Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Phụng vụ

Home / Phụng vụ
11Tháng Năm
2023

Đức Maria trong âm nhạc

11/05/2023
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Đức Maria trong âm nhạc

Đức Maria trong âm nhạc

Sergio Militello
Phân khoa Thần học “Marianum” – Roma
Ngôn ngữ âm nhạc là một tổng hợp của nghệ thuật,
Thánh Mẫu học và linh đạo
“Sự hiện diện” của Đức Maria trong âm nhạc rộng lớn đến độ để có được một nghiên cứu chuyên sâu cần phải viết rất nhiều tập. Thật vậy, trải qua các thời đại, không có nhạc sĩ nào mà không bày tỏ lòng tôn kính Mẹ Thiên Chúa bằng âm nhạc. Vì thế, nếu không thể điểm lại lịch sử của hàng thế kỷ, người ta không thể không nhận ra lời tiên tri “từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc” (Lc 1,48) đã được khẳng định đúng lúc trong tác phẩm âm nhạc, những tác phẩm bác học lẫn bình dân, nơi mà lòng đạo đức, lòng sùng kính và thần học đan xen với nhau.
Trong phạm vi bài viết này, tôi giới hạn trong việc khảo sát về mối tương quan giữa lòng sùng kính Đức Mẹ và âm nhạc, bằng cách nêu bật những lý do đầy cảm hứng để ca tụng Đức Maria, như những trọng điểm của sự kết hợp chặt chẽ qua nhiều thế kỷ đã tạo ra một di sản âm nhạc vô giá về Đức Maria và khó định lượng, rất rộng lớn và hấp dẫn đến mức biện minh cho một khóa trình hàn lâm, chẳng hạn về “Đức Maria trong âm nhạc”, do người ký tên dưới đây tổ chức tại Học viện Thần Học “Marianum”, của các sư huynh dòng Tôi tớ Đức Bà, ở Rôma
Nguồn gốc và xuất xứ
Chúng ta biết rằng việc cầu nguyện và tôn sùng Đức Trinh Nữ có một lịch sử lâu dài, bắt nguồn từ Kinh Thánh và đã được thể hiện nơi thế hệ Kitô hữu đầu tiên, và qua các thời kỳ đã tạo thuận lợi cho chuỗi các biểu hiện ca ngợi, cầu khẩn, yêu mến và tín thác nơi Mẹ, cho những yếu tố làm nên cứ liệu thường xuyên của lòng tôn sùng Đức Mẹ.
Nguồn gốc của việc ca ngợi Đức Maria trong Tân Ước có thể được tóm tắt trong hai đoạn được thánh sử Luca ghi lại: lời chào của thiên thần (Lc 1,28) và lời chào của bà Êlisabét (Lc 1,42.45). Từ những nguồn Kinh thánh này – bao hàm những hình ảnh báo trước của Cựu Ước – đã nảy sinh vô số thuộc tính ngợi khen và cầu khẩn, làm nên “những lời nguyện về Đức Mẹ” và do đó, đã trở thành những động cơ truyền cảm hứng cho các tác phẩm âm nhạc.
Vì thế, Giáo Hội đã ca tụng Mẹ Maria qua những kinh nguyện đầy tráng lệ, qua các bài giảng lễ, những bài ca tụng, kinh cầu, điệp ca, thánh ca… qua tác phẩm của những tác giả vô danh hay nổi tiếng, ở Đông phương cũng như Tây phương. Trong vùng biển bao la (mare magnum) này, việc nghiên cứu âm nhạc về lòng tôn sùng Đức Mẹ phải đề cập đến cả các sự kiện lịch sử và phụng vụ, kể cả lòng sùng kính và những tác phẩm ngoài phụng tự.
Như chúng ta đã biết, không có ký hiệu âm nhạc nào của thế hệ kitô giáo đầu tiên còn tồn tại, một thế hệ vốn sử dụng lối hát của người Do Thái. Cho đến nay, lời kinh đầu tiên về Đức Mẹ được biết đến là Sub Tuum praesidium, một bài thánh ca ngắn dành riêng cho Mẹ của Chúa Giêsu, có từ thế kỷ thứ 3 và được phát hiện ở Ai Cập.
Bản văn này có thể phát xuất từ bài hát của phụng vụ Giáng sinh thuộc giáo hội Coptic, vẫn còn sử dụng cho đến ngày nay như một đối ca trong mọi nghi thức phụng vụ chính yếu.
Với chứng từ đầu tiên này, chúng ta thấy bài ca phụng vụ gắn liền với lịch sử như thế nào: việc biên soạn lời cầu khẩn chung này thực tế đã diễn ra vào thời kỳ bách hại, các Kitô hữu đã hướng về Mẹ Maria để tìm nơi Mẹ một nơi ẩn náu an toàn khi gặp nguy hiểm. Hình ảnh dưới bóng cánh (sub umbra alarum) thân thương đối với người Sêmít và người Ai Cập, được nhắc lại như một biểu tượng diễn tả sự che chở của Thiên Chúa (Is 49,2; 51,16; x. Tv 16,8), một đề tài thường xuyên trong các sáng tác về Đức Mẹ.
Ngay cả các soạn tác âm nhạc sau này, Byzantine và cả Đông phương nói chung, đều thể hiện niềm phó thác vào sự chuyển cầu của Mẹ Thiên Chúa (Theotòkos), được cộng đồng kitô giáo khẩn cầu ngay từ buổi đầu, là tước hiệu mà Công đồng Êphêsô chính thức công nhận vào năm 431.
Do đó, chủ đề về sự chuyển cầu của Mẹ Thiên Chúa trở thành nền tảng trong biểu thức ca tụng Đức Maria. Ngoài ra, qua dòng lịch sử, còn có những chủ đề về lòng tôn sùng và noi gương Mẹ, hiện diện trong các nhạc phẩm của mọi thời đại.
Tuy nhiên, tôi muốn chỉ ra rằng đôi khi âm nhạc ca ngợi dành riêng cho Đức Maria không tìm thấy nền tảng nơi Lời Chúa cũng như trong suy tư thần học, do đó nó tạo ra một chủ đề ca ngợi xa lạ so với trước đó và có thể được định nghĩa như là chủ nghĩa sùng kính chung chung, đề cập nhiều đến những khơi gợi về con người Đức Maria hơn là vai trò của Mẹ trong nhiệm cục cứu độ.
Ở Đông phương
Quay trở lại lịch sử, chương quan trọng để khám phá những bước đầu của việc tôn sùng Đức Maria bằng âm nhạc nảy sinh từ các ngày lễ kính Mẹ, vốn được du nhập từ Đông sang Tây.
Mặc dù nảy sinh vào những thời điểm cụ thể, liên quan đến các câu chuyện địa phương hoặc các cuộc hiện ra ra cụ thể, nhưng các bản văn được chuyển tải trong phụng vụ đề cập đến nguồn mặc khải, nơi người Mẹ Chí Thánh Vẹn Sạch của Thiên Chúa có một vị trí trung tâm bên cạnh người Con của mình.
Chúng ta đang ở trong giai đoạn của những hình thức thi ca cao nhất và những lối ca hát có liên quan đến phụng vụ Byzantine: Thánh ca và Chuẩn mực (những hình thức sáng tác đầu tiên do Thánh Basiliô và Thánh Gioan Kim Khẩu định hướng trong phụng vụ) được định hình như một phản ứng đối với cuộc tranh luận bài trừ ảnh tượng, liên quan đến nghệ thuật tượng ảnh, nhằm mục đích tấn công và triệt tiêu khả năng sáng tạo âm nhạc. Đó là thời đại của những tuyển tập về Đức Maria, trong đó giai điệu (thơ phổ nhạc) cố gắng diễn tả những tình cảm của tôn giáo Đông phương được trình bày bằng dấu ấn khổ hạnh sâu đậm, nhắm đến sự chiêm niệm và chiều sâu tâm linh. Qua việc gán nhiều “danh hiệu” cho Đức Trinh Nữ, nền thần học được thực hiện dưới hình thức thơ ca, bằng cách sử dụng các phản luận và hình ảnh. Theo cách này, phụng vụ ca hát đã hoàn thành nhiệm vụ tạo ra suy tư thần học qua các tác phẩm âm nhạc, trong đó các chủ đề dành riêng cho Đức Maria có sự tham chiếu kitô học rõ ràng và có mặt ở khắp mọi nơi. Để tìm ra những lý do ca ngợi mới dành cho Đức Trinh Nữ, chúng ta phải đặt mình vào giữa thế kỷ thứ 4 và thứ 11, thời của các nhạc sĩ lớn ở Đông phương, trong số đó có ít nhất là: Ephrem người Syria (306-373), người đã viết ra những bài thánh ca của mình như bài giáo huấn và giáo lý, đặc biệt nhấn mạnh đến Mẹ Chúa Giêsu trong vai trò “cộng tác viên”; Romanus il Mèlode (490-556 ca), tác giả của Akathist, bài thánh ca về Đức Mẹ nổi tiếng nhất mọi thời đại được coi là một kiệt tác văn chương và thần học, đồng thời diễn tả sự chiêm ngắm và tán dương cao nhất của lòng tôn sùng Mẹ Thiên Chúa; Andrea di Creta (khoảng 660-740), người được cho là đã phát minh ra Canon; Giovanni Damasceno (676 ca-749), một trong những giọng ca Đông phương về Đức Trinh Nữ vĩ đại nhất, những bài thánh ca được sáng tác như những luận thuyết thực sự về thần học; Teodoro (759-826) và những người khác.
Các chủ đề thường xuyên ca ngợi Đức Maria trong thánh ca Byzantine là lời cầu khẩn và đòi hỏi lòng tôn sùng Đức Trinh Nữ để được cứu rỗi: đây là cách nó xuất hiện, chẳng hạn như trong Paraklisis (kêu xin cứu giúp), một bài thánh ca phổ biến đến nỗi nó có thể được hát trong mọi hoàn cảnh và mọi thời điểm trong năm; hơn nữa, Mẹ Maria được tôn vinh vì sự thánh thiện của Mẹ, được trình bày như khí cụ của ơn cứu rỗi trái ngược với Evà và Mẹ được hát lên trong mầu nhiệm Mẹ được nâng lên vinh quang trên trời, nơi đó Mẹ không quên loài người và không ngừng giúp đỡ họ.
Ở Tây phương
Vai trò trung gian của Đức Maria và tình mẫu tử thiêng liêng của Mẹ đối với con người cũng được tìm thấy ở Tây phương, trong các bài thánh ca và trong các kinh nguyện được đưa vào trong Kinh Nhật tụng và trong Thánh lễ. Việc sử dụng các bài thánh ca trong số này (ra đời ở Tiểu Á vào thế kỷ thứ 2-3) lan rộng ở phương Tây bắt đầu từ thế kỷ thứ 4, trước hết là nhờ Thánh Ambrôsiô, vì nó dễ hát và phù hợp với mọi tín hữu.
Từ đây, sự phát triển nhạc Bình Ca dẫn đến việc tạo ra một di sản đáng kể về những bài ca kính Đức Mẹ, bao gồm bốn điệp ca “chính” được hát trong các giờ kinh phụng vụ hoặc khi kết thúc thánh lễ: Alma Redemptoris Mater, Ave Regina Caelorum, Regina Caeli, Salve Regina.
Do đó, đối với Đông phương cũng như ở Tây phương, các lý do để hát mừng Đức Maria đó là lý do chuyển cầu, tôn kính và bắt chước. Vì vậy, việc xây dựng một lộ trình có hệ thống liên quan đến sự hiện diện của Đức Maria trong lịch sử âm nhạc có ích biết bao và liệu âm nhạc dành riêng cho phụng vụ người ta có thực sự chú ý đến các lý do đầy cảm hứng nói trên của những bài thánh ca về Đức Mẹ hay không.
Tôn sùng Đức Maria và âm nhạc.
Việc phân tích các sáng tác về Đức Mẹ được nảy sinh qua nhiều thế kỷ cần phải bắt đầu trở lại với nguồn gốc, nghĩa là, trở lại với các thúc đẩy lịch sử và thần học của thánh ca về Đức Mẹ. Vì lý do này, một giáo trình về “Đức Maria và âm nhạc” không những phải trình bày hình ảnh của Đức Maria trong lịch sử âm nhạc, mà còn phải đưa ra những tiêu chuẩn đánh giá để hiểu đúng về việc sùng kính Đức Mẹ được thể hiện qua việc ca hát.
Nếu thần học đã sử dụng ngôn ngữ âm nhạc để diễn tả lòng sùng kính Đức Maria, điều đó có nghĩa là âm nhạc là phương tiện ưu tiên cho việc dạy giáo lý về Đức Mẹ. Thực vậy, ca hát được hình thành như một trong những yếu tố tự nhiên đầu tiên của các ngày lễ về Mẹ và là một phương tiện dễ dàng để diễn tả suy tư thần học trong việc thờ phượng, khi nó diễn tả phẩm giá của Đức Maria, vị trí và vai trò của Mẹ trong mầu nhiệm Chúa Kitô, trong lịch sử cứu độ và trong lịch sử Giáo hội.
Mỗi giai đoạn lịch sử đã trình bày một cách tốt nhất có thể những nội dung cơ bản của bài nhạc về Đức Mẹ: tình mẫu tử thiêng liêng của Đức Maria và sự liên kết của Đức Maria với mầu nhiệm Chúa Kitô.
Tôi tin rằng bắt đầu từ những ngày lễ về Mẹ, lịch sử âm nhạc có thể được vẽ lại, bằng cách làm nổi bật nơi chốn và thời đại mà trong đó nội dung của bài ca về Đức Maria được nhấn mạnh hoặc bị phản bội nhiều nhất. Ngay cả một danh sách đơn giản và ngắn gọn của các ngày lễ cũng rất quan trọng.
Các ngày lễ về Đức Mẹ có thể được tóm lược như sau: ở Đông phương, có Lễ Sinh nhật Đức Mẹ (được cử hành tại Giáo hội Giêrusalem), Maria Mẹ Thiên Chúa; Dâng Con Trong Đền Thờ hoặc Lễ Nến (Đức Maria là người đã kết hợp với những đau khổ cứu chuộc của Chúa Kitô, được tiên tri bởi ông già Simeon), Lễ Truyền Tin của Mẹ Thiên Chúa và Đức Maria Trọn Đời Đồng Trinh (Đức Maria là Eva mới kết hợp cách bất khả phân ly với Chúa Kitô là Ađam mới), Lễ Acathistus (được cử hành long trọng bằng bài thánh ca nổi tiếng, một bản tóm tắt thực sự về Thánh Mẫu học), Lễ Đức Mẹ Ngủ (Mẹ đã chiến thắng tội lỗi, đã bước theo Con của Mẹ đến sự sống; Mẹ cũng đã bước theo người Con của mình đến sự thánh thiện bằng sự vâng phục hoàn toàn của Mẹ) và các ngày lễ mang tính sùng mến hơn; ở phương Tây, các ngày lễ được cô đọng qua Lễ Giáng Sinh (ra đời ngay sau khi xây dựng đền thờ Liberia ở Roma), Lễ Dâng Mình, Lễ Truyền Tin, Lễ Mông Triệu và Sinh nhật Đức Maria.
Sự tiến triển tiếp theo
Những kinh nghiệm đầu tiên đề cập đến “hai lá phổi thiêng liêng” giữa Đông và Tây xác định mức độ sâu rộng của ý hướng hát mừng Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, gắn liền với mầu nhiệm Cứu Chuộc, trong khi ở các thời đại tiếp theo, chúng ta cũng tìm thấy một cách thức để cầu nguyện và xây dựng mối liên hệ với Thiên Chúa, và nhờ đó mà Đức Maria được tôn sùng và gần gũi hơn. Vì thế, nếu ở Đông phương có thánh ca Byzantine và nhạc Bình Ca ở Tây phương thì chúng vẫn duy trì những điểm trọng tâm là luôn quy chiếu đến sự phong phú và tính vững chắc về nội dung. Các ngôn ngữ âm nhạc sau này đã dần dần bộc lộ một “khuôn mặt” mới hoặc khác của Đức Maria, có khi tương phản và có khi bổ túc cho nhau.
Chẳng hạn như Ars Antiqua, vào khoảng thế kỷ IX-X trong môi trường văn hóa của Pháp và Tây Ban Nha, và môi trường dân gian ở thế kỷ XIII, tác phẩm âm nhạc rất đặc thù được thực hiện bằng tiếng bản ngữ, tiếng Ý, ​​nơi mà hình ảnh Đức Trinh Nữ hiện diện tầng suất cao với những hình ảnh đầy thi vị (viên ngọc quý, người phụ nữ đội vương miện, nguồn suối nước v.v.), nhưng không phải lúc nào cũng liên quan đến Kinh thánh.
Tuy nhiên, vào thế kỷ 15, trong các bản chép tay quan trọng nhất, các bài hát thể hiện lòng nhiệt thành đối với Đức Mẹ vẫn chiếm ưu thế, gây bất lợi cho suy tư thần học.
Thời Phục hưng đã chứng kiến ​​sự gia tăng thực sự của âm nhạc dành cho Đức Mẹ trong phụng vụ (bốn đối ca kết thúc, Magnifcat, Litanies, Motets, Messa).
Giai đoạn Barốc, nhiều tác phẩm âm nhạc về Đức Mẹ nhìn thấy ánh sáng trong các hình thức đặc thù và hoa mỹ nơi các oratorio và cantata, với những sáng tác tự do đầy chất thơ.
Thời kỳ cổ điển ca ngợi Đức Maria với nền âm nhạc tinh tế và sự quý giá qua đó nó thêu dệt nên bản văn (chẳng hạn như tác phẩm nổi tiếng Litanies Lauretane của Mozart), trước khi nhường chỗ cho “thời lãng mạn”, đã lồng vào âm nhạc về Đức Mẹ một cảm giác chủ quan và không đúng cách của giáo hội, ngay cả khi nó được hỗ trợ bởi một tôn giáo sống động và chân thành.
Thế nhưng, thời hiện đại, không thiếu những tác phẩm xuất sắc dành riêng cho Đức Maria, với sự trở lại với các bản văn phụng vụ và những nội dung chân thực hơn về lòng tôn sùng Đức Mẹ.
Do đó, mỗi tác giả, tùy theo bối cảnh, đã ca ngợi Đức Maria với cảm thức tôn giáo đặc trưng của thời đại của mình. Vì vậy, chúng ta không thể luôn luôn và trong mọi tình huống nói về “sự phát triển” của thánh ca về Đức Mẹ, đặc biệt là nơi lòng sùng kính đã thất bại trong việc đan kết danh Đức Mẹ với bài ca về các mầu nhiệm của Chúa Kitô.
Kết luận
Việc phân tích sự hiện diện của Đức Maria trong lịch sử âm nhạc không thể thiếu tham chiếu Kitô học và Giáo hội học, để sao cho Đức Maria cùng được chiêm ngắm cách hòa hợp trong mầu nhiệm Chúa Kitô và Giáo hội.
Dưới ánh sáng này, tôi hy vọng rằng một Lịch sử “mới” đối với âm nhạc về Đức Mẹ có thể được viết ra, không có nghĩa là đưa ra một danh sách các tác giả và tác phẩm, nhưng đúng hơn là làm nổi bật tầm quan trọng vị trí của Đức Maria trong kế hoạch cứu độ. Điều này có thể được viết, bằng cách làm nổi bật và phân biệt các lý do truyền cảm hứng và nội dung cơ bản của bài ca về Đức Mẹ, thông qua một cuộc nghiên cứu lịch sử-mỹ học dành riêng cho con người Đức Trinh Nữ Maria trong tài liệu âm nhạc, từ khởi đầu cho đến ngày nay, nhằm nắm bắt các mô hình văn hóa – những hạn chế hoặc đôi khi bị biến dạng – ở mọi thời đại và mọi miền lãnh thổ.
G. Võ Tá Hoàng chuyển ngữ
Từ tạp chí Riparazione Maria; 2/2019; Trang 4-6

Tác giả bài viết: Giuse Võ Tá Hoàng chuyển ngữ

Read More
11Tháng Năm
2023

Thông dịch viên Lời Chúa

11/05/2023
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

 

Gm. Phêrô Nguyễn Văn Khảm

Than phiền bài giảng của các linh mục đã trở thành chuyện dài nhiều tập đến nỗi đi vào cả Tông huấn của Giáo hoàng: “Tôi đặc biệt chú ý đến bài giảng lễ và việc chuẩn bị bài giảng vì có quá nhiều lời ta thán về phận vụ quan trọng này, và chúng ta không thể không biết đến… Chúng ta biết rằng người giáo dân dành cho bài giảng tầm quan trọng đặc biệt, nhưng cả họ cũng như các thừa tác viên có chức thánh đều phải khổ sở vì các bài giảng: giáo dân khổ vì phải nghe, còn người giảng thì khổ vì phải giảng” (Evangelii Gaudium, 135). Trong câu trích dẫn trên, Đức Thánh Cha Phanxicô không chỉ nói đến nỗi khổ của giáo dân khi phải nghe giảng, mà còn nói đến nỗi khổ của các linh mục khi phải giảng! Mà đây lại là điều ít người để ý đến.

Trong thực tế, các linh mục có những khó khăn khi giảng Lời Chúa, những khó khăn mà các diễn giả khác không phải đối diện. Chẳng hạn cử tọa không thay đổi. Một giáo sư dạy một môn học, ông biên soạn một giảng trình và cử tọa của ông là các sinh viên, mỗi năm là một lớp sinh viên mới nên tuy giảng trình vẫn thế (có thay đổi chút đỉnh) mà người nghe vẫn thấy mới. Hoặc một diễn giả được mời thuyết trình trong hội nghị, ông biên soạn bài diễn văn công phu, và vẫn bài ấy, ông trình bày tại những hội nghị khác với cử tọa khác, bài thuyết trình của ông lúc nào cũng được người nghe coi là mới mẻ. Còn linh mục giảng Lời Chúa thì sao? Cũng một cử tọa ấy, ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác, và nếu linh mục ấy phục vụ tại giáo xứ từ 5 năm trở lên thì lấy đâu ra cái mới! Có khi vừa nghe mấy câu thì người ta đã xầm xì “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi”!

Chưa hết, cử tọa của một giáo sư trên giảng đường là các sinh viên cùng trình độ, cử tọa của một diễn giả về một đề tài là những người quan tâm đến đề tài đó, vì thế họ có thể trình bày cách thích hợp với cử tọa. Còn cử tọa của linh mục tại giáo xứ thì sao? Thưa, đủ mọi lứa tuổi, đủ mọi trình độ, làm sao để thích hợp với mọi người? Trong Triết Kinh viện có câu: “Bất cứ điều gì được đón nhận đều được đón nhận theo thể thức của người đón nhận”. Nếu lấy câu đó áp dụng cho việc giảng lễ của các linh mục, sẽ thấy rất phức tạp.

Nói thế không phải để than thở, cũng không phải để bênh nhau nhưng để có thể nói với nhau cách chân thành rằng dù có những khó khăn như thế, anh em linh mục phải luôn cố gắng chu toàn trách nhiệm cao quý đã lãnh nhận, và bài viết này mong được là sự chia sẻ thân tình trong bầu khí huynh đệ ấy.

Thông dịch viên

Để tìm một hình ảnh diễn tả việc giảng lễ của linh mục, tôi nhớ đến một linh mục đàn anh đã qua đời. Có lần ngài kể cho tôi nghe chuyện một người bạn cùng lớp ở chủng viện nhưng đã xuất tu, sau đó anh dồn sức học tiếng Anh để làm thông dịch viên cho người Mỹ. Vị linh mục đàn anh ấy nói với tôi: hắn học đến nỗi ho ra máu để làm thông dịch viên cho Mỹ, thế còn chúng ta học để làm thông dịch viên Lời Chúa thì sao! “Thông dịch viên Lời Chúa”, tôi nhớ mãi cụm từ ấy và muốn mượn hình ảnh này để suy nghĩ về nhiệm vụ giảng lễ của các linh mục.

Khi đất nước mở ra với các nước ngoài về hoạt động thương mại cũng như giao lưu văn hóa, thông dịch viên trở thành một ngành nghề cần thiết. Vậy, đâu là những phẩm chất cần thiết của một thông dịch viên giỏi?

Thông dịch viên giỏi là người phải thông thạo cả hai ngôn ngữ, ngoại ngữ và ngôn ngữ bản xứ. Giỏi ngôn ngữ bản xứ nhưng kém ngoại ngữ đương nhiên không thể thông dịch, nhưng giỏi ngoại ngữ mà yếu về ngôn ngữ bản xứ cũng không thể là thông dịch viên tốt. Do đó, sở hữu vốn từ vựng rộng lớn trong cả hai ngôn ngữ sẽ giúp thông dịch viên nhanh nhạy trong việc dùng từ chính xác và sinh động.

Cùng với sự thông thạo ngôn ngữ, thông dịch viên giỏi còn phải có kiến thức tổng quát và hiểu biết về văn hóa. Ngôn ngữ là phương tiện diễn tả tư tưởng, tâm tình, cảm xúc bên trong, và ngôn ngữ gắn liền với văn hóa. Vì thế nếu có sự hiểu biết rộng về lịch sử và văn hóa bản xứ cũng như nước ngoài, thông dịch viên có thể hiểu sâu về những điều người ta muốn diễn tả và truyền đạt cho người khác.

Ngoài ra, cũng như trong bất cứ lãnh vực nào khác, đạo đức nghề nghiệp là đòi hỏi tất yếu. Trong ngành thông dịch, đạo đức nghề nghiệp trước hết đòi hỏi sự trung thực, chuyển tải đúng những điều người khác muốn, không tự ý thêm bớt điều gì. Cùng với sự trung thực là bảo mật thông tin, tác phong lịch sự, nghiêm túc trong công việc.

Cuối cùng, thông dịch viên giỏi là người phải không ngừng trau dồi khả năng. Ngôn ngữ và kiến thức là biển cả mênh mông và không ngừng tiến triển, vì thế để là thông dịch viên giỏi, phải không ngừng trau dồi ngôn ngữ và sự hiểu biết, nhờ đó mới có thể đáp ứng nhu cầu cách thích đáng.

Thông dịch viên Lời Chúa

Lời của Chúa và lời của đời

Thông dịch viên là cầu nối cho cuộc đối thoại giữa hai người không cùng ngôn ngữ. Cũng thế, thông dịch viên Lời Chúa là cầu nối cho cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và dân của Người. Để phục vụ cuộc đối thoại ấy, linh mục phải hiểu biết Lời Chúa, cụ thể là các bài đọc trong Thánh Lễ. Thông thường các linh mục giảng lễ hay tự hỏi: “Tôi sẽ giảng điều gì để người nghe thấy hấp dẫn?” nhưng thực ra câu hỏi đầu tiên phải là: “Lời Chúa muốn nói gì với dân của Chúa?”, vì thế việc đầu tiên là phải đọc và tìm hiểu Lời Chúa qua các bài đọc. Đức Phanxicô trong Tông huấn Evangelii Gaudium (EG) cũng như Đức Bênêđictô XVI trong Verbum Domini (VD) đều nhấn mạnh đến phần việc quan trọng này và đưa ra những chỉ dẫn cụ thể (x. EG 150; VD 59):

– Phải đọc kỹ, chậm rãi, không vội vã, để ý đến những từ ngữ được lặp lại nhiều lần cũng như để ý cấu trúc của bản văn, mục đích là để tìm hiểu đâu là sứ điệp chính của trích đoạn mà ta đang đọc.

– Phải liên hệ bản văn ta đang đọc với giáo huấn của toàn bộ Kinh Thánh vì Chúa Thánh Thần không chỉ linh hứng một phần nhưng là toàn bộ Kinh Thánh.

– Đồng thời bản thân linh mục phải đọc bản văn Kinh Thánh như Lời Chúa nói với chính mình. Ai muốn rao giảng, phải sẵn sàng để cho Lời chạm đến và làm cho Lời hình thành cụ thể trong đời sống của mình, như thế mới có thể truyền đạt cho người khác điều mình chiêm ngắm; nếu không sẽ có nguy cơ chỉ là tiên tri giả. “Người giảng dạy Lời Thiên Chúa ở bên ngoài mà không nghe Lời ấy ở bên trong thì không thể mang lại hoa trái” (Augustino).

Tiếp đến, giảng không chỉ là giảng cái gì nhưng còn là giảng cho ai, vì thế cùng với việc hiểu biết Lời Chúa, linh mục còn cần phải hiểu biết cử tọa và đời sống của họ: “Người giảng phải có khả năng nối kết sứ điệp của bản văn Kinh Thánh với hoàn cảnh sống của con người, với một trải nghiệm đang kêu gào ánh sáng Lời Chúa. Đây không phải là chuyện tính toán cơ hội nhưng là đòi hỏi tôn giáo và mục vụ sâu xa” (EG 154). Chính điều này làm cho bài giảng lễ khác với bài chú giải Kinh Thánh, và cũng có thể nói là thách đố lớn nhất của việc giảng lễ, đòi hỏi linh mục phải vừa lắng nghe Lời Chúa vừa lắng nghe lời của đời, nhất là tâm tư của những người mình được sai đến công bố Lời Chúa cho họ. Chính vì thế, “Bài giảng là viên đá thử để đánh giá việc gần gũi của mục tử với giáo dân” (EG 135).

Soạn giảng

Thông dịch viên là một nghề và đòi hỏi phải có đạo đức nghề nghiệp, huống chi thông dịch viên Lời Chúa là một ơn gọi, thì linh mục giảng lễ lại càng phải có tinh thần trách nhiệm lớn hơn, trách nhiệm trước mặt Chúa và trách nhiệm với dân Chúa. Trách nhiệm ấy đòi hỏi linh mục phải chuẩn bị bài giảng lễ cho chu đáo hết sức có thể: “Mỗi tuần nên dành một thời gian cá nhân hay tập thể rất cần thiết cho trách nhiệm này, dù phải bớt thời giờ cho những công việc khác, kể cả những việc thật quan trọng” (EG 145). Nếu không chuẩn bị bài giảng cho tốt, linh mục giảng lễ sẽ làm mất thời giờ của cộng đoàn, tệ hơn nữa, còn làm cho cộng đoàn chán ngán Lời Chúa và đời sống đức tin sa sút.

Lý do thường được viện dẫn để biện minh cho việc thiếu chuẩn bị bài giảng là “không có giờ, quá nhiều việc phải lo”! Tuy nhiên nếu chúng ta chân thành nhìn lại đời sống của mình, có lẽ vấn đề không phải là không có giờ nhưng “đâu là ưu tiên hàng đầu của chúng ta?” Nếu ưu tiên hàng đầu là giảng Lời Chúa thì chúng ta sẽ có thể sắp xếp thời gian thích hợp cho công việc này.

Lý do khác cũng hay được viện dẫn là “các bài đọc đã quá quen, chẳng có gì mới nên không cần chuẩn bị”! Chúng ta quên rằng Lời Chúa luôn mới mẻ và cuộc sống con người cũng không ngừng thay đổi. Hãy thử đọc những bài giảng của Đức Bênêđictô XVI hoặc của Đức Phanxicô xem, cũng cùng một bài Tin Mừng ấy, các ngài giảng nhiều năm và lần nào cũng cung cấp cái nhìn mới về Lời Chúa. Vì thế viện dẫn lý do “đã quá quen” thực ra chỉ là để biện minh cho sự lười biếng của mình.

Một bài giảng tốt là bài giảng tác động trên con người toàn diện: soi sáng trí khôn, đánh động tâm hồn, thúc đẩy hành động. Vì vậy cần có thời giờ chuẩn bị kỹ lưỡng bằng việc cầu nguyện, suy nghĩ, đào sâu, tìm kiếm cách diễn tả. Nên tập trung vào một chủ đề hơn là trình bày quá nhiều ý tưởng rải rác, thiếu liên kết, khiến người nghe khó lĩnh hội. “Một ý tưởng, một tâm tình, một hình ảnh” là lời khuyên cụ thể của Đức Thánh Cha Phanxicô. Nếu được, nên viết ra vì khi viết, chúng ta có thể chọn những từ ngữ và cách diễn đạt thích hợp và giúp người nghe dễ đón nhận hơn.

Thuyết giảng

Biên dịch chỉ cần dịch cho đúng và hay, thông dịch còn đòi hỏi thêm là phải nói, phát âm chuẩn để người ta hiểu. Linh mục giảng lễ cũng thế, phải nói sao cho người ta nghe được, hiểu được, cảm được: “Một số người nghĩ rằng họ có thể trở thành những nhà giảng thuyết tốt vì họ biết phải nói cái gì, nhưng lại chểnh mảng về việc phải nói thế nào, cách cụ thể là khi trình bày bài giảng. Họ than phiền là người ta không chịu lắng nghe hoặc không đánh giá họ cao, nhưng có thể là họ đã không chú tâm đến cách trình bày sứ điệp” (EG 156). Vì thế, linh mục giảng lễ nên quan tâm đến một số điều về thuyết giảng:

– Giọng nói: phát âm chuẩn, không nói ngọng hoặc nói sai, không quá nhanh vì sẽ khó nghe, không quá chậm vì sẽ tạo cảm giác mệt mỏi, hơn nữa là giọng nói có khả năng diễn đạt cảm xúc và chạm đến tâm hồn người nghe.

– Ngôn ngữ thích hợp: không dung tục vì đây là lời rao giảng trong khung cảnh phụng vụ, cũng không quá chuyên môn, xa lạ với cử tọa. Ngôn ngữ giảng là ngôn ngữ đơn sơ, rõ ràng, tích cực: “Điều thường xảy ra là các vị giảng thuyết sử dụng những ngôn từ có tính học thuật nhưng không phải là ngôn từ thông dụng của người nghe. Đó là những thuật ngữ đặc thù của thần học và giáo lý, nhưng phần đông các tín hữu lại không hiểu… Để có thể giúp họ tiếp cận Lời Chúa, vị giảng thuyết phải lắng nghe, chia sẻ đời sống của họ và chú tâm đến họ nhiều hơn” (EG 158).

– Thời lượng: giảng lễ là giảng trong cử hành phụng vụ chứ không phải trong một giờ học hoặc hội thảo, vì thế bài giảng lễ không thể quá dài. Hơn nữa, bài giảng quá dài có thể làm mất đi sự hòa hợp giữa các phần phụng vụ cũng như nhịp điệu phụng vụ (x. EG 138). Không thể ấn định cách quá máy móc về thời lượng bài giảng lễ, tuy nhiên cách chung vì các linh mục làm việc tại các giáo xứ phải giảng thường xuyên mỗi Chúa nhật (chưa kể hằng ngày) nên có thể chọn khung thời gian cho một bài giảng lễ Chúa nhật là 7 – 10 phút.

– Tác phong: linh mục giảng lễ mang trên người phẩm phục phụng vụ, giảng trong bầu khí cử hành phụng vụ, sau bài giảng lễ là Phụng vụ Thánh Thể … tất cả những điều đó bày tỏ ý nghĩa đặc biệt của bài giảng lễ và vai trò đặc biệt của vị giảng lễ. Chính ý nghĩa và vai trò ấy đòi hỏi vị giảng lễ phải có tác phong thích hợp. Nói cách khác, linh mục giảng không chỉ bằng lời nói mà còn bằng ngôn ngữ không lời, và tác phong của ngài trong toàn bộ cử hành phụng vụ đóng vai trò quan trọng. Một bài giảng tốt cùng với việc cử hành sốt sắng và trang nghiêm chắc chắn sẽ mang lại ơn ích thiêng liêng cho cộng đoàn dân Chúa.

Vun trồng vốn liếng

Trong chương trình đào tạo ở các đại chủng viện, Giảng thuyết là môn học thường được xếp vào năm cuối của chương trình. Như thế, cách nào đó, việc giảng lễ của các linh mục vừa là kết quả vừa thể hiện ra bên ngoài tất cả những điều linh mục đã tiếp thu trong chương trình đào tạo. Nói như thế có nghĩa là bài giảng lễ của các linh mục được hình thành trên nền tảng đã có trước, tức là kiến thức Kinh Thánh và thần học, kinh nghiệm thiêng liêng và mục vụ, vốn sống và khả năng suy tư của mỗi người. Đây là lý do giải thích tại sao cũng dựa trên cùng các bài đọc nhưng các bài giảng lại được khai triển khác nhau.

Nền tảng ấy đã có nhưng không phải là một món hàng thủ đắc một lần là xong, nền tảng ấy cần phải tiếp tục được củng cố và phát triển trong suốt đời sống linh mục. Chính vì thế các linh mục được khuyến khích không ngừng học hỏi: “Những kiến thức của các thừa tác viên thánh cũng phải thánh vì phát xuất từ nguồn mạch thánh và quy hướng về cùng đích thánh. Vì thế kiến thức đó trước hết được kín múc từ việc đọc và suy gẫm Thánh Kinh, đồng thời cũng tăng thêm hiệu quả nhờ việc nghiên cứu những tài liệu của các Giáo phụ, các thánh Tiến sĩ và các chứng từ khác của Thánh Truyền. Ngoài ra, để trả lời thỏa đáng cho những vấn nạn của con người thời nay, các linh mục phải tìm hiểu thấu đáo những tài liệu của Huấn Quyền, nhất là của các Công đồng và các Giáo hoàng, cũng như phải tham khảo những tác giả thần học thời danh đã được Giáo Hội thừa nhận” (Presbyterorum Ordinis, 19).

Hơn thế nữa, chúng ta đang sống trong một thời đại mà tri thức nhân loại phát triển rất nhanh, vì thế linh mục lại càng cần tự trau dồi: “Trong thời đại ngày nay, văn hóa nhân loại và ngay cả các ngành học thánh đã có những bước tiến mới, vì thế các linh mục phải không ngừng trang bị thật đầy đủ kiến thức về Thiên Chúa và về con người, đó là cách tự chuẩn bị để có thể đối thoại cách thích hợp hơn với những người đương thời” (Presbyterorum Ordinis, 19). Đây là lý do các Giáo phận cố gắng tổ chức các khóa thường huấn hằng năm cho các linh mục. Tuy nhiên điều cần thiết không kém là mỗi linh mục phải tự đào tạo, dành thời giờ để đọc sách và học hỏi thêm.

* * *

Giảng lễ là tác vụ cao quý được trao ban cho các thừa tác viên có chức thánh: “Mỗi người đều có bổn phận và nhiệm vụ liên quan tới Lời Thiên Chúa: các tín hữu phải lắng nghe và suy niệm Lời; còn chỉ những ai đã nhận được nhiệm vụ giáo huấn do Bí tích Truyền chức thánh hoặc những ai đã được trao phó thi hành thừa tác vụ này, tức là các Giám mục, linh mục và các phó tế, thì mới trình bày Lời Chúa” (VD 59). Câu trích dẫn này cho thấy giảng lễ vừa là đặc ân dành riêng cho các linh mục và cũng là trách nhiệm nặng nề. Trách nhiệm ấy đòi hỏi linh mục phải gắn bó mật thiết với Lời Chúa: “Chúa muốn sử dụng chúng ta như những con người sống động, tự do và sáng tạo, hoàn toàn để cho Lời của Người thấm nhập chúng ta, trước khi chúng ta truyền đạt Lời này; sứ điệp của Chúa phải đi ngang qua vị giảng thuyết, không chỉ ngang qua lý lẽ của ngài nhưng chiếm hữu trọn vẹn cuộc sống của ngài” (EG 151).

Câu hỏi mỗi linh mục phải đặt ra cho mình không phải là “tôi giảng có hay không, có được người ta ca tụng không?” nhưng là “tôi đã cố gắng làm hết sức mình chưa?” Hãy làm hết sức như thể kết quả hoàn toàn là do mình, và phó thác nơi Chúa như thể mọi kết quả là từ nơi Chúa.

Nguồn: giaophanmytho.net (08.5.2023)

Đọc thêm bài trong mục “Câu chuyện đầu tuần” của Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm:

17 – Thông dịch viên Lời Chúa

16 – Thánh Giuse và nhiệm vụ rao giảng Lời Chúa

15 – Tôn vinh lòng thương xót

14 – Mầu nhiệm Phục Sinh và giá trị thân xác

13 – Giới trẻ và Chúa nhật Lễ Lá

12 – Những nấm mồ trên mạng xã hội

11 – Thánh Giuse và nhiệm vụ rao giảng Lời Chúa

10 – Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, máng thông ơn Chúa

Read More
11Tháng Năm
2023

GIỜ CỦA CHÚA

11/05/2023
Anmai
Phụng vụ, Suy niệm Chúa nhật
0

21.5 Chúa Nhật thứ Bảy Mùa Phục Sinh

St 1:12-14; Tv 27:1,4,7-8; 1 Pr 4:13-16; Ga 17:1-11

GIỜ CỦA CHÚA

Bước vào Chúa nhật thứ VII Phục Sinh, Phụng vụ Giáo hội chuẩn bị tâm hồn chúng ta mừng Đại lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống. Trước khi về trời,  Chúa Giêsu đã hứa với các môn đệ trong bữa tiệc ly là không bỏ chúng ta mồ côi, Người sẽ gửi Chúa Thánh Thần đến, để trong mọi sự con người tôn vinh Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô.

Các thánh Tông Đồ đã qui tụ bên Đức Maria để cầu nguyện, noi gương các ngài, chúng ta cũng hãy hăng hái chuẩn bị sẵn sàng, cầu nguyện và thực hành đức bác ái, đón Chúa Thánh Thần, Đấng từ Chúa Cha hiện xuống trên chúng ta, và thưa với Chúa: “Lạy Chúa, con kêu lên cùng Chúa, xin Ngài lắng nghe, alléluia ; hồn con thưa cùng Chúa: mắt con tìm kiếm thánh nhan Ngài, lạy Chúa, con tìm kiếm Chúa, xin đừng ẩn mặt, alléluia, alléluia”.

Trong Tin Mừng Gioan từ “Giờ” của Chúa được nhắc đến khá nhiều. Quả thật, mọi việc Chúa làm có thể đều liên quan đến chữ “Giờ” kia. Trong tiệc cưới tại Cana, khi bữa tiệc hết rượu Đức Mẹ đã nói với Chúa Giêsu để Ngài giúp đỡ họ, nhưng Ngài đáp lại: “Thưa bà, việc đó can gì đến bà và tôi? Giờ của tôi chưa đến” (Ga 2,17b). Và trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cũng nhắc đến “Giờ”. Nhưng hôm nay “giờ” mà Ngài nhắc đến đó là Ngài đã hoàn tất sứ mạng mà Chúa Cha đã trao phó, “giờ” Ngài được trở về và được Chúa Cha tôn vinh.

“Xin Cha tôn vinh Con Cha để con Cha tôn vinh Cha”. Đây là một sự trao đổi kỳ diệu giữa Chúa Con và Chúa Cha, sự trao đổi ấy luôn luôn sống động trong Ba Ngôi Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã vâng lời Chúa Cha xuống thế gian để cứu chuộc loài người và Chúa Cha đã ban tất cả loài người cho Chúa Giêsu: “Cha đã ban cho Người quyền trên mọi phàm nhân là để Người ban sự sống đời đời cho tất cả những ai Cha đã ban cho Người” (c. 2).

Nhưng để cứu chuộc sự sống đời đời cho con người, Chúa Giêsu đã phải chết ô nhục trên thập giá, và cũng chính trên thập giá Ngài đã được Chúa Cha tôn vinh vì Ngài đã vâng phục thánh ý Chúa Cha một cách triệt để. Cái chết của Ngài là một lời mời gọi yêu thương, là lời vâng phục trọn vẹn thánh ý Chúa Cha. Cái chết ấy không những mang lại sự sống đời đời cho con người mà còn trở thành cầu nối giữa Thiên Chúa và con người, cầu nối ấy đã bị rạn nứt khi con người bội nghĩa bất trung với Thiên Chúa, thì nay Chúa Giêsu đã đến và hàn lại chỗ rạn nứt đó. Có thể nói rằng Chúa Giêsu, Ngài đã làm tất cả những việc đó không phải để cho chính bản thân mình, cũng không phải để được người đời tôn vinh, nhưng Ngài làm những điều đó là để tôn vinh Thiên Chúa Cha, và Ngài muốn thi hành thánh ý Chúa Cha một cách trọn vẹn.

Nhìn vào thế giới hôm nay, con người đang đắm chìm trong những đau khổ của bệnh tật và đại dịch Covid-19 đã cướp đi biết bao sinh mệnh. Đại dịch này như là một thảm họa trên khắp thế giới, nhưng với lăng kính của đức tin thì chúng ta tin rằng Đức Kitô lại đến để xoa dịu những đau thương ấy. Mặc dù Ngài không hiện diện một cách hữu hình, nhưng Ngài hiện diện ngang qua những y bác sĩ, những nhân viên y tế và những người có trách nhiệm đang ngày đêm chiến đấu để đem lại sự sống cho những bệnh nhân.  Xưa Chúa Giêsu vì tình yêu Ngài dành cho loài người và vì vâng lời Chúa Cha mà đến thế gian để cứu chuộc loài người, thì hôm nay, những y bác sĩ vì lương tâm nghề nghiệp, vì tình yêu dành cho những người bệnh mà họ đã hy sinh tất cả: gia đình, thời gian, ý riêng, hạnh phúc và ngay cả mạng sống của mình để giúp đỡ các bệnh nhân vượt qua những khó khăn. Những hình ảnh các y bác sĩ đang ngày đêm làm việc không ngừng chính là họ đang âm thầm làm sáng danh Chúa. Họ đã và đang sống lời mời gọi yêu thương của Chúa, như trong thư của thánh Phaolô nói: “Dù ăn, dù uống hay làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa”  (1Cr 10,31).

Qua bài Tin Mừng hôm nay, mỗi chúng ta cũng được mời gọi hãy sống “giờ” của Chúa Giêsu, mà giờ ấy không chỉ trong một hai giờ hay trong một hai ngày, nhưng “giờ” đó đòi hỏi chúng ta phải sống liên lỉ mỗi ngày, có nghĩa là mỗi ngày chúng ta hãy vác thập giá của mình, vì thập giá ấy sẽ được tôn vinh bởi “qua thập giá đến vinh quang”. Con đường ấy chính Chúa Giêsu đã đi qua và Ngài cũng mời gọi chúng ta cũng hãy đi theo con đường ấy trong ơn gọi mà mình đang sống. Nhìn vào gương Chúa Giêsu, chúng ta cũng được mời gọi hãy làm vinh danh Chúa Cha bằng cách vâng phục và thực thi ý muốn của Thiên Chúa, nhất là chúng ta hãy dùng tình yêu thương mà làm cho mọi người xung quanh nhận ra sự hiện diện của Chúa Cha.

“Xin Cha tôn vinh con bên Cha” (c. 4-5a). Chúa Giêsu đã luôn ý thức sứ mạng mà Chúa Cha đã trao phó, Ngài đã trải qua bao đau khổ mới có thể chu toàn thánh ý Chúa Cha một cách trọn vẹn. Còn đau khổ nào hơn khi bị chính những người thân của mình phản bội. Các môn đệ mà Ngài vẫn luôn yêu thương chăm sóc ,mà nay người này phản bội, người kia chối bỏ khi Thầy gặp khó khăn. Khó khăn đau khổ như vậy nhưng Chúa Giêsu vẫn luôn giữ lòng trung tín với thánh ý Chúa Cha, để cho mọi người nhận biết Chúa Cha – Đấng vẫn luôn yêu thương loài người, bởi vì khi Chúa Giêsu “hoàn tất công trình Cha giao phó” đó chính là tôn vinh Cha. Tất cả những gì Chúa Giêsu đã làm đều nhắm đến một mục đích duy nhất đó là tôn vinh Chúa Cha và để cho thế gian được nhận biết Thiên Chúa Cha – Đấng duy nhất có quyền ban sự sống đời đời cho những ai tin vào Người, và Chúa Con là cầu nối duy nhất đưa chúng ta đến với Chúa Cha, vì: Như Chúa Giêsu đã nói không ai thấy Thiên Chúa bao giờ nếu Chúa Con không mặc khải cho và không ai đến được với Chúa Con nếu Chúa Cha không lôi kéo họ (x. Ga 6,44).

Sau khi đã hoàn tất sứ mạng của mình, Chúa Giêsu đã cầu nguyện với Chúa Cha: “Lạy Cha, giờ đây, xin Cha tôn vinh con bên Cha: xin Cha ban cho con vinh quang mà con vẫn được hưởng trước khi có thế gian” (c.5). Lời cầu xin của Ngài không hiểu như là một công trạng cũng không hiểu như một người làm công đáng được chủ trả công, nhưng với Chúa Giêsu, đó là những điều vốn dĩ thuộc về Ngài, vì Ngài là Con Một của Thiên Chúa Cha. Khi đến trong thế gian, Chúa Giêsu với vai trò là một người được sai đi, để làm cho muôn dân nhận biết Thiên Chúa, và Ngài đã làm với tất cả trách nhiệm và bổn phận của mình. Chúa Giêsu đã trao ban cho họ tất cả những gì Ngài đã đón nhận được từ Chúa Cha để giúp họ hiểu và nhận ra Chúa Cha “vì con đã ban cho họ lời mà Cha đã ban cho con, họ đã nhận những lời ấy, họ biết thật rằng con đã từ Cha mà đến, và họ đã tin là Cha đã sai con” (Ga 17,8).

Nhưng để nhận biết được Thiên Chúa, chúng ta không phải dùng không phải dùng khoa học hay do trí hiểu, mà đó là một ân huệ mà Thiên Chúa ban cho, có nghĩa là chúng ta phải có đức tin vì “đức tin đi tìm sự hiểu biết”.
Thực tế của xã hội ngày nay đã cho thấy, con người đang đánh mất đức tin vốn có của mình, vì họ cho rằng con người có thể làm được tất cả, con người có thể làm chủ vũ trụ, họ tự tôn mình lên trên Đấng đã làm ra vũ trụ này. Họ đã quên rằng tất cả những gì họ làm ra đều được bắt đầu từ cái có sẵn.

Thái độ sống vô ơn này không phải là thái độ sống mà Chúa muốn, vì chúng ta không là gì nếu không có Thiên Chúa và chúng ta không có gì nếu Thiên Chúa không ban cho vì mọi sự chúng ta có đều thuộc về Chúa. Như Chúa Giêsu, mặc dù Ngài là Con Một nhưng Ngài luôn ý thức rằng: “Tất cả những gì con có đều là của Cha, tất cả những gì Cha có đều là của con, và con được tôn vinh nơi họ” (c. 10). Chúa đã sống tâm tình này và cũng như để dạy chúng ta rằng: những gì chúng ta đang có hiện nay không phải những gì thuộc quyền sở hữu của ta, nhưng chúng ta chỉ là những người quản lý mà Thiên Chúa gửi đến thế gian.

Sau khi đã hoàn tất sứ mạng và trở về với Chúa Cha, Chúa Giêsu vẫn không quên cầu xin Chúa Cha cho những người còn đang ở thế gian “con cầu xin cho chúng, con không cầu xin cho thế gian”. Ngài ý thức được sự yếu đuối mỏng giòn của con người, nên Ngài đã xin Chúa Cha gìn giữ họ và ban cho họ ơn trung thành trong đức tin khi gặp phải những khó khăn thử thách.

Bên cạnh đó, khi chúng ta đã được đón nhận tình yêu thương của Thiên Chúa thì chúng ta cũng phải có nghĩa vụ trao ban tình yêu ấy cho mọi người xung quanh, nhất là những người đang gặp khủng hoảng về đức tin, để họ cũng được đón nhận tình yêu ấy nhờ đó họ nhận ra Thiên Chúa vẫn luôn luôn yêu thương và dõi bước theo họ.

 

 

 

Read More
11Tháng Năm
2023

Chúa nhật VII Phục Sinh A

11/05/2023
Anmai
Phụng vụ, Thánh lễ
0

Chúa nhật VII Phục Sinh A

Dẫn vào Thánh Lễ

Ca nhập lễ

Lạy Chúa, xin nghe tiếng tôi kêu cầu. Về phần Chúa, lòng tôi tự nhắc lời này: Hãy tìm ra mặt Chúa, và tôi tìm ra mặt Chúa, xin Chúa đứng ẩn mặt xa tôi – Alleluia.

Lời nguyện nhập lễ

Lạy Chúa, chúng con tin thật rằng Ðức Kitô, Ðấng cứu chuộc nhân loại đang ngự bên hữu Chúa trong vinh quang. Xin nhận lời chúng con tha thiết cầu khẩn mà làm cho chúng con nghiệm thấy Người ở giữa chúng con hằng ngày cho đến tận thế, như lời Người đã hứa trước khi lên trời. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.

Bài Ðọc I: Cv 1, 12-14

“Mọi người đều đồng tâm kiên trì cầu nguyện”.

Bài trích sách Tông đồ Công vụ.

(Sau khi Chúa Giêsu lên trời), các Tông đồ xuống khỏi núi gọi là Núi Ô-liu mà trở về Giêrusalem, núi này ở gần Giêrusalem, bằng quãng đường (được đi trong) ngày Sabbat.

Và khi đã trở vào thành, các ông lên lầu gác, nơi Phêrô và Gioan, Anrê và Philipphê, Giacôbê con ông Alphê và Simon Giêlôtê, và Giuđa con ông Giacôbê, trú ngụ.

Mọi người đều đồng tâm kiên trì cầu nguyện, cùng với mấy người phụ nữ, và Bà Maria mẹ Chúa Giêsu, với các anh em Người.

Ðó là Lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 26, 1.4.7-8a

Ðáp: Tôi tin rằng tôi sẽ được nhìn xem những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh.

Xướng: Chúa là sự sáng, là Ðấng cứu độ, tôi sợ chi ai? Chúa là Ðấng phù trợ đời tôi, tôi sợ gì ai? – Ðáp.

Xướng: Có một điều tôi xin Chúa, một điều tôi kiếm tìm, đó là tôi được cư ngụ trong nhà Chúa suốt đời tôi, hầu vui hưởng sự êm đềm của Chúa, và chiêm ngưỡng thánh điện của Người. – Ðáp.

Xướng: Lạy Chúa, xin nghe tiếng tôi kêu cầu, xin thương xót và nhậm lời tôi. Về Chúa, lòng tôi tự nhắc lời: “Hãy tìm ra mắt Ta”. – Ðáp.

Bài Ðọc II: 1Pr 4, 13-16

“Nếu anh em bị xỉ nhục vì danh Ðức Kitô, thì phúc cho anh em”.

Bài trích thư thứ nhất của Thánh Phêrô Tông đồ.

Anh em thân mến, được thông phần vào các sự thống khổ của Chúa Kitô, anh em hãy vui mừng, để khi vinh quang của Người được tỏ hiện, anh em sẽ được vui mừng hoan hỉ.

Nếu anh em bị xỉ nhục vì Danh Chúa Kitô, thì phúc cho anh em, vì danh dự, vinh quang và sức mạnh của Thiên Chúa, là chính Thánh Thần Người sẽ ngự trên anh em.

Ước rằng không ai trong anh em phải khổ vì sát nhân, trộm cướp, gian phi hay là tham lam của kẻ khác; nếu chỉ vì là kitô hữu thì đừng hổ thẹn, hãy ca ngợi Thiên Chúa vì danh hiệu đó.

Ðó là Lời Chúa.

Alleluia: Ga 14, 18

Alleluia, alleluia. – Chúa phán: “Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi: Thầy sẽ đến với các con và lòng các con sẽ vui mừng”. – Alleluia.

Phúc Âm: Ga 17, 1-11a

“Lạy Cha, xin hãy làm vinh hiển Con Cha”.

Bài trích Phúc Âm theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu ngước mắt lên trời và nói: “Lạy Cha, giờ đã đến, xin hãy làm vinh hiển Con Cha, để Con Cha làm vinh hiển Cha.

Vì Cha đã ban cho Con quyền trên mọi huyết nhục, để con cũng ban sự sống đời đời cho mọi kẻ Cha đã giao phó cho Con.

Sự sống đời đời chính là chúng nhận biết Cha, là Thiên Chúa duy nhất chân thật, và Ðấng Cha đã sai, là Giêsu Kitô.

Con đã làm vinh hiển Cha dưới đất, Con đã chu toàn công việc mà Cha đã giao phó cho Con.

Giờ đây, lạy Cha, xin hãy làm cho Con được vinh hiển nơi Cha, với sự vinh hiển mà con đã có nơi Cha, trước khi có thế gian.

Con đã tỏ danh Cha cho mọi kẻ Cha đã đưa khỏi thế gian mà ban cho Con.

Chúng thuộc về Cha, và Cha đã ban chúng cho Con, và chúng đã tuân giữ lời Cha.

Bây giờ chúng biết rằng những gì Cha ban cho Con, đều bởi Cha mà ra.

Vì những lời Cha ban cho Con thì Con đã ban cho chúng và chúng đã lãnh nhận, và biết đích thực rằng Con bởi Cha mà ra, và chúng tin rằng Cha đã sai Con.

Con cầu xin cho chúng, Con không cầu xin cho thế gian, nhưng cho những kẻ Cha đã ban cho Con, bởi vì chúng là của Cha.

Và mọi sự của Con là của Cha, và mọi sự của Cha cũng là của Con, và Con đã được vinh hiển nơi chúng.

Con không còn ở thế gian nữa, nhưng chúng vẫn còn ở thế gian, phần Con, Con về cùng Cha”.

Ðó là Lời Chúa.

Lời nguyện tín hữu

Chủ tế: Anh chị em thân mến, Chúa Cha đã tôn vinh Chúa Giêsu trong mầu nhiệm tử nạn và phục sinh. Chúng ta được tham dự vào vinh quang của Chúa Giêsu, khi kết hiệp mật thiết với mầu nhiệm Vượt Qua của Người. Giờ đây chúng ta dâng lên Chúa Giêsu những lời cầu nguyện, xin cho chúng ta được thông phần vinh quang với Người.

  1. “Con không cầu nguyện cho thế gian, nhưng cho những kẻ Cha đã ban cho con, bởi vì họ thuộc về Cha”. Xin cho các dân tộc và các ngôn ngữ trên khắp địa cầu, nhờ đón nhận Tin Mừng được thuộc trọn về Chúa.
  2. “Xin Cha tôn vinh Con Cha, để Con Cha tôn vinh Cha”. Xin cho các tín hữu được tham dự vào vinh quang của Chúa Giêsu, nhờ việc thực hành thánh ý Chúa.
  3. “Đừng có ai trong anh em phải chịu khổ vì tội giết người, trộm cắp, làm điều gian ác”. Xin cho các tín hữu can đảm sống đức tin, xa tránh các việc xấu và hăng say làm việc đạo đức, bác ái.
  4. Đức Mẹ Maria, các thánh Tông Đồ, và các tín hữu chuyên cần cầu nguyện. Xin cho mỗi người trong cộng đoàn chúng ta, chuyên cần lắng nghe và thực hành Lời Chúa, đồng thời siêng năng cầu nguyện, nhờ đó họ trở thành chứng nhân sống động Chúa đã phục sinh.

Chủ tế: Lạy Cha, xin nhận lời cầu nguyện của chúng con, xin ban Chúa Thánh Thần cho chúng con, để Ngài giúp chúng con hiểu biết, yêu mến và thực hành những huấn lệnh của Cha. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.

Lời nguyện tiến lễ

Lạy Chúa, xin chấp nhận những lời cầu xin và lễ vật chúng con dâng tiến, mà làm cho thánh lễ chúng con đang sốt sắng cử hành mở đường dẫn chúng con tới quê trời vinh hiển. Chúng con cầu xin…

Lời tiền tụng

Lạy Chúa, chúng con tuyên xưng Chúa mọi lúc, nhất là trong mùa cực thánh này, chúng con càng hãnh diện tung hô Chúa khi Ðức Ki-tô đã được hiến tế làm Chiên Vượt Qua của chúng con, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.

Vì sau khi tình trạng xưa cũ bị hủy diệt, toàn thể những gì bị loại bỏ đều được đổi mới và sự sống nguyên vẹn được phục hồi cho chúng con trong Chúa Ki-tô. Vì thế, với niềm hân hoan chứa chan trong lễ Phục Sinh, toàn thể nhân loại trên khắp địa cầu đều nhảy mừng. Cũng vậy, các Dũng thần và các Quyền thần không ngừng hát bài ca chúc tụng vinh quang Chúa rằng:

Thánh! Thánh! Thánh!…

 

 

Ca hiệp lễ

Lạy Cha, Con xin Cha cho chúng nên một, như Chúng Ta là một – Alleluia

Lời nguyện hiệp lễ

Lạy Chúa là Thiên Chúa cứu độ, xin nhận lời chúng con cầu khẩn; và nhờ bí tích chúng con vừa tham dự, xin giúp chúng con là chi thể của Ðức Kitô, hằng tin tưởng sẽ được đồng vinh hiển với Người là Thủ Lãnh của chúng con. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 307
  • Page 308
  • Page 309
  • …
  • Page 924
  • Next page
Bài viết mới nhất
BẮT ĐẦU CUỘC GẶP GỠ GIỚI TRẺ TAIZÉ CHÂU Á TẠI HỒNG KÔNG
04/05/2026
ĐỨC THÁNH CHA TIẾP BAN QUẢN TRỊ VÀ THÀNH VIÊN CỦA "QUỸ GIÁO HOÀNG"
04/05/2026
Chương trình MỤC VỤ HUẤN GIÁO  
04/05/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.