2022
Tin Mừng Matthêô – Đào sâu kiến thức về chu kỳ phụng vụ năm A
TIN MỪNG MATTHÊÔ:
ĐÀO SÂU KIẾN THỨC VỀ CHU KỲ PHỤNG VỤ NĂM A
Tác giả: Ronald D. Witherup
Chuyển ngữ: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính
– Từ khi cải cách phụng vụ sau Công đồng Vatican II, cứ mỗi ba năm thì chu kỳ các bài đọc Chúa Nhật lại bắt đầu với Tin Mừng Matthêô. Đối với những người thường xuyên rao giảng Lời Chúa thì có lẽ đây là một thách thức. Có thể nói cái gì mới hơn không? Có thể hiểu hơn về những gì đã khá quen thuộc rồi không? Bài viết này đề nghị những con đường mới để theo đuổi suốt năm phụng vụ Thánh Matthêô.
Trước khi lên đường, nên lưu ý ngay từ đầu rằng quan trọng là hướng đi. Mỗi năm phụng vụ mới, dù khá quen thuộc, nhưng cũng cho ta một cơ hội mới để đào sâu kiến thức về những gì mà ta đã biết rồi. Thực tế, điều đó có nghĩa là chúng ta được mời gọi để một lần nữa cởi mở chính mình ra và ngạc nhiên về những điều mà ta cho rằng mình đã biết rõ.
Một cách để đào sâu về Thánh Matthêô là sử dụng những nguồn tài liệu mới như bạn đồng hành trong năm nay. Trong khi những cuốn chú giải lập lại những thông tin cơ bản, những cuốn sách mới cho ta những cái nhìn mà ta chưa từng nghĩ trước đó. Về Matthêô, tôi đề nghị ba nguồn mới: các chú giải của Brendan Byrne trong “The Paulist Biblical Commentary” (Paulist Press, 2018); David R. Bauer, “The Gospel of the Son of God: An Introduction to Matthew” (IVP Academic, 2019); và nhiều tính kỹ thuật hơn là cuốn R. Alan Culpepper, “Matthew: A Commentary” (Westminster John Knox, 2022). Không có gì sai khi đọc lại các nguồn hữu ích đã sử dụng trong quá khứ song việc tiếp cận những trình bày mới về Tin Mừng khiến cho việc tận dụng những nhãn quan học thuật mới trở nên xứng đáng với nỗ lực, giúp ta khám phá Matthêô sâu xa hơn.
Thay vì đưa ra một bản tóm những phần khác nhau của Tin Mừng Matthêô, tôi đưa ra vài con đường để suy tư sâu hơn về “Tin Mừng đầu tiên” này – gọi như thế vì đây là Tin Mừng được xếp đầu tiên trong Tân Ước – được gán cho Thánh Matthêô, người môn đệ hành nghề thu thuế của Đức Giêsu (cf. 9:9).
Bối cảnh và trình thuật
Lời khuyên đầu tiên xem ra có tính trần tục và quá hiển nhiên song thường bị bỏ qua. Vì Matthêô là Tin Mừng “xếp theo trật tự” nên nhiều nhà giảng thuyết thường tập chú vào những phần nổi bật. Đầu tiên trong số này là 5 “bài giảng” lớn, hay diễn từ, bắt đầu với Bài Giảng Trên Núi lừng danh (các chương 5-7; rồi 10, 13, 18 và 23-25). Từ thời cổ, năm giáo huấn này của Đức Giêsu đã thu hút các nhà chú giải như là những dấu cấu trúc. Nhưng tiếp cận này đã bỏ qua một đặc điểm quan trọng: Matthêô trước hết và trên hết là một trình thuật, không chỉ đơn giản là bộ sưu tập giáo huấn tâm linh và đạo đức.
Nhà giảng thuyết sẽ phải chú ý hơn đến bối cảnh của mỗi đoạn trích Tin Mừng được sử dụng suốt năm phụng vụ. Cái gì đi trước cái gì đi sau một đoạn Tin Mừng có thể giúp đóng khung nhiệm vụ của đoạn ấy trong Tin Mừng. Câu chuyện kéo dài từ bản gia phả (cf. 1:1-17) cho đến Đại Ủy Nhiệm (28:16-20), từ ông Abraham cho đến vương quốc cánh chung. Đây là lời loan báo về “Emmanuel” — Thiên Chúa ở cùng chúng ta — mà sự hiện diện được bảo đảm ngay sau khi Ngài trở về với Chúa Cha (1:23; 18:20; 28:20).
Khi trình thuật này được mở ra, nó mạc khải rằng Đức Giêsu là người Con trung thành và vâng phục của Thiên Chúa trong cả Lời (đặc biệt là 5 diễn từ) và hành động (vô số những phép lạ). Mọi điều trong Tin Mừng đều ở đấy để củng cố cho căn tính này, là hiện thực của những gì được các ngôn sứ loan báo. Chú ý đến lược đồ bao quát này có thể giúp cho nhà giảng thuyết thấy được những đoạn riêng lẽ nối kết hay nâng đỡ trình thuật. Nó đạt đỉnh trong cuộc khổ nạn và phục sinh của Đức Giêsu (các chương 26-28), trình bày ngài như là người con đích thực của Thiên Chúa vì đã tự nguyện chấp nhận ý Chúa Cha khi chịu đau khổ và chết đi để cứu dân Ngài. Câu chuyện Đấng Emmanuel Cứu Thế xảy ra trọn vẹn như thế (1:21; 26:28; 27:54).
Chiến thuật thứ hai để giảng Tin Mừng Matthêô là tìm kiếm các chủ đề xuất hiện thường xuyên trong diễn biến câu chuyện về Đức Giêsu. Không có Tin Mừng Nhất Lãm nào có tính khái quát. Mỗi Tin Mừng có những điểm nhấn riêng biệt, đem lại cho nhà giảng thuyết điểm thuận lợi duy nhất mà từ đó có thể hiểu nhãn quan của Tin Mừng Matthêô. Trong số nhiều chủ đề có thể, tôi chỉ ra bốn chủ đề.
Đặc tính người môn đệ
Matthêô không chỉ tập chú vào Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế và là Con Thiên Chúa. Ông cũng chen vào chủ đề người môn đệ. Đây là điều rõ ràng theo hai cách. Trước hết, Matthêô là Tin Mừng duy nhất sử dụng từ “Giáo Hội” (tiếng Hy Lạp là: ekklēsia), đầu tiên là khi nhìn nhận Phêrô là tông đồ thứ nhất (cf. 16:18) và rồi khi nói đến toàn thể cộng đoàn các môn đệ (18:17). Đức Giêsu nói rõ trong trọng tâm Bài Giảng Trên Núi khi dạy các môn đệ Kinh Lạy Cha (6:9-13) rằng Ngài đang thành lập một cộng đoàn mới dựa trên đức tin chứ không phải máu huyết (12:48-50).
Thật ra, có thể xem 5 diễn từ như giáo huấn đặc biệt về bản tính người môn đệ. Các môn đệ được mời gọi giống như con trẻ (chứ không phải là trẻ con), để theo chân Đức Giêsu bằng cách vác thập giá, phục vụ hơn là được phục vụ, và tham dự vào sứ vụ của Đức Giêsu như rao giảng, chữa lành và – sau khi Đức Giêsu về với Chúa Cha – là dạy dỗ (cf. 28:20).
Không giống như đặc tính các môn đệ trong Tin Mừng Marcô, trong Tin Mừng Matthêô họ dễ nhận thiên tính của Đức Giêsu hơn (cf. 14:33; 16:16), dù đôi khi “kém tin” (6:30; 14:31) hoặc sa vào những nghi ngờ, thậm chí vào giai đoạn cuối (28:17). Matthêô nhấn mạnh những đặc tính môn đệ nào đó. Một đặc tính đó là họ không phải là một tổ chức tự nguyện (8:18-22). Đức Giêsu đã phải kêu gọi các môn đệ và họ phải tự do đáp trả và đi theo (4:18-22). Hơn nữa, các môn đệ cần từ bỏ các mối quan hệ trần thế (10:37-39) và của cải vật chất để theo Đức Giêsu (10:8). Quan trọng hơn hết, họ phải sẵn sàng chịu đau khổ vì Tin Mừng (10:16-19).
Các môn đệ được mời gọi là “muối” và “ánh sáng” trong thế gian (cf. 5:13-14), và họ được sai đi để loan báo Tin Mừng về Đức Giêsu và kêu gọi mọi người sám hối. Rủi thay, cũng như trong Marcô, khi thời khó khăn đến, ngay cả các môn đệ khá mẫn cảm này cũng tránh xa Đức Giêsu trong lúc cần thiết (26:56). Làm môn đệ không hề dễ dàng.
Luân lý của Nước Trời
Một chiều kích mạnh trong Tin Mừng Matthêô là nhãn quan luân lý. Chìa khóa để mở nó là Bài Giảng Trên Núi. Hầu hết các nhà chú giải đều xem diễn từ này là tài liệu nền tảng của Kitô giáo. Nó xuất hiện không chỉ trong chú giải Tin Mừng thứ nhất này mà còn trong các bài đọc Mùa Chay, khi các Kitô hữu được mời gọi thống hối, sửa đổi và hoán cải. Thậm chí bối cảnh của bài giảng cũng quan trọng. Đức Giêsu giảng nó ở trên đỉnh núi – nơi hiện diện và mạc khải của Thiên Chúa, nhắc nhớ lại việc ông Môisê nhận lãnh lề luật – và thính giả gồm các môn đệ ở hàng đầu tiên vây quanh là “đám đông” (5:1).
Có nhiều đặc điểm nổi bật. Nó bắt đầu với Bát Phúc (thật ra là chín chứ không phải tám), nêu tiêu chuẩn cao cho tất cả môn đệ Đức Giêsu và ám chỉ sự đau khổ trong tương lai vì danh Đức Giêsu. Nó cũng bao gồm một loạt những chú giải lề luật tận căn – “các ông nghe nói rằng, nhưng ta nói rằng …” — điều này đòi hỏi các môn đệ phải theo một “sự công chính” cao hơn (5:20). Bài giảng kết thúc với ví von về hai ngôi nhà trái nghịch nhau, một xây trên cát và một xây trên đá. Chỉ có nền tảng vững chắc mới có thể giữ cho ngôi nhà đứng vững qua thời gian, tượng trưng cho nhu cầu người tín hữu phải đâm rễ sâu vững chãi trong các nguyên tắc luân lý. Ở giữa bài giảng là giáo huấn về cầu nguyện, nổi bật lên trong Kinh Lạy Cha, mời gọi ta làm theo ý Chúa chứ không phải ý mình.
Nếu bài giảng hiện thực cho luân lý theo Matthêô thì nó không chứa đựng tất cả luân lý ấy. Tin Mừng nầy được lấp đầy bằng các giáo huấn quan trọng khác, gồm cả nhu cầu tha thứ cho tha nhân, duy trì hôn nhân và tránh ly dị, đồng thời cũng cảnh báo việc Con Người đến để phán xử, thời gian mà chúng ta sẽ bị tính đến vì điều mình đã làm hay không làm theo sứ điệp Tin Mừng.
Chúng ta cũng sẽ không bỏ qua bản tính cụ thể của lời khuyên Matthêô. Nhược điểm chính, trong mắt tác giả Tin Mừng, là khi ta nói điều này nhưng làm điều khác. Thói giả hình là tối kỵ. Điều này không chỉ chống lại nhóm lãnh đạo Do Thái giáo, nhưng áp dụng cho tất cả các người có đầu óc tôn giáo nghĩ rằng mình có thể làm trọn lề luật của Chúa bằng mồm hơn bằng hành động. Matthêô cảnh báo rằng nói “Lạy Chúa, lạy Chúa” thôi thì chưa đủ để vào nước trời (cf. 7:21; 25:11-12). Hơn nữa, phải trung thực trong lời nói “Có thì nói có, không thì nói không” (5:37). Trong bối cảnh xã hội hiện đại, nơi việc dối trá đã thành đặc điểm tiêu chuẩn cho các ý thức hệ chính trị, và nơi mà việc đăng tin vô danh trên truyền thông đại chúng dẫn đến mọi điều gian dối, trong bối cảnh ấy thì việc phục hồi quan điểm đạo đức thật sự là điều sống còn. Matthêô đã chỉ ra cách.
Ngày phán xét đang đến
Một trong những bổn phận thách thức nhất khi giảng Tin Mừng Matthêô là làm sao tiếp cận được vấn đề phán xét. Chủ đề này nổi lên trong nhiều hình ảnh. Một hình ảnh là ẩn dụ cây sinh trái tốt hoặc trái xấu. Gioan làm phép rửa, tiền hô của Đức Giêsu như là Đấng Cứu Thế, cũng đã rao giảng rằng nếu cây không sinh trái tốt, nó sẽ bị chặt đi và ném vào lửa (cf. 3:10). Đức Giêsu cũng nói bóng gió về điều này (12:33; 13:23). Bài Giảng Trên Núi cũng âm vang giáo huấn này (7:16-20).
Những lời cảnh báo về ngày phán xét xuất hiện nhiều lần trong Tin Mừng và như tiếng kêu thức tỉnh để hành động đúng với đức tin. Chủ đề cũng đạt đỉnh trong câu chuyện phán xét cừu và dê (cf. 25:31-46), minh họa những hành động cụ thể của chúng ta đối với những người đang cần đến mình, hoặc tốt hoặc xấu khi chúng ta sống sứ điệp Tin Mừng. Thánh Matthêô sử dụng ngôn ngữ khải huyền đặc trưng của Do Thái giáo để hình dung mối đe dọa này (lửa không hề tắt, nghiến răng, khóc than), tất cả là những đặc điểm tiêu chuẩn trong ngày của Ngài.
Ơn cứu rỗi phổ quát
Hầu hết các học giả xem Matthêô có tính Do Thái nhất trong các Tin Mừng. Có nhiều điểm khẳng định điều này, chẳng hạn như những trích dẫn hiện thực điều được loan báo trong Cựu Ước (e.g., 1:22-23; 26:54; 27:9), nhấn mạnh đến “lề luật và các ngôn sứ” (7:12), và lối diễn tả “Nước Trời”, cách nói vòng vo để chỉ triều đại của Thiên Chúa. Matthêô tán dương sứ mệnh cứu rỗi của Đức Giêsu như sứ mệnh được hiến dâng cho toàn thể nhân loại. Matthêô có một nhãn quan phổ quát.
Chủ đề này được gợi lên cách kín kẻ trong tước hiệu của Đức Giêsu là “con cháu Abraham” (1:1), nhân vật mà Thiên Chúa đã hứa cho làm “cha của nhiều dân tộc” (Stk 17:4) và là người đứng đầu gia phả của chính Đức Giêsu (cf. Mt 1:2). Nó được tiếp nối trong các câu chuyện giống như việc chữa lành người tôi tớ của viên bách quan (8:5-13). Đức Giêsu ngạc nhiên khi thấy một viên bách quan Rôma, một người không phải người Do Thái, đến xin Ngài chữa lành cho người đầy tớ của mình. Trước khi đáp ứng lời cầu xin, Đức Giêsu đã khen ngợi lòng tin của ông khi nói: “Tôi bảo thật các ông: tôi không thấy một người Israel nào có lòng tin như thế” (8:10). Ngài tiên báo rằng Nước Trời sẽ không chỉ có dân Israel mà tất cả những người sẽ đến từ phương Đông phương Tây.
Đức Giêsu cũng cảnh báo các thính giả Do Thái của mình rằng họ không thể chỉ dựa vào di hệ từ Abraham để bảo đảm vào Nước Trời (cf. 3:9). Cần nhiều hơn thế nữa. Song đức tin đòi hỏi phải hoán cải và tuân theo những tiêu chuẩn đạo đức cao hơn nữa của Nước Trời.
Người nữ đối trọng với viên bách quan là người đàn bà Canaan đến từ miền Tyrô và Sidon (cf. 15:21-28). Một lần nữa Đức Giêsu chạm trán với đức tin bên ngoài ranh giới Israel. Thoạt tiên, lời cầu xin chữa lành đứa con gái bị quỷ ám của bà đã bị Đức Giêsu từ chối, Ngài nhấn mạnh rằng mình chỉ được sai đến với “chiên lạc nhà Israel” (15:24). Nhưng chứng kiến lòng thành của bà đối với mình, Đức Giêsu khen ngợi lòng tin của bà và đứa con gái bà được chữa lành cách lạ lùng.
Đỉnh điểm của chủ đề này được tìm thấy trong lệnh truyền cuối cùng của Đức Giêsu phục sinh cho các môn đệ (trên một đỉnh núi!). Đức Giêsu bảo họ ra đi và “làm cho các dân tộc trở thành môn đệ” [tiếng Hy Lạp là: panta ta ethnē], rửa tội cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần” (28:19).
Chúng ta không nên bỏ qua việc đưa chủ đề này vào trong bối cảnh riêng của chúng ta. Nơi đâu mà người Công Giáo muốn thu hẹp đức tin và hạn chế chỉ trong số ít tín hữu thì Đức Giêsu của Matthêô nới rộng vòng vây để bao trùm lên hết những ai muốn vác lấy thập giá và đi theo Ngài.
Những sai lầm cần tránh
Giảng Tin Mừng Matthêô vừa thích thú vừa thách thức. Tuy nhiên, tôi nghĩ nên tránh vài sai lầm chung chung. Trước hết, đừng chỉ đọc Matthêô như một Tin Mừng giống như các tin mừng khác, thậm chí như các Tin Mừng Nhất Lãm. Hãy cố đi vào khuôn khổ hay vũ trụ của Matthêô và nhận ra cách ông cố truyền đạt cho cộng đoàn của mình những chân lý về Đức Giêsu mà ông nhận ra.
Thứ đến, hãy cố gắng tránh mọi chú giải có tính bài Do Thái. Chẳng hạn, câu khủng khiếp trong 27:25 không phải là lời nguyền rủa người Do Thái vì sự liên quan của vài lãnh đạo Đền Thờ trong cái chết của Ngài. Thật ra, đây là câu mai mỉa, đặt người Do Thái một lần nữa dưới sứ mệnh của Đức Giêsu là cứu rỗi dân Ngài.
Thứ ba, mặc cho cấu trúc của sách Bài Đọc, hãy cố giữ một bức tranh rộng lớn hơn của những đoạn trích riêng lẽ cho hợp với trình thuật tổng thể của Matthêô. Từ Chúa Nhật này sang Chúa Nhật khác, có thể đi theo một đường thẳng và phân định những chủ đề đan xen nhau, đây là điều đặc biệt của Tin Mừng này.
Thứ tư, hãy đọc bản văn trước hết, rồi xem các chú thích của cuốn Kinh Thánh, và sau khi suy tư, hãy tra một vài cuốn chú giải. Không gì thay thế được sự tiếp xúc trực tiếp với Lời Chúa.
Cuối cùng, hãy nhớ rằng mỗi bài giảng chỉ truyền đạt một phần nào sứ điệp Tin Mừng. Hãy lấy ra và chọn điều gì thích hợp nhất cho bối cảnh của riêng bạn cũng như hãy nhận thấy rằng mình cần phải để sang một bên vài ý tưởng tuyệt vời. Bạn có thể lấy lại chúng trong ba năm nữa!
Nguồn: gpquinhon.org
2022
Giải đáp thắc mắc cho người trẻ – Gia đình khác đạo
GIẢI ĐÁP THẮC MẮC CHO NGƯỜI TRẺ CÔNG GIÁO
Bài 69: GIA ĐÌNH KHÁC ĐẠO
Cao Gia An, S.J.
Hỏi: Con được sinh ra trong gia đình có Bố là người bên lương và Mẹ là người Công giáo. Bố con vẫn giữ những nghi thức cúng bái, đưa tang, ăn cơm cúng… Bà nội con thường đi gặp Thầy ở Chùa để xin giải hạn cho con. Con đã được rửa tội, và hiểu rõ những bối rối của Mẹ con. Vậy, chúng con có được tham gia những nghi thức mà Bố và Bà con tham gia không?
Trả lời:
Đây là một câu hỏi thường gặp, vì thật ra trường hợp của gia đình bạn không phải là trường hợp hoạ hiếm ngày nay. Sau hơn 400 năm Tin Mừng đến Đất Việt, người Công giáo ở thời điểm hiện tại vẫn chỉ là một thiểu số trong lòng dân tộc Việt Nam. Trước đây, Đạo Công giáo ở Việt Nam đã phải trải qua một thời gian dài sống khép và kín theo hướng tự vệ. Khi đó người Công giáo chỉ được phép lấy người Công giáo và không có nhiều gia đình sống theo hôn nhân khác đạo. Nhưng khi cuộc sống mở ra, nhất là khi Giáo hội Công giáo Việt Nam đã chọn “sống đức tin giữa lòng dân tộc”, nhiều khả thể khác được mở ra với các gia đình Công giáo. Hôn nhân khác đạo đã không còn là chuyện quá lạ lùng hay cấm kỵ.
Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là phủ nhận những khó khăn và thử thách trong đời sống đạo của hai mẹ con bạn. Mẹ của bạn đã theo tiếng gọi của con tim, đã can đảm chọn đi một con đường khó. Trên con đường ấy, nỗ lực gìn giữ đức tin và việc nuôi dưỡng bạn lớn lên theo truyền thống Công giáo là điều rất đáng trân trọng. Những bối rối và trăn trở của cả hai mẹ con bạn trong trong việc làm sao để sống đúng đức tin của mình cho chính đáng và phù hợp cũng là điều rất đáng trân trọng.
Để phần nào giãi gỡ những bối rối và trăn trở ấy, trước hết, chúng ta cần nhận ra những điều tích cực trong gia đình của bạn.
Nếu ngay từ đầu, bố mẹ của bạn và gia đình nội ngoại hai bên đã đồng thuận trong việc Đạo ai nấy giữ, đồng thời Giáo hội đã chuẩn nhận việc hôn nhân khác đạo, thì điều quan trọng nhất là việc thực hành đức tin riêng của mỗi bên cần phải được tôn trọng, đúng không? Bạn đã được cho rửa tội để làm người Công giáo, nghĩa là gia đình bên nội đã có một sự tôn trọng nhất định đối với mẹ bạn và tôn giáo của mẹ bạn rồi. Việc chấp thuận để cho bạn được rửa tội và được giáo dục theo đức tin Công giáo cũng cho thấy gia đình bên nội cũng đã giữ lời hứa so với cam kết ban đầu của mình. Nếu hai mẹ con bạn đã có đủ tự do để sống đức tin Công giáo của mình, bố của bạn cũng xứng đáng có được sự tự do ấy để sống đức tin của mình, phải không?
Vì thế, việc bố của bạn theo những nghi thức của Phật Giáo, hay của niềm tin tự nhiên theo truyền thống gia đình bên nội, là điều cần được tôn trọng. Việc thực hành những nghi thức cúng bái, đưa tang, ăn cơm cúng… cho thấy bố của bạn là một người có đời sống tâm linh, có tâm tình tôn giáo. Đây là phẩm chất rất quý của con người sống trong thời hiện đại. Cũng vậy, việc bà nội đi Chùa cầu siêu cho cháu của mình cũng là một điều chính đáng, phải không? Đó là cách bà thể hiện tình thương và sự chăm sóc cho cháu mình. Bạn nên nhận sự quan tâm và chăm sóc ấy, nên cám ơn bà nội của mình về điều ấy. Hơn nữa, cả gia đình bên nội của bạn theo Phật Giáo, chắc chắn những ngày giỗ chạp hay đám tiệc của nhà nội sẽ phải được tổ chức theo nghi thức tôn giáo của bên ấy. Đối với những nghi thức ấy, bạn nên có sự tôn trọng đúng mực.
Sự hiện diện của mẹ con bạn với cả đại gia đình trong những dịp họp mặt và lễ truyền thống như thế là cách sống sự hiệp thông và nuôi dưỡng tình thân gia đình. Đó là một phần của gia đình mà mẹ bạn đã chọn để sinh bạn ra và nuôi dưỡng bạn lớn lên. Vì vậy, hai mẹ con bạn không nên tự tách mình ra khỏi bầu khí gia đình chỉ vì lý do khác biệt về tôn giáo. Bởi lẽ, nếu nại vào lý do khác biệt tôn giáo để hai mẹ con bạn sống tách biệt và cô lập, thì hoá ra tôn giáo lại trở thành duyên cớ của sự phân biệt và chia rẽ trong cùng một gia đình hay sao?
Cần phân biệt rõ rằng việc vái hương hay cúi đầu tỏ lòng tôn kính trước Đức Phật không phải là việc tôn thờ ngẫu tượng. Cũng giống như việc người Công giáo thắp nhang và cúi đầu trước bàn thờ của ông bà tổ tiên: đó là cách thể hiện lòng hiếu thảo và tôn kính, chứ không phải là tôn thờ. Chúng ta chỉ tôn thờ một mình Thiên Chúa. Trong đức tin của chúng ta, Đức Phật là một Đấng đáng kính, đáng để chúng ta bày tỏ lòng kính ngưỡng mộ và tôn trọng.
Thêm nữa, có thể phân biệt rằng tham dự thì khác với tham gia. Bạn có thể tham dự vào những nghi lễ trong gia đình bên nội bằng sự hiện diện và sự tôn trọng, bằng mối dây hiệp thông gia đình. Nhưng sự tham dự ấy không có nghĩa là bạn tham gia vào việc thờ phượng của một tôn giáo khác. Bởi vì bạn mang một đức tin khác, một văn hoá khác, lòng của bạn hướng về một Đấng khác.
Chúng ta thờ phượng một Thiên Chúa duy nhất. Tuy nhiên, cần nhớ rằng việc thờ phượng một Thiên Chúa duy nhất không loại trừ và cấm chúng ta bày tỏ lòng tôn kính đối với những bậc đáng kính, dù là trong tôn giáo mình hay trong các tôn giáo bạn. Cần nhìn nhận rõ ràng rằng những người thuộc các tôn giáo khác không phải là đối thủ, càng không phải là kẻ thù nguy hiểm cho đức tin chúng ta. Chúng ta luôn có thể chung sống trong an bình và dành cho nhau sự tôn trọng sâu sắc với những người khác niềm tin với chúng ta. Đó là cách để chúng ta xây dựng một thế giới hoà bình. Thế giới ấy khởi đi từ chính gia đình của bạn.
Đây là lời khuyên quan trọng dành cho bạn: khi bạn và mẹ của bạn đã cùng chia sẻ với gia đình bên nội những sinh hoạt của họ, thì thỉnh thoảng cũng nên mời họ tham dự vào các sinh hoạt cầu nguyện của bên mình, phải không? Nếu bạn đã cùng tham dự những buổi cầu nguyện với gia đình nhà nội, bạn có từng thử cũng mời họ tham dự giờ cầu nguyện và giải thích cho họ về ý nghĩa của việc cầu nguyện trong đạo Công giáo không? Nếu bạn đã một vài lần đến Chùa cùng với bố và nội, bạn có từng thử mời họ một vài lần đến Nhà Thờ với mình không? Chẳng hạn: vào những dịp quan trọng như Giáng Sinh, Phục Sinh, các buổi diễn nguyện thánh ca, hay các hoạt động bác ái xã hội… Đã bao giờ bạn thử mời bố cùng tham dự vào giờ kinh tối, phút hồi tâm cuối ngày, hay một giờ trầm lắng cầu nguyện nào đó với mẹ con bạn không?
Mục đích của chúng ta ở đây không phải là việc “dụ khị” bố của bạn hay nhà bên nội của bạn vào đạo Công giáo. Mục đích chính ở đây, trước hết là giúp cho bố bạn và nhà bên nội có cơ hội để hiểu và có thiện cảm với Đạo của mẹ con bạn. Đừng trình bày với gia đình bên nội về Đạo của mình như là Đạo cho phép làm điều này, cấm làm điều kia… như thể Đạo chỉ là một bộ luật và một mớ nguyên tắc. Hãy giới thiệu cho họ về một Thiên Chúa là Cha bao dung và yêu thương, một Thiên Chúa không nhất thiết phải luôn luôn đòi hỏi và áp đặt, một Thiên Chúa dám đặt niềm tin của mình vào tự do của con người.
Biết cách sống tốt đức tin của mình trong gia đình, biết bám rễ từ tinh thần đại đồng Kitô giáo để xây dựng hạnh phúc gia đình, biết đâu bạn và mẹ của bạn có thể thuyết phục được bố và chia sẻ được với bố về niềm tin của mình thì sao! Chân lý luôn có cách tự tỏ lộ mình. Sau khi bạn đã làm hết mọi sự tốt đẹp trong khả năng của mình, phần còn lại Chúa sẽ lo.
(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 4, Nxb Tôn Giáo, 04/2021)
2022
ĐẤNG PHẢI ĐẾN
14.12 Thánh Gioan Thánh Giá, Lmts
Is 45:6-8,18,21-25; Tv 85:9-10,11-12,13-14; Lc 7:18-23
ĐẤNG PHẢI ĐẾN
Ông Gioan Tẩy Giả từng là chuyên viên quảng cáo, giới thiệu, dọn đường, rao giảng về Đấng Cứu Thế. Nhưng cuối cùng vì công lý ông phải vào tù. Ngồi trong tù nhưng “con người Gioan” vẫn không thể yên, ông vẫn như nghe ngóng từng bước chân và hành động của Thầy. Ngồi trong tù ông có thời giờ ngẫm nghĩ lại và so sánh lời giảng của mình với thực tế. Phải chăng thời kỳ ở tù lâu dài với đau khổ làm ông mệt mỏi chán chường, thất vọng về Thầy? Sao vẫn chưa thấy Đấng Cứu Thế vùng lên để giải thoát dân như ông từng rao giảng, bằng uy quyền như dân Do Thái vẫn quan niệm về Ngài?
Mở đầu bài tin Mừng là câu nói của Gioan Tiền Hô “ Thầy có thật là Đấng Phải Đến hay chúng tôi còn phải đợi ai khác?” (19). Dấu chấm hỏi trong đầu Gioan. Gioan xác định Đấng Phải Đến là Đấng Mêsia, Đấng muôn dân đặc biệt là người Do Thái đang trông chờ. “Thày có thật là Đấng ấy không?”: Có lẽ Gioan cũng thấm nhiễm tinh thần do thái khi cho rằng Đấng Mêsia sẽ xuất hiện trong vinh quang sáng lạn, trong uy quyền rực rỡ, vì thế ông không xác tín lắm, nên sai môn đệ của mình tới thẩm vấn Chúa Giêsu. Với câu 20 là dấu chấm hỏi của môn đệ Gioan được lập lại y như thầy của mình. Gioan và môn đệ ông khao khát mong chờ Đấng Cứu Thế. Họ xin Chúa 2 điều: thứ nhất, xin xác nhận Người có phải là Đấng Phải Đến mà họ đang trông đợi? Thứ 2: Nếu Người không phải là Đấng ấy, thì nói cho họ biết, họ phải đợi ai?
Đây là sự khao khát kiếm tìm chân lý. Ngay lúc đó, Chúa Giêsu đang chữa bệnh. Ngài chữa lành mọi thứ bệnh tật trong thể xác và trong tâm hồn. Ngài xua trừ ma quỷ, tháo gỡ xiềng xích trói buộc của Satan nơi con người và ban ơn cho nhiều người nhận ra ơn cứu độ đã đến (21) trong hình ảnh mở mắt người mù. Những việc làm của Chúa chứng minh và trả lời cho vấn nạn của Gioan và môn đệ ông đang thắc mắc. Khi thấy họ khao khát kiếm tìm chân lý, Người bèn trả lời họ như trả lời về danh phận của mình “ Các anh cứ về thuật lại cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: Người mù được thấy, kẻ què được đi, người mù được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại và kẻ nghèo được nghe Tin Mừng ” (22).
Đây là sứ mệnh của Đấng Mêsia – Đấng đến từ Thiên Chúa – Đấng vì yêu nhân loại và đã đến để cứu rỗi nhân loại. Đấng đã nhập thế, nhập thể. Người sống kiếp phàm nhân và nên giống con người về mọi phương diện ngoại trừ tội lỗi. Đấng đến cứu chữa những gì đã hư mất và quy tụ con cái Chúa tản mác khắp nơi về một mối – Đấng xoa dịu và chữa lành thương tích nơi thân xác và trong tâm hồn con người _ Đấng trả lại sự sống mà xưa kia Adam – Eva đã đánh mất trong vườn địa đàng – Đấng dẫn con người vào nguồn hạnh phúc của Thiên Chúa Ba Ngôi. Người không phải là Đấng Mêsia trong khía cạnh thẩm phán xét xử, đánh phạt. Người không là Đấng đến để trút cơn thịnh nộ của Thiên Chúa trên con người. Người đến không chỉ chữa lành nhưng còn tha tội.
Chính lúc hai ông đến hỏi thì Chúa Giêsu đang chữa nhiều người khỏi bệnh hoạn tật nguyền, khỏi quỉ ám và cho nhiều người mù được thấy. Người trả lời luôn và dặn các ông đem tin tức mắt thấy tai nghe này về cho Gioan để minh chứng: “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: người mù được thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết trỗi dậy, kẻ nghèo được nghe tin mừng” (Lc 7,22). Những việc Người làm này là dấu chứng tỏ một Đấng Cứu Thế mà ngôn sứ Isaia từng loan báo. Người muốn cho Gioan và môn đệ ông nhận ra dấu chỉ thực sự của Đấng Thiên sai với những việc làm cụ thể, mà chính các ông đã được mắt thấy tai nghe hôm nay. Ngài đã thi hành sứ vụ cứu con người khỏi tội lỗi, khỏi ách thống trị của Satan và gông cùm sự chết, để đưa con người đến cùng Thiên Chúa là Cha đầy tình yêu thương xót.
Gio-an Tẩy Giả được sai đến để làm Tiền Hô cho Đức Ki-tô. Ông đã nhận ra Ngài bên giòng sông Gio-đan, đã giới thiệu cho dân chúng rằng Ngài là “Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá bỏ tội trần gian” (Ga 1,29).
Thế nhưng, giờ đây Gioan đang ngồi tù, niềm tin của các môn đệ ông hẳn đang lung lay. Bởi thế, ông đã sai hai môn đệ đến hỏi Chúa Giê-su: “Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay chúng tôi còn phải đợi ai khác?” Một thắc mắc cần thiết nói lên tâm tư của Gio-an và niềm mong mỏi của các môn đệ ông và bao người đương thời, để hiểu rõ hơn, chắc chắn hơn về Đức Ki-tô và sứ mạng cứu thế của Ngài. Đáp lại, Chúa Giêsu không trả lời họ rằng có hay không. Chúa mời gọi họ trở về thuật lại việc Ngài chữa lành nhiều bệnh hoạn tật nguyền mà họ đã mắt thấy tai nghe, để chứng thực rằng đó là những hành vi cứu độ của Đấng Cứu Thế mà ngôn sứ I-sai-a đã tiên báo, nay đang được hiện thực nơi Ngài.
Trang Tin Mừng kết thúc bằng một mối phúc “Phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi” (23). Thật hạnh phúc cho ai chấp nhận Chúa Giêsu trong vai trò Đấng Mêsia với cách thức như Người là: cứu độ chứ không xét xử. Chính Chúa đến ban tặng ơn cứu độ, nhưng cách thức biểu lộ tình thương ấy đã gây vấp ngã cho những ai cứ giữ trong tư tưởng về Đấng Mêsia theo ý họ.
2022
Trở nên muối
13.12. Thánh Lucia, Đttđ
Xp 3:1-2,9-13; Tv 34:2-3,6-8,17-18,19,23; Mt 21:28-32
Trở nên muối
Thánh nữ Lucia quê tại Syracusas, Sicily thuộc nước Ý. Sinh vào khoảng thời gian năm 283, dưới thời hoàng đế Diocletien, một vị vua tàn bạo thù ghét người Kitô hữu. Tên của thánh nữ có nghĩa là sự sáng nhưng đời của Ngài vẫn bao trùm trong bóng tối. Ngài là một vị thánh được ưa chuông nên có nhiều câu chuyện ly kỳ được truyền tụng về cuộc đời của Thánh nữ.
Thánh nữ là con gái một gia đình giàu có, mồ côi cha lúc còn thơ ấu. Eutychia mẹ Lucia là một người mẹ phúc hậu và mộ đạo nuôi nấng dạy dỗ. Khi còn là một cô gái nhỏ thánh nữ đã thề nguyền giữ dồng trinh để tận hiến cuộc đời mình cho Chúa.Vì không muốn ai biết nên thánh nữ đã giữ kín cả với mẹ ý nguyện của mình.
Ðến tuổi cập kê, mẹ Lucia hứa hôn gả Lucia cho một thanh niên giàu có. Ðó là chuyện thường tình theo tập tục thời bây giờ giữa hai gia đình quen biết và không cần đến sự thỏa thuận của đôi bạn trẻ.
Lucia cho mẹ biết là ngài không muốn lấy chồng và tìm mọi cách để tránh mặt vị hôn phu. Mẹ ngài cùng người hôn phu tức giận nhưng ngài vẫn giữ bí mật lời thề nguyền và chỉ cầu xin Chúa gìn giữ ngài.
Mẹ ngài bị bệnh băng huyết trầm trọng nên tàn tạ ốm yếu, Lucia nhắc mẹ về câu chuyện người đàn bà bị băng huyết trong sách Tin Mừng chỉ nhờ sờ vào tua áo của Chúa mà được khỏi bệnh. Lucia khuyên mẹ hãy đến viếng mộ bà Thánh Agatha để cầu xin lành bệnh.
Khi ở mộ thánh Agatha thì mẹ bà được phép lạ lành bệnh. Thánh Agatha hiện ra với Lucia trong giấc mơ và báo cho Lucia biết là ngài sẽ được phúc tử vì đạo để làm sáng danh Chúa Kitô. Lucia liền kể cho mẹ nghe lời thề của ngài và cầu xin mẹ thay đổi ý kiến. Ðược phép lạ lành bệnh mẹ ngài đành chấp thuận chiều theo ý con gái. Sau biến cố này, Lucia từ chối lời cầu hôn và bán hết phần gia tài mà bà mẹ dành cho làm của hồi môn, rồi phân phát cho người nghèo khó.
Vị hôn phu lấy làm thất vọng và oán hận nên đi tố cáo với quan tổng trấn Lucia là một Kitô hữu. nên Lucia đã bị bắt và dẩn đến trước mặt quan Paschasius.
Vị quan này dùng lời đường mật cũng như mọi khổ hình để bắt Ngài phải dâng hương tế thần, nhưng thất bại. Ông truyền điệu Ngài tới nơi tội lỗi để hủy diệt đức trinh khiết của Thánh nữ, nhưng lạ thay Chúa đã khiến thân xác của Ngài trở nên nặng như núi đá đến nỗi không ai kéo đi được. Ông liền ra lệnh tẩm dầu vào người rồi đốt, nhưng một lần nữa Chúa đã gìn giữ thân xác Ngài toàn vẹn giữa đống lửa hồng.
Cuối cùng Thánh nữ Lucia đã được lãnh phúc tử đạo dưới lưỡi gươm của lý hình năm 304 dưới thời bắt đạo của Diaclêtianô. Trước khi chết, Ngài đã tiên đoán Giáo Hội sắp được bình an. Xác Ngài được chôn cất ngay tại quê hương.
Là người môn đệ của Chúa Giêsu, chúng ta được mời gọi trở nên muối ướp mặn cho đời và ánh sáng cho trần gian. Với thánh nữ Lucia, suốt cuộc đời ngài đã sống triệt để lời mời gọi của Tin Mừng. Thậm chí, ngài sẵn sàng chịu tử đạo để minh chứng cho đức tin. Chính nhờ cuộc tử nạn của Thánh nữ Lucia đã nuôi dưỡng sâu xa lòng đạo đức của các Kitô hữu qua nhiều thế kỷ.
Khi phác họa lại hình ảnh thánh nữ Lucia, người ta vẽ ngài đang bưng chiếc đĩa để cặp mắt của ngài hay cầm cặp mắt ngài trong các ngón tay. Tên Lucia bắt nguồn từ tiếng la tinh lux, có nghĩa là ánh sáng. Quả thật, cuộc đời của thánh nữ tựa như ánh sáng dẫn đường chúng ta đến với Thiên Chúa, Đấng là Mặt Trời Công Chính, là cội nguồn ánh sáng.
Qua dụ ngôn “Hai người con”, Đức Giê-su muốn gián tiếp cảnh cáo thái độ cứng lòng của các đầu mục dân Do Thái, và kêu gọi họ phải ăn năn sám hối nếu muốn được hưởng ơn cứu độ. Dụ ngôn trình bày về hai thái độ của hai đứa con trong một gia đình:
Cả hai người con đều được cha đề nghị với giọng thân tình là đi làm vườn nho cho ông. Phản ứng của họ hoàn toàn khác nhau. Người thứ nhất trả lời bằng một câu “Con không muốn” khô khan và bất lịch sự, không đưa ra một lý do nào. Nhưng rồi anh nghĩ lại, “hối hận”, và đi làm việc trong vườn nho. Người thứ hai đáp lại bằng một câu “Con đây, thưa ngài!” lịch thiệp và khả ái: một kiểu xưng hô hợp với một nô lệ hơn là với một người con; anh hứa vâng phục. Tuy nhiên, anh lại không đi đến vườn nho.
Người thứ nhất tượng trưng các người thu thuế tội lỗi, tuy lúc đầu đã phạm tội không làm theo thánh ý Thiên Chúa khi không tuân giữ Luật Mô-sê, nhưng đã tin Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai và hồi tâm sám hối tội lỗi, nên đủ điều kiện vào Nước Thiên Chúa của Người.
Người con thứ hai tượng trưng cho các thượng tế và đầu mục dân Do thái. Tuy bề ngoài họ rất có lòng đạo, thể hiện qua việc tuân giữ Luật Mô-sê trong từng chi tiết, nhưng lại cứng lòng không tin vào Gio-an Tẩy Giả và Chúa Giêsu do Thiên Chúa sai đến. Trái lại còn ra tay giết hại Chúa Giêsu trên cây thập giá. Nên cuối cùng họ sẽ bị loại ra ngòai Nước Thiên Chúa.
Chúng ta học nơi Chúa Giêsu bài học là không có nhận định kiểu thành kiến về giá trị tôn giáo của người ta dựa theo cách phân loại các hạng người tùy các dấn thân theo nguyên tắc hay các lý thuyết của họ. Chỉ lối sống thực tế mới cho thấy lòng dạ con người.
Dù đã nói “không”, hoặc đã sống xấu xa, chẳng một ai lại phải tuyệt vọng. Câu trả lời đầu tiên không phải là lời quyết định, nếu ta không ở lại trong lời ấy, nếu ta biết điều chỉnh nó và vượt thắng nó bằng lối cư xử đúng đắn tiếp sau. Và lối xử sự đúng đắn của những người trước đấy đã sống sai lạc hẳn là phải thúc đẩy những người vẫn tự nhận là tốt lành đi đến hoán cải, nhưng không khiến họ bắt chước hành động trước đây của mình.
Dù chúng ta hay người anh em có thế nào, tất cả đều là con của cùng một Cha, được Ngài thương trọn vẹn, tín nhiệm trọn vẹn, và giao công việc đồng đều: chăm sóc chính vườn nho của Ngài. Chúng ta có biết nhận ra vinh dự đó mà sống cho nghiêm túc đời sống và sứ mạng của mình, đồng thời giúp anh chị em cũng sống được như thế chăng?
