoa nến, và việc cúng giỗ.
Đối với truyền thống văn hóa và tín ngưỡng dân gian Việt Nam thì đây là những việc làm hay lễ nghi tỏ lòng hiếu thảo. Những việc làm này đã in sâu vào trong lối sống và tâm hồn hầu hết người Việt Nam chúng ta. Trong chuyên luận Thực Trạng Văn Hóa Gia Đình Việt Nam, nhà nghiên cứu văn hóa Lê Minh đã đưa ra những số liệu khảo sát tại 5 tỉnh thành là Hà Nội, tp. Hồ Chí Minh, Hà Tây, Hòa Bình và Cần Thơ như sau:
– 100% các gia đình có bàn thờ tổ tiên.
– 96,75% bàn thờ được đặt ở vị trí tôn nghiêm nhất trong nhà.
– 95,85% các gia đình nhớ ngày giỗ của người thân.[1]
Những con số trên cho thấy người Việt Nam trân trọng và có ý thức duy trì tinh thần đạo Hiếu biết chừng nào! Vì thế, người Việt Nam nói chung khó có thể chấp nhận được một gia đình nào mà lại không có bàn thờ tổ tiên, không chưng đĩa quả và chăm lo hương khói trên bàn thờ. Đối với họ, đó là thái độ bất hiếu không thể hiểu được.
Trong quá khứ, vì nhiều lý do, quả thật đã có những hiểu lầm và đối kháng giữa việc thực hành đức tin Công giáo và lễ nghi thờ kính tổ tiên. Ngày nay, vì những hủ tục và mê tín của đại đa số người Việt Nam đã bớt đi nhiều, Giáo hội cũng đã có cái nhìn cởi mở hơn về văn hóa của các dân tộc và xác định rằng hoạt động loan báo Tin Mừng không nhằm tiêu diệt nhưng nhằm “thanh luyện và nâng cao phong hóa các dân tộc”[2]. Cho nên những nghi thức tôn kính tổ tiên nói chung được chấp nhận và trân trọng.
Xét vì tinh thần hiếu thảo phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa, qua điều răn thứ tư; và việc tưởng nhớ người đã khuất không khác xa so với tín điều các thánh thông công, các đức Giám mục Việt Nam đã ra nhiều văn bản hướng dẫn thực hành. Cụ thể, Quyết nghị của HĐGM/NVN tại Nha Trang năm 1974 đã nêu rõ những cử chỉ, thái độ, lễ nghi sau đây được thi hành và tham dự cách chủ động:
- Bàn thờ Gia Tiên được phép đặt dưới bàn thờ Chúa trong gia đình.
- Việc đốt nhang hương, đèn nến, và vái lạy trước bàn thờ tổ tiên được phép làm.
- Ngày giỗ được “cúng giỗ” theo phong tục địa phương… và giảm thiểu, cải cách những lễ vật như như dâng hoa trái, hương đèn. (Nghĩa là được dâng hoa trái hương đèn nhưng tránh đừng bày biện rườm rà.)
- Trong hôn lễ, dâu rể được làm “Lễ Tổ, Lễ Gia Tiên” trước bàn thờ.
- Trong tang lễ được vái lạy trước thi hài người quá cố, đốt hương vái theo phong tục địa phương.
- Được tham dự nghi lễ tôn kính vị thành hoàng quen gọi là phúc thần, là những người có công với dân tộc hoặc ân nhân của làng.
Trong 6 điều trên, văn bản luôn nhắc nhở phải loại bỏ những gì là mê tín dị đoan.
Mới đây, vào tháng 10 năm 2019, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã ra thêm Văn kiện “Hướng dẫn việc tôn kính Tổ tiên”. Văn kiện này nhắc lại các văn kiện trước và thay thế từ “được phép” bằng từ “khuyến khích”: “Chúng tôi khuyến khích mỗi gia đình Công giáo nên lập bàn thờ gia tiên… nhưng không bày biện những gì có tính cách mê tín”.
Như vậy là đã quá rõ, chúng ta thấy việc “làm lễ giỗ” và việc “chưng trái cây, hoa, nến” để biểu trưng lòng biết ơn không trái với đức tin Công giáo và chúng ta rất nên thực hành. Vấn đề chúng ta cần lưu ý là phải tránh “những gì có tính cách mê tín”, là những điều chúng tôi trình bày ngay sau đây.
Những điều không phù hợp với đức tin Công giáo
Qua các văn kiện hướng dẫn, chúng ta có thể liệt kê ra những điều không phù hợp với đức tin Công giáo như sau:
– Đặt hồn bạch hay linh vị trên bàn thờ: là những vật mà dân gian tin rằng hồn người chết hiện diện ở đó, việc này không phù hợp với đức tin Công giáo, vì người Công giáo tin rằng “Linh hồn người công chính ở trong tay Thiên Chúa” (Kn 3,1).
– Đặt tượng Thần Tài, Ông Địa trong nhà: là trái với điều răn thứ nhất “thờ phượng và kính mến một Thiên Chúa duy nhất”.
– Coi tuổi, coi “ngày lành tháng tốt”: đây là việc làm đi ngược với xác quyết “Đức Kitô… là chủ thời gian và muôn thế hệ”.
– Mở Cửa Mả: Dân gian quan niệm rằng sau khi chôn cất sau 3 ngày thì hồn phách người chết hội tụ lại, vì vậy cần làm lễ mở cửa mả để cho vong linh tỉnh hẳn để có thể lên dương thế và tìm đường về nhà (nơi đặt bàn thờ).
– Tin hồn người chết đi đầu thai kiếp khác: cũng là điều không phù hợp với đức tin Công giáo. Vì người ta chỉ sống một đời và chết một lần.
– Đốt vàng mã: đây là một tập tục vừa vô lý vừa hao tốn tiền của mà ngày nay, ngay cả người ngoài Công giáo cũng đang hô hào nhau loại bỏ, vì nhận biết đó là một việc làm vô minh.
Việc chưng đĩa trái cây / mâm quả
Nói đến việc chưng trái cây, thiết nghĩ chúng ta cũng nên tìm hiểu đôi chút về ý nghĩa và quan niệm dân gian về việc này, để nếu có thực hiện, chúng ta thực hiện cách tinh tế chứ không tùy tiện.
Tùy vào từng địa phương với các sản vật riêng mà việc chưng trái cây cũng có sự khác nhau.
Người Miền Bắc từ xa xưa thường bày mâm quả gồm 5 loại, nên được gọi là mâm ngũ quả. Việc này xuất phát từ quan niệm về ngũ hành trong triết học cổ phương Đông: thế giới được tạo nên từ 5 yếu tố vật chất đầu tiên là Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ, được thể hiện bằng năm màu sắc: Trắng, đen hoặc xanh dương, xanh lục, đỏ, vàng. Mâm ngũ quả vì thế cũng thường có 5 màu sắc, coi như một vũ trụ thu nhỏ, đồng thời cũng thể hiện sự đầy đủ, trọn vẹn.
Việc chưng đĩa quả của người miền Trung thường không quá câu nệ hình thức, do mảnh đất miền Trung khí hậu khắc nghiệt nên các loại trái cây không phong phú đa dạng như các vùng khác, nên họ có gì cúng nấy, thành tâm là chính.
Người miền Nam thì thường căn cứ vào tên gọi các loại quả để chọn lựa sao cho ghép thành một lời khấn nguyện. Chẳng hạn mâm quả gồm: mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, những thứ trái cây này ghép lại và được đọc chệch thành “cầu vừa đủ xài”. Thật thú vị là lời khấn nguyện khiêm tốn ấy có vẻ phù hợp với tinh thần của Kinh Lạy Cha trong Kitô giáo: “xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực đủ dùng”. Dĩ nhiên lời kinh trên chúng ta cầu nguyện với Thiên Chúa Cha, nhưng sẽ chẳng sai khi chúng ta xin ông bà tổ tiên chuyển cầu cho chúng ta, trong niềm tin vào mầu nhiệm Các thánh thông công.
Tuy nhiên, ngày nay những ước nguyện đơn thành này đang bị lòng tham làm biến dạng, người ta tìm những thứ trái cây khác để thay thế, chẳng hạn thay dừa bằng chùm sung để thành “cầu xài sung”, hoặc đưa lên bàn thờ một thứ trái cây lạ gọi là dư, có lẽ không phải là cái tên sơ khai của chúng, cũng không phải là thứ trái cây ăn được, vậy mà đưa lên bàn thờ để “cầu dư”. Việc chưng trái cây trở thành vụ lợi và bất kính. Ngoài ra người miền Nam cũng kiêng kỵ một số thứ trái cây mà tên gọi của chúng gợi sự liên tưởng đến điều xui rủi như chuối (chúi nhủi), lê (lê lết), cam (cam chịu). Việc chưng trái cây với những kiêng kỵ như thế này hẳn nhiên là nhuốm màu mê tín.
Việc tổ chức ngày giỗ
Ngày giỗ là ngày kỷ niệm người thân đã từ trần. Vào ngày đó, người ta làm cỗ bàn để dâng cúng tổ tiên, đồng thời tạo dịp cho con cháu tưởng nhớ người đã khuất và chia sẻ nỗi buồn thương với nhau.
Người Công giáo “được phép cúng giỗ theo phong tục”, nhưng tuyệt đối không tin linh hồn người quá cố về hưởng các thứ vật chất. Chúng ta tin linh hồn người đã chết hoặc được về thiên đàng với Chúa, hoặc đang phải thanh luyện trong luyện ngục, nếu vô phúc thì phải vào hỏa ngục đời đời, chứ không có chuyện linh hồn trở về trần thế để hưởng dùng của cúng hoặc “ăn uống” với thân nhân còn sống nữa.
Thực ra, việc bày biện thức ăn trong ngày tưởng nhớ không phải là vì nhu cầu của người chết nhưng là của người sống. Chính người sống muốn dùng những dấu hiệu cụ thể này để bày tỏ sự hiệp thông với người đã khuất,[3] đồng thời cũng là để con cái cháu chắt hưởng dùng trong ngày sum họp. Điều tốt nhất chúng ta có thể làm cho người đã khuất là cầu nguyện, làm việc lành để xin ơn giải thoát cho họ, nếu họ đang phải chịu thanh luyện nơi luyện ngục.
Ngay cả đối với anh chị em lương dân có hiểu biết thì bàn thờ tổ tiên luôn được giữ cho thanh tịnh. Lễ vật đặt trên đó chỉ có thể là hương, hoa, trà, quả… Những ngày giỗ Tết, con cháu muốn dâng cúng cỗ mặn phải đặt ở một chiếc bàn phía trước và dưới bàn thờ chính, rồi thắp hương hành lễ cung thỉnh bái vọng. Người Công giáo chúng ta càng không nên đặt đồ ăn trên bàn thờ người quá cố, bởi vì chúng ta không có ý dâng của ăn cho người đã khuất. Chúng ta chỉ nên đặt hoa quả lên bàn thờ, còn mâm cỗ thì cốt để anh chị em trong gia đình sum họp, đoàn tụ.
Trước bữa ăn giỗ, thân nhân và khách mời quây quần cầu nguyện. Để làm tốt việc này, các bạn hãy sắm cho gia đình quyển Kinh nguyện gia đình và Gia lễ Công giáo, do Ủy ban Mục vụ Gia đình của HĐGMVN phát hành để được hướng dẫn cặn kẽ về Lời cầu nguyện trong bữa giỗ, lời nguyện trên của ăn, những chỉ dẫn về việc niệm hương… Lưu ý không được dùng những mẫu văn khấn trong sách vở của người ngoài Công giáo vì lời văn trong đó có nhiều điều không hợp với đức tin Công giáo.
Người Công giáo chúng ta cũng không được mang tâm lý sợ sệt rằng nếu không cúng giỗ đàng hoàng thì sẽ bị tổ tiên quở trách, thậm chí nổi giận mà gây xui xẻo cho con cháu. Việc cúng giỗ của chúng ta chỉ mang ý nghĩa tỏ lòng thảo hiếu thuần túy mà thôi.
Đối với các bạn đang làm dâu, làm rể trong các gia đình lương dân
Trường hợp người Công giáo đang làm dâu làm rể trong gia đình ngoài Công giáo, các bạn thường cảm thấy khó xử trước những việc thờ cúng của gia đình bên ấy, băn khoăn giữa việc chu toàn bổn phận làm dâu, làm rể, và việc giữ đúng đức tin. Các bạn yên tâm, Văn kiện “Hướng dẫn việc tôn kính Tổ tiên” của HĐGMVN năm 2019, đã có chỉ dẫn cụ thể như sau:
“Để giữ tình thuận thảo với gia đình đôi bên, những người con dâu, con rể này và con cái của họ có thể sắm sửa lễ vật và dâng lễ vật trên bàn thờ gia tiên, vái hương trước di ảnh tổ tiên nhưng cần hiểu: trong lòng chỉ tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất, đồng thời cũng sẵn sàng bày tỏ lòng thảo hiếu biết ơn tổ tiên qua các nghi thức lễ gia tiên và xác nhận thảo hiếu với tổ tiên là bổn phận của Kitô hữu.”[4]
Ngay cả khi trên bàn thờ gia tiên có đặt tượng Đức Phật, Văn kiện trên cũng đã chỉ dẫn: chúng ta nhìn nhận Đức Phật như là một bậc thầy đáng kính, chứ không phải như một vị thần linh.
Bạn thân mến, giữa một thế giới đang chạy theo tiện nghi vật chất và hưởng thụ như ngày hôm nay, các giá trị văn hóa truyền thống đang bị mai một dần, người trẻ Công giáo Việt Nam chúng ta cần góp phần duy trì, hoàn chỉnh và nâng cao những nét đẹp văn hóa dân của tộc mình, đồng thời làm nổi bật lên những giá trị của Kitô giáo, giúp cho anh chị em lương dân nhận ra một chiều kích rộng lớn hơn của lòng thảo hiếu: không chỉ thảo hiếu ông bà tổ tiên, mà còn thảo hiếu với Cha trên trời, là Đấng sinh ra vạn vật.
Thiết nghĩ, những điều nhỏ nhặt trên đây, nhưng chính là những nhịp cầu nối kết giữa Đạo với đời, để nhờ đó người ngoài Công giáo không còn cảm thấy Công giáo là một đạo xa lạ, nhưng là đạo có những nét đẹp về sự thảo hiếu rất gần gũi và dễ thương. Từ đó mà dễ đón nhận Tin Mừng hơn.
(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 4, Nxb Tôn Giáo, 04/2021)
