2023
Đức Maria trong âm nhạc
Đức Maria trong âm nhạc

Đức Maria trong âm nhạc
Tác giả bài viết: Giuse Võ Tá Hoàng chuyển ngữ
2023
Thông dịch viên Lời Chúa
Gm. Phêrô Nguyễn Văn Khảm
Than phiền bài giảng của các linh mục đã trở thành chuyện dài nhiều tập đến nỗi đi vào cả Tông huấn của Giáo hoàng: “Tôi đặc biệt chú ý đến bài giảng lễ và việc chuẩn bị bài giảng vì có quá nhiều lời ta thán về phận vụ quan trọng này, và chúng ta không thể không biết đến… Chúng ta biết rằng người giáo dân dành cho bài giảng tầm quan trọng đặc biệt, nhưng cả họ cũng như các thừa tác viên có chức thánh đều phải khổ sở vì các bài giảng: giáo dân khổ vì phải nghe, còn người giảng thì khổ vì phải giảng” (Evangelii Gaudium, 135). Trong câu trích dẫn trên, Đức Thánh Cha Phanxicô không chỉ nói đến nỗi khổ của giáo dân khi phải nghe giảng, mà còn nói đến nỗi khổ của các linh mục khi phải giảng! Mà đây lại là điều ít người để ý đến.
Trong thực tế, các linh mục có những khó khăn khi giảng Lời Chúa, những khó khăn mà các diễn giả khác không phải đối diện. Chẳng hạn cử tọa không thay đổi. Một giáo sư dạy một môn học, ông biên soạn một giảng trình và cử tọa của ông là các sinh viên, mỗi năm là một lớp sinh viên mới nên tuy giảng trình vẫn thế (có thay đổi chút đỉnh) mà người nghe vẫn thấy mới. Hoặc một diễn giả được mời thuyết trình trong hội nghị, ông biên soạn bài diễn văn công phu, và vẫn bài ấy, ông trình bày tại những hội nghị khác với cử tọa khác, bài thuyết trình của ông lúc nào cũng được người nghe coi là mới mẻ. Còn linh mục giảng Lời Chúa thì sao? Cũng một cử tọa ấy, ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác, và nếu linh mục ấy phục vụ tại giáo xứ từ 5 năm trở lên thì lấy đâu ra cái mới! Có khi vừa nghe mấy câu thì người ta đã xầm xì “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi”!
Chưa hết, cử tọa của một giáo sư trên giảng đường là các sinh viên cùng trình độ, cử tọa của một diễn giả về một đề tài là những người quan tâm đến đề tài đó, vì thế họ có thể trình bày cách thích hợp với cử tọa. Còn cử tọa của linh mục tại giáo xứ thì sao? Thưa, đủ mọi lứa tuổi, đủ mọi trình độ, làm sao để thích hợp với mọi người? Trong Triết Kinh viện có câu: “Bất cứ điều gì được đón nhận đều được đón nhận theo thể thức của người đón nhận”. Nếu lấy câu đó áp dụng cho việc giảng lễ của các linh mục, sẽ thấy rất phức tạp.
Nói thế không phải để than thở, cũng không phải để bênh nhau nhưng để có thể nói với nhau cách chân thành rằng dù có những khó khăn như thế, anh em linh mục phải luôn cố gắng chu toàn trách nhiệm cao quý đã lãnh nhận, và bài viết này mong được là sự chia sẻ thân tình trong bầu khí huynh đệ ấy.
Thông dịch viên
Để tìm một hình ảnh diễn tả việc giảng lễ của linh mục, tôi nhớ đến một linh mục đàn anh đã qua đời. Có lần ngài kể cho tôi nghe chuyện một người bạn cùng lớp ở chủng viện nhưng đã xuất tu, sau đó anh dồn sức học tiếng Anh để làm thông dịch viên cho người Mỹ. Vị linh mục đàn anh ấy nói với tôi: hắn học đến nỗi ho ra máu để làm thông dịch viên cho Mỹ, thế còn chúng ta học để làm thông dịch viên Lời Chúa thì sao! “Thông dịch viên Lời Chúa”, tôi nhớ mãi cụm từ ấy và muốn mượn hình ảnh này để suy nghĩ về nhiệm vụ giảng lễ của các linh mục.
Khi đất nước mở ra với các nước ngoài về hoạt động thương mại cũng như giao lưu văn hóa, thông dịch viên trở thành một ngành nghề cần thiết. Vậy, đâu là những phẩm chất cần thiết của một thông dịch viên giỏi?
Thông dịch viên giỏi là người phải thông thạo cả hai ngôn ngữ, ngoại ngữ và ngôn ngữ bản xứ. Giỏi ngôn ngữ bản xứ nhưng kém ngoại ngữ đương nhiên không thể thông dịch, nhưng giỏi ngoại ngữ mà yếu về ngôn ngữ bản xứ cũng không thể là thông dịch viên tốt. Do đó, sở hữu vốn từ vựng rộng lớn trong cả hai ngôn ngữ sẽ giúp thông dịch viên nhanh nhạy trong việc dùng từ chính xác và sinh động.
Cùng với sự thông thạo ngôn ngữ, thông dịch viên giỏi còn phải có kiến thức tổng quát và hiểu biết về văn hóa. Ngôn ngữ là phương tiện diễn tả tư tưởng, tâm tình, cảm xúc bên trong, và ngôn ngữ gắn liền với văn hóa. Vì thế nếu có sự hiểu biết rộng về lịch sử và văn hóa bản xứ cũng như nước ngoài, thông dịch viên có thể hiểu sâu về những điều người ta muốn diễn tả và truyền đạt cho người khác.
Ngoài ra, cũng như trong bất cứ lãnh vực nào khác, đạo đức nghề nghiệp là đòi hỏi tất yếu. Trong ngành thông dịch, đạo đức nghề nghiệp trước hết đòi hỏi sự trung thực, chuyển tải đúng những điều người khác muốn, không tự ý thêm bớt điều gì. Cùng với sự trung thực là bảo mật thông tin, tác phong lịch sự, nghiêm túc trong công việc.
Cuối cùng, thông dịch viên giỏi là người phải không ngừng trau dồi khả năng. Ngôn ngữ và kiến thức là biển cả mênh mông và không ngừng tiến triển, vì thế để là thông dịch viên giỏi, phải không ngừng trau dồi ngôn ngữ và sự hiểu biết, nhờ đó mới có thể đáp ứng nhu cầu cách thích đáng.
Thông dịch viên Lời Chúa
Lời của Chúa và lời của đời
Thông dịch viên là cầu nối cho cuộc đối thoại giữa hai người không cùng ngôn ngữ. Cũng thế, thông dịch viên Lời Chúa là cầu nối cho cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và dân của Người. Để phục vụ cuộc đối thoại ấy, linh mục phải hiểu biết Lời Chúa, cụ thể là các bài đọc trong Thánh Lễ. Thông thường các linh mục giảng lễ hay tự hỏi: “Tôi sẽ giảng điều gì để người nghe thấy hấp dẫn?” nhưng thực ra câu hỏi đầu tiên phải là: “Lời Chúa muốn nói gì với dân của Chúa?”, vì thế việc đầu tiên là phải đọc và tìm hiểu Lời Chúa qua các bài đọc. Đức Phanxicô trong Tông huấn Evangelii Gaudium (EG) cũng như Đức Bênêđictô XVI trong Verbum Domini (VD) đều nhấn mạnh đến phần việc quan trọng này và đưa ra những chỉ dẫn cụ thể (x. EG 150; VD 59):
– Phải đọc kỹ, chậm rãi, không vội vã, để ý đến những từ ngữ được lặp lại nhiều lần cũng như để ý cấu trúc của bản văn, mục đích là để tìm hiểu đâu là sứ điệp chính của trích đoạn mà ta đang đọc.
– Phải liên hệ bản văn ta đang đọc với giáo huấn của toàn bộ Kinh Thánh vì Chúa Thánh Thần không chỉ linh hứng một phần nhưng là toàn bộ Kinh Thánh.
– Đồng thời bản thân linh mục phải đọc bản văn Kinh Thánh như Lời Chúa nói với chính mình. Ai muốn rao giảng, phải sẵn sàng để cho Lời chạm đến và làm cho Lời hình thành cụ thể trong đời sống của mình, như thế mới có thể truyền đạt cho người khác điều mình chiêm ngắm; nếu không sẽ có nguy cơ chỉ là tiên tri giả. “Người giảng dạy Lời Thiên Chúa ở bên ngoài mà không nghe Lời ấy ở bên trong thì không thể mang lại hoa trái” (Augustino).
Tiếp đến, giảng không chỉ là giảng cái gì nhưng còn là giảng cho ai, vì thế cùng với việc hiểu biết Lời Chúa, linh mục còn cần phải hiểu biết cử tọa và đời sống của họ: “Người giảng phải có khả năng nối kết sứ điệp của bản văn Kinh Thánh với hoàn cảnh sống của con người, với một trải nghiệm đang kêu gào ánh sáng Lời Chúa. Đây không phải là chuyện tính toán cơ hội nhưng là đòi hỏi tôn giáo và mục vụ sâu xa” (EG 154). Chính điều này làm cho bài giảng lễ khác với bài chú giải Kinh Thánh, và cũng có thể nói là thách đố lớn nhất của việc giảng lễ, đòi hỏi linh mục phải vừa lắng nghe Lời Chúa vừa lắng nghe lời của đời, nhất là tâm tư của những người mình được sai đến công bố Lời Chúa cho họ. Chính vì thế, “Bài giảng là viên đá thử để đánh giá việc gần gũi của mục tử với giáo dân” (EG 135).
Soạn giảng
Thông dịch viên là một nghề và đòi hỏi phải có đạo đức nghề nghiệp, huống chi thông dịch viên Lời Chúa là một ơn gọi, thì linh mục giảng lễ lại càng phải có tinh thần trách nhiệm lớn hơn, trách nhiệm trước mặt Chúa và trách nhiệm với dân Chúa. Trách nhiệm ấy đòi hỏi linh mục phải chuẩn bị bài giảng lễ cho chu đáo hết sức có thể: “Mỗi tuần nên dành một thời gian cá nhân hay tập thể rất cần thiết cho trách nhiệm này, dù phải bớt thời giờ cho những công việc khác, kể cả những việc thật quan trọng” (EG 145). Nếu không chuẩn bị bài giảng cho tốt, linh mục giảng lễ sẽ làm mất thời giờ của cộng đoàn, tệ hơn nữa, còn làm cho cộng đoàn chán ngán Lời Chúa và đời sống đức tin sa sút.
Lý do thường được viện dẫn để biện minh cho việc thiếu chuẩn bị bài giảng là “không có giờ, quá nhiều việc phải lo”! Tuy nhiên nếu chúng ta chân thành nhìn lại đời sống của mình, có lẽ vấn đề không phải là không có giờ nhưng “đâu là ưu tiên hàng đầu của chúng ta?” Nếu ưu tiên hàng đầu là giảng Lời Chúa thì chúng ta sẽ có thể sắp xếp thời gian thích hợp cho công việc này.
Lý do khác cũng hay được viện dẫn là “các bài đọc đã quá quen, chẳng có gì mới nên không cần chuẩn bị”! Chúng ta quên rằng Lời Chúa luôn mới mẻ và cuộc sống con người cũng không ngừng thay đổi. Hãy thử đọc những bài giảng của Đức Bênêđictô XVI hoặc của Đức Phanxicô xem, cũng cùng một bài Tin Mừng ấy, các ngài giảng nhiều năm và lần nào cũng cung cấp cái nhìn mới về Lời Chúa. Vì thế viện dẫn lý do “đã quá quen” thực ra chỉ là để biện minh cho sự lười biếng của mình.
Một bài giảng tốt là bài giảng tác động trên con người toàn diện: soi sáng trí khôn, đánh động tâm hồn, thúc đẩy hành động. Vì vậy cần có thời giờ chuẩn bị kỹ lưỡng bằng việc cầu nguyện, suy nghĩ, đào sâu, tìm kiếm cách diễn tả. Nên tập trung vào một chủ đề hơn là trình bày quá nhiều ý tưởng rải rác, thiếu liên kết, khiến người nghe khó lĩnh hội. “Một ý tưởng, một tâm tình, một hình ảnh” là lời khuyên cụ thể của Đức Thánh Cha Phanxicô. Nếu được, nên viết ra vì khi viết, chúng ta có thể chọn những từ ngữ và cách diễn đạt thích hợp và giúp người nghe dễ đón nhận hơn.
Thuyết giảng
Biên dịch chỉ cần dịch cho đúng và hay, thông dịch còn đòi hỏi thêm là phải nói, phát âm chuẩn để người ta hiểu. Linh mục giảng lễ cũng thế, phải nói sao cho người ta nghe được, hiểu được, cảm được: “Một số người nghĩ rằng họ có thể trở thành những nhà giảng thuyết tốt vì họ biết phải nói cái gì, nhưng lại chểnh mảng về việc phải nói thế nào, cách cụ thể là khi trình bày bài giảng. Họ than phiền là người ta không chịu lắng nghe hoặc không đánh giá họ cao, nhưng có thể là họ đã không chú tâm đến cách trình bày sứ điệp” (EG 156). Vì thế, linh mục giảng lễ nên quan tâm đến một số điều về thuyết giảng:
– Giọng nói: phát âm chuẩn, không nói ngọng hoặc nói sai, không quá nhanh vì sẽ khó nghe, không quá chậm vì sẽ tạo cảm giác mệt mỏi, hơn nữa là giọng nói có khả năng diễn đạt cảm xúc và chạm đến tâm hồn người nghe.
– Ngôn ngữ thích hợp: không dung tục vì đây là lời rao giảng trong khung cảnh phụng vụ, cũng không quá chuyên môn, xa lạ với cử tọa. Ngôn ngữ giảng là ngôn ngữ đơn sơ, rõ ràng, tích cực: “Điều thường xảy ra là các vị giảng thuyết sử dụng những ngôn từ có tính học thuật nhưng không phải là ngôn từ thông dụng của người nghe. Đó là những thuật ngữ đặc thù của thần học và giáo lý, nhưng phần đông các tín hữu lại không hiểu… Để có thể giúp họ tiếp cận Lời Chúa, vị giảng thuyết phải lắng nghe, chia sẻ đời sống của họ và chú tâm đến họ nhiều hơn” (EG 158).
– Thời lượng: giảng lễ là giảng trong cử hành phụng vụ chứ không phải trong một giờ học hoặc hội thảo, vì thế bài giảng lễ không thể quá dài. Hơn nữa, bài giảng quá dài có thể làm mất đi sự hòa hợp giữa các phần phụng vụ cũng như nhịp điệu phụng vụ (x. EG 138). Không thể ấn định cách quá máy móc về thời lượng bài giảng lễ, tuy nhiên cách chung vì các linh mục làm việc tại các giáo xứ phải giảng thường xuyên mỗi Chúa nhật (chưa kể hằng ngày) nên có thể chọn khung thời gian cho một bài giảng lễ Chúa nhật là 7 – 10 phút.
– Tác phong: linh mục giảng lễ mang trên người phẩm phục phụng vụ, giảng trong bầu khí cử hành phụng vụ, sau bài giảng lễ là Phụng vụ Thánh Thể … tất cả những điều đó bày tỏ ý nghĩa đặc biệt của bài giảng lễ và vai trò đặc biệt của vị giảng lễ. Chính ý nghĩa và vai trò ấy đòi hỏi vị giảng lễ phải có tác phong thích hợp. Nói cách khác, linh mục giảng không chỉ bằng lời nói mà còn bằng ngôn ngữ không lời, và tác phong của ngài trong toàn bộ cử hành phụng vụ đóng vai trò quan trọng. Một bài giảng tốt cùng với việc cử hành sốt sắng và trang nghiêm chắc chắn sẽ mang lại ơn ích thiêng liêng cho cộng đoàn dân Chúa.
Vun trồng vốn liếng
Trong chương trình đào tạo ở các đại chủng viện, Giảng thuyết là môn học thường được xếp vào năm cuối của chương trình. Như thế, cách nào đó, việc giảng lễ của các linh mục vừa là kết quả vừa thể hiện ra bên ngoài tất cả những điều linh mục đã tiếp thu trong chương trình đào tạo. Nói như thế có nghĩa là bài giảng lễ của các linh mục được hình thành trên nền tảng đã có trước, tức là kiến thức Kinh Thánh và thần học, kinh nghiệm thiêng liêng và mục vụ, vốn sống và khả năng suy tư của mỗi người. Đây là lý do giải thích tại sao cũng dựa trên cùng các bài đọc nhưng các bài giảng lại được khai triển khác nhau.
Nền tảng ấy đã có nhưng không phải là một món hàng thủ đắc một lần là xong, nền tảng ấy cần phải tiếp tục được củng cố và phát triển trong suốt đời sống linh mục. Chính vì thế các linh mục được khuyến khích không ngừng học hỏi: “Những kiến thức của các thừa tác viên thánh cũng phải thánh vì phát xuất từ nguồn mạch thánh và quy hướng về cùng đích thánh. Vì thế kiến thức đó trước hết được kín múc từ việc đọc và suy gẫm Thánh Kinh, đồng thời cũng tăng thêm hiệu quả nhờ việc nghiên cứu những tài liệu của các Giáo phụ, các thánh Tiến sĩ và các chứng từ khác của Thánh Truyền. Ngoài ra, để trả lời thỏa đáng cho những vấn nạn của con người thời nay, các linh mục phải tìm hiểu thấu đáo những tài liệu của Huấn Quyền, nhất là của các Công đồng và các Giáo hoàng, cũng như phải tham khảo những tác giả thần học thời danh đã được Giáo Hội thừa nhận” (Presbyterorum Ordinis, 19).
Hơn thế nữa, chúng ta đang sống trong một thời đại mà tri thức nhân loại phát triển rất nhanh, vì thế linh mục lại càng cần tự trau dồi: “Trong thời đại ngày nay, văn hóa nhân loại và ngay cả các ngành học thánh đã có những bước tiến mới, vì thế các linh mục phải không ngừng trang bị thật đầy đủ kiến thức về Thiên Chúa và về con người, đó là cách tự chuẩn bị để có thể đối thoại cách thích hợp hơn với những người đương thời” (Presbyterorum Ordinis, 19). Đây là lý do các Giáo phận cố gắng tổ chức các khóa thường huấn hằng năm cho các linh mục. Tuy nhiên điều cần thiết không kém là mỗi linh mục phải tự đào tạo, dành thời giờ để đọc sách và học hỏi thêm.
* * *
Giảng lễ là tác vụ cao quý được trao ban cho các thừa tác viên có chức thánh: “Mỗi người đều có bổn phận và nhiệm vụ liên quan tới Lời Thiên Chúa: các tín hữu phải lắng nghe và suy niệm Lời; còn chỉ những ai đã nhận được nhiệm vụ giáo huấn do Bí tích Truyền chức thánh hoặc những ai đã được trao phó thi hành thừa tác vụ này, tức là các Giám mục, linh mục và các phó tế, thì mới trình bày Lời Chúa” (VD 59). Câu trích dẫn này cho thấy giảng lễ vừa là đặc ân dành riêng cho các linh mục và cũng là trách nhiệm nặng nề. Trách nhiệm ấy đòi hỏi linh mục phải gắn bó mật thiết với Lời Chúa: “Chúa muốn sử dụng chúng ta như những con người sống động, tự do và sáng tạo, hoàn toàn để cho Lời của Người thấm nhập chúng ta, trước khi chúng ta truyền đạt Lời này; sứ điệp của Chúa phải đi ngang qua vị giảng thuyết, không chỉ ngang qua lý lẽ của ngài nhưng chiếm hữu trọn vẹn cuộc sống của ngài” (EG 151).
Câu hỏi mỗi linh mục phải đặt ra cho mình không phải là “tôi giảng có hay không, có được người ta ca tụng không?” nhưng là “tôi đã cố gắng làm hết sức mình chưa?” Hãy làm hết sức như thể kết quả hoàn toàn là do mình, và phó thác nơi Chúa như thể mọi kết quả là từ nơi Chúa.
Nguồn: giaophanmytho.net (08.5.2023)
Đọc thêm bài trong mục “Câu chuyện đầu tuần” của Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm:
| 17 – Thông dịch viên Lời Chúa
16 – Thánh Giuse và nhiệm vụ rao giảng Lời Chúa 14 – Mầu nhiệm Phục Sinh và giá trị thân xác 13 – Giới trẻ và Chúa nhật Lễ Lá 12 – Những nấm mồ trên mạng xã hội |
2023
GIỜ CỦA CHÚA
21.5 Chúa Nhật thứ Bảy Mùa Phục Sinh
St 1:12-14; Tv 27:1,4,7-8; 1 Pr 4:13-16; Ga 17:1-11
GIỜ CỦA CHÚA
Bước vào Chúa nhật thứ VII Phục Sinh, Phụng vụ Giáo hội chuẩn bị tâm hồn chúng ta mừng Đại lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống. Trước khi về trời, Chúa Giêsu đã hứa với các môn đệ trong bữa tiệc ly là không bỏ chúng ta mồ côi, Người sẽ gửi Chúa Thánh Thần đến, để trong mọi sự con người tôn vinh Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô.
Các thánh Tông Đồ đã qui tụ bên Đức Maria để cầu nguyện, noi gương các ngài, chúng ta cũng hãy hăng hái chuẩn bị sẵn sàng, cầu nguyện và thực hành đức bác ái, đón Chúa Thánh Thần, Đấng từ Chúa Cha hiện xuống trên chúng ta, và thưa với Chúa: “Lạy Chúa, con kêu lên cùng Chúa, xin Ngài lắng nghe, alléluia ; hồn con thưa cùng Chúa: mắt con tìm kiếm thánh nhan Ngài, lạy Chúa, con tìm kiếm Chúa, xin đừng ẩn mặt, alléluia, alléluia”.
Trong Tin Mừng Gioan từ “Giờ” của Chúa được nhắc đến khá nhiều. Quả thật, mọi việc Chúa làm có thể đều liên quan đến chữ “Giờ” kia. Trong tiệc cưới tại Cana, khi bữa tiệc hết rượu Đức Mẹ đã nói với Chúa Giêsu để Ngài giúp đỡ họ, nhưng Ngài đáp lại: “Thưa bà, việc đó can gì đến bà và tôi? Giờ của tôi chưa đến” (Ga 2,17b). Và trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cũng nhắc đến “Giờ”. Nhưng hôm nay “giờ” mà Ngài nhắc đến đó là Ngài đã hoàn tất sứ mạng mà Chúa Cha đã trao phó, “giờ” Ngài được trở về và được Chúa Cha tôn vinh.
“Xin Cha tôn vinh Con Cha để con Cha tôn vinh Cha”. Đây là một sự trao đổi kỳ diệu giữa Chúa Con và Chúa Cha, sự trao đổi ấy luôn luôn sống động trong Ba Ngôi Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã vâng lời Chúa Cha xuống thế gian để cứu chuộc loài người và Chúa Cha đã ban tất cả loài người cho Chúa Giêsu: “Cha đã ban cho Người quyền trên mọi phàm nhân là để Người ban sự sống đời đời cho tất cả những ai Cha đã ban cho Người” (c. 2).
Nhưng để cứu chuộc sự sống đời đời cho con người, Chúa Giêsu đã phải chết ô nhục trên thập giá, và cũng chính trên thập giá Ngài đã được Chúa Cha tôn vinh vì Ngài đã vâng phục thánh ý Chúa Cha một cách triệt để. Cái chết của Ngài là một lời mời gọi yêu thương, là lời vâng phục trọn vẹn thánh ý Chúa Cha. Cái chết ấy không những mang lại sự sống đời đời cho con người mà còn trở thành cầu nối giữa Thiên Chúa và con người, cầu nối ấy đã bị rạn nứt khi con người bội nghĩa bất trung với Thiên Chúa, thì nay Chúa Giêsu đã đến và hàn lại chỗ rạn nứt đó. Có thể nói rằng Chúa Giêsu, Ngài đã làm tất cả những việc đó không phải để cho chính bản thân mình, cũng không phải để được người đời tôn vinh, nhưng Ngài làm những điều đó là để tôn vinh Thiên Chúa Cha, và Ngài muốn thi hành thánh ý Chúa Cha một cách trọn vẹn.
Nhìn vào thế giới hôm nay, con người đang đắm chìm trong những đau khổ của bệnh tật và đại dịch Covid-19 đã cướp đi biết bao sinh mệnh. Đại dịch này như là một thảm họa trên khắp thế giới, nhưng với lăng kính của đức tin thì chúng ta tin rằng Đức Kitô lại đến để xoa dịu những đau thương ấy. Mặc dù Ngài không hiện diện một cách hữu hình, nhưng Ngài hiện diện ngang qua những y bác sĩ, những nhân viên y tế và những người có trách nhiệm đang ngày đêm chiến đấu để đem lại sự sống cho những bệnh nhân. Xưa Chúa Giêsu vì tình yêu Ngài dành cho loài người và vì vâng lời Chúa Cha mà đến thế gian để cứu chuộc loài người, thì hôm nay, những y bác sĩ vì lương tâm nghề nghiệp, vì tình yêu dành cho những người bệnh mà họ đã hy sinh tất cả: gia đình, thời gian, ý riêng, hạnh phúc và ngay cả mạng sống của mình để giúp đỡ các bệnh nhân vượt qua những khó khăn. Những hình ảnh các y bác sĩ đang ngày đêm làm việc không ngừng chính là họ đang âm thầm làm sáng danh Chúa. Họ đã và đang sống lời mời gọi yêu thương của Chúa, như trong thư của thánh Phaolô nói: “Dù ăn, dù uống hay làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa” (1Cr 10,31).
Qua bài Tin Mừng hôm nay, mỗi chúng ta cũng được mời gọi hãy sống “giờ” của Chúa Giêsu, mà giờ ấy không chỉ trong một hai giờ hay trong một hai ngày, nhưng “giờ” đó đòi hỏi chúng ta phải sống liên lỉ mỗi ngày, có nghĩa là mỗi ngày chúng ta hãy vác thập giá của mình, vì thập giá ấy sẽ được tôn vinh bởi “qua thập giá đến vinh quang”. Con đường ấy chính Chúa Giêsu đã đi qua và Ngài cũng mời gọi chúng ta cũng hãy đi theo con đường ấy trong ơn gọi mà mình đang sống. Nhìn vào gương Chúa Giêsu, chúng ta cũng được mời gọi hãy làm vinh danh Chúa Cha bằng cách vâng phục và thực thi ý muốn của Thiên Chúa, nhất là chúng ta hãy dùng tình yêu thương mà làm cho mọi người xung quanh nhận ra sự hiện diện của Chúa Cha.
“Xin Cha tôn vinh con bên Cha” (c. 4-5a). Chúa Giêsu đã luôn ý thức sứ mạng mà Chúa Cha đã trao phó, Ngài đã trải qua bao đau khổ mới có thể chu toàn thánh ý Chúa Cha một cách trọn vẹn. Còn đau khổ nào hơn khi bị chính những người thân của mình phản bội. Các môn đệ mà Ngài vẫn luôn yêu thương chăm sóc ,mà nay người này phản bội, người kia chối bỏ khi Thầy gặp khó khăn. Khó khăn đau khổ như vậy nhưng Chúa Giêsu vẫn luôn giữ lòng trung tín với thánh ý Chúa Cha, để cho mọi người nhận biết Chúa Cha – Đấng vẫn luôn yêu thương loài người, bởi vì khi Chúa Giêsu “hoàn tất công trình Cha giao phó” đó chính là tôn vinh Cha. Tất cả những gì Chúa Giêsu đã làm đều nhắm đến một mục đích duy nhất đó là tôn vinh Chúa Cha và để cho thế gian được nhận biết Thiên Chúa Cha – Đấng duy nhất có quyền ban sự sống đời đời cho những ai tin vào Người, và Chúa Con là cầu nối duy nhất đưa chúng ta đến với Chúa Cha, vì: Như Chúa Giêsu đã nói không ai thấy Thiên Chúa bao giờ nếu Chúa Con không mặc khải cho và không ai đến được với Chúa Con nếu Chúa Cha không lôi kéo họ (x. Ga 6,44).
Sau khi đã hoàn tất sứ mạng của mình, Chúa Giêsu đã cầu nguyện với Chúa Cha: “Lạy Cha, giờ đây, xin Cha tôn vinh con bên Cha: xin Cha ban cho con vinh quang mà con vẫn được hưởng trước khi có thế gian” (c.5). Lời cầu xin của Ngài không hiểu như là một công trạng cũng không hiểu như một người làm công đáng được chủ trả công, nhưng với Chúa Giêsu, đó là những điều vốn dĩ thuộc về Ngài, vì Ngài là Con Một của Thiên Chúa Cha. Khi đến trong thế gian, Chúa Giêsu với vai trò là một người được sai đi, để làm cho muôn dân nhận biết Thiên Chúa, và Ngài đã làm với tất cả trách nhiệm và bổn phận của mình. Chúa Giêsu đã trao ban cho họ tất cả những gì Ngài đã đón nhận được từ Chúa Cha để giúp họ hiểu và nhận ra Chúa Cha “vì con đã ban cho họ lời mà Cha đã ban cho con, họ đã nhận những lời ấy, họ biết thật rằng con đã từ Cha mà đến, và họ đã tin là Cha đã sai con” (Ga 17,8).
Nhưng để nhận biết được Thiên Chúa, chúng ta không phải dùng không phải dùng khoa học hay do trí hiểu, mà đó là một ân huệ mà Thiên Chúa ban cho, có nghĩa là chúng ta phải có đức tin vì “đức tin đi tìm sự hiểu biết”.
Thực tế của xã hội ngày nay đã cho thấy, con người đang đánh mất đức tin vốn có của mình, vì họ cho rằng con người có thể làm được tất cả, con người có thể làm chủ vũ trụ, họ tự tôn mình lên trên Đấng đã làm ra vũ trụ này. Họ đã quên rằng tất cả những gì họ làm ra đều được bắt đầu từ cái có sẵn.
Thái độ sống vô ơn này không phải là thái độ sống mà Chúa muốn, vì chúng ta không là gì nếu không có Thiên Chúa và chúng ta không có gì nếu Thiên Chúa không ban cho vì mọi sự chúng ta có đều thuộc về Chúa. Như Chúa Giêsu, mặc dù Ngài là Con Một nhưng Ngài luôn ý thức rằng: “Tất cả những gì con có đều là của Cha, tất cả những gì Cha có đều là của con, và con được tôn vinh nơi họ” (c. 10). Chúa đã sống tâm tình này và cũng như để dạy chúng ta rằng: những gì chúng ta đang có hiện nay không phải những gì thuộc quyền sở hữu của ta, nhưng chúng ta chỉ là những người quản lý mà Thiên Chúa gửi đến thế gian.
Sau khi đã hoàn tất sứ mạng và trở về với Chúa Cha, Chúa Giêsu vẫn không quên cầu xin Chúa Cha cho những người còn đang ở thế gian “con cầu xin cho chúng, con không cầu xin cho thế gian”. Ngài ý thức được sự yếu đuối mỏng giòn của con người, nên Ngài đã xin Chúa Cha gìn giữ họ và ban cho họ ơn trung thành trong đức tin khi gặp phải những khó khăn thử thách.
Bên cạnh đó, khi chúng ta đã được đón nhận tình yêu thương của Thiên Chúa thì chúng ta cũng phải có nghĩa vụ trao ban tình yêu ấy cho mọi người xung quanh, nhất là những người đang gặp khủng hoảng về đức tin, để họ cũng được đón nhận tình yêu ấy nhờ đó họ nhận ra Thiên Chúa vẫn luôn luôn yêu thương và dõi bước theo họ.
2023
Chúa nhật VII Phục Sinh A
Chúa nhật VII Phục Sinh A
Dẫn vào Thánh Lễ
Ca nhập lễ
Lạy Chúa, xin nghe tiếng tôi kêu cầu. Về phần Chúa, lòng tôi tự nhắc lời này: Hãy tìm ra mặt Chúa, và tôi tìm ra mặt Chúa, xin Chúa đứng ẩn mặt xa tôi – Alleluia.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa, chúng con tin thật rằng Ðức Kitô, Ðấng cứu chuộc nhân loại đang ngự bên hữu Chúa trong vinh quang. Xin nhận lời chúng con tha thiết cầu khẩn mà làm cho chúng con nghiệm thấy Người ở giữa chúng con hằng ngày cho đến tận thế, như lời Người đã hứa trước khi lên trời. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.
Bài Ðọc I: Cv 1, 12-14
“Mọi người đều đồng tâm kiên trì cầu nguyện”.
Bài trích sách Tông đồ Công vụ.
(Sau khi Chúa Giêsu lên trời), các Tông đồ xuống khỏi núi gọi là Núi Ô-liu mà trở về Giêrusalem, núi này ở gần Giêrusalem, bằng quãng đường (được đi trong) ngày Sabbat.
Và khi đã trở vào thành, các ông lên lầu gác, nơi Phêrô và Gioan, Anrê và Philipphê, Giacôbê con ông Alphê và Simon Giêlôtê, và Giuđa con ông Giacôbê, trú ngụ.
Mọi người đều đồng tâm kiên trì cầu nguyện, cùng với mấy người phụ nữ, và Bà Maria mẹ Chúa Giêsu, với các anh em Người.
Ðó là Lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 26, 1.4.7-8a
Ðáp: Tôi tin rằng tôi sẽ được nhìn xem những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh.
Xướng: Chúa là sự sáng, là Ðấng cứu độ, tôi sợ chi ai? Chúa là Ðấng phù trợ đời tôi, tôi sợ gì ai? – Ðáp.
Xướng: Có một điều tôi xin Chúa, một điều tôi kiếm tìm, đó là tôi được cư ngụ trong nhà Chúa suốt đời tôi, hầu vui hưởng sự êm đềm của Chúa, và chiêm ngưỡng thánh điện của Người. – Ðáp.
Xướng: Lạy Chúa, xin nghe tiếng tôi kêu cầu, xin thương xót và nhậm lời tôi. Về Chúa, lòng tôi tự nhắc lời: “Hãy tìm ra mắt Ta”. – Ðáp.
Bài Ðọc II: 1Pr 4, 13-16
“Nếu anh em bị xỉ nhục vì danh Ðức Kitô, thì phúc cho anh em”.
Bài trích thư thứ nhất của Thánh Phêrô Tông đồ.
Anh em thân mến, được thông phần vào các sự thống khổ của Chúa Kitô, anh em hãy vui mừng, để khi vinh quang của Người được tỏ hiện, anh em sẽ được vui mừng hoan hỉ.
Nếu anh em bị xỉ nhục vì Danh Chúa Kitô, thì phúc cho anh em, vì danh dự, vinh quang và sức mạnh của Thiên Chúa, là chính Thánh Thần Người sẽ ngự trên anh em.
Ước rằng không ai trong anh em phải khổ vì sát nhân, trộm cướp, gian phi hay là tham lam của kẻ khác; nếu chỉ vì là kitô hữu thì đừng hổ thẹn, hãy ca ngợi Thiên Chúa vì danh hiệu đó.
Ðó là Lời Chúa.
Alleluia: Ga 14, 18
Alleluia, alleluia. – Chúa phán: “Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi: Thầy sẽ đến với các con và lòng các con sẽ vui mừng”. – Alleluia.
Phúc Âm: Ga 17, 1-11a
“Lạy Cha, xin hãy làm vinh hiển Con Cha”.
Bài trích Phúc Âm theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu ngước mắt lên trời và nói: “Lạy Cha, giờ đã đến, xin hãy làm vinh hiển Con Cha, để Con Cha làm vinh hiển Cha.
Vì Cha đã ban cho Con quyền trên mọi huyết nhục, để con cũng ban sự sống đời đời cho mọi kẻ Cha đã giao phó cho Con.
Sự sống đời đời chính là chúng nhận biết Cha, là Thiên Chúa duy nhất chân thật, và Ðấng Cha đã sai, là Giêsu Kitô.
Con đã làm vinh hiển Cha dưới đất, Con đã chu toàn công việc mà Cha đã giao phó cho Con.
Giờ đây, lạy Cha, xin hãy làm cho Con được vinh hiển nơi Cha, với sự vinh hiển mà con đã có nơi Cha, trước khi có thế gian.
Con đã tỏ danh Cha cho mọi kẻ Cha đã đưa khỏi thế gian mà ban cho Con.
Chúng thuộc về Cha, và Cha đã ban chúng cho Con, và chúng đã tuân giữ lời Cha.
Bây giờ chúng biết rằng những gì Cha ban cho Con, đều bởi Cha mà ra.
Vì những lời Cha ban cho Con thì Con đã ban cho chúng và chúng đã lãnh nhận, và biết đích thực rằng Con bởi Cha mà ra, và chúng tin rằng Cha đã sai Con.
Con cầu xin cho chúng, Con không cầu xin cho thế gian, nhưng cho những kẻ Cha đã ban cho Con, bởi vì chúng là của Cha.
Và mọi sự của Con là của Cha, và mọi sự của Cha cũng là của Con, và Con đã được vinh hiển nơi chúng.
Con không còn ở thế gian nữa, nhưng chúng vẫn còn ở thế gian, phần Con, Con về cùng Cha”.
Ðó là Lời Chúa.
Lời nguyện tín hữu
Chủ tế: Anh chị em thân mến, Chúa Cha đã tôn vinh Chúa Giêsu trong mầu nhiệm tử nạn và phục sinh. Chúng ta được tham dự vào vinh quang của Chúa Giêsu, khi kết hiệp mật thiết với mầu nhiệm Vượt Qua của Người. Giờ đây chúng ta dâng lên Chúa Giêsu những lời cầu nguyện, xin cho chúng ta được thông phần vinh quang với Người.
- “Con không cầu nguyện cho thế gian, nhưng cho những kẻ Cha đã ban cho con, bởi vì họ thuộc về Cha”. Xin cho các dân tộc và các ngôn ngữ trên khắp địa cầu, nhờ đón nhận Tin Mừng được thuộc trọn về Chúa.
- “Xin Cha tôn vinh Con Cha, để Con Cha tôn vinh Cha”. Xin cho các tín hữu được tham dự vào vinh quang của Chúa Giêsu, nhờ việc thực hành thánh ý Chúa.
- “Đừng có ai trong anh em phải chịu khổ vì tội giết người, trộm cắp, làm điều gian ác”. Xin cho các tín hữu can đảm sống đức tin, xa tránh các việc xấu và hăng say làm việc đạo đức, bác ái.
- Đức Mẹ Maria, các thánh Tông Đồ, và các tín hữu chuyên cần cầu nguyện. Xin cho mỗi người trong cộng đoàn chúng ta, chuyên cần lắng nghe và thực hành Lời Chúa, đồng thời siêng năng cầu nguyện, nhờ đó họ trở thành chứng nhân sống động Chúa đã phục sinh.
Chủ tế: Lạy Cha, xin nhận lời cầu nguyện của chúng con, xin ban Chúa Thánh Thần cho chúng con, để Ngài giúp chúng con hiểu biết, yêu mến và thực hành những huấn lệnh của Cha. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin chấp nhận những lời cầu xin và lễ vật chúng con dâng tiến, mà làm cho thánh lễ chúng con đang sốt sắng cử hành mở đường dẫn chúng con tới quê trời vinh hiển. Chúng con cầu xin…
Lời tiền tụng
Lạy Chúa, chúng con tuyên xưng Chúa mọi lúc, nhất là trong mùa cực thánh này, chúng con càng hãnh diện tung hô Chúa khi Ðức Ki-tô đã được hiến tế làm Chiên Vượt Qua của chúng con, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Vì sau khi tình trạng xưa cũ bị hủy diệt, toàn thể những gì bị loại bỏ đều được đổi mới và sự sống nguyên vẹn được phục hồi cho chúng con trong Chúa Ki-tô. Vì thế, với niềm hân hoan chứa chan trong lễ Phục Sinh, toàn thể nhân loại trên khắp địa cầu đều nhảy mừng. Cũng vậy, các Dũng thần và các Quyền thần không ngừng hát bài ca chúc tụng vinh quang Chúa rằng:
Thánh! Thánh! Thánh!…
Ca hiệp lễ
Lạy Cha, Con xin Cha cho chúng nên một, như Chúng Ta là một – Alleluia
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa là Thiên Chúa cứu độ, xin nhận lời chúng con cầu khẩn; và nhờ bí tích chúng con vừa tham dự, xin giúp chúng con là chi thể của Ðức Kitô, hằng tin tưởng sẽ được đồng vinh hiển với Người là Thủ Lãnh của chúng con. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.
