2021
Ba bài học cho truyền thông giáo xứ trong thời Covid
Những thách đố nổi lên qua đại dịch COVID trong năm vừa qua đã cho thấy sự cần thiết của công cụ kỹ thuật số đối với truyền thông giáo xứ. Nhưng nó cũng cho thấy thiếu sót của chúng – công cụ kỹ thuật số tự chúng không giải quyết được các vấn đề của chúng ta. Đây là ba bài học mà mỗi nhà lãnh đạo giáo xứ hay giáo phận cần hiểu khi nghĩ tới việc thúc đẩy truyền thông của giáo xứ.
BÀI HỌC SỐ 1 – Nhóm 82%
Một trong những sai lầm căn bản nhất mà chúng ta thấy các nhà lãnh đạo giáo xứ liên tục mắc phải liên quan đến truyền thông (kỹ thuật số hoặc phương tiện khác) là không nhận ra các nhóm người khác nhau trong cộng đoàn. Có nhiều cách giải quyết vấn đề này. Đây là cách giải quyết (rất) đơn giản sẽ tạo nên sự khác biệt lớn cho truyền thông ở mỗi giáo xứ: nhóm 7%, nhóm 11% và nhóm 82%.
Nhóm 7%
Nhóm 7% (dựa trên nghiên cứu nổi tiếng của Dynamic Catholic) là những người hầu hết hay giúp đỡ tài chính và tình nguyện cho giáo xứ ở mức độ trung bình. Nhóm 7% này phần lớn là “người tham gia”. Họ gắn bó với chúng ta kể cả qua những tai tiếng và thiếu sót từ các thành viên trong Hội Thánh. Thông tin cho họ tương đối dễ dàng. Họ đọc bảng tin, nghe các thông báo, kiểm tra trang web, đặt ra đường hướng mục vụ cho giáo xứ, kiểm tra email và có thể tải ứng dụng hay theo dõi bạn trên phương tiện truyền thông. Hầu hết họ sẽ trở lại tham dự Thánh Lễ.
Nhóm 11%
Nhóm 11% nằm ở đầu bên kia của cán cân. Đây là phần trăm những người Công Giáo vẫn mang danh là người Công Giáo nhưng không bao giờ tham dự Thánh Lễ – chưa từng. Và, không có gì ngạc nhiên, họ vẫn chưa quay về. Mặc dù họ vẫn cần được rao giảng Tin Mừng và giáo xứ có thể giúp, nhưng không phải là vấn đề tức thời (cơ hội!) tại giáo xứ.
Nhóm 82%
Nằm giữa hai thái cực 7% (tham gia nhất) và 11% (hầu như không tham gia), phần còn lại chúng ta gọi là nhóm 82%. Họ vẫn còn xuất hiện… đôi khi! Ít nhất họ có hiện diện, trước khi có lệnh cách li vì COVID.
Một số người trong số này (khoảng 14% của nhóm này) trung thành tham dự Thánh Lễ hằng tuần trước đại dịch COVID (họ chỉ không tình nguyện cũng không đóng góp gì). Phần còn lại của nhóm này (chiếm đại đa số) tham dự Thánh Lễ ít thường xuyên – nghĩa là, mỗi tháng, cách tuần, hay chỉ vào dịp lễ Giáng Sinh, Phục Sinh hoặc Thứ Tư Lễ Tro.
Đối với nhóm 82% này – dù sao hầu hết trong số họ – các bí tích không phải là ưu tiên hàng đầu: Họ thường xuyên bỏ tham dự Thánh Lễ, hiếm khi hoặc không bao giờ đi xưng tội, v.v… Nhưng họ vẫn xuất hiện hoặc vì có gắn bó cách nào đó cách tích cực với niềm tin của mình, hoặc vì sự tiếc nhớ đang suy yếu dần, hay vì thói quen mà bây giờ, tại COVID, họ không còn nữa. Dĩ nhiên, họ đã không còn nhạy cảm với luật buộc tham dự Thánh Lễ Chúa nhật, cho nên việc tái lập luật buộc ấy không thay đổi nhiều (mặc dù đây là cơ hội đáng quan tâm để giúp cho người giáo dân chưa hiểu rõ về luật buộc này!).
Nói chung, nhiều người trong nhóm này đã từ từ trôi dạt ra khỏi giáo xứ. (Hãy nhớ rằng 6 người ra đi trong số một người trở lại). Mỗi năm có ít giáo dân trở lại hơn. Hội Thánh chưa tìm hiểu phương thế để đảo ngược xu hướng tổng thể này, và bây giờ COVID đã xuất hiện, và, tôi lo ngại, đẩy nhanh cuộc xuất hành. Bao nhiêu? Chúng ta chưa biết.
Nhóm 82% là thách đố của chúng ta đối với COVID. Thách đố đó vẫn còn đến hôm nay. Tôi nói “thách đố”, nhưng thực chất nó là cơ hội. Hội Thánh phải biết kết nối với nhóm 82% này. Sự kết nối bắt đầu từ việc liệt kê danh sách những người này và cần hiểu rằng họ khác biệt hơn so với những nhà lãnh đạo giáo xứ (điển hình là những người nằm trong nhóm 7%).
Nhóm 82% này đã xuất hiện (trước COVID)! Vào vài dịp trong năm, họ đã và đang đứng trước chúng ta. Họ không phải là những người khuất mặt phải tìm kiếm “ngoài kia” trên mạng xã hội. Họ vẫn ngồi cạnh chúng ta trên băng ghế, lắng nghe những gì chúng ta phải nói, cho chúng ta cơ hội xây dựng tương quan tốt hơn với họ. Nhưng chúng ta rất thường lãng phí cơ hội đó. Và bây giờ họ là những người có nguy cơ không quay trở lại cao nhất.
Hầu hết các nhà lãnh đạo giáo xứ đều có ý định tốt khi liên lạc với nhóm 82% này. Nhưng thực tế, nhiều chương trình học hỏi, các sứ vụ ở giáo xứ, những đề án được đưa ra, và ngôn ngữ được sử dụng hầu như chỉ vang tới nhóm 7% – không phải nhóm 82%. Phần mềm, nội dung, và những công cụ truyền thông họ nghĩ là hữu ích (các app di động của giáo xứ, kênh truyền thông xã hội, thư viện điện tử, các giải pháp ChMS[3] kiểu dữ liệu lớn, v.v…) hầu như chỉ có tác dụng với nhóm 7%.
Tại sao các nhà lãnh đạo giáo xứ, mặc dù rất thiện chí, tiếp tục thất bại trong việc liên lạc với nhóm 82%?
Bởi vì những người đưa ra các quyết định đó thường là những người điển hình nằm trong nhóm 7%. Và những lời phàn nàn họ nghe được đến từ nhóm 7% này. Và phần lớn số tiền đóng góp xuất phát từ nhóm 7%. Tất cả đều xảy ra bên trong “Bong bóng 7%”. Vì vậy, việc họ nhìn mọi thứ qua lăng kính đó là lẽ tự nhiên, nhưng đó là một lí do chính khiến các giáo xứ không thành công trong việc thu hút những người đang từ từ ra đi (nhóm 82%). Để thành công, họ phải thoát ra cái vòng phản hồi trong nhóm 7% đó, đặc biệt chú ý đến những người đang cố gắng kết nối, và sẵn sàng cố gắng thử nghiệm một cách tiếp cận khác. Đó là bước một để quay về từ COVID.
BÀI HỌC SỐ 2 – Trực tiếp liên lạc với các giáo dân khi bạn cần phải làm nhất
Khi việc cách li và các hạn chế được đưa ra, chúng ta nhanh chóng nhận thấy mỗi giám mục hay giáo xứ có thể trực tiếp liên lạc với đoàn chiên của mình tốt như thế nào.
Bản tin được in ra chỉ có tác dụng nếu người ta đến xem, và thậm chí khi đó, chỉ một tỉ lệ nhỏ giáo dân đọc nó. Phương tiện truyền thông xã hội và các ứng dụng dành riêng cho thiết bị di động cũng không đủ vào đâu và sẽ tiếp tục như vậy, vì phần lớn giáo dân sẽ không theo dõi giáo xứ trên phương tiện truyền thông xã hội, và họ cũng không buồn tải ứng dụng của giáo xứ xuống. Những kênh thông tin này có thể chấp nhận được đối với nhóm 7%, nhưng đó là cách tôi thấy. Hầu hết người giáo dân sẽ không chủ động đọc trang web giáo xứ, mặc dù có nhiều người đã đọc trong đại dịch COVID. Trước đây, cũng như bây giờ, điều hết sức quan trọng là làm cho các thông tin phổ biến nhất dễ tìm trên trang web của giáo xứ, và trang này phải thích ứng với điện thoại di động.
Nhưng nếu đó là tất cả những gì một giáo xứ đã gặp phải khi sự này xảy đến, họ thấy mình không được chuẩn bị đủ. Các diễn đàn đó không phải là cách tốt nhất để đạt tới hết đoàn chiên, dù có đại dịch hay không. Đặc biệt nếu chúng ta muốn tiếp cận được người giáo dân, chúng ta cần tiếp cận với nhóm đông nhất: nhóm 82%.
Các giáo xứ và giáo phận cần phải đầu tư vào những kênh trực tiếp hơn mà cũng có nền độc lập hơn. Và về mặt đó, không có gì tốt hơn là tin nhắn văn bản và email.
Nếu bạn có địa chỉ email và số điện thoại di động của người giáo dân, bạn có thể 1) liên hệ trực tiếp với họ ngay lúc ra thông báo và 2) dùng chúng vào một số công cụ và nền tảng khác nhau (ví dụ, nếu như chủ sở hữu một công ty công nghệ hiện đang điều khiển một kênh đặc biệt, công cụ, mạng xã hội hay kho ứng dụng nào đó muốn kiểm duyệt hay cản trở bạn, bạn có thể lấy địa chỉ email hay số điện thoại và dùng chúng ở một nơi nào khác và vẫn trực tiếp tiếp cận người của mình). Về vấn đề này, không có kênh liên lạc nào khác có giá trị như email và tin nhắn văn bản.
Hơn nữa, đây là những kênh (email và nhắn tin) hoạt động hiệu quả nhất cho việc tiếp cận những giáo dân ít tham gia (nhóm 82%). Chủ yếu vì những người giáo dân ít tham gia này không phải tạo một tài khoản, tải xuống ứng dụng, hoặc đăng nhập nơi nào đó, hay phải làm cái gì đó để nhận thông tin. Họ sẵn sàng kiểm tra email và hộp thoại suốt ngày. Đơn giản, mà hiệu quả.
May mắn thay, nhiều giáo xứ và giáo phận hiểu vấn đề này và đã chuẩn bị sẵn sàng khi COVID xảy đến, các giáo phận và giáo xứ đã thu thập địa chỉ email và số điện thoại di động, đồng thời trang bị cho các nhà lãnh đạo với những công cụ đơn giản để dùng chúng cách hiệu quả. Thật không may, vẫn còn nhiều giáo xứ và giáo phận không nắm bắt được chân tướng cội rễ này, đã không đầu tư những cách thức đáng tin cậy này là lập các danh sách và dùng tin nhắn văn bản và email như cột trụ truyền thông kỹ thuật số của mình. Điều này được chứng minh cách thực tế là Flocknote (dịch vụ tin nhắn văn bản và email của chúng tôi cho các giáo xứ) phát triển hơn trong hai tháng vừa qua sau khi COVID xuất hiện so với năm năm đầu tiên tồn tại.
Chỉ khi bạn trực tiếp tiếp cận với đoàn chiên và trò chuyện với họ, thì bạn mới có cơ hội hướng dẫn họ vượt qua đại dịch này, lắng nghe nhu cầu của họ để phục vụ họ tốt hơn, hay làm những điều thiết thực giống như thay đổi lịch trình hay giúp họ đóng góp trực tuyến (đóng góp trực tuyến là công cụ thiết yếu khác cho các giáo xứ trong thời đại dịch). Tuy không chắc chắn liệu nhóm 82% sẽ hoàn toàn quay về sau đại dịch hay không, chúng ta phải tìm cách ngay bây giờ bắt đầu tương tác với họ để truyền cảm hứng cho họ tiến vào giáo xứ gần hơn, chứ không phải xa cách hơn. Điều đó bắt đầu với khả năng liên lạc trực tiếp với họ.
BÀI HỌC SỐ 3 – Việc làm tác động mạnh hơn lời nói
Qua tất cả việc này, thông điệp mạnh mẽ nhất gởi đến giáo dân không phải nằm ở các thông điệp được truyền tải bằng tin nhắn, website, email, hay các phương tiện truyền thông hoặc công cụ kỹ thuật số. Nó chính là thông điệp được truyền tải bằng việc làm của người lãnh đạo. Người ta nhìn thấy những gì chúng ta đã làm. Thông điệp ấy ngân vang và rõ ràng. Trong một số trường hợp, đó là thông điệp vô cùng truyền cảm hứng. Một số trường hợp khác thì không.
Đây không phải là lúc để chỉ tay vào người khác để nói họ làm kém hay làm tốt như thế nào. Đây là lúc hành động. Thời điểm này sẽ là bước ngoặt quan trọng đối với nhiều người trong nhóm 82%. Liệu họ vẫn tiếp tục rời khỏi Hội Thánh? Hay phải chăng chúng ta sẽ tận dụng cơ hội này để giúp họ nhớ lại lý do họ đã đến lúc ban đầu?
Câu hỏi đặt ra cho chúng ta bây giờ là chúng ta muốn nỗ lực mạnh mẽ như thế nào, trong mọi giới hạn chúng ta có, để cho giáo dân lãnh nhận các Bí tích và chăm sóc các nhu cầu của họ? Chúng ta sẵn sàng mạo hiểm điều gì?
Những việc chúng ta làm bây giờ sẽ cho họ biết mọi sự họ cần biết: Đạo Công Giáo của họ có mục đích gì, nó phù hợp với cuộc sống của họ ở chỗ nào và như thế nào? Chúng ta sẽ gởi thông điệp gì?
Nguồn: giaophanmytho.net
[1] Matthew Warner là nhà sáng lập đồng thời là Giám đốc điều hành của Flocknote.com, một công cụ truyền thông đầy sáng tạo giúp cho hàng ngàn giáo xứ và giáo phận kết nối tốt hơn với đoàn chiên. Ông cũng là một nhà văn (ở BacktotheHome.com) đồng thời là tác giả quyển: Messy & Foolish: How to Make a Mess, Be a Fool, and Evangelize the World – Lộn xộn và ngu ngốc: Làm thế nào để gây lộn xộn, làm một tên ngốc, và loan báo Tin Mừng cho thế giới. Ông có bằng Cử nhân kĩ sư điện của Texas A&M và và bằng cử Nhân Quản Trị Kinh Doanh ở Entrepreneurship. Ông, vợ ông cùng với sáu người con sống tại Texas.
[2] Trích từ ebook Catholicism after Coronavirus, A Post-COVID Guide for Catholics and Parishes (Đạo Công giáo sau thời Coronavirus, Hướng dẫn dành cho người Công giáo và các giáo xứ thời hậu Covid) của Word on Fire, trang 145-156.
[3] Christiana Middle School, trường trung học cơ sở (ND).
Tác giả: Bobby Angel[1]
Biên dịch: Nhóm dịch Gioan XXIII
Từ: media.wordonfire.org[2]
2021
Tông thư: “Traditionis Custodes” về việc sử dụng Nghi Thức Thánh Lễ Rôma trước cuộc Cải tổ năm 1970
TÔNG THƯ
BAN HÀNH DƯỚI DẠNG TỰ SẮC
CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ
“TRADITIONIS CUSTODES”
về việc sử dụng Nghi Thức Thánh Lễ Rôma
trước cuộc Cải tổ năm 1970
Là những người giữ gìn truyền thống, các giám mục đang hiệp thông với Giám mục Rôma làm nên nguyên lý hữu hình và nền tảng của sự hợp nhất nơi các Hội thánh địa phương[1]. Dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, qua việc loan báo Tin Mừng và nhờ việc cử hành Thánh Thể, các ngài lãnh đạo các Hội thánh địa phương đã được trao phó cho các ngài[2].
Để cổ võ sự thông hảo và hợp nhất trong Hội Thánh, với mối quan tâm của tấm lòng hiền phụ đối với những người ở các địa phương vẫn còn gắn bó với những dạng thức phụng vụ trước thời kỳ cải tổ theo Công đồng Vatican II, các vị tiền nhiệm đáng kính của tôi, là thánh Gioan-Phaolô II và Đức Bênêđictô XVI, đã chấp thuận và hợp thức hóa năng quyền sử dụng Sách Lễ Rôma theo ấn bản năm 1962 của Đức Gioan XXIII[3]. Qua đó các ngài muốn “tạo điều kiện dễ dàng cho sự hiệp thông với Hội thánh nơi những tín hữu công giáo còn cảm thấy gắn bó đối với một số dạng thức phụng vụ đã có trước đây” nhưng không phải đối với những vấn đề khác[4].
Trong ý hướng của vị tiền nhiệm đáng kính của tôi là Bênêđictô XVI, muốn mời gọi các giám mục nhận định về việc áp dụng Tự sắc Summorum Pontificum sau 3 năm được phổ biến, Bộ Giáo lý Đức tin trong năm 2020 đã thực hiện việc tham khảo ý kiến chi tiết của các giám mục. Kết quả cuộc tham khảo đã được nghiệm xét cẩn thận trong ánh sáng của kinh nghiệm đã kết thành trong những năm vừa qua.
Giờ đây, theo ước nguyện của hàng giám mục và sau khi lắng nghe ý kiến của Bộ Giáo lý Đức tin, tôi công bố Tông thư này với ý muốn nhấn mạnh hơn bao giờ hết về thái độ không ngừng tìm kiếm sự hợp nhất trong Hội thánh. Vì thế, tôi thấy cần phải thiết lập các quy định sau đây:
Điều 1. Các sách phụng vụ được ban hành do Thánh Phaolô VI và thánh Gioan-Phaolô II, phù hợp với các sắc lệnh của Công đồng Vatican II, là cách thể hiện duy nhất của lex orandi trong Nghi lễ Rôma.
Điều 2. Trong cương vị là người điều hành, cổ võ và bảo vệ toàn bộ đời sống phụng vụ nơi Hội thánh địa phương đã được trao phó cho ngài[5], giám mục giáo phận có bổn phận đưa ra những quy định về các cử hành phụng vụ trong giáo phận[6]. Vì thế, chỉ riêng ngài có quyền cho phép sử dụng Sách Lễ Rôma 1962 trong giáo phận của ngài, theo sự hướng dẫn của Tòa thánh.
Điều 3. Nếu hiện giờ trong giáo phận đang có một hoặc nhiều nhóm cử hành theo Sách Lễ trước cuộc cải tổ năm 1970, giám mục giáo phận phải:
- 1. xác định rõ là các nhóm đó không được chối bỏ tính cách thành sự và hợp pháp của công cuộc cải tổ phụng vụ theo chỉ thị của Công đồng Vatican II và Huấn quyền của các giáo hoàng;
- 2. chỉ định một hoặc nhiều địa điểm cho các tín hữu thuộc những nhóm này có thể quy tụ để cử hành Thánh Thể (tuy nhiên không được chọn các nhà thờ giáo xứ và không được lập những giáo xứ tòng nhân mới);
- 3. ấn định các ngày cử hành Thánh Thể tại những nơi đã được chỉ định, trong đó được phép sử dụng Sách Lễ Rôma do thánh Gioan XXIII ban hành năm 1962[7]. Trong các cử hành này, đọc các bài đọc trong ngôn ngữ địa phương, dùng bản dịch Kinh Thánh đã được các Hội đồng Giám mục phê chuẩn để sử dụng trong phụng vụ;
- 4. bổ nhiệm một linh mục đại diện giám mục, phụ trách việc cử hành và chăm lo mục vụ cho các nhóm tín hữu này. Linh mục được bổ nhiệm phải thích hợp với trách nhiệm này, thành thạo trong việc sử dụng Sách Lễ Rôma có trước cuộc cải tổ năm 1970, biết tiếng Latinh đủ để thấu hiểu luật chữ đỏ và các bản văn phụng vụ, đồng thời cũng đầy nhiệt tình mục vụ và cảm thức về mối hiệp thông trong Hội thánh. Linh mục này phải luôn chủ tâm không chỉ cử hành phụng vụ đúng luật, mà còn lo chăm sóc đời sống mục vụ và tu đức của các tín hữu.
- 5. nhận định chính xác để xét xem các giáo xứ được thiết lập theo giáo luật vì lợi ích của các tín hữu này, có thực sự hữu hiệu cho sự tăng triển trong đời sống thiêng liêng của họ không, và xác định xem có nên giữ lại các giáo xứ như vậy không;
- 6. lưu ý không cho phép lập thêm các nhóm mới.
Điều 4. Các linh mục chịu chức sau thời điểm công bố Tự sắc này, nếu muốn cử hành theo Sách Lễ Rôma 1962, phải có thỉnh nguyện thư chính thức gửi cho giám mục giáo phận, giám mục sẽ lĩnh ý Tòa Thánh trước khi cho phép.
Điều 5. Các linh mục đã từng cử hành theo Sách Lễ Rôma 1962, phải xin giám mục giáo phận cho phép tiếp tục hưởng năng quyền này.
Điều 6. Các Tu hội sống đời thánh hiến và các Hiệp hội đời sống tông đồ, đã do Ủy ban Giáo hoàng Ecclesia Dei thiết lập, nay trực thuộc thẩm quyền của Bộ Đời sống thánh hiến và Hiệp hội Đời sống tông đồ.
Điều 7. Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích, cùng với Bộ phụ trách Đời sống thánh hiến và Hiệp hội Đời sống tông đồ, đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền riêng của mỗi Bộ, thi hành theo quyền Tòa Thánh và quan tâm đến việc tuân thủ các điều đã dự liệu ở đây.
Điều 8. Các quy định, huấn thị, các điều đã được cho phép và cách thực hành trước đây, nếu không phù hợp với những điều được dự liệu trong Tự sắc này, đều bị hủy bỏ.
Từng điều được tuyên bố trong Tông Thư dưới dạng Tự sắc này, tôi truyền phải tuân thủ trọn vẹn, những điều trái nghịch đều không có giá trị, tuy dù vẫn đáng được đề cập đến cách đặc biệt, và tôi quyết định Tự sắc này phải được công bố trên báo “L’Osservatore Romano”, có hiệu lực tức khắc, và vì thế, phải được công bố trên đặc san Công luận chính thức của Tòa Thánh, Acta Apostolicae Sedis.
Ban hành tại Rôma, Đền Thánh Gioan Latran, ngày 16 tháng 7 năm 2021, lễ nhớ Đức Mẹ núi Carmel, năm thứ chín trong sứ vụ Giáo Hoàng của tôi.
Phanxicô
Bản dịch của Ủy ban Phụng tự / HĐGM VN
[1] X. Công đồng Vatican II, Hiến chế tín lý về Hội Thánh “Lumen Gentium”, 21.11.1964, số 23 AAS 57 (1965) 27.
[2] X. Công đồng Vatican II, Hiến chế tín lý về Hội Thánh “Lumen Gentium”, 21.11.1964, số 27: AAS 57 (1965) 32; Công đồng Vatican II, Sắc lệnh về phận vụ mục tử của các giám mục trong Hội Thánh “Christus Dominus”, 28.10.1965, số 11: AAS 58 (1966) 677-678; Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 833.
[3] X. Gioan-Phaolô II, Tự sắc “Ecclesia Dei”, 2.7.1988: AAS 80 (1988) 1495-1498; Bênêđictô XVI, Tự sắc “Summorum Pontificum”, 7.7.2007: AAS 99 (2007) 777-781; Tông thư ban hành dưới dạng Tự sắc “Ecclesiae unitatem”, 2.7.2009: AAS 101 (2009) 710-711.
[4] Gioan-Phaolô II, Tự sắc “Ecclesia Dei”, 2.7.1988, số 5: AAS 80 (1988) 1498.
[5] X. Công đồng Vatican II, Hiến chế về Phụng vụ “Sacrosanctum Concilium”, 4.12.1963, số 41: AAS 56 (1964) 111; Caeremoniale Episcoporum, số 9; Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích, Huấn thị về một số điều phải giữ hoặc phải tránh liên quan đến Bí tích Thánh Thể “Redemptionis Sacramentum”, 25.3.2004, số 19-25: AAS 96 (2004) 555-557.
[6] X. Giáo Luật, khoản 375, §1; khoản 392.
[7] X. Bộ Giáo lý Đức tin, Sắc lệnh “Quo magis” phê chuẩn bảy kinh Tiền tụng dành cho forma extraordinaria trong Nghi lễ Rôma 22.2.2020, Sắc lệnh “Cum sanctissima” về cử hành phụng vụ kính các thánh theo forma extraordinaria trong Nghi lễ Rôma 22.2.2020: L’Osservatore Romano, 26.3.2020, trang 6.
2021
Bốn vị mục tử
BỐN VỊ MỤC TỬ
Người có tên tuổi lẫy lừng nhất trong việc đấu tranh cho dân quyền vào thập niên 50 và 60 là Mục Sư Martin Luther King. Ông là nhà lãnh đạo được hành triệu dân Mỹ Châu da đen ủng hộ. Họ xem ông như vị anh hùng, người xướng ngôn đồng thời cũng là mục tử của họ. Nếu không có ông, vào những năm ấy đám dân da đen có lẽ chả khác gì đám dân bơ vơ lạc lõng được nhắc đến trong Phúc Âm hôm nay. Ðám dân này được ví như bầy cừu không ai chăn dắt.
Cũng giống như Chúa Giêsu và các môn đệ của Người thuở xưa, Mục Sư King và các đồng sự ông thường khó được yên thân đi tìm cho mình một chốn an bình vắng vẻ để nghỉ ngơi. Chẳng hạn, một đêm nọ, sau một ngày làm việc mệt nhoài trong vùng Montgomery thuộc bang Alabama, ông King leo lên giường ngủ bên cạnh bà Coretta vợ ông. Lúc này bà đã ngủ say. Nhưng ông vừa mới chợp mắt thiêm thiếp thì chuông điện thoại vang lên. Ông vội choàng dậy ngay để khỏi làm bà Coretta thức giấc. Lúc bấy giờ một giọng nói giận dữ bên đầu dây kia vọng ra: “Này anh chàng da đen, hãy nghe đây, chúng tôi không cần đến anh nữa, bắt đầu tuần tới xin ông vui lòng đừng bén mảng tới Montgomery nữa”… Nói thế rồi kẻ gọi điện cúp máy ngay. Bất thình lình bao nhiêu nỗi sợ hãi chụp xuống trên người Mục Sư Luther King như một toà nhà đang đổ xuống. Lòng can đảm của ông hầu như bị tiêu tan. Ông đứng dậy đi vào nhà bếp pha một ly cà phê uống cho ấm dạ, đoạn ngồi xuống lặng lẽ suy nghĩ phương cách thoát ra khỏi cảnh ngộ ở Montgomery mà không mang tiếng là một kẻ hèn nhát.
Lúc bấy giờ với chút ít can đảm còn sót lại, ông gục đầu khấn xin Chúa bằng những lời sau đây: “Lạy Chúa, con đang đảm nhận sứ vụ mà con nghĩ rằng chính đáng, nhưng giờ đây con vô cùng sợ hãi. Dân chúng đang mong chờ con lãnh đạo, và nếu con tỏ ra khiếp nhược thì chính họ cũng sẽ trở nên yếu hèn nhát đảm. Nhưng con đang ở nẻo đường cùng và chẳng biết phải làm sao đây. Con không thể nào một mình đương đầu nổi trách nhiệm này nữa”.
Ðoạn nổi bật nhất trong lời cầu nguyện của Tiến sĩ King là câu này: “Dân chúng đang trông chờ con lãnh đạo họ và nếu con tỏ ra khiếp nhược thì họ cũng sẽ trở nên nhát đảm”. Nếu cần mượn lại cách diễn đạt của bài Phúc Âm hôm nay, lời cầu ấy có thể diễn tả cách khác như sau: “Họ sẽ trở nên như bầy chiên không người chăn”.
Tất cả các cha sở cha phó, các giáo sư, các bậc cha mẹ đều có thể dùng những lời cầu nguyện trên của tiến sĩ King để áp dụng cho chính mình. Thực thế, có nhiều lúc trong đời, chúng ta cảm thấy sợ hãi trước trách nhiệm lãnh đạo của mình. Có nhiều lúc trong đời, chúng ta cảm thấy không thể nào vác nổi gánh nặng đè trên chúng ta. Có nhiều lúc trong đời chúng ta cảm thấy như muốn kêu lên giống Chúa Giêsu trong vườn Giêtsimani: “Cha ơi, nếu có thể được xin cất chén đắng này xa con” (Mt 26: 39)
Trong những cơn khủng hoảng như thế này, chúng ta nên làm gì? Chúng ta nên làm điều Chúa Giêsu đã làm. Chúng ta nên làm điều Mục Sư Martin Luther King đã làm. Chúng ta nên làm điều các Kitô hữu luôn luôn làm, đó là cầu nguyện cùng Thiên Chúa.
Ngay sau khi Chúa Giêsu cầu nguyện với Cha của Người trong vườn Giêtsêmani, thì theo lời kể của thánh Luca: “Một thiên sứ từ trời hiện đến an ủi đỡ nâng Người” (Lc 22: 43). Và ngay sau khi Tiến sĩ King cầu khấn cùng Chúa vào cái đêm đáng ghi nhớ ở Montgomery đó, ông nói rằng ông đã cảm nhận được “sự hiện diện nâng đỡ của Chúa mà trước đó ông chưa hề cảm thấy”.
Bài đọc này quả thực rõ ràng đối với chúng ta khi chúng ta cảm thấy bị đè bẹp dưới một gánh nặng nào đó, chúng ta nên bắt chước Chúa Giêsu và Mục Sư Martin Luther King dâng lời cầu nguyện lên cùng Chúa.
Một trong những vị chỉ huy quân đội Liên Bang trong cuộc nội chiến Nam Bắc Mỹ là tướng Sickles. Ông kể cho chúng ta biết ngay trước trận đánh ở Gettysburg, Tổng thống Lincoln cảm thấy trách nhiệm đè nặng trên vai mình. Lập tức ông cầu nguyện với Chúa. Chính Lincoln đã nói về lần cầu nguyện ấy như sau: “Chưa bao giờ tôi cầu nguyện hăng say đến thế. Phải chi tôi có thể lập lại nguyên vẹn lời nguyện này. Tôi cảm thấy mình cần phải đặt tất cả niềm tín thác nơi Thiên Chúa tối cao. Chỉ một mình Người mới có thể cứu đất nước khỏi sự diệt vong sau khi quì gối đứng lên, tôi cảm thấy lời cầu xin đã được Chúa chấp thuận. Tôi chắc chắn rằng lời cầu nguyện đã có kết quả”. Cũng một cách thức tương tự nhưng hơi khôi hài hơn, Harry Truman đã kể cho các phóng viên sau ngày đầu tiên nhận chức Tổng thống của ông: “Các bạn thân mến, nếu các bạn đã từng cầu nguyện thì xin hãy cầu nguyện cho tôi lúc này đây. Tôi chẳng bíết quí bạn đã từng bị bó cỏ khô nào đè trên người chưa, chứ nếu các bạn hỏi tôi về những gì đã xẩy đến cho tôi ngày hôm qua, thì tôi xin thưa là tôi đã cảm thấy như mặt trăng, các vì sao và các tinh tú đổ sụp xuống trên tôi vậy”.
Khi cảm thấy trách nhiệm đè nặng trên mình, cả bốn vị lãnh đạo: Chúa Giêsu, Abraham Lincoln, Harry Truman, Martin Luther King đều đã làm cùng một hành vi, đó là cầu nguyện cùng Thiên Chúa. Và cả bốn vị đều được Chúa ban lòng can đảm và sức mạnh để tiếp tục bổn phận hướng đạo dân chúng. Đó là một sứ điệp thực tiễn đối với chúng ta. Có thể tóm tắt như sau: khi nào cảm thấy gánh nặng đè xuống trên mình, chúng ta cũng phải biết cầu nguyện cùng Chúa. Và Chúa sẽ ban sức mạnh cho chúng ta như Người đã từng nâng đỡ bốn vị mục tử nói trên.
Ðể kết thúc, chúng ta hãy lập lại Thánh vịnh đáp ca ngày hôm nay:
Chúa là mục tử tôi, tôi nào thiếu thốn chi. Ngài hướng dẫn tôi qua đường chính nẻo ngay vì danh Ngài. Dù bước đi trong thung lũng tối tăm, tôi chẳng hề lo sợ. Dù bị đè bẹp dưới muôn gánh nặng, tôi cũng không nao núng. Vì Chúa bước đi cạnh tôi. Ngài củng cố và tăng sức mạnh cho tôi. Khi đời tôi bước vào buổi xế chiều như mặt trời xế bóng, Ngài sẽ mang tôi vào nhà Ngài, để tôi được sống với Ngài muôn đời muôn kiếp.
2021
Các bí quyết của một hôn nhân hạnh phúc: 08 – Bí quyết nghĩa tình bằng hữu
Đừng lấy người mà bạn có thể sống chung; hãy lấy người mà bạn không thể sống được nếu thiếu người ấy.
Khi kết hôn chúng ta được khuyên nên làm gì là khôn ngoan nhất? Bà ngoại tôi hay thẳng thắn nói thế này khi có người nào hỏi bà về chuyện kết hôn: “Đừng lấy người mà cháu có thể sống chung; hãy lấy người mà cháu không thể sống được nếu thiếu người ấy”. Đó là bí quyết về người bạn thân tốt nhất. Nghĩa bằng hữu phu thê.
Điều đó có nghĩa là gì? Có nghĩa là cuộc hôn nhân của anh/chị sẽ đạt kết quả tốt nhất nếu anh/chị kết hôn với người bạn tốt nhất của anh/chị. Trong một nghiên cứu của Robert và Jeanette Lauer về 351 cặp vợ chồng thành công trong cuộc sống hôn nhân tốt đẹp trên mười lăm năm, các cặp này đều có một tuyên bố chóp đỉnh giống nhau, đó là: “Chồng (vợ) tôi là người bạn tốt nhất của tôi”.
Chúng ta đã thấy sự lãng mạn là trung tâm của một cuộc hôn nhân triển nở. Nhưng điều đó không có nghĩa là suốt cuộc đời bạn và người bạn đời của bạn luôn say mê nhau trong tình yêu đắm đuối của thuở thanh xuân khi mới quen nhau. Nó có nghĩa là có một sự hấp dẫn thực sự bên dưới mọi sự khác trong khi sống mối quan hệ phu thê.
Thực tế, hầu hết các mối quan hệ trong hai năm đầu có thể rất nồng nàn. Đó là thời gian anh/chị không thể nghĩ đến cái gì khác ngoài người bạn đời của anh/chị. Luôn nhớ tới cái hôn đầu tiên chiều hôm ấy. Hôn là cách Thiên Chúa làm cho hai người thân thiết với nhau đến độ họ không thể nhìn thấy được có cái gì sai trái đối với mình. Chỉ cảm thấy say đắm, tương tư. Suốt thời gian hai năm đó, hễ mỗi lần chỉ mới thoáng thấy người bạn tình là tim bạn đã đập liên hồi và bạn không mơ mộng cái chi khác. F. Scott Fitzgerald xem cảm xúc này “giống như cơn say thần linh” nồng cháy.
Nhưng những ai đã trưởng thành chín chắn đều biết rằng sau một thời gian, yêu thương say đắm sẽ lắng dịu, và bạn sẽ quen dần với cái đều đặn của thực tế đời sống hằng ngày. C. S. Lewis viết: «Nếu câu chuyện cổ tích thường kết thúc nói rằng ‘từ đó họ luôn sống hạnh phúc’, điều đó hàm nghĩa là ‘họ sẽ cảm thấy trong năm mươi năm tới giống y như khi họ cảm thấy những tháng ngày trước khi cưới’, thì nó muốn nói rằng chuyện đó có lẽ không hề có thực hoặc không bao giờ có thể trở thành hiện thực, và giả như nó có thực đi nữa thì cũng không đáng cho ta ao ước. Ai có thể sống phấn khích được trong thời gian năm năm như thế? Công việc của bạn rồi sẽ ra sao? Cũng như những thú vui, bè bạn, việc ngủ nghê của bạn sẽ thế nào? Nhưng dĩ nhiên, ngừng cảm giác ‘yêu say đắm’ không nhất thiết là ‘hết yêu’».
Với thời gian trôi, cuộc sống đi vào nền nếp là lúc tình yêu chân thực được bén rễ sâu hơn hoặc chết rữa dần. Lúc ấy, khi sự nồng nàn say mê đã lắng xuống, mọi cặp vợ chồng sẽ quyết định đầu tư hay gạt bỏ. Mỗi người phối ngẫu sẽ chọn: Tôi sẽ học yêu thương con người này cách sâu sắc hơn là yêu theo cảm xúc tình cảm, theo nhịp đập của con tim, mơ mộng; hoặc tôi đi tìm một tình yêu say đắm trong hai năm với một người nào khác? Nếu bạn chọn giải đáp là một tình yêu sâu sắc, hôn nhân và quan hệ sẽ triển nở đến một mức độ mới mẻ và càng có nhiều cơ hội cho hạnh phúc lớn hơn. Nếu bạn chọn câu trả lời từ chối, quan hệ hôn nhân sẽ chết chóng vánh hoặc có khi chết dần dà trong đau đớn. Một hoặc cả hai người không còn cảm xúc nữa và sẽ bắt đầu đi tìm một kinh nghiệm yêu đương say mê với một đối tượng khác. Họ sẽ mắc sai lầm vì đã lẫn lộn khoái lạc với tình yêu.
- và D. kết hôn với nhau đã hơn năm mươi năm. Cả hai người đều có cá tính rất mạnh mẽ. Mọi ý kiến đều bị bỏ qua. Họ hay cãi vã rất sôi nổi. Nhưng tình yêu cũng tiến triển trong khi hai vợ chồng lo nuôi dạy bốn đứa con, hai người được chẩn đoán có bệnh nguy nan và hứng chịu sự tàn tạ của tuổi già. Tôi sẽ nhớ mãi cuộc gặp gỡ với bà D. vào một ngày những năm tháng cuối cuộc đời bà. Câu chuyện trao đổi lần hồi chuyển đến đề tài về sex vốn đang là nỗi ám ảnh của văn hóa xã hội ngày nay, và cám dỗ của thời đại xem tất cả hôn nhân chỉ xoay quanh vấn đề tình dục, như thể nó đủ để xây dựng nên một cuộc đời. Bà D. có ý muốn chia sẻ với vợ chồng tôi, nói “Sex rất tuyệt, nhưng nó thực sự chẳng có liên quan gì với cuộc hôn nhân của chúng tôi lúc này. Chúng tôi đã chia sẻ cuộc sống cùng nhau. Chúng tôi đã và đang cùng chịu khổ với nhau. Giờ đây chúng tôi cùng nhau đi đến cuối cuộc đời. Tại sao tôi muốn làm điều ấy với một ai khác cơ chứ? Hôn nhân rộng lớn hơn sex vô cùng”.
Bà D. khi ấy có lẽ không biết bà đang nói về bí quyết làm người bạn tốt nhất của nhau: nghĩa bằng hữu phu thê. Một thời gian lâu sau khi yêu đương say đắm đã lắng dịu, quan hệ có thể chuyển biến qua một tình bạn đích thật, chân thành, như người ta gọi là sống cái nghĩa vợ chồng bè bạn. Như thế đôi bạn có thể xây dựng một cuộc sống cùng nhau.
Bạn hãy nghĩ đến những người bạn thân nhất trong cuộc đời và những điểm chung bạn và người ấy cùng chia sẻ.
1) Những giá trị chung: những điều các bạn cùng quí trọng
2) Những quan tâm chung: những loại hoạt động các bạn cùng thích làm
3) Tin tưởng mọi sự: bạn có thể đặt tin cậy ở người bạn thân ấy
4) Vui thích bên nhau: cùng vui chơi, nghỉ ngơi thoải mái, vui vẻ với nhau
5) Những cơ hội bên nhau tâm sự: nơi bạn có thể trút những tình cảm và bí mật sâu xa nhất của bạn.
Nếu hôn nhân của bạn có những đặc điểm như thế, hãy đợi nó trổ sinh hoa trái tốt lành. Vì đó là những nét đặc trưng của bí quyết nghĩa tình bằng hữu, làm người bạn tốt nhất của nhau.
Hôn nhân là một quan hệ giữa các đối tác phối ngẫu (partnership) và bằng hữu (friendship) hơn bất kì một quan hệ nào khác. Vì vợ chồng xây dựng những gì họ cùng mong đợi cho cuộc sống chung năm mươi năm sắp tới hay hơn nữa, nên hai người đều có ảnh hưởng lẫn nhau trong mọi cách thức.
Nhớ lại chuyện của hai ông bà C. và M. Khi bạn bè đến thăm và chia sẻ nỗi buồn với ông C. sau khi bà M. qua đời, đề tài ông C. thích chia sẻ nhiều nhất là về người vợ quá cố của mình. Hai người vốn không chỉ là bạn tình của nhau. Họ còn là bạn tâm giao, tri kỉ, bạn thân suốt cuộc đời. Nói cách khác, hai người hiểu biết những bí mật trong ngóc ngách tâm hồn của nhau.
Cũng giống như thế, A. có ảnh hưởng kì diệu trên cuộc sống của tôi. Chính A. là người đã đưa tôi trở về với Chúa đang khi tôi còn lang thang trên những nẻo đường xa đức tin. Cô ta đã để lại một ấn tượng tuyệt vời trên mọi công việc phục vụ chúng tôi làm chung, và có ảnh hưởng trên công việc lãnh đạo của tôi nhờ sự chín chắn tâm linh của nàng. Tôi ít có kinh nghiệm về trẻ con khi chúng tôi mới kết hôn. Nhờ những tài khéo làm mẹ của A. mà tôi đã học được cách thức làm một ông bố tốt. Cô ta ảnh hưởng đến tầm nhìn mở rộng ra của tôi trong hàng tá đề tài cuộc sống vì tôi tôn trọng sự khôn ngoan của nàng, quí trọng ý kiến của nàng, và trân quí tình bạn của nàng. A. là người bạn tốt nhất của tôi. Đó là điều giúp hôn nhân chúng tôi không những tồn tại mà còn triển nở tốt đẹp với bao kinh nghiệm chúng tôi chia sẻ với các anh chị đây. Tôi đã đón nhận và biết ơn A. vì ảnh hưởng ấy. Đó là điều những người bạn thân tốt nhất làm với nhau và cho nhau.
Quả thật, công trình nghiên cứu của John Gottman cho thấy rằng 81 phần trăm các cuộc hôn nhân trong đó người đàn ông đề kháng lại những chỉ dẫn của vợ mình sẽ kết thúc bằng li dị. Một số người sẽ phản đối, nói điều đó thật phi lí. Vì người đàn ông cần phải là người cầm cương, có ý chí kiên định, đứng vững, hiên ngang, quyết định mọi sự và người đàn bà chỉ cần biết phục tùng thôi. Ngược lại, có những người khác nghe bài nghiên cứu này và nghĩ rằng nó gợi ý đàn ông nên mềm mỏng, chịu đựng như “tấm thảm” chùi chân, nhu nhược như con “sứa biển”, và chấp nhận tiêu cực mọi tiếng phàn nàn rầy rà của vợ: “chỉ cần chiều theo ý cô ấy”.
Tuy nhiên, viễn tượng cơ bản nghiên cứu của Gottman áp dụng không chỉ cho hôn nhân nhưng còn cho mọi quan hệ lành mạnh khác, với bạn bè, nhân viên đồng nghiệp, hay anh chị em trong gia đình. Cố chấp và cứng cỏi không phải là tiêu chuẩn thẩm định một con người lành mạnh, cũng không phải là phẩm chất tiêu biểu của một mối quan hệ bền vững. Người khôn ngoan tìm kiếm sự đóng góp của người khác, biết lắng nghe họ, và đem áp dụng những gì hữu ích. Đón nhận những lời tư vấn và sự động viên từ những người quan tâm đến bạn sẽ giúp bạn mạnh mẽ hơn, chứ không yếu kém đi.
Bí quyết sống nghĩa tình bằng hữu sẽ đưa cuộc hôn nhân của bạn đi xuyên qua tình cảnh tốt đẹp cũng như tệ hại nhất. Và thực ra, bạn bè tốt nhất ảnh hưởng nhau rất nhiều. Đó chính là cung cách sống của những người bạn tốt đối với nhau. Một người đàn ông biết để cho vợ nói ra sự thật về đời sống mình, người ấy sẽ có một hôn nhân triển nở. Sau cùng, ai lại không ước muốn có một người bạn đời luôn tìm những ích lợi tốt đẹp nhất cho mình, một người phối ngẫu luôn tìm giúp để chúng ta trở thành phiên bản tốt đẹp nhất của chính mình?
Hãy chỉ cho tôi một người đàn ông cố chấp luôn bỏ ngoài tai lời vợ khuyên mình và tôi sẽ chỉ cho bạn một cuộc hôn nhân đang tìm đến với luật sư chuẩn bị cho tòa án. Đó là một sự khác biệt kì diệu khi bạn sống bí quyết nghĩa tình bằng hữu trong hôn nhân.
Thực hành: Bạn hãy viết một bức thư cho chồng (vợ) mình, tâm sự điều gì trong con người của anh (chị) mà bạn yêu, ngưỡng mộ, tôn trọng nhất. Nêu vài ví dụ cụ thể những lúc nào anh (chị) đã giúp bạn được thêm năng lượng, thêm sức sống, đứng bên bạn như một người bạn tri kỉ, tâm giao, đã hiểu và giúp bạn thấy rõ sự thật. Viết thư sẽ giúp bạn có thời gian thực sự suy nghĩ về điều bạn muốn nói, đây chỉ là cách thức nói điều bạn muốn nói. Hãy dành thời gian cho nó. Nhắc nhở người bạn đời và chính mình rằng tình bạn sâu sắc sẽ kết nối hai người lại với nhau. Nói với anh (chị) “Anh (Em) là người bạn tốt nhất của em (anh)”. Hãy sống bí quyết tình bạn này.
Xem thêm những bài trước:
| 7. Bí quyết tình yêu lãng mạn
6. Bí quyết ngân hàng tình yêu |
