2023
Kinh Kính Mừng 2
Ngày 13/5/2017 Giáo Hội mừng kỉ niệm 100 năm Đức Mẹ hiện ra tại Fa-ti-ma. Trong lần hiện ra ngày 13/5/1917, Mẹ đã kêu gọi: “Hãy lần Chuỗi Mân Côi hằng ngày để cầu bình an cho thế giới và xin chấm dứt chiến tranh”. Trong lần hiện ra ngày 13/10/1917, Mẹ yêu cầu ba trẻ: “Ta là Mẹ Mân Côi. Hằng ngày hãy tiếp tục cầu nguyện bằng Chuỗi Mân Côi.”
Thật đẹp biết bao khi biến cố này diễn ra trong tháng hoa kính Mẹ. Lời Kinh Mân Côi, lời Kinh Kính Mừng mà con đọc từ tấm tấm tí tí mãi du dương ngọt ngào, ngập tràn ý nghĩa thâm sâu: nó nhắc nhớ con đến tình mẫu tử thiêng liêng của Mẹ; nó như những cánh hoa tình yêu con hái dâng Mẹ trong mỗi ngày sống của con; nó cũng chứa đựng những tâm tư, tình cảm chất chứa trong hồn mà con muốn kể cho Mẹ nghe.
Mẹ yêu dấu! Con không biết dùng ngôn từ nào để ca ngợi và tự hào về Mẹ. Thế nên, con xin mượn lời của sứ thần Gap-ri-en để hát mừng Mẹ. “Kính mừng Ma-ri-a đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Mẹ, Mẹ có phúc hơn mọi người nữ…” Mẹ ơi! Con ước gì con có thể đi khắp thế trần để ca rao cho muôn người biết về những “phúc lạ” Chúa đã ban cho Mẹ, để họ cũng được hưởng niềm hạnh phúc lớn lao mà Mẹ con mình đang có là “cưu mang Con Thiên Chúa.”
Vào thế kỷ IV, Mẹ Ma-ri-a nói với thánh nữ Eu-la-li-a, nước Tây Ban Nha, rằng: “Khi con chào Mẹ với lời chào của thiên sứ, Mẹ cảm thấy vui mừng khôn tả.” Lời chào “Kính mừng Maria đầy ân sủng” là lời cầu nguyện căn bản của Kinh Mân côi. Toàn thể thụ tạo vô cùng biết ơn Mẹ, khi Mẹ đáp tiếng xin vâng. Chính lúc ấy “phúc lạ” Chúa ban là Giê-su con Mẹ, làm cho Mẹ trổi vượt hơn mọi người nữ trên trần gian. Một trinh nữ vừa làm Mẹ Thiên Chúa, vừa làm Mẹ của toàn nhân loại: “Mẹ có phúc hơn mọi người nữ và Giê-su con lòng Mẹ gồm phúc lạ.”
Ca khen Mẹ, con cảm thấy mình có lỗi vì đã bao lần chúng con khiến lệ sầu vương trên mắt Mẹ: vì chúng con chưa biết sống thương yêu nhau, nên thế giới vẫn còn đó những xung khắc chiến tranh, hận thù và chia rẽ; vì chúng con chưa biết sống trọn thánh ý Thiên Chúa, nên thế giới vẫn còn hàng tỉ người chưa được nhận biết đức tin; vì chúng con phạm tội, chúng con lại đóng đinh Chúa Giê-su vào thập giá, và như thế lại thêm một lưỡi đòng khác dâm thấu trái tim của Mẹ… “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội…”
Vì thương nhân loại, Mẹ mời gọi chúng con: “Hãy cải thiện đời sống, siêng năng lần hạt mân côi và tôn sùng trái tim Mẹ” nhưng chúng con lại cứng lòng, ngang bướng chẳng chịu nghe. Chính vì vậy, thế giới còn đó những tai ương, bệnh tật, đau khổ; xã hội còn đó những bất công, tệ nạn, tan vỡ, chia li; còn đó những đoàn người di dân lầm than khốn khó; còn đó sự chia rẽ giữa con người và môi trường sống; còn đó bạo lực lan tràn, trào lưu tục hóa, “nền văn hóa sự chết”; còn đó sự chống chế Thiên Chúa, con người loại trừ Thiên Chúa ra khỏi chính mình và thế giới… Tất cả chúng con đã đến“giờ lâm tử”. “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử.”
Chúng con hoàn toàn tin tưởng và cậy trông vào tình thương hải hà của Mẹ. Chúng con hứa với Mẹ sẽ cải thiện đời sống, tôn sùng trái tim Mẹ và siêng năng lần hạt Mân Côi mỗi ngày.
Trong thông điệp năm 1892[1], đức giáo hoàng Lêô XIII đã nói: “Chúng ta hãy vững tin rằng nếu đọc kinh Mân côi một cách thành kính và suy gẫm sâu sắc, chắc chắn chúng ta sẽ nhận được phúc lợi không chỉ cho riêng mình mà còn cho xã hội của mình nữa”. Và, “trong mọi gia đình, mọi quốc gia, nếu kinh Mân côi của Đức Ma-ri-a vẫn còn được tôn kính, người ta không còn phải lo lắng về việc mất đức tin do thờ ơ và lầm lỗi.”
Kính mừng Mẹ – Đấng đầy ơn
Chẳng hề vướng tội, tuyệt hơn muôn người.
Mẹ diễm phúc – Mẹ rạng ngời
Bởi lòng dạ Mẹ mang Lời Cứu Tinh
Khiêm nhu, đức hạnh, khiết trinh
Kho tàng phúc lạ thắm xinh cao vời.
Ma-ri-a, Mẹ Chúa Trời
Cầu muôn ơn phúc cho đời lầm than
Đưa con về bến Thiên Đàng
Thoát vòng lâm tử vẻ vang chung phần. Amen
[1] Thông điệp “Laetitiae Sanctae”.
2023
Vài cảm tưởng chung quanh các bài suy niệm của Cha Timothy Radcliffe
Thượng hội đồng giám mục năm 2023 có nhiều cái bất thường, một trong số đó là cuộc tĩnh tâm ba ngày trước khi bắt tay vào việc: chuyện này chưa từng xảy ra! Các bài tĩnh tâm được giao cho Timothy Radcliffe O.P., nguyên bề trên tổng quyền Dòng Đa Minh (1992-2001) đảm trách. Các bài suy niệm này đã được chuyển ngữ sang tiếng Việt. Tôi xin mạn phép ghi nhận vài cảm tưởng, đặc biệt dành cho những ai không quen với tổ chức của Dòng Đa Minh. Tôi xin chia bài này làm ba phần: 1/ Từ ngữ; 2/ Não trạng; 3/ Nội dung các bài suy niệm.
I. Từ ngữ
Từ mấy năm qua, các văn bản của Hội đồng giám mục Việt Nam dịch synodality là “hiệp hành”. Đến lúc họp Synod thì lại gọi nó là “Thượng hội đồng”. Điều trớ trêu là Synod lần này bàn về synodality mà dịch là “Thượng hội đồng bàn về tính hiệp hành” thì quả là chẳng ăn khớp với nhau! Vì thế, hoặc là phải đổi “hiệp hành” hoặc là phải đổi “Thượng hội đồng”, làm sao cho thấy có sự tương ứng với nhau.
Theo tôi nghĩ, dịch synodality là “hiệp hành” là không chuẩn, bởi vì “hành” có thể hiểu là “đi” (bộ hành, hành trang, lữ hành), mà cũng có thể hiểu là “làm” (hành động, thi hành, thực hành). Thiết tưởng nên dịch là “hiệp nghị” thì đúng hơn (nghị là bàn luận; “hội nghị” là họp bàn, để đưa đến “quyết nghị”). Như vậy synodus episcoporum (Giáo luật đ.342) sẽ dịch là “Hiệp nghị các giám mục”, còn synodus diocesana (Giáo luật đ.460) sẽ dịch là “Hiệp nghị giáo phận”.
II. Não trạng
Trên thực tế, theo ý Đức Thánh Cha Phanxicô, khóa họp lần này nhằm thay đổi một não trạng, ngõ hầu khám phá rằng bản chất của Giáo hội là synodalitas, nghĩa là có sự tham gia của tất cả các phần tử, chứ không phải chỉ tùy thuộc vào sự điều hành của các cấp lãnh đạo. Sự khó khăn của việc thay đổi não trạng nằm ở chỗ làm thế nào gây được ý thức về sự cần thiết phải lắng nghe nhau, bàn thảo với nhau. Đây là một điều cực kỳ khó khăn, bởi vì đã bị lãng quên từ nhiều thế kỷ rồi, trong đời sống Giáo hội, cũng như trong đời sống các Dòng tu.
A. Trong đời sống Giáo hội
Vào các thế kỷ đầu, các giám mục họp nhau thường xuyên. Thế nhưng, các cuộc họp ấy trở nên thưa dần, rồi bỏ luôn. Nên biết là những cuộc họp này không chỉ là “gặp gỡ thân hữu”, mà còn đi đến các quyết nghị lập pháp. Vài thí dụ.
1/ Công đồng giáo tỉnh
Ngay từ thế kỷ III, các Giám mục thuộc cùng giáo tỉnh đã quen gặp nhau trong các “công đồng” (concilium, synodus) để cùng nhau giải quyết những vấn đề chung. Tập tục ấy trở thành luật pháp khi công đồng Nicea I (325) truyền các công đồng giáo tỉnh phải họp mỗi năm hai lần, vào đầu mùa Chay và mùa thu. Tổng Giám mục có bổn phận phải triệu tập, và các Giám mục có nghĩa vụ phải tham dự nếu không thì sẽ mắc vạ tuyệt thông. Những vấn đề thường đem ra bàn thuộc phạm vi kỷ luật, phụng vụ địa phương, chuẩn nhận các cuộc bầu cử Giám mục, thành lập giáo phận, vân vân. Thế nhưng, theo dòng thời gian, hạn kỳ nhóm họp được từ từ giãn ra. Mặc dù công đồng Calxêđonia (451) lặp lại lệnh truyền họp mỗi năm hai lần như Nicêa, nhưng sang thế kỷ sau, Adge (505), Toledo (589) chỉ buộc mỗi năm một lần. Trong suốt thời Trung cổ, hạn kỳ mỗi năm một lần còn được công đồng Laterano IV (1215) nhắc lại, nhưng công đồng Constanza (1414-18) và Trento (1542-63) kéo dài ra ba năm. Sang thế kỷ XIX, công đồng Vaticanô I cho phép 5 năm mới họp, và bộ giáo luật 1917 còn rộng hơn nữa: 20 năm. Bộ giáo luật hiện hành lại càng lỏng lẻo: chừng nào đa số các Giám mục của giáo tỉnh xét là thuận lợi (đ.440 §1). Nói thế thì cũng hầu như khai tử cho định chế này vậy
2/ Công nghị giáo phận
Chúng ta không rõ nó ra đời từ hồi nào. Công nghị sớm nhất được chứng tích lịch sử lưu lại là Auxerre vào năm 585. Công nghị truyền rằng mỗi năm các linh mục phải tụ họp vào tháng 5 để tìm cách thực thi các nghị quyết của công đồng giáo tỉnh và để báo cáo cho Giám mục về tình hình của giáo phận. Tưởng nên ghi nhận là các hội nghị lập pháp trong Giáo hội bên Tây phương thường mang danh là concilium (công đồng), thế nhưng không hiểu vì lý do gì các tài liệu cổ đã gọi các hội nghị giáo phận là synodus (công nghị). Trong thời Trung cổ, các công nghị thường họp hằng năm, mỗi lần kéo dài chừng ba bốn ngày, và đã có những quyển nghi thức về cách cử hành (Pontificale Romanum. Ordo ad Synodum) được phát hành. Mục tiêu của công nghị có tính cách kỷ luật: thi hành các nghị quyết của các công đồng chung hay công đồng giáo tỉnh, sửa phạt các vi phạm giáo luật. Công đồng Laterano IV (1215) đã buộc cử hành công nghị giáo phận hằng năm. Hạn kỳ ấy vẫn còn được duy trì bởi công đồng Trentô (Sắc lệnh cải tổ, khóa 24, 1563), vì nhận thấy tầm quan trọng của nó trong việc chấn hưng Giao hội. Thánh Carôlô Borrômêô nổi tiếng về việc tổ chức các công nghị giáo phận. Nhằm giúp cho các Giám mục biết phương cách thực thi quyết nghị của công đồng, ĐTC Bênêđictô XIV đã viết một tác phẩm tựa đề De Synodo dioecesana xuất bản tại Rôma năm 1748. Tuy nhiên với thời gian, nhiều giáo phận tỏ ra lơ là với việc tổ chức công nghị; đàng khác các Giám mục cũng không muốn triệu tập thường xuyên vì e sợ ảnh hưởng của thuyết chủ-công-đồng (conciliarismus) đặt hội nghị lên trên Giám mục. Vào hồi công đồng Vaticano I, một số giám mục đã đề nghị họp ba năm một lần, nhưng công đồng chưa có dịp xét tới. Bộ giáo luật 1917 kéo dài thời hạn triệu tập ra mười năm, nhưng trên thực tế không được tuân giữ cho lắm. Một thí dụ cụ thể là chính giáo phận Rôma mãi tới năm 1959 mới mở công nghị, (nghĩa là hơn 40 năm sau khi bộ luật được ban hành). Điều 461 của bộ giáo luật hiện hành thì để tùy cho Giám mục xét, sau khi đã bàn hỏi với Hội đồng linh mục. Với lối hành văn co dãn như vậy, ắt là công nghị giáo phận dần dần sẽ được khai tử. Thử hỏi: xưa nay ở Việt Nam có bao nhiêu giám mục triệu tập công nghị?
3/ Các công đồng hoàn vũ
Chỉ cần đối chiếu vài con số thì đủ rõ. Thời trung cố, một thế kỷ 3 công đồng . Thế kỷ XII: Latêranô I (1123); Latêranô II (1139); Latêranô III (1179). Thế kỷ XIII: Latêranô IV (1215); Lyon I (1245); Lyon II (1274). – Thời cận đại, 3 thế kỷ một công đồng: từ Trentô (1545-63) đến Vaticanô I (1869-70).
B. Đời sống các Dòng tu
Chỉ xin lấy thí dụ từ Dòng Đa Minh để đối chiếu. Trong các thế kỷ đầu tiên, các tổng tu nghị họp hằng năm, (vào ngày thứ hai sau lễ Hiện Xuống), đang khi dòng Phan-sinh 3 năm mới họp một lần. Vào thời ấy, bề trên tổng quyền không có nhiệm kỳ, nhưng có thể từ chức hoặc bị bãi chức. Từ năm 1368, nhịp độ các khóa họp tăng lên hai năm, và qua năm 1553, tăng lên ba năm (được Giáo hoàng Julius II chấp thuận); năm 1635 Giáo hoàng Urbano VIII cho giãn ra sáu năm, nhưng đến năm 1679, giáo hoàng Innocentê XI truyền trở lại ba năm, và điều này vẫn còn hiệu lực cho đến nay. Duy có điều là đức Piô IX ấn định nhiệm kỳ tổng quyền là 12 năm (chứ không vô hạn như trước). Vì thế thứ tự các khóa họp sẽ là: a) bầu cử (giám tỉnh và đại biểu họp chung); b) đại biểu; c) giám tỉnh; d) đại biểu. Năm 1974, nhiệm kỳ tổng quyền giảm xuống còn 9 năm, và thứ tự xếp lại như sau: a) bầu cử (giám tỉnh và đại biểu họp chung); b) đại biểu; c) giám tỉnh.
Để thấy rõ nét đặc sắc của dòng Đa Minh, ta hãy đối chiếu với các dòng được thiết lập vào thời cận đại.
– Dòng Tên chỉ còn tổng hội (gọi là congregatio generalis) được triệu tập khi nào cần bầu tổng quyền. Các cuộc họp khác (tổng hội hoặc tỉnh hội) bị dẹp vì tốn kém và mất thời giờ!
– Các dòng tu với lời khấn đơn (được thành lập do sắc lệnh bộ tu sĩ năm 1901) còn phân biệt hai loại tổng tu nghị: a) bầu cử; b) bàn việc. Tổng tu nghị “bầu cử” thì bắt buộc phải có; còn tổng tu nghị “bàn việc” thì để tùy luật riêng.
– Trên thực tế, hiện nay, trong các dòng tu, các tổng tu nghị chỉ họp nhau để bầu bề trên tổng quyền; và có nghĩa là 4 hay 6 năm mới họp một lần.
Tóm lại, khuynh hướng chung của Giáo hội và của các Dòng tu là ngại “hiệp nghị”, tránh các buổi hội họp bao nhiêu có thể. Vì thế, đến lúc “bất đắc dĩ” phải gặp nhau, thì họ cảm thấy nhiều lúng túng. Thiết tưởng đó là một não trạng mà Đức Thánh Cha Phanxicô muốn thay đổi. Các bài suy niệm của cha Timothy Radcliffe được soạn theo hướng đó. Chúng ta cần gặp gỡ nhau, kể cả cãi nhau mà chẳng đưa đến kết luận nào! Điều cần là làm thế nào nhận ra Chúa Giêsu đang hiện diện trong cuộc cãi nhau đó! Thật vậy, các hiệp nghị của chúng ta không giống như các buổi họp chính trị, dựa trên những lý luận tự nhiên tìm cách thắng đối phương, nhưng dựa trên ánh sáng và sức mạnh của Thánh Linh: Ngài nói qua những người tham dự.
III. Nội dung các bài suy niệm
Sáu bài suy niệm của cha Timothy Radcliffe nhằm chuẩn bị tinh thần cho các người tham dự Hiệp Nghị chấp nhận những khó khăn có thể gặp trên tiến trình “hiệp nghị”.
Đề tài của các bài suy niệm có thể tóm gọn vào các từ sau: Hy vọng; Nhà ở; Tình bạn; Đàm thoại, Thẩm quyền, Chân lý.
1/ Hy vọng
Mở đầu loạt bài suy niệm, cha Radcliffe ghi nhận rằng nhiều người đến với hiệp nghị với nỗi lơ sợ sẽ gặp nhiều xáo trộn, sợ rằng những thay đổi sẽ đưa tới chia rẽ, ly giáo. Nhưng có người lại hy vọng rằng Giáo hội sẽ canh tân triệt để. Dù sao đi nữa, chúng ta cần nhớ lại những lời trong Tin mừng: “Đừng sợ!”. Vì thế chúng ta cần xin Chúa giải thoát chúng ta khỏi sợ hãi. Mỗi người chúng ta mang những niềm hy vọng khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Chúng ta hãy chia sẻ cho nhau những hy vọng ấy, giống như các môn đệ tại bữa Tiệc Ly. Và họ đã nhận được niềm hy vọng vượt quá mọi niềm hy vọng, như thánh Phaolô nói (Rm 4,18: spem contra spem: hy vọng mặc dù không còn gì để hy vọng), đó là “Hy vọng Thánh Thể”, khi Chúa Giêsu đã trao hiến mình và máu của Người để nhân loại được cứu độ. Niềm hy vọng này vượt quá óc tưởng tượng của chúng ta, vượt quá những ước mong của chúng ta. Chúng ta tin tưởng kể cho nhau nghe những hy vọng ấy, lắng nghe Chúa và lắng nghe nhau để tìm hiểu ý Chúa dành cho Giáo hội và cho nhân loại. Nhờ vậy chúng ta sẽ hợp nhất với nhau trong một niềm hy vọng vượt lên trên những bất đồng ý kiến của chúng ta. Thiên Chúa sẽ dự liệu vượt quá sự ước mong của chúng ta, tựa như các môn đệ khi phải giải quyết cơm bánh cho đám dân trong nơi hoang địa (Mc 8,1-10).
2/ Nhà ở
Đừng kể cuộc khủng hoảng về chỗ trú ngụ mà nhiều người đang gặp, cuộc khủng hoảng “nhà thiêng liêng” còn trầm trọng hơn. Nhiều người thiếu “tổ ấm” của gia đình, sống trong cảnh cô quạnh. Giáo hội hiện nay cũng gặp khủng hoảng về nhà ở, theo nghĩa là nhiều người không còn cảm thấy Giáo hội như là nhà của mình; họ cảm thấy lạc lõng. Người thì cho rằng Giáo hội đã mất căn tính cổ truyền. Đối lại, người khác lại ước mơ một Giáo hội đổi mới và mở rộng đến thế giới hơn nữa. Cả hai quan điểm đều có phần đúng. Dù nói sao đi nữa, chúng ta đừng quên rằng Thiên Chúa, Đấng Emmanuel, đã đến cư ngụ giữa chúng ta. Chúng ta cần giúp cho mọi người cảm thấy Giáo hội như là nhà của mình; đừng người nào cảm thấy mình bị loại trừ. Có người lo rằng chấp nhận hết mọi người vào trong Giáo hội là làm méo mó căn tính của Giáo hội. Tuy nhiên, chúng ta đừng quên rằng căn tính của Giáo hội có một phần đã được biểu lộ, nhưng còn một phần phải khám phá, như thánh Giaon tông đồ đã viết: Hiện nay chúng ta đã là con cái Thiên Chúa, nhưng chúng ta sẽ như thế nào thì chưa được tỏ lộ (1Ga 3,2). Không lạ gì mà có những căng thẳng không thể nào tránh được. Một đàng Chúa hứa sẽ đến cư ngụ trong nhà của ta (Ga 14,23); đàng khác, thì Ngài hứa sẽ đem ta vào nhà của Chúa (Ga 14,2).
3/ Tình bạn
Hiệp nghị sẽ coi là thành công nếu đưa chúng ta đến tình bạn sâu xa hơn với Thiên Chúa và giữa chúng ta với nhau. Thế giới ngày nay khao khát tình bạn, vì bị xáo trộn bởi những yếu tố gây chia rẽ, khiến cho con người chỉ nghĩ đến quyền lợi cá nhân. Đối lại, tình bạn phải giúp nhau nhìn về một mục tiêu, cho dù không đồng ý với nhau về giải đáp cho các câu hỏi. Chính khi can đảm chia sẻ những nghi ngờ và cùng nhau tìm kiếm chân lý mà nảy ra tình bạn.
4/ Nói chuyện
Dựa theo trình thuật hai môn đệ trên đường Emmaus, cha Radcliffe cho thấy rằng trong Giáo hội cũng có nhiều người bực bội vì những cảnh chướng tai gai mắt. Họ hy vọng hiệp nghị lắng nghe các đòi hỏi của họ. Cuộc đàm thoại được coi là đích thực khi không đi từ những câu trả lời đã chế sẵn, nhưng cần phải nhảy vọt để đi vào cảm nghiệm của người khác bằng cách lắng nghe họ, từ đó gây ra một chiều kích mới. Chúng ta cần chấp nhận sự khác biệt phong phú, nảy sinh những tương quan mới.
5/ Thẩm quyền
Giáo hội đang trải qua một cuộc khủng hoảng quyền bính, mất uy tín do những chuyện lạm dụng về tình dục và tài chính. Thật ra, cuộc khủng hoảng quyền bính xảy ra cho tất cả mọi thể chế xã hội hiện nay. Người ta chạy theo những tài tử, những diễn viên và kể cả các nhà độc tài, hơn là nghe theo chính quyền. Thế nhưng chính trong bối cảnh này, mà người ta cảm thấy khát khao được nghe tiếng nói có thẩm quyền để hướng dẫn họ về ý nghĩa cuộc đời. Nói đến quyền bính trong Giáo hội, cha Radcliffe nhắc lại rằng tất cả mọi người được rửa rội đều có thẩm quyền trong Chúa Kitô. Chúng ta đừng nên quên ba khía cạnh cơ bản của thẩm quyền. Một là cái Đẹp (Mỹ), mở óc tưởng tượng đến cõi siêu việt; hai là cái Tốt (Thiện), đòi hỏi sự can đảm và dấn thân; ba là con đường của sự Thật (Chân) cần được thông đạt cách thành thật. Cả ba con đường đều cần thiết, bởi vì cái đẹp mà không có sự thật và sự thiện thì có nguy cơ trở thành trống rỗng; nếu thiếu chân lý, thì cái tốt rơi vào cảm tình, còn sự thật mà thiếu sự thiện thì đưa đến pháp đình tôn giáo. Ước gi Giáo hội là một cộng đồng mang thẩm quyền hỗ tương, và cuối cùng, Giáo hội cần mang uy tín của Chúa để hướng dẫn nhân loại đang khát khao sự chân thật.
6/ Thánh Thần chân lý
Dù trên đường đi, chúng ta gặp những xung khắc, nhưng chúng ta tin rằng Thánh Thần chân lý sẽ dẫn đưa Giáo hội đến chân lý vẹn toàn. Thần khí thổi ở đâu ngài muốn. Mong sao Ngài sẽ dẫn chúng ta qua những con đường của đón tiếp, ban cho chúng ta khả năng lắng nghe, đối thoại và hiểu biết. Đừng sợ đối diện với những chân lý chướng tai, nhưng hãy bình tĩnh chứ không để cho sự tức giận đè nặng.
Trong những cuộc suy niệm này, cha Radcliffe đã thuật lại nhiều kinh nghiệm từ cuộc sống Đa Minh. Như đã nói ở đầu. Dòng Đa Minh họp tổng tu nghị ba năm một lần; nhưng các quyết định của phiên họp có thể sẽ bị phiên họp tới xóa bỏ. Theo hiến pháp, một quyết định cần được phê chuẩn bởi ba tổng hội liên tiếp (với thành phần tham dự khác nhau) thì mới có giá trị. Một kinh nghiệm khác là trong các khóa họp, không ai được gạt bỏ ý kiến người khác vì bị coi là vớ vẩn. Có thể là ý kiến ấy sai, vô lý, tuy vậy, dù có sai đi nữa, vẫn có cái gì đáng được tôi chú ý, để tìm hiểu xem họ muốn nói cái gì, tuy có lẽ chưa tìm được cách thích hợp để diễn tả. Cuối cùng, chúng ta đều là những kẻ “ăn mày chân lý”, chứ không phải là chủ nhân của chân lý.
Cha Radcliffe kể lại rất nhiều kinh nghiệm nhờ những cuộc tiếp xúc với nhiều người, và không ngại kể lại cảm nghiệm cá nhân lúc bị bệnh. Những câu chuyện ấy được phân tích dưới ánh sáng của Lời Chúa, nhờ kinh nghiệm dạy học lâu năm.
——————————–
Phụ thêm
Cha Timothy Radcliffe, OP. sinh ngày 22-8-1945, gia nhập dòng Đa Minh năm 1971. Trong thời giam giữ nhiệm vụ Bề trên tổng quyền, cha đã đi thăm anh em ở khắp các đại lục, và đã để lại 16 thư chung, được LM Nguyễn Cao Luật, OP. sưu tập trong bộ Can đảm hướng tới tương lai (Học viện Đa Minh, 2017): 1/ Dấn thân thi hành sứ vụ (Phục sinh 1994): tr. 267. 2/ Công viên kỷ Jura và bữa Tiệc ly (Tháng 6/1994): tr. 297. 3/ Hãy đi và giảng thuyết (21/5/1996): tr. 315. 4/ Ơn gọi tu trì hôm nay (8/8/1996): tr. 324. 5/ Suối nguồn hy vọng. Học hỏi và loan báo Tin Mừng (tháng 11/1995): tr. 345. 6/ Tự do theo tinh thần Đa Minh và trách nhiệm. Hướng tới một linh đạo về quản trị: tr. 377. 7/ Lời hứa ban sự sống (25/2/1998): tr. 419. 8/ Kinh Mân côi (tháng 10/1998): tr. 463. 9/ Con gấu và chị đan sĩ. Ý nghĩa đời tu trì ngày hôm nay (tháng 10/1998): tr. 479. 10/ Giai đoạn đào tạo sơ khởi (13/2/1999): tr. 502/ 11/ Thánh Catarina Siena, bổn mạng châu Âu (tháng 4/2000): tr. 534. 12/ Ngai Thiên Chúa. Với các viện phụ Biển Đức (6/9/2000): tr. 541. 13/ Tôn vinh, chúc tụng, giảng thuyết. Sứ vụ của gia đình Đa Minh (tháng 12/2000): tr. 562. 14/ Sứ vụ trong một thế giới trốn chạy. Những công dân tương lai của vương quốc (tháng 12/2000): tr. 584. 15/ Đời sống chiêm niệm của các nữ đan sĩ (29/4/2001): tr. 609. 16/ Dụ ngôn Người Samari tốt lành (30/6/2001): tr. 643.
Phan Tấn Thành, OP.
Nguồn https://catechesis.net/
2023
Giáo lý loan báo Tin Mừng 23 – Cuộc đời Thánh Bakhita cho thấy sức mạnh biến đổi của ơn tha thứ
Tiếp tục loạt bài giáo lý nói về lòng nhiệt thành tông đồ, trong bài giáo lý vào sáng thứ Tư 11/10/2023, Đức Thánh Cha đã trình bày với hơn 25 ngàn tín hữu hiện diện tại quảng trường Thánh Phêrô chứng tá của Thánh Josephine Bakhita, vị thánh nô lệ Châu Phi đầu tiên.
Thánh Bakhita đã bị bắt cóc và bị biến thành nô lệ khi mới 7 tuổi, đã phải chịu đựng rất nhiều đau khổ về thể xác và tinh thần. Tuy vậy, khi gặp Chúa Kitô, ngài đã trải nghiệm một sự giải thoát nội tâm sâu sắc, ngài cảm thấy được thấu hiểu và được yêu thương, có khả năng yêu thương và tha thứ, như Chúa Giêsu đã tha thứ cho những kẻ đã đóng đinh Người.
Buổi tiếp kiến bắt đầu với đoạn Tin Mừng thánh Luca 23,32-34, được công bố bằng một số ngôn ngữ chính.
Có hai tên gian phi cũng bị điệu đi hành quyết cùng với Người. Khi đến nơi gọi là “Đồi Sọ”, họ đóng đinh Người vào thập giá, cùng lúc với hai tên gian phi, một tên bên phải, một tên bên trái. Bấy giờ Đức Giê-su cầu nguyện rằng: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Rồi họ lấy áo của Người n chia ra mà bắt thăm.
Bài giáo lý của Đức Thánh Cha
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Trong hành trình các bài giáo lý của chúng ta về lòng nhiệt thành tông đồ, hôm nay chúng ta hãy để mình được soi sáng bởi chứng tá của Thánh nữ Josephine Bakhita, một vị thánh người Sudan. Thật không may, từ nhiều tháng Sudan đã bị chia cắt bởi một cuộc xung đột vũ trang khủng khiếp mà ngày nay người ta ít nói đến; chúng ta hãy cầu nguyện cho người dân Sudan để họ được sống trong hòa bình! Nhưng danh tiếng của Thánh Bakhita đã vượt qua mọi ranh giới và đến được với tất cả những người mà căn tính và phẩm giá của họ bị chối bỏ.
“Là một nô lệ, tôi không bao giờ tuyệt vọng.”
Sinh tại Darfur – thành phố Darfur bị giày xéo! – vào năm 1869, thánh nhân bị bắt cóc đưa đi khỏi gia đình khi mới 7 tuổi và bị làm nô lệ. Những kẻ bắt giữ ngài gọi ngài là “Bakhita”, có nghĩa là “may mắn”. Thánh nhân đã bị bán cho 8 người chủ khác nhau, người này bán cho người khác… Những đau khổ về thể xác và tinh thần mà ngài phải chịu khi còn nhỏ đã khiến ngài mất đi danh tính. Ngài phải chịu đựng sự tàn ác và bạo lực: trên cơ thể ngài có hơn một trăm vết sẹo. Nhưng chính ngài đã làm chứng: “Là một nô lệ, tôi không bao giờ tuyệt vọng, bởi vì tôi cảm nhận được một sức mạnh huyền nhiệm đã hỗ trợ tôi”.
Bí quyết của Thánh Bakhita
Tôi tự hỏi bí quyết của Thánh Bakhita là gì? Chúng ta biết rằng người bị thương tổn thường trở thành người làm người khác thương tổn; người bị áp bức dễ dàng trở thành kẻ áp bức. Ngược lại, ơn gọi của những người bị áp bức là giải phóng bản thân và những kẻ áp bức họ bằng cách trở thành những người phục hồi lòng nhân đạo. Chỉ nơi sự yếu đuối của những người bị áp bức, sức mạnh tình yêu của Thiên Chúa vốn giải phóng cả hai (người bị áp bức và người áp bức) được biểu lộ.
Thánh Bakhita diễn đạt sự thật này rất hay. Một ngày nọ, người giám hộ của ngài đưa cho ngài một cây Thánh Giá nhỏ, và là người chưa bao giờ sở hữu bất cứ thứ gì, ngài đã kiên quyết gìn giữ báu vật của mình. Khi nhìn vào Thánh Giá, thánh nhân cảm nghiệm một sự giải phóng nội tâm sâu sắc bởi vì ngài cảm thấy được thấu hiểu và được yêu thương, do đó đến lượt ngài, ngài có thể cảm thông và thương yêu. Thực ra, ngài sẽ nói: “Tình yêu của Thiên Chúa luôn đồng hành với tôi một cách huyền nhiệm… Chúa đã yêu thương tôi rất nhiều: chúng ta phải yêu thương mọi người… Chúng ta phải có lòng cảm thương!”.
Thực sự, cảm thương có nghĩa là vừa đau khổ với những nạn nhân của biết bao sự vô nhân đạo đang hiện diện trên thế giới, vừa thương cảm những người phạm sai lầm và bất công, không bằng cách biện minh cho họ nhưng là khiến họ trở nên nhân đạo hơn. Đây là sự dịu dàng mà thánh nhân dạy chúng ta, giúp có tình người hơn. Khi chúng ta đi vào logic đấu tranh, của chia rẽ giữa chúng ta, những tình cảm tồi tệ, người này chống lại người kia, chúng ta đánh mất lòng nhân đạo. Và nhiều khi chúng ta nghĩ rằng chúng ta cần lòng nhân đạo, cần nhân bản hơn. Và đây là công việc mà Thánh Bakhita dạy chúng ta: nhân bản hóa, nhân bản hóa chính mình và nhân bản hóa người khác.
Tha thứ
Thánh Bakhita, người đã trở thành Kitô hữu, đã được biến đổi bởi những lời của Chúa Kitô mà ngài suy niệm hàng ngày: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Đó là lý do tại sao ngài nói: “Nếu Giuđa xin Chúa Giêsu tha thứ thì ông ấy cũng sẽ được thương xót”. Chúng ta có thể nói rằng cuộc đời của Thánh Bakhita đã trở thành một dụ ngôn hiện sinh về sự tha thứ. Thật là điều tuyệt vời khi nói về một người rằng “họ có khả năng tha thứ”. Thánh nhân luôn có khả năng làm điều này: cuộc sống của ngài là một dụ ngôn hiện sinh về sự tha thứ. Tha thứ bởi vì rồi chúng ta sẽ được tha thứ. Anh chị em đừng quên điều này: tha thứ, đó là sự dịu dàng của Thiên Chúa đối với tất cả chúng ta.
Sự tha thứ đã giải thoát ngài. Sự tha thứ trước tiên nhận được qua tình yêu thương xót của Thiên Chúa, và sau đó sự tha thứ được ban đã khiến ngài trở thành một người phụ nữ tự do, vui vẻ, có khả năng yêu thương.
Phục vụ
Thánh Bakhita có thể sống phục vụ không phải như một sự nô lệ mà như một biểu hiện của sự tự do trao tặng bản thân. Điều này rất quan trọng: biến mình thành đầy tớ – đã bị bán làm nô lệ – sau đó ngài tự do lựa chọn trở thành đầy tớ, mang lấy gánh nặng của người khác trên vai.
Bằng gương sáng của ngài, Thánh Josephine Bakhita, chỉ cho chúng ta con đường để cuối cùng thoát khỏi cảnh nô lệ và sợ hãi. Ngài giúp chúng ta vạch trần những thói đạo đức giả và tính ích kỷ của mình, vượt qua những oán giận và xung đột. Ngài khuyến khích chúng ta luôn luôn.
Tha thứ không lấy đi bất cứ thứ gì nhưng tăng thêm phẩm giá cho con người
Anh chị em thân mến, sự tha thứ không lấy đi bất cứ thứ gì nhưng tăng thêm phẩm giá cho con người, nó khiến chúng ta hướng cái nhìn từ chính mình sang người khác, để thấy họ cũng mong manh như chúng ta, nhưng luôn là anh chị em trong Chúa. Sự tha thứ là nguồn gốc của lòng nhiệt thành trở thành lòng thương xót và kêu gọi chúng ta đến với sự thánh thiện khiêm nhường và vui tươi, giống như thánh Bakhita.
2023
Người tu sĩ đồng tính
Trả lời:
Chào bạn,
Trước khi đưa ra câu trả lời cho chuẩn xác, hãy cùng làm rõ câu hỏi của bạn.
Hạn từ “tu sĩ” được dùng để chỉ những người nam/nữ sống đời thánh hiến qua việc tuyên khấn công khai các lời khuyên phúc âm (gọi tắt là lời khấn) trong một hội dòng. “Người tu sĩ hiến dâng trọn vẹn thân mình như một hy lễ được dâng lên Thiên Chúa, nhờ đó tất cả cuộc sống họ trở nên một việc liên lỉ thờ phượng Thiên Chúa trong đức ái” (GL 607). Đôi khi, chúng ta cũng hay nghe nói đến từ “đan sĩ”. Thuật ngữ “đan sĩ” không xuất hiện nhiều trong Giáo Luật cho bằng từ “tu sĩ”. Thực ra, dưới một khía cạnh nào đó, các đan sĩ cũng là tu sĩ, vì họ tuyên công khai và giữ các lời khấn. Nhưng thuật ngữ “đan sĩ” được dành riêng cho các tu sĩ sống trong một đan viện. Đây là một kiểu đời tu xuất hiện rất sớm trong Giáo hội. Các linh mục triều không được gọi là “tu sĩ” vì họ không tuyên giữ công khai các lời khấn. Họ được gọi là “giáo sĩ”.
Liên quan đến xu hướng tính dục, phải phân biệt: dị tính, đồng tính (nam hoặc nữ), song tính[1], ngoài ra, còn có người chuyển giới (transgender), người đang chưa rõ về giới tính của mình và đang tìm hiểu về bản thân (questioning).
– “Dị tính” là người bị hấp dẫn tính dục bởi những người khác giới và không có cảm giác về mặt cảm xúc hay tình dục với người cùng giới.
– “Đồng tính” là người bị hấp dẫn tính dục bởi những người cùng giới tính và không có cảm giác về cảm xúc hay tính dục với những người khác giới tính. Có loại đồng tính nữ (gọi là lesbian hay les), và đồng tính nam (gọi là gay).
– “Song tính” là người bị hấp dẫn tính dục bởi cả người cùng giới lẫn khác giới (bisexual).
Câu hỏi của bạn chỉ giới hạn trong phạm vi “đồng tính”, nhưng chúng tôi ngầm hiểu là bạn đang ám chỉ đến một kiểu xu hướng tính dục không-phải-là-dị-tính, nghĩa là xu hướng mà chúng ta tạm gọi là “khác với xu hướng tính dục tự nhiên thông thường của đại đa số người trên thế giới”. Vì thế, dưới đây, khi trả lời câu hỏi của bạn, chúng tôi sẽ dùng từ “đồng tính” theo nghĩa này.
“Có sao không?” là một câu hỏi rất mơ hồ. Chúng tôi không hiểu là bạn đang nói đến điều gì: người đồng tính có được chấp nhận để trở thành tu sĩ không, hay nếu đi tu mà đồng tính thì có phạm tội gì không, hay là một tu sĩ mà đồng tính thì có ảnh hưởng nguy hại gì đến đời tu không?… Chúng ta không thấy có một ngăn trở nào quy định trong cuốn Giáo Luật 1983 nói rằng người đồng tính thì phải bị loại trừ khỏi đời sống dâng hiến (hay thậm chí là trở thành linh mục). Vì thế, nếu có tu sĩ (hay linh mục) nào phát hiện ra mình có xu hướng đồng tính, người đó không hề lỗi luật, cũng không phạm tội luân lý gì. Vấn đề đặt ra ở đây mà chúng ta cần suy xét là “khi biết một ứng viên muốn sống đời tu mà có xu hướng đồng tính, người hữu trách có nên nhận họ không?” Luật thì không cấm nhưng thường người hữu trách sẽ rất e dè với những trường hợp này. Vì sao?
Đời tu và người đồng tính
Như đã nói ở trên, đời tu có liên quan đến việc sống các lời khuyên phúc âm và đời sống cộng đoàn. Cụ thể hơn, nó đòi buộc người ta phải sống tốt đời sống khiết tịnh, triển nở bản thân trong tình trạng “độc thân vì Nước Trời”. Sống khiết tịnh vốn dĩ không phải là điều dễ dàng. Bởi thế, nếu người ta chọn sống nó chính là vì họ có một mục đích cao cả. Ta vẫn hay nghe đến những câu chuyện một anh chàng hay cô nàng nào đó nguyện suốt đời không lấy ai khác để chứng tỏ lòng chung thuỷ dành cho người mình yêu. Một tình yêu cao cả đã thôi thúc người ta đến chỗ dành trọn cuộc sống và mọi sự của mình cho một người duy nhất mà thôi, chứ nhất quyết không chia sẻ nó với ai khác, dù biết rằng mình sẽ gặp nhiều khó khăn và thử thách với chọn lựa này.
Với người sống đời dâng hiến, động cơ thúc đẩy họ đến chọn lựa sống độc thân, chính là vì tình yêu dành cho Đức Giêsu, hay cụ thể hơn, họ “sống độc thân vì Nước Trời.” Như thế, tình trạng độc thân của người tu sĩ hay lời khấn khiết tịnh của họ đồng thời cũng mang tính sứ mạng. Và để có thể sống được điều này, đòi hỏi người tu sĩ phải có một sự trưởng thành tâm cảm. Đó là một khả năng hiểu biết về chính mình, biết làm chủ cảm xúc, giới tính của mình, biết cách giao tiếp lành mạnh trong các mối tương quan, có một sự quân bình trong chính con người mình.
Thật ra, để có thể trở thành một con người thành công, có ích cho xã hội, con người nào cũng phải có được sự trưởng thành tâm cảm này. Đây chính là mục tiêu của giáo dục và huấn luyện con người. Nhưng nó trở nên cấp thiết hơn trong môi trường đời tu. Bởi lẽ, một tu sĩ nào đó dù đã lớn tuổi, nhưng lại không có một tâm cảm trưởng thành thì cũng hệt như một đứa bé mới lớn. Người đó chẳng hiểu về lý tưởng của mình, không thể làm chủ những xung động nơi bản thân mình, luôn bị cảm xúc chi phối trong các quyết định, lại không có một tương quan đúng đắn và lành mạnh với người khác. Một người như thế, rất khó có thể trở thành “người thợ” trong vườn nho của Chúa, và sống sót “giữa bầy sói dữ”.
Đòi hỏi một người tu sĩ phải ngay lập tức hoàn hảo trong tất cả mọi mặt là điều không thể, nhưng một mức độ trưởng thành về mặt tâm lý sẽ là dấu chỉ cho thấy người đó hiểu về chọn lựa của mình, dám đảm nhận quyết định của mình và sống nó một cách thích đáng để đời mình được sinh hoa kết trái và người khác cũng được hưởng lây thành quả này.
Chúng ta cùng quay trở lại vấn đề: liệu người đồng tính luyến ái có được nhận vào dòng tu hay chủng viện không? Trong phạm vi nhỏ bé của bài viết này, chúng tôi không có tham vọng triển khai một nghiên cứu đầy đủ và chi tiết về nó, nhưng chỉ xin trình bày một cách ngắn gọn những hướng dẫn của Toà Thánh liên quan đến tính hợp pháp trong việc thu nhận những người có xu hướng này.
Toà Thánh đã ban hành rất nhiều tài liệu hay những chỉ dẫn nói về vấn đề này. Trong đó có một Hướng Dẫn được Bộ Giáo Dục Công giáo ban hành vào ngày 31.8.2005, nói rõ rằng sẽ không nhận những ứng viên vào chủng viện hay vào một dòng tu, nếu người đó có khuynh hướng đồng tính, được thể hiện qua ba tiêu chí sau:
– (2) người có khuynh hướng đồng tính cách sâu sắc;
– (3) người cổ võ cho một kiểu “văn hoá đồng tính”.
Một tài liệu khác được ban hành vào 4.11.2005 cũng nhắc đến 3 ngăn trở này trong việc thu nhận một người vào một chủng viện hay dòng tu. Tài liệu nói rõ rằng mặc dù không phân biệt kỳ thị và vẫn tôn trọng những người có xu hướng đồng tính, Giáo hội không thể nhận những anh chị em này vào bậc sống tu trì và chức thánh bởi vì xu hướng ấy là một ngăn cản nghiêm trọng, khiến người đó không thể có một sự quân bình trong tâm lý và không thể có một tương quan đúng đắn và cân bằng với những người nam, cũng như người nữ khác. Một người đồng tính nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi sống trong một cộng đoàn chỉ toàn nam giới; cũng tương tự như vậy đối với người nữ. Do có sự lệch lạc trong xu hướng tính dục, môi trường dòng tu bao gồm những người cùng giới tính với mình có thể sẽ không còn là nơi giúp họ từ bỏ mọi sự và toàn tâm toàn ý phục vụ Chúa cũng như tha nhân, mà chỉ là nơi “trú thân” (vì họ không thể lập gia đình). Tệ hơn, môi trường này có thể trở thành nơi đầy những cám dỗ đối với họ.
Tài liệu không giải thích rõ “người có khuynh hướng đồng tính cách sâu sắc” nghĩa là gì, nhưng trên tinh thần của tài liệu, ta có thể suy đoán rằng đó có thể là:
(2) người đó tham gia vào những diễn đàn, tổ chức dành cho người đồng tính để tìm thoả mãn cho nhu cầu tính dục của mình;
(3) người đó có những biểu diện bên ngoài thái quá như cách ăn mặc hay sử dụng nữ trang, trang điểm…
(4) người đó có nhu cầu thường xuyên đến những tụ điểm đồng tính…
Những người trên không thể là hiện thân cách thích đáng hình ảnh Đức Kitô, vị mục tử nhân lành và là hiền phu của Giáo hội, không thể trở thành một người cha/mẹ thiêng liêng và như thế, họ không có được sự trưởng thành cần có để đảm nhận các thừa tác vụ thánh. Liên quan đến đời sống khiết tịnh, họ không thể sống sự độc thân như một của lễ, không thể ra khỏi chính mình để thiết lập những tương quan đúng đắn với người khác, cả nam lẫn nữ.
Vì vấn đề đồng tính luyến ái là một vấn đề phức tạp, Giáo hội cũng nói đến việc các nhà huấn luyện, các vị linh hướng để thận trọng, khôn ngoan trong việc lắng nghe các ứng viên, đồng thời giúp đỡ họ nhận ra ơn gọi của mình, đặc biệt đối với trường hợp thứ ba (chưa xác định rõ về giới tính của mình do có vấn đề về tâm lý). Phải suy xét cho kỹ để không vội vàng quy chụp hay loại trừ một người có thể có ơn gọi, chỉ là đang có chút rắc rối liên quan đến tính dục của mình. Để tiến tới chức thánh, Giáo hội đòi hỏi ứng viên phải vượt qua được “sự không rõ ràng này” ít là 3 năm trước khi nhận chức phó tế.
Như thế, một sự trưởng thành tâm cảm là rất cần thiết để có thể sống đời tu một cách triển nở. Không chỉ người đồng tính mà cả người dị tính nếu không có được điều này thì cũng khó sống sự dâng hiến trong đời tu, đặc biệt là trong thiên chức linh mục. Để tránh những hiểu lầm hay chỉ trích dành cho Giáo hội, chúng ta cần phải hiểu rõ vì sao Giáo hội lại có những quy định như vậy.
Thật ra, sống đời dâng hiến, cách riêng là chức thánh, là một ân huệ mà Thiên Chúa dành cho Giáo hội, trước khi trở thành tiếng gọi cá nhân. Mỗi cá nhân được mời gọi để sống đời dâng hiến hay để trở thành linh mục là để cộng tác với Giáo hội, hoạt động trong lòng Giáo hội, phục vụ cho Giáo hội. Việc Giáo hội từ chối hay nhận ai đó vào bậc sống tu trì hay giáo sĩ tuỳ thuộc vào việc Giáo hội nhận thấy người đó có thích hợp với lối sống này không và có giúp ích cho người đó cũng như cho các linh hồn không. Sự thích hợp này chính là cái mà ta vẫn đặt tên “ơn gọi”, và được thể hiện ngang qua những dấu chỉ nơi bản thân người đó. Giáo hội xác nhận rằng “không trưởng thành về tâm cảm” là một dấu chỉ cho thấy sự không phù hợp của đương sự với đời tu.
Chúa kêu gọi một người dâng hiến cho Ngài ngang qua Giáo hội. Người ta có thể khăng khăng rằng mình có ơn gọi dâng hiến, nhưng nếu không được Giáo hội xác chuẩn và công nhận thì đó cũng chỉ là suy nghĩ đơn phương của người đó mà thôi. Sự từ chối chấp nhận ai đó vào đời tu của Giáo hội dành cho ai đó cũng muốn nói lên một điều rằng: đời tu không phải là cùng đích của con người, đó cũng chỉ là một trong số các phương tiện khác. Bất cứ con người nào, dù dị tính hay đồng tính, đều có thể trở thành thánh trong một môi trường ngoài đời tu, nếu họ sống tinh thần đức ái theo Tin Mừng và hằng luôn kết hiệp với Chúa.
Việc suy xét có nhận một người vào chủng viện hay vào dòng tu hay không hệ ở người hữu trách tại nơi đương sự xin vào. Đương sự có đủ sự trưởng thành tâm cảm để hiểu và đảm nhận đời tu hay không cũng do các vị có thẩm quyền nơi đó quyết định. Đối với cả người đồng tính hay dị tính, các nhà huấn luyện có trách nhiệm giúp họ khám phá ra ơn gọi mà Chúa dành cho họ, và giúp họ bình an với ơn gọi đó, làm sao để đời tu có được nét đẹp tinh tuyền của nó là một cuộc đời dâng hiến tự nguyện cho Thiên Chúa để sống cho Thiên Chúa và phục vụ con người, chứ không phải là nơi “tìm bạn tình”, hay “trốn đời”, “che đậy bản thân”. Nếu không, nó sẽ dẫn đến những tình trạng không hay vốn đang đục khoét lý tưởng đời dâng hiến – một sáng kiến tuyệt vời mà Thánh Thần đã thổi vào trong Giáo hội.
Tham khảo:
Clark, Keith, Being Sexual and Celibate, Notre Dame: Ave Maria Press, 1986
Sperry, Len, Sexo, Sacerdocio e Iglesia, Santander, Sal Terrae, 2004
