2023
Giáo dân học hỏi Kinh Thánh: việc cần làm ngay!
Giáo dân học hỏi Kinh Thánh: việc cần làm ngay!
Giáo Hội muốn giáo dân học hỏi Kinh Thánh
Giáo dân học hỏi Kinh Thánh không phải là một điều mới mẻ. Cách đây hơn nửa thế kỷ, Công đồng Vaticanô II đã tuyên bố trong Hiến Chế về Mặc Khải, Dei Verbum: “Thánh Công Đồng ân cần và đặc biệt khuyến khích mọi Kitô hữu, nhất là các tu sĩ, hãy đạt đến ‘sự hiểu biết tuyệt vời về Chúa Giêsu Kitô’ (Pl 3,8) nhờ năng đọc Sách Thánh. ‘Thật vậy, không biết Thánh Kinh là không biết Chúa Kitô’. Vì thế họ phải siêng năng tìm đến với chính bản văn Kinh Thánh, hoặc nhờ Phụng vụ thánh chứa đựng dồi dào Lời Chúa, hoặc nhờ những lớp học hỏi thích hợp và những phương tiện khác hiện đang được phổ biến khắp nơi với sự chuẩn nhận và quan tâm của các vị Chủ Chăn trong Giáo Hội” (DV 25). Như thế, đối với Công Đồng, việc học hỏi Kinh Thánh là việc của mọi Kitô hữu, của mọi giáo dân. Giáo dân được mời gọi tiếp xúc với chính bản văn Kinh Thánh, qua tham dự phụng vụ Lời Chúa, qua việc đọc Lời Chúa riêng tư, hay qua việc tham dự các khóa học và qua những phương tiện truyền thông khác.
Giám mục là người có nhiệm vụ dạy cho các tín hữu “biết sử dụng cho đúng các Sách Thánh, nhất là Tân Ước và đặc biệt là các sách Tin Mừng” nhờ đó họ có thể “tiếp xúc với Lời Chúa cách an toàn và ích lợi, và thấm nhuần tinh thần Kinh Thánh” (DV 25). “Đọc và học hỏi Sách Thánh” là lời khuyên cuối cùng và quan trọng của Hiến Chế Mặc Khải (DV 26).
Trong Tông Huấn Lời Chúa, Verbum Domini (2010), Đức Bênêđíctô XVI nhắc lại nhiệm vụ này khi nói về Lời Chúa và giáo dân: “Giáo dân cần được đào tạo để biết biện phân ý muốn Thiên Chúa nhờ một cuộc sống thân tình với Lời Thiên Chúa, Lời được đọc và được học hỏi trong Giáo Hội, dưới sự hướng dẫn của các vị Mục tử hợp pháp” (VD 84). Ngài đòi “chúng ta phải giúp người trẻ có sự tín nhiệm và thân quen với Kinh Thánh, để Kinh Thánh trở thành như chiếc la bàn chỉ cho biết con đường phải theo” (VD 104). Đức Bênêđíctô còn nhấn mạnh đến việc “cần phải chuẩn bị chu đáo các linh mục và giáo dân để họ có thể dạy dỗ Dân Thiên Chúa tiếp cận Kinh Thánh một cách chân thực” (VD 73). Ngài cũng nói đến việc giáo dân có thể được học tại các trường dạy Kinh Thánh, hay được giáo phận huấn luyện (VD 75 và 84).
Theo cùng một đường hướng như trên, Đức Giáo Hoàng Phanxicô trong Tông Huấn Niềm Vui Tin Mừng, Evangelii Gaudium (2013) cũng khẳng định: “Việc học hỏi Kinh Thánh phải là một cánh cửa rộng mở cho mọi tín hữu” (EG 175). Đối với Ngài, người loan báo Tin Mừng cần có sự thân mật với Lời Chúa. Bởi đó Ngài kêu gọi: “các giáo phận, giáo xứ và các hội đoàn Công giáo tổ chức các cuộc học hỏi nghiêm túc và thường xuyên về Kinh Thánh, đồng thời khuyến khích các cá nhân và cộng đoàn đọc Kinh Thánh với tâm tình cầu nguyện” (EG 175).
Tại sao phải học hỏi Kinh Thánh?
Có thể nói Giáo Hội Công giáo từ hơn 50 năm nay đã không ngừng muốn cho mọi giáo dân có cơ hội học hỏi Kinh Thánh dưới nhiều hình thức. Phải nhìn nhận rằng đây không phải là điều dễ dàng. Người Công giáo Việt Nam quen đọc kinh lần chuỗi và thực hành những hình thức đạo đức khác. Có người giáo dân nghĩ rằng việc học Kinh Thánh là điều khó, là việc dành riêng cho các linh mục tu sĩ, chính vì thế họ sợ tiếp cận với Sách Thánh. Có người không thấy hứng thú khi đọc Lời Chúa, nên cuốn Tân Ước vẫn nằm yên một chỗ. Có nhóm thích chia sẻ Lời Chúa, nhưng lại không thấy cần tìm hiểu xem bản văn Lời Chúa thật sự muốn nói gì.
Kinh Thánh là Lời của Thiên Chúa. Đức Giêsu đã lấy sách Đệ-nhị-luật để nói với tên cám dỗ trong hoang địa: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra” (Đnl 8,3). Người Công giáo chẳng những được nuôi bằng bàn tiệc Mình Chúa mà còn bằng bàn tiệc Lời Chúa nữa (DV 21). Thiếu một trong hai, là đặt mình trong tình trạng thiếu thốn. Chúng ta đã có nhiều hình thức biểu lộ sự kính trọng đối với Bí Tích Thánh Thể như dọn mình rước lễ, rước kiệu hay chầu Mình Thánh Chúa. Điều đó là tốt, nhưng Công Đồng Vaticanô II nhắc chúng ta: “Giáo Hội đã luôn luôn tôn kính Kinh Thánh như đã tôn kính chính Thánh Thể Chúa” (DV 21). Làm sao bày tỏ sự tôn kính đối với Kinh Thánh nếu không phải là cầm lấy sách Thánh mà đọc, nghiền ngẫm, tìm hiểu ý nghĩa, cầu nguyện với sách Thánh bằng cách suy niệm hay chiêm niệm, và cuối cùng là thực hành Lời Chúa? Có người bảo nếp sống đạo của người Việt còn hời hợt, hình thức, chưa có bề sâu, chưa có nền vững. Điều đó có đúng không? Dựa vào Công Đồng, ta có thể tìm thấy câu trả lời: “Toàn thể việc rao giảng trong Giáo Hội cũng như chính nếp sống đạo của người Kitô hữu phải được Kinh Thánh nuôi dưỡng và hướng dẫn” (DV 21). Chúng ta đã quá quen với câu này: “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 118,105), nhưng quả thật nhiều người Công giáo ở Việt Nam vẫn còn xa lạ với Lời Chúa.
Để thân quen với Lời chúa, chúng ta cần dành thời gian để học hỏi. Kinh Thánh là một bộ sách cổ, được viết trong nhiều thế kỷ. Ngay bộ Tân Ước cũng đã cách xa chúng ta gần hai ngàn năm. Các tác giả Sách Thánh là những người Do-thái sống trong những thời đại lịch sử khác nhau, sống trong nền văn hóa, xã hội và phụng tự khác chúng ta. Chính vì thế chúng ta không ngạc nhiên khi gặp những đoạn văn khó hiểu và thậm chí gây sốc trong Kinh Thánh. Vô tri bất mộ, để có “lòng yêu mến nồng nàn và sống động đối với Kinh Thánh” (Hiến Chế về Phụng Vụ số 14) người giáo dân cần học hỏi không ngừng qua các bài dẫn nhập, các sách chú giải, và những khóa học.
Đứng trước sự kiện thời nay xuất hiện nhiều giáo phái phổ biến một cách đọc Kinh Thánh lệch lạc và lèo lái, Đức Bênêđíctô cảnh báo: “Ở đâu các tín hữu không trau dồi cho mình một sự hiểu biết Kinh Thánh phù hợp với đức tin của Giáo Hội và dựa trên Truyền Thống sống động của Giáo Hội, thì ở đó người ta để lại một khoảng trống rỗng mục vụ, là nơi mà các thực tại như các giáo phái có thể gặp được một vùng đất mầu mỡ để bám rễ” (VD 73). Nói cách khác, để tránh bị lôi kéo bởi các giáo phái lầm lạc, phải học Kinh Thánh một cách chính thống trong Giáo Hội.
Khi mừng lễ Ngôi Lời của Thiên Chúa mang lấy thân xác yếu đuối của con người, chúng ta cũng mừng Lời của Thiên Chúa được nói với chúng ta bằng ngôn ngữ loài người để chúng ta có thể hiểu được. Dù ngôn ngữ loài người có nhiều giới hạn và khiếm khuyết, nhưng bộ Kinh Thánh chúng ta đọc và học hỏi vẫn có thể đưa chúng ta đi vào cuộc gặp gỡ và trò chuyện thân tình với chính Thiên Chúa, nhờ đó có sức sống ở đời này và ơn cứu độ đời sau.
2023
Những cuốn sách bị “thất lạc” hay bị “mất tích” của Kinh Thánh là những sách nào?
Những cuốn sách bị “thất lạc” hay bị “mất tích” của Kinh Thánh là những sách nào?
Những cuốn sách bị coi là “thất lạc,” “bị mất,” hay “bị cấm” của bộ Kinh Thánh có rất nhiều nhưng những cuốn sách ấy không bao giờ được bất cứ một nhóm Do Thái giáo hay nhóm Kitô giáo nào xem là những bản văn được Thiên Chúa linh hứng. Chỉ có những sách được xem là được Thiên Chúa linh hứng mới có sự đảm bảo không thể sai lầm. Hầu hết những bản văn “thất lạc” được viết vào khoảng 200 đến 300 năm sau khi các tông đồ đã chết và được chôn cất khá lâu, và nguồn gốc tác giả cũng như tính chân thực của các bản văn bị tranh cãi cách gay gắt.
Truyền thống Tin Lành gọi những cuốn sách này trong Cựu Ước là Pseudepigrapha, từ ngữ Hy Lạp này có nghĩa là những văn tự “sai lầm,” trái lại những văn tự mà Tin Lành dán nhãn là Apocrypha, thì có nghĩa là những bản văn “huyền bí” [vẫn mang những giá trị thiêng liêng nhưng không được công nhận là những bản văn được Thiên Chúa linh hứng]. Công giáo gọi những cuốn sách bị thất lạc này là deuterocanonical, nghĩa là đệ nhị quy điển.
Một vài ví dụ về Pseudepigrapha (Tin Lành)/ Apocrypha (Công giáo) là những cuốn sách về Ađam và Eva, sách Khải huyền của Môsê, sách Enoch, Khải huyền của Ađam, Khải huyền của Abraham, Tử đạo của Isaia, Các Giao ước của Mười Hai Chi tộc và những sách về Lễ Toàn Xá.
Những sách mà Tin Lành gọi là Apocrypha (sách “huyền bí”) của Cựu Ước, thì Công giáo và Chính Thống giáo Đông Phương gọi là đệ nhị quy điển (deuterocanonical), gồm: Baruc, Maccabê 1 và 2, Tôbia, Giuđitha, Huấn ca, và Khôn ngoan. Bảy cuốn sách này, cộng với vài chương trong Đaniel và Esther luôn luôn có trong Kinh Thánh Cựu Ước của Công giáo và thường được thấy trong Kinh Thánh Tin Lành như là Apocrypha- những sách “huyền bí.”
Trong Tân Ước, cả truyền thống Công giáo lẫn Tin Lành chỉ sử dụng thuật ngữ Apocryphacho những sách bị loại ra, vốn là những sách không bao giờ được coi là được Thiên Chúa linh hứng, như Tin mừng theo Tôma, Tin mừng theo Philippê, Tin mừng theo Giacôbê, Tin mừng theo Nicôđêmô, Tin mừng theo Phêrô, Cái chết của Philato, Tông đồ Công vụ của Anrê, Tông đồ Công vụ của Barnaba, Cái chết của Đức Maria, Lịch sử về Giuse Thợ Mộc, Khải huyền của Phêrô, Khải huyền của Phaolô, và Tin mừng theo Maria Madalena được biết đến qua nhóm Ngộ giáo[1]. Những bản văn này không bao giờ được tính trong bất cứ Kinh Thánh nào. Thay vì phân loại chúng như là những cuốn sách thất lạc, mất tích hay thậm chí bị cấm, hầu hết các Kitô hữu đơn thuần xem những cuốn sách ấy làApocrypha (Ngụy thư)[2].
Chuyển ngữ: Nhóm Maiorica, Học viện Dòng Tên
Nguồn: Rev. John Trigilio JR., Ph.D., and Rev. Kenneth D. Brighenti, Ph.D., The Catholicism Answer Book- The 300 Most Frequently Asked Question, (Naperville, Illinois: Sourcebooks, Inc.), 23-24.
[1] Ngộ giáo (Gnosticism) có nhiều chủ trương, trong đó có quan niệm cho rằng con người được cứu độ nhờ tri thức (gnosis) đặc biệt chứ không nhờ Đức Kitô.Thuyết này có nguồn gốc trước Kitô giáo, nhưng cũng len lỏi vào trong Kitô giáo ngay từ thời kỳ đầu. Các Giáo phụ đã phải chống lại thuyết này để bảo vệ sự tinh tuyền của đức tin Kitô giáo- ND. Xem thêm tại http://www.newadvent.org/cathen/06592a.htm
[2] Để dễ phân biệt, chúng tôi xin tóm tắt như sau:
– Cựu Ước:
+ Tin Lành dùng Pseudepigrapha theo nghĩa Ngụy thư; Apocrypha cho những sách “huyền bí.”
+ Công giáo dùng chữ Apocrypha theo nghĩa Đệ nhị Thư quy (deuterocanonical).
– Tân Ước: Cả Tin Lành và Công giáo đều dùng thuật ngữ Apocrypha theo nghĩa Ngụy thư- ND.
2023
Phương Pháp Cầu Nguyện Với Thánh Kinh
PHƯƠNG PHÁP CẦU NGUYỆN
Có nhiều phương pháp cầu nguyện với Thánh Kinh. Mỗi người có thể thấy một hay vài phương pháp nào đó thích hợp với mình. Bằng cách thực tập nhiều lần các phương pháp khác nhau, chúng ta sẽ trở nên giỏi dang khi sử dụng phương pháp thích hợp cho đoạn Thánh Kinh và hòa hợp với nhu cầu cá nhân và cá tính của chúng ta. Một khi tôi đã tìm được một phương pháp cầu nguyện riêng cho mình, xin cứ theo phương pháp cầu nguyện đó.
Công Thức 4P + 1R
Ý Thức Sự Hiện Diện của Chúa (Presence of God)
- Cảm nhận sự hiện diện của Thiên Chúa qua hơi thở và cảm giác lắng đọng
- Ý thức nơi tôi đang ngồi là “Đất Thánh” – “Cởi dép ở chân ra, vì nơi ngươi đứng là đất thánh.” (Xh 3:5)
Ơn Xin (Petition for Grace)
- Đọc từ tốn “Tôi Muốn Gì” trong tờ thao luyện
- Lắng đọng một chút và suy nghĩ về Ơn Xin
*Cầu Nguyện với Thánh Kinh (Passage of Scripture)
- Suy niệm, chiêm niệm, đối thoại với Chúa và đáp trả tiếng Chúa
Lời Nguyện Kết (Prayer)
- Kết thúc bằng lời nguyện riêng của mình hay lời nguyện trong tờ thao luyện
- Phó thác tương lai cho Chúa
Kiểm Điểm (Review)
- Viết Nhật Ký Thiêng Liêng.
- Tư tưởng nào đánh động tôi nhất? Những ơn đã nhận được trong giờ cầu nguyện
- Xem lại cách cầu nguyện, khung cảnh có giúp tôi dể dàng hơn.
*Cầu Nguyện với Thánh Kinh (Passage of Scripture)
Cầu nguyện là cuộc đối thoại giữa hai người. Do đó nó có hai phần: phần của tôi và phần của Chúa. Tôi ráng làm tròn phần của tôi rồi Chúa sẽ đem đến phần của Ngài. Nhiều khi Ngài đến không như ý tôi muốn hay ước mong. Tôi có yêu đủ để không chối từ một điều gì với Ngài và để cho Ngài hoàn toàn tự do không?
Phần của Tôi
Đọc đoạn Thánh kinh chậm rãi qua hết một lần. Có thể đọc đoạn trước đó hoặc sau đó để biết bối cảnh (context) câu chuyện. Thí dụ: Câu chuyện Chúa làm phép lạ hóa bánh ra nhiều.
Sau đây là những cách cầu nguyện với Thánh kinh:
1. Suy Niệm
Khi suy niệm, chúng ta đến với đoạn Thánh kinh như với một lá thư tình; hình thức này rất hữu ích khi cầu nguyện với những đoạn thơ như Thánh Vịnh.
Phương Pháp
- Đọc đoạn Thánh kinh thật chậm, lớn tiếng hay thì thầm, để cho các chữ bao trùm lên bạn, và nghiền ngẫm từng chữ.
- Dừng lại ở những chữ đặc biệt làm bạn chú ý; hấp thụ chúng như người khát mong uống nước mưa trời.
- Lập lại một chữ hay một câu nhiều lần, nhận thức những cảm giác đang được đánh thức dậy.
- Đọc, và đọc lại đoạn Thánh kinh nhiều lần một cách trìu mến, y như đọc một lá thư tình, hay như khi bạn hát nhẹ nhàng điệp khúc của một bài ca.
2. Chiêm Niệm
Khi chiêm niệm, chúng ta bước vào một biến cố hay một đoạn kể chuyện trong Thánh Kinh. Chúng ta bước vào đoạn này bằng sự tưởng tượng, và sử dụng tất cả các cảm quan của chúng ta. Các nhà thần học dạy rằng qua chiêm niệm, chúng ta có thể “nhớ lại và hiện diện trong những mầu nhiệm của cuộc đời Chúa Kitô”. Thần Trí Chúa Giê-su hiện diện trong chúng ta qua phép rửa tội, dạy dỗ chúng ta y như Chúa Giê-su đã dạy dỗ các tông đồ. Thần Trí gợi lại và làm sống động các mầu nhiệm chúng ta bước vào qua việc cầu nguyện. Cũng như ở trong Thánh Thể, Chúa Giê-su lên trời đã làm hiện diện mầu nhiệm Phục Sinh, trong việc chiêm niệm, Thánh thần đem tới biến cố đặc biệt mà chúng ta chiêm niệm và Thánh thần tự xuất hiện trong mầu nhiệm ấy.
Phương Pháp
Trong khi chiêm niệm, chúng ta bước vào câu chuyện y như chính chúng ta có mặt ở đó:
- Quan sát những gì xảy ra; lắng nghe những gì đã được nói.
- Trở nên một thành phần của mầu nhiệm; lãnh vai trò cuả một nhân vật.
- Nhìn từng nhân vật; nhân vật đó đang có kinh nghiệm gì? Nhân vật đó đang nói với ai?
- Nếu tôi nghe được lời Chúa nói với tôi trong đoạn thánh kinh đó thì có ảnh hưởng gì đến đời sống của tôi, gia đình tôi, xã hội tôi?
Trong câu truyện Thánh kinh, bước vào một cuộc đối thoại với Chúa Giê-su:
- Có mặt ở đó với Chúa và vì Chúa.
- Ước muốn Chúa, thèm khát Chúa.
- Lắng nghe Chúa.
3. Cầu Nguyện Tập Trung
Cầu nguyện tập trung là một hình thức cầu nguyện rất giản dị, rất trong sáng, thường thì không ra lời; đó là cách mở trái tim chúng ta cho Thánh Thần đến ngự trị trong chúng ta. Trong cầu nguyện tập trung, chúng ta tuột dốc xoáy ốc để đi sâu xuống vào tận đáy tâm hồn chúng ta. Đó là điểm yên tĩnh trong ta nơi đa số chúng ta cảm nghiệm đã được cấu tạo bởi một Thiên Chúa thương yêu đã thổi hơi thở cho chúng ta được sống. Muốn bước vào sự cầu nguyện tập trung, chúng ta phải tuyên xưng sự phụ thuộc của chúng ta vào Chúa và đầu hàng trước tinh thần yêu thương của Ngài.
“… Thánh Thần cũng đến để giúp đỡ chúng ta những lúc yếu đuối. Thánh Thần trình bày nhừng lời cầu xin của chúng ta dưới những hình thức không thể diễn tả bằng lời…”(Ro-ma 8:26)
Thánh thần của Chúa Giêsu kêu lớn trong chúng ta “A-ba, Lạy Cha” (Ro-ma 8:15).
Phương Pháp
“Dừng lại một lát và nhận biết Ta là Thiên Chúa” (Thánh Vịnh 46:10).
- Ngồi yên lặng, thoải mái và dễ chịu.
- An nghỉ trong mong muốn và ao ước Chúa.
- Di chuyển vào trung tâm sâu xa của bản thể chúng ta. Sự di chuyển này có thể dễ dàng nếu tưởng tượng như khi chúng ta đang tụt xuống trong một cầu thang máy, hay khi đang bước xuống một cầu thang dài, hay khi đang leo xuống một triền núi, hay lặn sâu xuống một hồ nước.
- Trong sự yên tịnh, cố nhận thức được sự hiện diện của Chúa; hấp thụ tình yêu Chúa một cách an bình.
4. Lời Nguyện Lập Lại
Một hình thức cầu nguyện tập trung khác là sử dụng lời nguyện lập lại. Lời nguyện lập lại có thể là một chữ hay một câu. Có thể là một chữ trong đoạn Thánh Kinh, hay một chữ được xuất phát tự đáy tim chúng ta. Chữ hay câu này biểu tượng cho ta sự hiện hữu đầy đủ của Chúa.
Một hình thức thay đổi của lời nguyện lập lại có thể bao gồm tên “Giêsu” hay hình thức đã được mệnh danh là “Kinh Giêsu”, “Lạy Chúa Giêsu, Con của Chúa Trời hằng sống, xin đoái thương đến con, là kẻ có tội.”
Phương Pháp
Chữ hay câu được lập lại nhẹ nhàng, bên trong tâm hồn để cho hòa hợp với hơi thở. Thí dụ, phân nửa đầu của Kinh Giêsu được đọc trong khi hít vào, và phân nửa sau được đọc khi thở ra.
5. Đọc Chiêm Niệm
“Tôi há miệng ra; Người ban cho tôi cuốn Thánh Thư để ăn và nói, “hãy ăn đi và cảm thấy no đủ về cuốn Thánh Thư ta cho con.’ Tôi đã ăn và Thánh Thư có vị ngọt như mật ong” (Ezekiel 3:2-3). Đọc như vậy luôn luôn giúp cho đời sống cầu nguyện của chúng ta được phong phú hơn. Phương pháp được mô tả sau đây đặc biệt có ích khi chúng ta cảm thấy khô khan nguội lạnh.
Phương Pháp
Đọc một cách chậm rãi, ngưng lại nhiều lần để cho các chữ các câu xâm nhập vào cơ thể chúng ta. Khi một tư tưởng vang động sâu xa, dừng lại ở đó, để cho ý nghĩa đầy đủ của chúng, xâm nhập tâm hồn chúng ta. Tận hưởng những chữ đã cảm nhận được. Đáp trả một cách tự nhiên y như khi đối thoại.
6. Viết Nhật Ký
“Nếu các bạn đọc các dòng chữ của tôi, các bạn sẽ có một khái niệm về chiều sâu tôi đã cảm nhận được trong mầu nhiệm của Chúa Kitô” (Ephêsô 3:4). Viết nhật ký là một hình thức viết trong chiêm niệm. Khi chúng ta đặt bút trên giấy, linh hồn và thân thể hỗ trở để giải tỏa bản thể thật sự của chúng ta.
Có sự khác biệt giữa hình thức cầu nguyện này với cách chúng ta viết nhật ký hàng ngày.
Cầu nguyện bằng nhật ký là cảm nhận trong ánh sáng mỗi khi các hình ảnh mới được phát xuất từ tiềm thức của chúng ta được ban cho những ý nghĩa mới. Cầu nguyện bằng nhật ký đòi hỏi phải bỏ sang một bên những thành kiến và những sự kiềm chế đã có sẵn.
Viết trong chiêm niệm giống như viết thư cho một người yêu. Các kỷ niệm được gợi lại, các niềm tin được làm cho sáng tỏ và tình cảm nổi dậy mãnh liệt trong chúng ta. Trong khi viết, chúng ta có thể khám phá rằng các cảm xúc được tăng cường và kéo dài. Vì thế viết nhật ký có thể giúp cho chúng ta nhận định được các cảm xúc bị che dấu, bị đè nén, như tức giận, sợ hãi và thù hận. Cuối cùng, cầu nguyện bằng nhật ký có thể giúp chúng ta tôn trọng hơn những chữ những câu đã được viết trong Thánh Kinh.
Phương Pháp
Có nhiều hình thức khác nhau khi cầu nguyện bằng nhật ký:
- Viết một lá thư cho Chúa.
- Viết một cuộc đối thoại giữa chúng ta và người khác; người khác có thể là Giêsu, hay một người nào quan trọng. Cuộc đối thoại có thể được ghép theo một biến cố, một kinh nghiệm hay một giá trị. Thí dụ, sự chết, sự chia ly, sự khôn ngoan, một tài khéo; và được tưởng tượng ra y như đang nói chuyện với người ấy.
- Viết câu trả lời cho một câu hỏi, chẳng hạn “Con muốn Ta làm gì cho con?” (Maccô 10:51) hay “Tại sao con khóc?” (Gioan 20:15).
- Để cho Giêsu hay một nhân vật khác trong Thánh Kinh nói với chúng ta qua ngòi bút của chúng ta.
7. Lập Lại
“Tôi sẽ tiếp tục chiêm niệm về điểm trong đó tôi đã khám phá ra điều tôi mong ước, và không muốn đi xa thêm trước khi tôi hoàn toàn hài lòng.” – Thánh I-nhã thành Loyola. Lập lại là việc trở về một thời gian cầu nguyện trước đó với mục đích để cho những hoạt động của Chúa ăn sâu trong trái tim chúng ta. Qua sự lập lại, chúng ta tô điểm cho sự nhạy cảm của chúng ta đối với Chúa và đối với cách thức Chúa nói với chúng ta qua việc cầu nguyện và trong những hoàn cảnh của cuộc đời chúng ta. Cầu nguyện lập lại giúp cho kinh nghiệm của sự tổng hợp điều chúng ta là ai với điều Chúa đang bầy tỏ cho chúng ta biết Chúa là ai.
Lập lại là một cách để tôn kính Lời Chúa nói với chúng ta trong các buổi cầu nguyện trước. Đó là nhớ lại và suy nghĩ về một cuộc đối thoại trước đây của chúng ta với một người chúng ta yêu mến. Cũng giống như khi chúng ta nói với Chúa, “Lạy Chúa xin hãy nói lại với con điều ấy; con đã nghe thấy Chúa nói gì với con?” Trong cuộc đối thoại tiếp theo hay lập lại này, chúng ta mở lòng cho sự hiện diện chữa lành thông thường có mãnh lực để biến cải những sự đau buồn và bối rối chúng ta đã cảm nhận được trong các buổi cầu nguyện trước đó. Khi lập lại, không những các sự an ủi (vui sướng, ấm áp, bình an) được mạnh mẽ hơn, mà các sự thất vọng (đau khổ, buồn bã, và bối rối) thường đưa tới một trình độ mới để thấu hiểu và chấp nhận kế hoạch Chúa dành cho chúng ta.
Phương Pháp
Giai đoạn cầu nguyện chúng ta lựa chọn để lập lại là buổi cầu nguyện trong đó chúng ta đã kinh nghiệm một xúc động đáng kể về vui mừng, buồn khổ hay bối rối. Cũng có thể là một giai đoạn trong đó không có gì xảy ra, có lẽ vì chúng ta thiếu chuẩn bị.
- Nhớ lại những cảm xúc của lần trước.
- Sử dụng để làm một điểm khởi đầu, một khung cảnh, môt câu chữ, hay một cảm xúc đáng kể trong lần trước.
- Để cho Thánh Thần hướng dẫn các động tác nội tâm của trái tim trong buổi cầu nguyện này.
Phần của Chúa
Chúa rất nhân từ có khi đem tôi gần trong lòng Ngài. Tôi không có khả năng đem tôi đến gần Chúa, nhưng chính Ngài là Đấng hay thương xót đem tôi vào cung lòng của Ngài, đem tôi thật gần, đem tôi vào chiêm ngưỡng (contemplation). Tôi đắm chìm trong đại dương của tình yêu (ocean of love), vì lòng nhân từ của Ngài.
2023
Vấn đề từ ngữ: KINH THÁNH hay THÁNH KINH ?
Vấn đề từ ngữ: KINH THÁNH hay THÁNH KINH ?
Để chỉ các Sách Thánh của Ki-tô giáo, chúng ta thấy người ta dùng hai từ ngữ : Khi thì Thánh Kinh khi thì Kinh Thánh. Chúng ta tìm hiểu lý do của sự khác biệt này.
- Từ kinhvà thánh
Đây là hai từ Hán-Việt :
Kinhlà sách thời xưa, dùng làm khuôn mẫu, quy luật cho một tôn giáo, như Ngũ Kinh trong Nho Giáo, Kinh Phật trong Phật Giáo, Kinh Coran trong Hồi Giáo. Từ này còn được dùng để chỉ lời cầu nguyện, như trong từ ngữ “Kinh cầu các thánh”.
Thánhlà một cái gì cao siêu, có khi thuộc giới thần linh.
- Cặp từ Kinh Thánh / Thánh Kinh
Trong cặp từ này kinh là danh từ, thánh là tính từ. Trong chữ Hán, tính từ đi trước danh từ, ví dụ : bạch yến, ác nhân. Còn trong tiếng Việt, tính từ thường đi sau, ví dụ : mèo đen, người tốt. Như vậy Thánh Kinh là từ ngữ dùng theo chữ Hán, còn Kinh Thánh là từ ngữ dùng theo tiếng Việt.
- Các từ điển dùng từ ngữ nào ?
Tra cứu một số từ điển, chúng ta thấy cách dùng không đồng nhất :
* Chỉ dùng Thánh Kinh :
– Từ điển Việt-Pháp của JFM Génibrel (1898)
– Từ điển Việt-Hoa-Pháp của Gustave Hue (1937), Eugène Gouin (1957)
– Từ điển Hán-Việt của Đào Duy Anh (1932), Nguyễn Văn Khôn (1960)
– Từ điển Pháp-Việt của Đào Duy Anh (1957), Thanh Nghị (1967)
* Chỉ dùng Kinh Thánh :
– Từ điển Pháp-Việt của Lê Khả Kế (1988), Nguyễn Thành Thống (2001)
– Từ điển Anh-Việt của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (1991)
– Từ điển Anh-Anh-Việt của Nguyễn Sanh Phúc (1999)
* Dùng cả Thánh Kinh và Kinh Thánh : Rất nhiều từ điển coi hai từ ngữ này như đồng nghĩa ; dưới đây xin nêu ra một số :
– Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của (1895)
– Việt Nam tân tự điển của Thanh Nghị (1967)
– Tự điển Việt Nam của Lê Văn Đức – Lê Ngọc Trụ (1970)
– Từ điển Việt Nam của Ban Tu thư Khai Trí (1971)
– Từ điển Việt Pháp của Viện Ngôn Ngữ (1989)
– Từ điển Việt-Anh của Bảo Phụng (1993)
– Từ điển tiếng Việt của Minh Tân (1998)
– Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý (1998)
– Từ điển từ và ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân (2000)
– Từ điển tiếng Việt phổ thông của Viện Ngôn ngữ học (2002)
– Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học (2007)
- Các bản dịch Kinh Thánh dùng từ ngữ nào ?
* Dùng Thánh Kinh :
Các bản dịch của
– Gérard Gagnon (1962-1963)
– An Sơn Vị (1983)
– Trần Văn Kiệm (1993)
* Dùng Kinh Thánh :
Bản dịch đầu tiên dùng từ này là bộ Kinh Thánh cứ bản Vulgata của Albertus Schlicklin (Cố Chính Linh) (1913-1916)
Sau đó là các bản dịch của
– Trần Đức Huân (1970)
– Nguyễn Thế Thuấn (1976)
– Trịnh Văn Căn (1985)
– Nhóm Phiên Dịch CÁC GIỜ KINH PHỤNG VỤ (từ 1994)
Các bản dịch Tin Lành cũng dùng từ này.
Từ việc tìm hiểu trên, chúng ta thấy tiếng Việt chấp nhận cả hai từ ngữ Thánh Kinh và Kinh Thánh, người dùng có thể lựa chọn.
An-be-tô Trần Phúc Nhân
