Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Giáo dục

Home / Giáo dục
21Tháng Bảy
2023

Người giáo dân vẫn bị bỏ quên ?

21/07/2023
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

Người giáo dân vẫn bị bỏ quên ?

 

Công đồng Vatican II kết thúc đã gần 60 năm. Những khẳng định về linh đạo giáo dân, ơn gọi và sứ mạng của người giáo dân trong Công đồng Vatican II, rồi Tông huấn Kitô hữu Giáo dân của Đức Gioan Phaolô II và trong nhiều văn kiện hậu Công đồng; cùng với không ít những khóa học hỏi, những nỗ lực của một số tín hữu giáo dân tích cực để tìm được cách thể hiện ơn gọi và sứ mạng của mình… những điều ấy xây dựng được những nền tảng rất quan trọng và có lẽ cũng khá phong phú…, Câu hỏi đặt ra bây giờ là tại sao tất cả những nỗ lực ấy dường như vẫn chưa đánh thức được một phần chi thể lớn nhất của Giáo hội? Tại sao vai trò của người giáo dân trong Giáo hội vẫn còn rất mờ nhạt? Do cơ chế? Do não trạng? Do cấu trúc đời sống đức Tin? Do dáng dấp đời sống đức Tin? Do tình hình kinh tế chính trị của thế giới?

Những giáo huấn của Giáo hội tựa như những hạt giống, nhưng hạt giống còn cần phải có môi sinh tốt để có thể phát triển. Tạm nhận xét tình trạng còi cọc của “sinh lực đức tin” nơi thành phần giáo dân bằng cách phân tích “môi sinh” trong đời sống Giáo hội dưới hai khía cạnh: cấu trúc và dáng dấp của đời sống đức Tin Kitô giáo.

Trong bữa Tiệc Ly, Đức Giêsu diễn tả chiều ngang trong mối quan hệ giữa Thiên Chúa với con người qua việc bẻ bánh, cùng thông chia một chén rượu với nhau

1. Cấu trúc đời sống đức Tin

1.1 Tính toàn thể của sứ mạng Kitô giáo

Truyền thống Do Thái Kitô giáo có một đường nét đặc biệt, khác hẳn những tôn giáo khác, đó là mang lấy sứ mạng đưa dẫn lịch sử của cả thế giới tới sự thành toàn trọn vẹn.

Vận mạng của dân Do Thái gồm tóm trong hai yếu tố nền tảng có tính cách quyết định:

– Đây là một Dân tộc được xây dựng xung quanh một Cuốn Sách. Sách ấy được chấp nhận như Lời mạc khải của Thiên Chúa.

– Mạc khải của Thiên Chúa cho thấy một quan niệm về thời gian và tính lịch sử của cả vũ trụ; qua đó dân Do Thái sống hành trình lịch sử được đan bện từ quá khứ, hướng đến tương lai và cả hai được gồm gói trong hiện tại.

Hai điều ấy, lời Mạc khải và vận hành lịch sử được nối kết chặt chẽ với nhau; và hiệu quả là người Do Thái, trong khi trung tín đọc Lời Thiên Chúa, có khả năng dấn bước trong dòng lịch sử với một sự xác tín mang cường độ tôn giáo. Lời Chúa soi sáng cho lịch sử và lịch sử chính là sự thành toàn của Lời Chúa. Lịch sử được đan bện do Ý Chúa và thái độ trung tín của Dân.

Ý nghĩa của cuộc sống nơi người Do Thái không bị hạn hẹp trong một khung giá trị luân lý, nhưng được thành toàn bằng cách thực hiện ý Thiên Chúa trong dòng lịch sử; và lịch sử ấy diễn tiến để đi đến một chung cục hoàn hảo như một chứng thực cho hiệu năng của Lời Chúa. Do đó, người Do Thái không chỉ nuối tiếc một quá khứ vàng son, nhưng quan trọng hơn là coi thời vàng son ấy là những dấu chỉ giúp họ xác tín vào quyền năng của Thiên Chúa trong nỗ lực xây dựng một tương lai trọn vẹn. Lời Chúa không phải nhằm tạo nên những bài học “luân lý siêu hình”, nhưng như một giải đáp cho “biện chứng lịch sử”. Dĩ nhiên, đó không phải là một thứ biện chứng lịch sử theo quy luật vô ngã như quan điểm Mác-xít. Ở đây tính thống nhất của tôn giáo và lịch sử được hình thành trong sự đồng hành của một Đấng, một “Logos hữu ngã”, với khả năng quyền biến để tình yêu và ơn cứu độ được bộc lộ trong muôn ngàn nét phong phú bất tận.

“Với quan niệm thả neo vào lịch sử như vậy đã mặc cho truyền thống Do Thái một năng động tính mà đức tin Kitô giáo đã thừa kế và không một thế giới cổ đại nào có thể cung cấp được. Phụng vụ những ngày đại lễ và những buổi cầu nguyện tại hội đường luôn thấm nhuần niềm hy vọng ấy”[1]

Tiếp nối truyền thống ấy, Kitô giáo cũng mang vác một sứ mạng lịch sử toàn diện. Kitô giáo không phải là một tôn giáo chỉ liên quan đến một thế giới bên trên và song song với cuộc sống, nhưng giải pháp Kitô giáo bao trùm toàn bộ thực tại và là một giải pháp nhằm tới sự thành toàn của cái toàn thể.

Thực sự sứ điệp của Tin Mừng Nhất Lãm là Vương Quốc Thiên Chúa, còn sứ điệp của Tin Mừng thứ Tư là chính bản thân Đức Giêsu. Hai khía cạnh đó gồm gói trong nhau. Một Đức Giêsu như “Trung tâm” luôn gắn liền với Nước Thiên Chúa như “Chu vi”. Có thể nói hơi lộng ngôn một chút: một Đức Giêsu mà không tha thiết loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa là một “Đức Giêsu què”; một Nước Thiên Chúa mà không có Đức Giêsu ở Trung Tâm lại là một “Nước Trời mù”.

Có nhiều lý do làm tách rời hai yếu tố “Trung tâm” và “Chu vi” ấy, chẳng hạn sự hiểu lầm từ ngữ “thế gian” trong Tin Mừng thứ Tư, nền thần học tu đức quá nghiêng về một thứ duy linh, tạo nên thái độ siêu thoát, xa lánh ma quỷ, thế gian và xác thịt… Mặt khác, khi mà  uy tín của Giáo hội đã lên đến cao điểm; khi mà những người lãnh đạo trong Giáo hội có đủ quyền bính và biện pháp để giải quyết mọi vấn đề theo ý của mình, thì người ta không còn nhận ra tính cách bất toàn căn cội của cuộc sống, và không còn mong chờ một giải pháp dứt khoát của Thiên Chúa trên dòng lịch sử…

Hệ quả là niềm mong chờ cánh chung không còn là mong chờ Chúa dẫn dắt lịch sử đến ngày thành toàn, nhưng là nỗ lực thanh luyện, lập công để chuẩn bị cho cuộc sống mai sau. Khi ấy, đức Cậy, chỉ được hiểu như một nhân đức đối thần thuần túy, nhằm hy vọng hạnh phúc mai sau, chẳng những không đón nhận được những ưu tư làm đẹp trần gian, nhưng còn tỏ ra thù địch với những nỗ lực ấy.

Chính lối nhìn ấy đã vẽ nên một khuôn mặt Kitô giáo bi quan, ảm đạm. Khi bắt đầu thời Phục Hưng, thế kỷ XV-XVI, thế giới bắt đầu tìm thấy niềm vui cuộc sống nhiều hơn, lạc quan hơn về khả năng con người và những tiến bộ khoa học, thì người ta cũng bắt đầu viết nên nhiều “Bản cáo trạng” đối với Kitô giáo. Ta có thể chọn một đoạn văn tiêu biểu như sau:

“Do những sai lầm bi thảm, con người ngày nay coi người Kitô hữu như kẻ thù của cái có thời gian, và mỗi người chúng ta đều đã loáng thoáng nghe thấy những lời người ta tố cáo chúng ta…”[2]

Tuy nhiên, từ Công đồng Vatican II, khía cạnh cánh chung trở thành nét cơ bản. Đường nét này chẳng những liên quan đến mọi vấn đề thần học nhưng còn hình thành chiều kích mới của thần học, ảnh hưởng trên toàn bộ đời sống đức Tin của người Kitô hữu. Quả thật, nền thần học Cánh chung có thể giúp người Kitô hữu tìm thấy căn tính của đời sống đức Tin trong thời đại hôm nay.

Thực sự sứ điệp Kitô giáo không phải chỉ là thiết lập một dòng chảy bên trên dòng chảy của cuộc sống này, nhưng chính là một giải pháp cho chính cuộc sống, cho toàn thể vận mạng của vũ trụ và nhân loại. Sứ điệp ấy, một cách chính yếu, không nhằm lôi kéo con người bước vào một thế giới hoàn toàn mới, hoặc là chỉ như một thứ “đóng hụi chết” cho đời sống tôn giáo để mong sẽ được có phần lời sau khi chết…, nhưng sứ điệp Kitô giáo nhằm hội nhập và dẫn đưa toàn bộ cuộc sống tới sự thành toàn.

Sách Kinh Bổn thường đọc sau kinh Mười Điều Răn rằng: “Mười điều răn ấy tóm về hai điều mà chớ…”. Nói như thế không sai, nhưng mới chỉ là  một thứ phân chia theo “chất thể” của Mười Điều Răn, trong khi thực sự chính Điều răn Thứ Nhất mới là “mô thể” cho tất cả Mười Điều Răn; bởi vì đối với người Do Thái, điều khoản thứ nhất bao giờ cũng mang ý nghĩa toát lược toàn bộ các điều khoản khác, do đó, một khi người tín hữu thảo kính cha mẹ, không gian tham, không dối trá…, thì đó là đang thờ phượng và kính mến Chúa vậy.

Dĩ nhiên không thể chối rằng, trong tâm thức xã hội tại một số nơi, sự sống đức Tin Kitô giáo cũng có góp một phần “uy tín” để bảo đảm cho một số giá trị nhân bản; nhưng hình như tâm thức của người giáo dân, hoặc ngay cả nơi nhiều linh mục, tu sĩ, vẫn chưa thấm được cấu trúc này, cả trong nội dung giảng dạy, trong cử hành phụng vụ, trong sinh hoạt giáo xứ… Hầu hết những sinh hoạt đạo đều “quy về” chuyện đạo đức, chứ ít có chiều hướng “mở ra” với xã hội và thế giới. Những phong trào tông đồ giáo dân mang bản chất “Công giáo Tiến hành”, mang đạo vào đời… thì khi du nhập vào Việt Nam luôn có khuynh hướng biến tướng trở thành “hội đạo đức”…

Người Kitô hữu cần phải xác tín rằng: Mười Điều Răn ấy tóm về “một điều mà chớ…”; đó là cách khẳng định lại cấu trúc đức Tin Kitô giáo… và chỉ khi đó, cả một lãnh vực rộng lớn của đời sống giáo dân mới tìm lại được “lý do hiện hữu” với những ý nghĩa đúng đắn.

 Mục tử đích thực phải có “mùi chiên”, phải là những người lắng nghe được “tiếng nói” của đoàn chiên

2. Dáng dấp đức Tin Kitô giáo

Giáo hội đang nỗ lực đi vào nẻo đường “hiệp hành”, và hiệp hành, nói chung, là một cách thức để mọi thành phần trong Giáo hội cùng nhau, hợp tác với nhau, liên đới với nhau trong sứ vụ chung… Nhưng ta cũng có thể thấy rằng, thành quả thu được là nhiều hay ít thì còn tùy vào phẩm tính của truyền thống và thực trạng của hoàn cảnh cụ thể.

2.1 Chiều dọc và chiều ngang (chiều kích chính trị)

Chiều kích chính trị, hiểu như là cách thức tổ chức sinh hoạt của cộng đồng, chắc chắn ảnh hưởng rất nhiều tới phẩm tính của Giáo hội xét như một cộng đồng xã hội.

Ta có thể tạm giản lược các thể chế chính trị vào hai hình thức chính, quân chủ và dân chủ. Mặc dù có nhiều khác biệt giữa những loại thể chế quân chủ khác nhau, nhưng nói chung thể chế quân chủ là lối tổ chức xã hội được điều hành với quyền lực tuyệt đối của một vị vua. Quyền bính được thừa hành có cội nguồn từ trên xuống, thường là theo đường lối cha truyền con nối. Ta tạm gọi đây là thể chế chiều dọc.

Trong khi đó thể chế dân chủ lại mang ý nghĩa quyền bính từ dân mà ra. Việc đặt quyền lực trong tay người dân, trực tiếp hoặc gián tiếp, được thể hiện bên ngoài theo quy luật đa số thắng thiểu số; nhưng sâu xa hơn, đó là một cách thức tin tưởng vào khả năng tìm chân lý một cách phong phú và dễ đạt được sự quân bình hơn, so với những quyết định của riêng một người, hoặc một số ít người.

Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều chọn một hình thức dân chủ nào đó. Ngay cả nhiều quốc gia gọi là quân chủ lập hiến thì trong thực chất của việc thực thi quyền lực vẫn là dân chủ. Người ta ghi nhận chỉ còn 7 quốc gia theo thể chế quân chủ chuyên chế mà chủ yếu là các nước Hồi giáo, vương quốc Esquatini ở châu Phi… và quốc gia Vatican.

Dĩ nhiên, mỗi hình thức chính trị sẽ có thể thích hợp hơn cho một hoàn cảnh riêng biệt, để mang lại những lợi ích phong phú hơn. Tuy vậy, ta vẫn có thể thấy một chiều hướng chung là dần dần người ta hiểu rằng hình thức dân chủ tránh được nhiều sai lầm nghiêm trọng của các nhà cai trị độc tài, khơi dậy được một nguồn sinh lực vô cùng phong phú từ rất nhiều nguồn và nhất là chính hình thức dân chủ mới mang lại sự bình đẳng thực sự cho phẩm giá của mỗi người dân.

Tất cả những điều đó chắc chắn không thể hoàn toàn đúng với trường hợp Giáo hội. Có phải chăng, vì thế, ngay những bước đầu của tiến trình Hiệp hành, đã thấy có đấng bậc lo lắng về một khuynh hướng dân chủ trong Giáo hội…(?).

Thực sự Giáo hội không phải là một tổ chức chính trị xã hội, nhưng là một huyền nhiệm[3], vừa hữu hình vừa vô hình. Giáo hội luôn xác tín quyền bính đến từ Chúa mà các người lãnh đạo trong Giáo hội không bao giờ là người kế vị Chúa, nhưng chỉ là người đại diện của Chúa; bởi vì Chúa không bao giờ thoái vị, nhường ngôi hoặc đã về hưu, không còn dính dáng gì tới đời sống Giáo hội. Xét về mặt thuần túy tự nhiên, người ta xếp quốc gia Vatican vào loại thể chế quân chủ. Đó là một cách nhìn, theo lý thuyết, không hoàn toàn đúng; nhưng với một chút thành thật của lương tâm, có lẽ chúng ta có thể nói rằng, trong thực tế, việc xếp loại ấy cũng không hoàn toàn là sai…

Tuy nhiên, Vatican II cũng đã đưa ra một mô hình Giáo hội đa dạng và hiệp nhất: Giáo hội là phản ảnh của Chúa Ba Ngôi, là Dân của Chúa Cha, là Thân Mình Chúa Kitô và là Đền thờ của Chúa Thánh Thần[4]. Trong Dân của Cha, các phẩm trật có vai trò quan trọng trong Thân Mình Chúa Kitô và Thánh Thần làm cho mọi thành phần được sống phong phú và trọn vẹn. Trong Giáo hội, Chúa Thánh Thần, “Ngài thông đạt cho Giáo hội toàn thể Chân lý (Ga 16,13). Ngài thống nhất Giáo hội nơi việc kết hiệp và phục vụ. Ngày xây dựng và dẫn dắt Giáo hội bằng nhiều ân huệ khác nhau theo phẩm trật và đoàn sủng, trang bị Giáo hội bằng hoa quả của Ngài…” (GH 4)

Mặc dù khó nói rằng có một tiến trình mang tên dân chủ trong lịch sử văn hóa đức Tin Kitô giáo, nhưng chúng ta cũng thấy khá rõ một chiều hướng tương tự. Nếu Cựu Ước diễn tả mối tương quan chiều dọc như nền tảng, thì nơi Tân Ước ta lại thấy mối tương quan của Thiên Chúa với con người có một quá trình rộng mở chiều ngang phong phú hơn nhiều.

Đức Hồng y Albert Vanhoye cho thấy, trong hai chiều hướng ấy, có một sự “cân đối” mới. Trong giao ước Sinai, chiều kích bên ngoài tỏ rõ là chiều dọc; trong bữa Tiệc Ly lại trình bày chiều kích bên ngoài rõ nét là chiều ngang. Chiều dọc luôn luôn là nguồn mạch và là điều chính yếu; tuy nhiên, trong bữa Tiệc Ly, Đức Giêsu diễn tả chiều dọc chỉ trong một từ duy nhất “khi đã tạ ơn” (eukharistêsas), một lần trên bánh và một lần trên rượu; rồi sau đó là một sự phong phú thân tình được triển nở qua việc bẻ bánh, trao ban; và qua việc cùng thông chia một chén rượu với nhau[5].

Như thế, dù không người Kitô hữu nào chối từ quyền bình đến từ Chúa và cũng không thể phủ định quyền bính quản trị trong Giáo hội qua hàng giáo phẩm, chúng ta vẫn khám phá quyền bính “từ trên” ấy càng có thể và cần thể hiện trong một cách thức mang “tính dân chủ” một cách nào đó. Nếu không thì người giáo dân vẫn khó lòng có được một không gian để góp phần một cách tích cực hơn vào đời sống Giáo hội.

2.2. Mặt bằng và ngôi sao (chiều kích văn hóa xã hội)

Căn bệnh trầm kha, nặng nề nhất của mọi người, ở mọi thời và mọi nơi vẫn thật sự là căn bệnh ưu tuyển. Ở đâu người ta cũng chỉ đề cao những “ngôi sao” và quên mất tầm quan trọng chính yếu của “mặt bằng”. Dĩ nhiên, đóng góp của ngôi sao vẫn luôn có ý nghĩa không nhỏ, nhưng không phải vì thế mà người ta quên rằng một cộng đoàn, một tổ chức hay một dân tộc… chỉ dễ dàng phát triển và phát triển một cách quân bình khi được sự đồng thuận của “mặt bằng” và khi sự phát triển phổ cập đến “mặt bằng”. Phát triển chỉ thực sự là phát triển khi “mặt bằng” được phát triển.

Đời sống Giáo hội cũng không tránh khỏi cám dỗ ngôi sao và não trạng chung vẫn chỉ thấy, chỉ kể, chỉ tán dương các ngôi sao mà thôi. Điều đó khiến cho người ta ít quan tâm đến cảm nhận của giáo dân và cũng làm thui chột nhiều nguồn mạch phong phú ẩn tàng trong “mặt bằng”.

Có một khái niệm lâu đời trong truyền thống Giáo hội và cũng đã được nhiều nhà thần học nhắc tới. Tuy nhiên, cùng với tinh thần của Đức Giáo Hoàng Phanxixô, Ủy Ban Thần học Quốc tế đã công bố, ngày 5.5.2014, văn kiện Cảm Thức Đức Tin trong đời sống Giáo hội, nhằm suy tư một cách hệ thống về vai trò tích cực của người tín hữu như là những chủ thể của chân lý đức Tin. Văn kiện có gắng xóa bỏ lối phân biệt truyền thống trong Giáo hội, theo đó có một “Giáo hội dạy dỗ” (Ecclesia docens / phẩm trật) và “Giáo hội học tập” (Ecclesia discens / giáo dân). Bởi vì mọi người tín hữu, khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, rồi Bí tích Thêm sức, đều được lãnh nhận Thánh Thần, được tham dự vào vai trò ngôn sứ của Đức Giêsu. Do đó, người tín hữu cũng được hưởng một thứ ân huệ “vô ngộ khi tin” (in credendo), và một sự đồng thuận của mọi tín hữu có thể tạo nên được một chứng từ cho đức tin tông truyền. Văn kiện nhắc lại nhiều bằng chứng lịch sử cho thấy cảm thức của người tín hữu đã góp quan trọng cho việc xác định nền tảng tín lý trong đời sống Giáo hội.

Dĩ nhiên, văn kiện cũng nêu lên một số tiêu chuẩn cần thiết để xác nhận cảm thức đức Tin của người tín hữu, nhưng trong đường nét chung, ta có thể thấy một sự chân nhận hợp pháp về tầm quan trọng của “mặt bằng”.

Một cách nền tảng hơn, cùng với Đức Gioan Phaolô II, chúng ta có thể phân biệt hai chiều kích căn bản trong chiều sâu bản chất của Giáo hội, “chiều kích tông đồ và Phêrô” và “chiều kích đức Maria”.

“… Chúng ta có thể nói Hội Thánh vừa mang đặc tính “Thánh mẫu” vừa có đặc tính “tông đồ” và đặc tính “thuộc về Phêrô”[6].

Trong lời chú thích của đoạn văn trên đây, Đức Gioan Phaolô II ghi lại lời của nhà thần học Von Balthasar, trong diễn văn đọc trước các hồng y và các giám chức tại giáo triều Roma ngày 22.12.1997 như sau:

“Khía cạnh Thánh mẫu, nếu không hơn thì cũng là nét nền tảng và đặc trưng của Giáo hội như khía cạnh mang tính cách “tông đồ” và tính cách “Phêrô”. Khía cạnh Thánh mẫu cũng liên kết mật thiết với hai khía cạnh đó (…). Chiều kích Thánh mẫu của Giáo hội trổi vượt hơn chiều kích Phêrô, đồng thời liên kết và bổ sung cho chiều kích đó. Đức Maria, Đấng Vô nhiễm Nguyên tội, trổi vượt hơn mọi người khác và dĩ nhiên, hơn cả Phêrô và các tông đồ; không chỉ vì Phêrô và các tông đồ thuộc về nhân loại, sinh ra trong tội lỗi, là thành phần của Giáo hội ‘thánh thiện và bao gồm các tội nhân’, nhưng còn vì ba nhiệm vụ của các ngài không nhằm điều gì khác hơn là thành lập Giáo hội trong lý tưởng đạt đến sự thánh thiện này, lý tưởng đó đã được hình thành trước và biểu hiện trước nơi đức Maria. Như một nhà thần học hiện này đã nói: ‘Đức Maria là Nữ vương các Tông đồ’, mà không cần đến quyền bính tông đồ. Đức Maria có vai trò khác lớn hơn nhiều”[7].

Chiều kích Phêrô vẫn luôn được nói đến nhiều, ngay trong Kinh Thánh, trong suốt lịch sử Giáo hội, và trong bầu khí Giáo hội hiện nay. Giáo hội cần những người lãnh đạo, cần những người tiếp nối vai trò của Đức Kitô như “Hôn phu”. “Bộ mặt” hữu hình của Giáo hội trần thế vẫn luôn là giáo triều, là các đấng bậc trong Giáo hội. Tuy nhiên, Giáo hội không phải chỉ là những đấng bậc. Giáo hội là Dân Thiên Chúa mà mọi người Kitô hữu đều là những thành phần trọn vẹn và tích cực. Trong mầu nhiệm Giáo hội hiệp thông, chúng ta hiểu rằng, đằng sau những hào quang luôn có những giọt mồ hôi và nước mắt; đằng sau những thành công lớn lao và những công trình vĩ đại luôn có những hy sinh âm thầm, những sự chết đi để có được một mùa gặt tốt đẹp. Đó là đóng góp của vai trò “nữ tính”[8].

Nếu vận hành của sự sống trong Giáo hội chỉ diễn tiến một chiều, các mục tử sẽ trở thành những người công chức. Nhưng mục tử đích thực phải có “mùi chiên”, phải là những người lắng nghe được “tiếng nói” của đoàn chiên, phản ảnh lên các nhà thần học và huấn quyền để mỗi thành phần đều thực sự góp phần một cách tích cực vào sự sống Kitô giáo…

Tạm kết

Chắc chắn còn nhiều yếu tố khác đã tạo nên tình trạng người giáo dân vẫn ở bên lề Giáo hội, chẳng hạn thái độ bỏ quên phẩm giá căn bản và bình đẳng của mọi người Kitô hữu trong Bí tích Rửa Tội, hoặc một ý thức về sứ mạng Giáo hội của người nghèo… chính những yếu tố ấy làm nên dung môi của sự sống đức Tin và phải được cứu xét một cách rốt ráo hơn để đi vào hiệp hành và tránh tình trạng “giáo dân vẫn ở bên lề…”.

 

Lm Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.

 

 



1. Xc. Hugues Cousin, Jean Pierre Lémonon, Jean Massonnet, Le Monde où vivait Jesus, Les Éditions du Cerf, Paris 1998, Bản dịch của  Học Viện  Đa Minh, Trên Quê Hương Đức Giêsu, 2003, trang 134.

2. Jean Mouroux, Sens chrétien de l’homme, Tủ sách Luân lý, bản dịch của Trần Thái Đỉnh và Nguyễn Bình Tĩnh, Đại Chủng Viện Huế, 1997, trang 15-17.

3. Chương I của Hiến chế Tín lý về Giáo hội có tiêu đề  là “Mầu nhiệm Giáo hội”.

4. X. GH 2.

5. X. Hồng y Albert Vanhoye S.J, “Chúng ta hãy Tin tưởng đón nhận đức Kitô, Vị Thượng Tế của chúng ta”, Các bài giảng mùa Chay tại Giáo triều Rôma từ 10 -16, tháng 2 năm 2008. Bài 10 “Đức Kitô, Đấng Trung gian của Giao ước mới trong bữa Tiệc ly”.

6. X. Tông thư Phẩm Giá Phụ Nữ, s.27.

7. Von Balthasar, Obs. Rom. 23-12-1987.

8. X. Nguyễn Trọng Viễn O.P, Thách đố của phẩm tính đức Tin, Thách đố của “nữ tính”.

Read More
21Tháng Bảy
2023

Phân định con quỷ ban trưa và cách chống trả

21/07/2023
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Phân định con quỷ ban trưa và cách chống trả

 

discernmentTrì hoãn, quyết tâm, rồi bỏ cuộc… là điều rất thường thấy trong cuộc sống chúng ta. Thói quen thích dễ dãi, vuốt ve, và nuông chiều chính mình, thường khiến chúng ta lười lĩnh, mất nhuệ khí chiến đấu. Bao nhiêu lần xét mình xưng tội, bao nhiêu khóa tĩnh tâm đến, rồi lại đi, và chúng ta vẫn cứ thế, chưa nhích được bước nào trong đời sống thiêng liêng. Trong “Cải Tội Bảy Mối Có Bảy Đức”, có một mối: Siêng năng việc Đức Chúa Trời, chớ lười biếng. Thói lười biếng được các nhà tu đức gọi là “Acedia”, hay “Con Quỷ Ban Trưa” (Noonday Devil). Tên gọi này xuất phát từ Tv 90,6: ôn thần sát hại lúc ban trưa.

Con Quỷ Ban Trưa làm cho chúng ta “hâm hẩm”, không nóng cũng chẳng lạnh, được biểu hiện qua thái độ: không ư nơi mình đang ở, không thích tình trạng mình đang sống, không thiết tha gì với công việc mình đang làm. Thánh Tôma Aquinas đã miêu tả Con Quỷ Ban Trưa, như là một “nỗi chán ngán đè nặng trên một người, khiến người đó không muốn làm gì cả: một sự mệt mỏi, lười lĩnh”, và thánh nhân quả quyết: “Nó không chỉ là một thói xấu, nhưng nó còn trở thành một thứ tội, bởi vì, nó khiến chúng ta phủ nhận những điều tốt đẹp, mà mình đã nhận được từ Thiên Chúa” (Summa Theologiae II, IIae, Q. 35, A. 1). Thánh Tôma nói tiếp: “Nó hủy hoại đời sống thiêng liêng, bởi vì, đời sống thiêng liêng không gì khác hơn là lòng bác ái, mà bản chất của nó đi ngược lại với lòng bác ái” (II, II, ae Q. 35, A 3). Con Quỷ Ban Trưa sẽ cướp đi niềm khao khát của chúng ta hướng về Thiên Chúa, ngăn cản chúng ta tìm kiếm Người, và điều đó có nghĩa là: chúng ta sẽ không gặp thấy Người. Một điều hiển nhiên là: Ai khao khát tìm kiếm Chúa, thì sẽ được Người cho gặp; Ai không khao khát tìm kiếm Chúa, thì sẽ không gặp được Người.

Thật vậy, khi bị Con Quỷ Ban Trưa khống chế, chúng ta sẽ cự tuyệt ân sủng của Thiên Chúa và khước từ sự sống trong tâm hồn chúng ta. Ngày nay, những biểu hiện thường thấy nơi những người bị Con Quỷ Ban Trưa chế ngự là: họ chôn mình trong những chiếc điện thoại thông minh; lấp đầy bao tử với đủ các loại thức ăn nhanh và các thức uống tăng lực có gas, có cồn; nhốt mình trong những trò giải trí và những thú vui trần tục. Tuy nhiên, siêng năng việc Đức Chúa Trời, chớ lười biếng, còn là lời cảnh báo cho những ai: lao mình vào công việc, như một chứng nghiện công việc, đến nỗi, quên những trách nhiệm đối với gia đình và những người xung quanh, quên mất bản thân, và quên luôn cả Chúa.

Chúng ta đừng bao giờ coi thường và đừng quá tự tin, khi cho rằng: mình không bao giờ bị Con Quỷ Ban Trưa thống trị. Con Quỷ Ban Trưa cực nguy hiểm, do bởi, (1) sự tinh xảo của nó và (2) cách tiếp cận nước đôi của nó.

(1)          Nó tinh xảo, bởi vì, chúng ta không dễ gì phát hiện ra nó, nó ru ngủ chúng ta: chỉ một chút mệt mỏi, một cảm giác chán nản trong công việc thôi mà, có gì to tát đâu, tội lỗi gì đâu. Để chống lại cơn cám dỗ này, chúng ta phải trung thực với chính mình, phải thật công bằng khi phân định, và phải bàn hỏi với những vị linh hướng tốt (bởi vì, ngày nay, các vị linh hướng dỏm, và các ngôn sứ giả mọc lên như “nấm sau mưa”).

(2)          Cách tiếp cận nước đôi của nó, nghĩa là, nó tác động cùng một lúc cả đến thể xác lẫn linh hồn, bởi lẽ, xác và hồn là một thể thống nhất không thể bị tách biệt. Kinh nghiệm cho thấy: một trí tuệ minh mẫn chỉ có trong một cơ thể khỏe mạnh, hoặc khi chúng ta hiệp thông thiêng liêng với nhau, thì chúng ta cũng phải hiệp thông bằng chính thân xác với tất cả những gì là con người thể lý mà Chúa đã dựng nên chúng ta. Thậm chí, ngay cả khi tinh thần chúng ta mạnh mẽ, Đức Giêsu cũng khuyên bảo: “Anh em hãy canh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng hái, nhưng thể xác lại yếu đuối” (Mc 14,38). Do đó, chúng ta không được chủ quan coi thường những biếng lười, mệt mỏi, nhàm chán nơi thân xác, trong con người chúng ta, thánh Phêrô cũng cảnh báo chúng ta: Satan như sư tử rảo quanh tìm mồi cắn xé (x. 1Pr 5,8).

Chỉ với hai đặc điểm trên, chúng ta cũng nhận thấy rằng: Con Quỷ Ban Trưa quả là ghê gớm, và chúng ta đang chiến đấu với một đối thủ thật đáng gờm. Chúng ta không thể giành được chiến thắng trong cuộc chiến này: nếu không có ân sủng của Thiên Chúa, và một kỷ luật nghiêm túc từ phía chúng ta.

Để chống lại Con Quỷ Ban Trưa, trước hết, chúng ta phải tận dụng những ơn huệ Chúa ban: Đức Giêsu đã ban cho chúng ta ân sủng qua các Bí Tích, qua Kinh Nguyện của chúng ta, và Người cũng đã gởi Thánh Thần đến cho Hội Thánh. Nhờ sự soi dẫn của Chúa Thánh Thần, Hội Thánh có một kho tàng khôn ngoan phong phú nhờ Thần Khí. Về phần chúng ta, chúng ta phải cộng tác với ơn Chúa bằng ba việc làm cụ thể: (1) Khao khát Thiên Chúa; (2) Khiêm nhường tự hạ; (3) Kiên trì nhẫn nhại.
(1)     Khao khát Thiên Chúa: Nguyên tắc để đánh bại Con Quỷ Ban Trưa được tìm thấy trong Bài Giảng Trên Núi: “Phúc cho những ai khao khát sự công chính, vì họ sẽ được no thỏa” (Mt 5,6). Trong cơn đói khát này, Thiên Chúa vừa là hành trình, vừa là phương tiện để thực hiện cuộc hành trình đó, và Người cũng là đích đến. Chúng ta có thể diễn tả niềm khao khát Thiên Chúa qua ba cách: (a) Cầu nguyện, ngay cả khi, chúng ta cảm thấy khô khan nhất; (b) Buông mình theo Lời Chúa, “thanh gươm của Thần Khí” (x. Ep 6,17); (c) Đọc một cuốn sách thiêng liêng cũng là cách để đối phó với Con Quỷ Ban Trưa. Nếu sự công chính là điều chúng ta thực sự khao khát, thì không sớm thì muộn, theo thời điểm mà Thiên Chúa muốn, và theo cách thức mà Người ấn định, chúng ta sẽ đạt được điều mình khao khát, bởi vì, Thiên Chúa là tình yêu, mà tình yêu thì rộng lượng, muốn cho đi, chỉ cần sự cộng tác của người nhận mà thôi.

(2)     Khiêm nhường tự hạ: Trong Nhật ký của thánh Faustina, Đức Giêsu khuyên thánh nữ: “Đừng mặc cả với bất kỳ cơn cám dỗ nào, nhưng con hãy khóa mình ngay lập tức vào trong Trái Tim Cha… khi nỗi chán nản tấn công trái tim con, con hãy giấu mình trong Trái Tim Cha. Con đừng sợ phải chiến đấu với nó; lòng can đảm của con sẽ quát nạt những cơn cám dỗ và chúng sẽ phải thoái lui” (# 1760). Điều này cần phải được huấn luyện, nhất là, với người có những thói xấu “thâm căn cố đế”, hoặc thường xuyên sa ngã phạm tội, bởi vì, khuynh hướng tự nhiên của chúng ta là ngại đấu tranh và sợ đau khổ. Chúng ta thường yếu đuối và hay sa ngã, nếu, chúng ta không bắt đầu bằng sự khiêm nhường theo gương Đức Giêsu tự hạ, chúng ta sẽ không thể thoát được cơn cám dỗ của Satan.

(3)     Kiên trì nhẫn nại: Chúng ta phải nhớ rằng: khi kiên trì nhẫn nại chống lại Con Quỷ Ban Trưa, chúng ta sẽ thu hoạch được nhiều kết quả lớn lao. Làm gì có chuyện các nhân đức tự động dễ dàng đến với chúng ta, nếu chúng ta không kiên trì nhẫn nại tập luyện. Thỏa hiệp với Con Quỷ Ban Trưa, là đồng nghĩa với việc khước từ mệnh lệnh: Siêng năng việc Đức Chúa Trời, chớ lười biếng. Kiên trì nhẫn nại sẽ giúp chúng ta thoát khỏi cơn cám dỗ: đầu hàng và tự nộp mình cho Con Quỷ Ban Trưa, để có được cảm giác yên ổn tạm thời, không bị phiền hà chi cả. Tuy nhiên, việc từ chối tham chiến chống lại Con Quỷ Ban Trưa sẽ làm cho nó thêm sức mạnh, và nó sẽ đeo bám chúng ta đến bất cứ nơi nào, và nó sẽ xen vào bất cứ công việc gì chúng ta đang thực hiện.

Đức Kitô, Đấng Cứu Độ của chúng ta đã chiến thắng, nhiệm vụ của chúng ta là tham dự vào cuộc chiến của Người để lớn lên trong đời sống, và để hưởng ơn cứu độ của Người. Có thể nói, không ai trong chúng ta là không bị Con Quỷ Ban Trưa ám, bằng chứng là, những quyết tâm cố gắng của chúng ta thường cứ “nửa đường gãy gánh”, như trong việc chúng ta thực tập một môn thể thao, chơi một nhạc cụ, học một ngoại ngữ… đó là chưa kể để việc thực tập một nhân đức, từ bỏ một thói quen xấu… Ước gì chúng ta quyết tâm: đứng lên chống lại Con Quỷ Ban Trưa, không để nó chế ngự chúng ta nữa. Chúng ta hãy vững tâm, bởi vì, chúng ta đã có Đức Giêsu Kitô, Đấng luôn trợ lực và trông chờ chúng ta chiến thắng trong Người.

Tác giả: Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB

Read More
21Tháng Bảy
2023

Những nguyên tắc giúp phân định thiêng liêng

21/07/2023
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Những nguyên tắc giúp phân định thiêng liêng

…………
stignatius fi10 DẤU HIỆU CỦA VIỆC SÁM HỐI GIẢ HIỆU
  1. Ta lấy làm thỏa mãn về các việc sám hối của mình và về chính bản thân mình. Ta thích được ca ngợi và luôn tìm cách để được ngợi khen.
  2. Ta muốn lên mặt dạy bảo người khác, chứ không muốn học hỏi từ người khác. Ta tự tán dương mình, nhưng chỉ trích, kết án, miệt thị những người không làm các việc sám hối như ta.
  3. Ta thường bị Satan kích động để tăng thêm lòng nhiệt thành và sự khao khát làm các việc sám hối, bởi vì, Satan biết rõ rằng: những việc làm sám hối này, không sinh ích lợi gì cho ta, nhưng trái lại, còn làm cho ta thêm kiêu căng, tự phụ.
  4. Ta mong được đề cao, tán tụng về các việc sám hối của mình. Khi các vị linh hướng không tán thành các việc sám hối của ta, thì ta cho rằng: các vị này kém nhân đức, kém thánh thiện, nên không thể hiểu ta.
  5. Ta sẽ trốn chạy, thậm chí, nuôi lòng căm phẫn, đối với những ai muốn can ngăn, hay cảnh báo ta về các việc làm sám hối, mà ta đang thực hiện.
  6. Ta cố tạo ra những dấu hiệu bề ngoài, những kiểu cách dị thường để người khác nhận ra là ta đang sám hối, thậm chí, nhờ sự trợ giúp của Satan, ta có được những cơn ngất trí, thị kiến để ta có dịp huyên thuyên với người khác về những chuyện lạ này.
  7. Ta không dám vạch trần tội lỗi của mình với các vị linh hướng. Ta thường tô vẽ và bào chữa các tội lỗi của ta hơn là xưng thú chúng.
  8. Ta tìm đến xưng tội với các vị linh mục khác, để các vị linh hướng của ta, chỉ thấy nơi ta toàn là các nhân đức, chứ không hề có chút bất toàn nào.
  9. Ta tưởng mình đã là thánh, nên khi ta sa ngã, phạm tội, ta thường nổi giận, cau có và thù ghét chính mình.
  10. Ta xin Chúa cất đi những bất toàn đó, không phải vì yêu mến Chúa, nhưng vì, để ta có được sự an lòng, và để ta có dịp tự mãn
.…………………
5 NGUYÊN TẮC PHÂN ĐỊNH THẦN KHÍ

Nguyên Tắc 1: Thần Khí nào giúp ta quy hướng về Đức Ki-tô và thập giá Đức Ki-tô, thì đó mới chính là Thần Khí của Thiên Chúa. Tiến Sĩ Bàn Giấy: kẻ thù số 1 của việc nên thánh là những kinh sư, các luật sĩ: chất những gánh nặng lên vai người khác, còn mình, không đưa một ngón tay để lay thử. Các thần học gia, các nhà tu đức bàn giấy muốn tự mình nên thánh bằng chính sự hiểu biết, sự tinh thông của mình về các học thuyết cao siêu, huyền bí, mà không cần Đức Ki-tô và thập giá Đức Ki-tô.

Nguyên Tắc 2: Thần Khí nào giúp ta quy hướng về Đức Ki-tô và thập giá Đức Ki-tô, thì đó mới chính là Thần Khí của Thiên Chúa. Tiến Sĩ Bàn Tay: kẻ thù số 2 của việc nên thánh là những người Pha-ri-sêu, các nhà tu đức khổ hạnh ra sức làm việc, tuân giữ tỉ mỉ lề luật, nổi tiếng với các nhân đức anh hùng, nhưng, giả hình: lọc con muỗi, nhưng nuốt con lạc đà, tự hào về các việc đạo đức của mình, biến Chúa thành con nợ: phải trả công cho các công trạng của mình, họ muốn tự mình nên thánh, mà không cần Đức Ki-tô và thập giá Đức Ki-tô.

Nguyên Tắc 3: Thần Khí nào giúp ta quy hướng về Đức Ki-tô và thập giá Đức Ki-tô, thì đó mới chính là Thần Khí của Thiên Chúa. Tiến Sĩ Bàn Quỳ: Muốn trở thành tiến sĩ bàn giấy và tiến sĩ bàn tay, trước hết, phải là tiến sĩ bàn quỳ. Những suy tư thần học, các việc làm đạo đức phải xuất phát từ thái độ khiêm nhường, suy phục, tôn thờ Thiên Chúa nơi bàn quỳ. Tuy nhiên, nơi bàn quỳ, Sa-tan vẫn còn có thể lẻn vào và thao túng được ta, nếu, bàn quỳ không được đặt ngay trước mặt, ngay bên cạnh, ngay bên dưới Bàn Thờ Thập Giá.

Nguyên Tắc 4: Thần Khí nào giúp ta quy hướng về Đức Ki-tô và thập giá Đức Ki-tô, thì đó mới chính là Thần Khí của Thiên Chúa. Tiến Sĩ Bàn Thờ: Nếu không được đặt cạnh Bàn Thờ Thập Giá, thì bàn quỳ rất có nguy cơ trở thành bàn thờ Sa-tan lúc nào mà ta không hay biết, bởi vì, sức nặng của chân bàn giấy, chân bàn quỳ, và bàn tay không đủ khả năng, không đủ trình độ, không đủ năng quyền: để đạp nát đầu con rắn, chỉ có, chân Bàn Thờ Thập Giá, có Đấng dùng sự khôn ngoan của Thập Giá mới có đủ uy quyền và thế lực để làm được việc đó mà thôi.

Nguyên Tắc 5: Thần Khí nào giúp ta quy hướng về Đức Ki-tô và thập giá Đức Ki-tô, thì đó mới chính là Thần Khí của Thiên Chúa. Vấn đề nảy sinh là: những người ngoài Ki-tô giáo, chưa từng biết Đức Ki-tô, chưa tin vào Đức Ki-tô, thì làm sao họ có thể Phân Định Thần Khí đúng đắn được? Chúng ta phải nại đến Karl Rahner (1904-1984) với các phạm trù: Ki-tô hữu vô danh (anonymous christian), Ki-tô hữu minh nhiên (explicit christian), Ki-tô hữu mặc nhiên (implicit christian). Vấn đề này sẽ được trình ở một chỗ khác.
……………….

5 NGUYÊN TẮC VỀ VIỆC NÊN THÁNH

Nguyên tắc 1: Tiến Sĩ Bàn Giấy – Kẻ Thù của Việc Nên Thánh: (1) Họ cầm tù người khác trong các tư tưởng của họ; đo lường sự hoàn thiện bằng tri thức, hiểu biết, nhưng bỏ quên đức ái. (2) Họ không quan tâm đến tha nhân, nên họ thiếu khả năng chạm đến những đau khổ của Đức Kitô nơi những người khác. (3) Họ giảm trừ giáo huấn của Đức Giêsu thành một luận lý khắc nghiệt, lạnh lùng. (4) Họ là những tiên tri giả, sử dụng tôn giáo để quảng bá tri thức như: thay thế Thiên Chúa Ba Ngôi và Nhập Thể bằng Đơn Nhất Tính. (5) Họ tự cho mình là thánh, là tốt lành hơn những đám đông dốt nát.

Nguyên tắc 2: Tiến Sĩ Bàn Tay – Kẻ Thù của Việc Nên Thánh: (1) Họ chỉ tin tưởng vào sức mạnh của mình và cảm thấy mình cao hơn người khác khi tuân giữ một số quy tắc, luật lệ. (2) Họ coi ý chí là toàn năng, ân sủng chỉ là cái được bổ sung vào. (3) Họ tự nên thánh bằng những việc làm, và những cố gắng của riêng mình, mà không cần ân sủng của Chúa. (4) Họ nghĩ mình có quyền đòi hỏi, và cũng có thể mua được ân sủng thần linh bằng những nỗ lực của mình. (5) Họ tự mãn, kiêu hãnh về khả năng xử lý những vấn đề thực tiễn, những chương trình tự lực, và thành tựu cá nhân.

Nguyên tắc 3: Hội Thánh không ngừng dạy rằng: chúng ta nên thánh không phải bởi những việc làm hay những cố gắng của riêng mình, nhưng là bởi ân sủng của Chúa, Đấng luôn luôn đi bước trước. Ngay cả khát vọng được thanh tẩy cũng đến với chúng ta nhờ sự tuôn đổ và hoạt động của Chúa Thánh Thần. Chúng ta được nên thánh cách nhưng không, bởi vì, không có gì đi trước việc nên thánh, không phải đức tin cũng không phải việc làm, mà chính là do ân sủng. Ân sủng Chúa trao ban thì vượt quá năng lực của trí năng và ý chí của chúng ta.

Nguyên tắc 4: Được trở nên nghĩa thiết và bạn hữu của Thiên Chúa là một điều gì đó muôn trùng siêu vượt trên chúng ta. Chúng ta không thể mua nó bằng những việc làm của mình. Đó chỉ có thể là một quà tặng, do sáng kiến tình yêu của Thiên Chúa. Điều này mời gọi chúng ta hân hoan sống tâm tình biết ơn về ân ban mà mình hoàn toàn bất xứng này, bởi vì, khi chúng ta nhận được ân sủng, thì ân sủng đã nhận được đó, không phải do chúng ta xứng đáng. Ngày cuối đời, chúng ta sẽ ra trình diện trước mặt Chúa với đôi bàn tay trắng, tất cả những việc làm, mà chúng ta tưởng là thánh thiện, thì đều nhiễm uế trước mắt Chúa, bởi Người là Đấng tinh tuyền, toàn thiện.

Nguyên tắc 5: Chúng ta trở nên thánh thiện là hoàn toàn do bởi Chúa. Điều này được diễn tả rõ ràng trong Lời Chúa đến nỗi không thể nào bị chất vấn. Chân lý này phải tác động đến cách sống của chúng ta, bởi vì, nó tuôn chảy từ cốt lõi của Tin Mừng và đòi buộc chúng ta không chỉ chấp nhận nó trong trí năng, mà còn phải biến nó thành một nguồn vui lan tỏa. Chúng ta chỉ có thể mừng quà tặng nhưng không này, khi chúng ta nhận ra những khả năng tự nhiên của mình đều là ân ban của Chúa. Điều này thật không dễ trong một thế giới vốn nghĩ rằng mọi sự đều do tự nó, và do sáng kiến của nó.
…………

5 NGUYÊN TẮC PHÂN ĐỊNH ƠN THẦN HIỆP

Nguyên Tắc 1: Ơn thần hiệp, tự bản chất là của Chúa 100%. Việc ta chuẩn bị xô, chậu, thùng, thau, đào giếng, xây bể… để hứng nước, dù nhiệt tình, quảng đại; dù khó nhọc, vất vả đến đâu, cũng không phải là nguyên nhân khiến trời mưa xuống, trời mưa xuống chẳng liên quan gì đến việc chuẩn bị hứng nước của ta; việc chuẩn bị hứng nước chẳng có tác động gì, chẳng can hệ gì tới việc trời mưa, mưa hoàn toàn độc lập, nhưng không… Tuy nhiên, nếu ta không hứng, thì ta không có nước, nhưng, nước đó hoàn toàn nhưng không, không do bất kỳ tác động nào từ phía ta.

Nguyên Tắc 2: Trường hợp thứ nhất của ơn thần hiệp: Ơn thần hiệp dành cho những người được ơn này ngay chính thời điểm đó, còn thời gian sau đó, vẫn phải cẩn trọng phân định. Mũi tên đang trên đường cắm vào hồng tâm, vẫn còn khoảng cách. Khi leo núi, lúc còn ở dưới thấp, té xong, ta đứng dậy leo tiếp, nhưng, khi gần tới đỉnh rồi, mà ngã xuống, thì cực kỳ nguy hiểm, ở giai đoạn này, có nhiều người bị điên loạn là vậy, vì thấy mình sắp tới đỉnh, mà trong phút chốc, bị mất tất cả, lúc này cần phải khiêm nhường nép mình bên Chúa, để tránh mưu sâu kế độc của Satan.

Nguyên Tắc 3: Trường hợp thứ hai của ơn thần hiệp: mũi tên đã cắm vào hồng tâm rồi, nhưng, không tuyển thủ nào, thi bắn cung là để mang cái bia, cái hồng tâm về nhà cả, cái họ nhắm đến là huy chương vàng, là giải thưởng, Chúa mới là phần thưởng đích thực, vì thế, các nhân đức như khiêm nhường, kể cả bác ái, giống Chúa lắm rồi, và như thể là Chúa luôn rồi đó, bởi vì, có ai khiêm nhường bằng Chúa, bác ái được như Chúa, nhưng, vẫn chưa phải là Chúa trọn vẹn. Các nhân đức chỉ mới là “scopos”, Chúa mới chính là “télos”.

Nguyên Tắc 4: Về ơn thần hiệp, ta không được muốn, càng muốn càng không thể đạt được. Vậy phải làm gì? Việc phải làm là đừng làm gì cả, càng làm cái tôi của ta càng lớn, có ý riêng xen vào không thể có được ơn thần hiệp, vì là của Chúa 100%, 100% là do Chúa muốn. Khi nào Chúa ban cho thì được, khi nào trời mưa thì có nước… chờ hứng nước, nhưng, nhớ việc hứng nước, không là nguyên nhân làm cho mưa rơi xuống.

Nguyên Tắc 5: Ơn thần hiệp chỉ đạt được trọn vẹn khi ta kết hợp 100% với Chúa trên Thiên Đàng, nên, khi còn ở đời này, phải thận trọng trước những quỷ kế tinh vi của Satan, 95% sự thật, thì cũng chưa phải là sự thật thật sự, ngược lại, nó còn là sự dối trá đáng sợ nhất, vì hàng giả càng tinh vi, càng giống hàng thật, thì càng lừa được khách hàng… Trên Thiên Đàng không có 2 vị thánh giống nhau, mỗi người là một nhân vị, được Chúa yêu cách cá vị, không ai giống ai, nên ơn thần hiệp cũng chẳng giống nhau, đừng bắt chước rập khuôn.
…………………..

5 LỜI NGUYỆN XIN ƠN BỎ MÌNH

Lời Nguyện 1: Xin cho con chẳng còn các quan năng, để con được mau mắn, gỡ mình ra khỏi những gì đang trói buộc khiến con không thể nhìn thấy Chúa. Xin cho con chẳng còn khả năng của thính giác, để con được bình an, đi giữa tiếng sấm rền, thác đổ của những đam mê, dục vọng trần gian. Xin cho con chẳng còn khả năng của thị giác để con được an toàn, tiến bước trên chiếc cầu hẹp giữa vực sâu của những tham vọng, ích kỷ thấp hèn. Xin cho con chẳng còn các giác quan, để con được hân hoan, đắm chìm trong sự thông truyền, tỏa rạng của riêng một mình Chúa mà thôi. Amen.

Lời Nguyện 2: Xin cho con chẳng còn khả năng của vị giác, để con được vui vẻ, nhấp cạn vị đắng chát của những nhục nhằn, tủi hổ, khinh chê. Xin cho con chẳng còn khả năng của khứu giác, để con được dứt khoát, khử trừ mùi tanh tưởi của những thèm khát quyền lực, giàu sang. Xin cho con chẳng còn khả năng của xúc giác, để con được can đảm, sờ chạm những gai góc của những chống đối, loại trừ, quên lãng. Xin cho con chẳng còn các giác quan, để con được hân hoan, đắm chìm trong sự thông truyền, tỏa rạng của riêng một mình Chúa mà thôi. Amen.

Lời Nguyện 3: Xin cho con luôn biết coi người khác tốt lành hơn mình, và chỉ ganh đua cách thánh thiện để có thể phụng sự Chúa được như họ. Xin cho con biết lấy làm vui khi nghe người khác ca ngợi ai đó, và chỉ buồn phiền vì mình chưa biết phụng sự Chúa được như người đó. Xin cho con đừng để ý xem người khác có làm các việc sám hối hay không, và nếu có để ý xem, thì xin cho con cũng xác tín rằng: người khác thì luôn tốt lành hơn con. Xin cho con biết khiêm nhường nhiều hơn, khi làm được nhiều việc sám hối, vì Chúa đáng được phụng sự biết bao, nhưng những gì con làm, thì lại quá ít ỏi. Amen.

Lời Nguyện 4: Xin cho con đừng thích nói về các việc sám hối mà mình đã làm, nhưng luôn xem những việc đó, chỉ là điều cần phải làm mà thôi. Xin cho con biết chấp nhận những yếu đuối, bất toàn của mình với lòng đơn sơ, khiêm tốn, và khao khát sửa chữa chúng. Xin cho con thích nói về những khiếm khuyết của mình, và thích tỏ cho người khác thấy những điểm yếu của mình, hơn là, những nhân đức, bởi vì, con biết rằng: Chúa là Đấng Khôn Ngoan thượng trí luôn giúp con gìn giữ những kho báu này trong lòng, không để lộ ra ngoài cho người khác thấy, nhưng chỉ để một mình Chúa biết mà thôi. Amen.

Lời Nguyện 5: Xin cho con đừng lên mặt dạy đời người khác, nhưng luôn biết khiêm nhường học hỏi từ những người chúng con gặp gỡ. Xin cho con dám vạch trần tội lỗi, và những yếu đuối bất toàn của mình với các vị linh hướng, chứ không tô vẽ và bào chữa chúng. Khi sa ngã, phạm tội, xin cho con đừng nổi giận, cau có và thù ghét chính mình, vì Chúa chưa cất đi những bất toàn đó, là để con biết khiêm nhu, tự hạ, nhận ra sự yếu hèn khốn cùng của mình, nếu như không được Chúa trợ giúp, thì con chẳng thể làm được gì, dù chỉ là một việc rất nhỏ bé. Amen.
………………..

TÓM LƯỢC CÁC NGUYÊN TẮC PHÂN ĐỊNH CỦA THÁNH I-NHÃ

  1. Satan xui ta tới những lạc thú, đẩy ta vào tội lỗi; Chúa thôi thúc ta cắn rứt lương tâm.
  2. Satan gây buồn phiền, đặt những chướng ngại khiến ta không thể tiến lên được; Chúa làm cho ta can đảm, dẹp trở ngại để ta tiến lên trên đàng lành.
  3. An ủi thiêng liêng khiến ta bừng cháy lửa kính mến Chúa; chảy nước mắt vì yêu mến Chúa, vì tội lỗi mình, vì cuộc thương khó của Đức Kitô. An ủi thiêng liêng gia tăng lòng tin-cậy-mến, cùng mọi niềm vui bên trong.
  4. Sầu khổ thiêng liêng khiến ta xao xuyến, thúc đẩy về những gì thấp hèn, phàm tục, và cám dỗ ta mất lòng tin-cậy-mến; lười biếng, khô khan, sầu khổ.
  5. Trong thời gian sầu khổ, đừng bao giờ thay đổi, nhưng hãy cương quyết bền vững trong những quyết định đã có trước khi bị sầu khổ.
  6. Trong cơn sầu khổ, cương quyết chống lại cơn sầu khổ bằng cách chuyên tâm cầu nguyện, suy gẫm, xét mình, và gia tăng việc hãm mình.
  7. Đang gặp sầu khổ, hãy nghĩ rằng: để thử luyện ta, Chúa đã để ta với sức tự nhiên chống trả các cơn cám dỗ.
  8. Đang cơn sầu khổ, ta hãy gắng giữ sự nhẫn nại.
  9. Ba nguyên do chính khiến ta gặp sầu khổ: (1) vì ta lười biếng các việc thiêng liêng; (2) vì để thử coi sức ta tới đâu trong việc phụng sự Chúa; (3) vì để ta ý thức rằng: không phải tự ta làm phát sinh lòng sốt sắng.
  10. Khi được an ủi, phải nghĩ tới cách xử sự trong cơn sầu khổ sẽ đến, đồng thời dành lấy sức cho lúc đó.
  11. Khi được an ủi, phải thật tự khiêm và tự hạ, bằng cách nghĩ mình nhỏ hèn biết mấy trong cơn sầu khổ.
  12. Satan xử sự như đàn bà, vì khi ta chống trả thì nó yếu, và khi ta để mặc thì nó mạnh (Ta phải luôn mạnh)
  13. Satan cũng xử sự như kẻ si tình lẳng lơ, muốn ta giữ bí mật để nó khỏi bị lộ (Ta phải trình bày với linh hướng)
  14. Satan lại còn xử sự như một tướng quân tấn công vào điểm yếu nhất (Ta canh thức đề phòng điểm yếu nhất)
  15. Chúa ban niềm vui thiêng liêng thật, xóa bỏ mọi buồn sầu và xao xuyến do Satan mang đến; còn Satan chống lại niềm an ủi thiêng liêng bằng những lý do giả tạo.
  16. Chỉ có Chúa, mới ban ơn an ủi không có nguyên do; đó là quyền riêng của Đấng Tạo Hóa.
  17. Khi có nguyên do, Chúa cũng như Satan đều an ủi ta, nhưng nhằm mục đích trái ngược nhau: Chúa nhằm giúp ta lớn lên; còn Satan nhằm lôi cuốn ta theo ý định xấu xa tồi tệ của nó.
  18. Satan là giả dạng thiên thần ánh sáng: bày ra những tư tưởng tốt lành thánh thiện, rồi từ từ lôi kéo ta theo những mưu mô ẩn kín của nó.
  19. Ta cần theo dõi diễn biến của tư tưởng: Nếu từ đầu đến cuối đều tốt, hướng hẳn về đường lành, thì là dấu hiệu của Chúa.
  20. Ta cần xét duyệt lại diễn biến của những tư tưởng tốt lúc khởi đầu, nhưng từ từ khiến ta xa rời niềm vui siêu nhiên vốn có trước đây.
  21. Nếu ta đang tiến tới, Chúa sẽ soi dẫn ta cách êm ái, nhẹ nhàng như giọt nước thấm vào miếng bọt biển; còn Satan thì tác động cách chát chúa như giọt nước rơi trên đá.
  22. An ủi không có nguyên do là ơn của riêng Thiên Chúa. Song, khi được Chúa ban ơn an ủi này, ta phải tỉnh thức, và chú ý xem xét và phân biệt thời gian được an ủi với thời gian tiếp sau. (Ta đừng ngủ quên trên chiến thắng).

Tác giả: Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB

Read More
19Tháng Bảy
2023

BÙA NGẢI – THƯ ẾM

19/07/2023
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0
BÙA NGẢI – THƯ ẾM
Hỏi: Kính thưa Cha,
Người Công giáo có được tin vào bùa ngải, thư ếm không?
Xin Chúa chúc lành và trả công bội hậu cho Cha.
Kính cám ơn.
(Phan Văn Tuấn)
Trả lời:
Anh Tuấn thân mến,
Qua câu hỏi của anh tôi suy đoán là anh muốn hỏi bùa ngải có hay không. Vì tin vào bùa ngải hay tin có bùa ngải nghĩa khác nhau. Hành vi tin có nhiều cấp độ. Ta có thể diễn tả bằng các từ sau: tin có, tin vào và tin nơi. Khi ta nói “Tôi tin có Chúa” có nghĩa tôi tin Chúa hiện hữu, có thật. Còn khi ta nói “Tôi tin vào Chúa” có nghĩa tôi tin Chúa quyền năng có thể làm cho tôi những điều mà không ai khác có khả năng làm được. Và khi nói “Tôi tin nơi Chúa” có nghĩa là tôi trao phó hoàn toàn mọi sự cho Chúa.
Tôi muốn minh định như thế để có thể trả lời cho phù hợp hơn.
Về câu hỏi bùa ngải, thư ếm có hay không thì tôi xin trả lời rằng chúng có thật và hiện nay có rất nhiều người đang sử dụng kể cả những người Công giáo. Còn hỏi rằng có nên tin vào nó hay không thì câu trả lời của tôi dứt khoát là không.
Tất cả những hình thức ma thuật, phù phép đều không do bởi Chúa, không thuộc về Hội Thánh. Không thể có một thứ quyền lực nào ở bên ngoài quyền năng của Chúa. Nếu chúng không thuộc về Chúa thì chúng thuộc về một quyền lực tối tăm, quyền lực sự dữ. Và những thứ ấy chỉ đến để gieo rắc điều xấu. Chỉ có Chúa yêu thương ta còn các thế lực thuộc về ma quỷ chỉ tìm cách làm hại ta mà thôi. Nó có thể lừa dối ta dưới những bộ mặt giả nhân giả nghĩa nên đừng để mình bị mê hoặc mà chạy theo tà thần. Tôi đã từng tiếp xúc với nhiều người sau khi đã chạy theo và tùng phục những quyền lực ấy thì bị chúng đày đọa, sai phái làm những điều gian ác mà không thể cưỡng lại được, phải chịu bao nhiêu sự khốn khổ, cùng cực và chỉ được giải thoát nhờ Danh Chúa Giêsu mà thôi!
Đừng bao giờ dính dáng đến những hình thức bùa ngải, thư ếm mà chuốc họa vào thân. Nếu bị những thứ bùa ngải, thư ếm khuấy phá, hãy đến với Chúa và Hội Thánh. Nước phép, Thánh giá, ảnh tượng thánh… cũng là những phương thế giúp ta xua đuổi quyền lực ác thần. Quyền năng và tình thương của Chúa qua Hội Thánh có khả năng giải thoát chúng ta khỏi mọi thứ quấy nhiễu của quyền lực tối tăm, của ma quỷ. Vì Chúa đã chiến thắng, đã toàn thắng kẻ dữ nên chúng ta hãy đặt niềm tin tưởng tuyệt đối nơi Ngài và không chạy đến với bất cứ thứ phù phép, ma thuật nào cả.
Lm. Giuse Nguyễn Ngọc Bích, DCCT
Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 22
  • Page 23
  • Page 24
  • …
  • Page 153
  • Next page
Bài viết mới nhất
THƯ MỜI THAM DỰ HỘI THẢO “NÂNG CAO TINH THẦN DẤN THÂN PHỤC VỤ VÀ TÁI CẤU TRÚC TRƯỜNG MẦM NON CÔNG GIÁO”
28/03/2026
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG LỄ CHÚA PHỤC SINH 2026
28/03/2026
CHÚNG TA ĐANG SỐNG, HAY CHỈ ĐANG TỒN TẠI?
27/03/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.