2023
Hiền mẫu, từ mẫu
“Từ mẫu thủ trung tuyến,
Du tử thân thượng y”
(Du tử ngâm)
Có người hỏi tôi “hiền mẫu” có đồng nghĩa với “từ mẫu” hay không, và để diễn tả tình mẹ thương con, nên nói “tình hiền mẫu” hay “tình mẫu tử”?
Thắc mắc này bao gồm hai câu hỏi, chúng tôi xin lần lượt trình bày như sau:
1. “Hiền mẫu” có đồng nghĩa với “từ mẫu” hay không?
1.1 Trước hết, chúng ta thử tìm hiểu nghĩa của các mục từ hiền, từ và mẫu:
1.1.1. Hiền. Có bốn chữ: 賢, 贒 (贤), 痃. Trong trường hợp này là chữ賢, nghĩa là: (dt.) (1) Người có đức hạnh tài năng cao, trung hiếu vẹn toàn: Thánh hiền; hiền lương (đàn ông đức độ); hiền huệ (đàn bà đức độ); nhậm nhân duy hiền (dùng người theo đức); kiến hiền tư tề (Thấy người có tài đức thì muốn theo gương[1]). (2) (Họ) Hiền. (tt.) (3) Lành, hoà thuận, không ưa đánh đập gây gổ (trái với dữ): Đứa trẻ hiền; tánh hiền. (4) Tốt, ăn ở phải đạo: Mẹ hiền; dâu hiền rể thảo. (5) Tốt, có đức hạnh tài năng cao, trung hiếu vẹn toàn: Hiền nhân quân tử; hiền sĩ. (6) Tốt, không có độc, không gây nguy hại cho con người, có nhiều chất bổ béo: Trái hiền; đất hiền. (7) Tiếng gọi cách tôn kính để tỏ lòng mến: Hiền huynh; hiền đệ; hiền tẩu. (đt.) (8) Tôn sùng: Hiền hiền dịch sắc[2] (Đổi lòng yêu sắc đẹp mà thân yêu người hiền). (9) Hơn: Bỉ hiền ư ngô viễn hỹ (Họ hiền hơn ta nhiều lắm vậy). (10) Nhọc nhằn. (đại từ) (11) Tiếng kính xưng (ngôi thứ hai): Ông, ngài, cũng như công 公, quân 君.
“Hiền” nói chung là có nghĩa tốt, nhưng “hiền quá” thường có nghĩa ngược lại, chỉ sự khiếm khuyết tài đức cần thiết, dùng để nhận định hay phê phán cách nhẹ nhàng, lịch sự, vì tôn trọng người bị phê phán, thay vì nói một cách sổ sàng là “nhút nhát” “ngu quá”, “dỡ tệ” hay “cù lần”. Ví dụ: “Bà ấy hiền quá nên bị ông chồng đánh đập mãi” (Ngụ ý nói: Bà ấy thiếu can đảm, nhu nhược!); “Ông ấy làm ăn mà hiền quá nên bị bạn bè lừa gạt” (Ông ấy thiếu sáng suốt, ngu!); “Thầy ấy hiền quá nên các học sinh ngày càng vô kỷ luật” (Thầy ấy thiếu trách nhiệm, cù lần!).
1.1.2. Từ: Có 12 chữ: 詞 (词), 徐, 祠, 慈, 辭 (辞), 辤, 磁, 瓷, 甆, 糍, 茲, 兹. Trường hợp từ mẫu là chữ慈, nghĩa là: (dt.) (1) Hiền lành, thương yêu rất mực: Hiền từ; nhân từ; từ bi; phụ mẫu uy nghiêm nhi hữu từ (Cha mẹ nghiêm nghị nhưng có lòng thương). (2) Mẹ, tiếng tôn xưng mẹ: Gia từ (mẹ tôi). (3) Vui mừng của chúng sinh (Phật giáo): Đại từ. (4) (Họ) Từ. (đt.) (5) Yêu thương, người trên yêu kẻ dưới cũng gọi là từ: Từ ái (có lòng thương yêu); từ ấu (thương trẻ nhỏ). (6) Hiếu thảo: Từ hiếu. (7) Chu cấp cứu giúp cho kẻ túng thiếu khốn cùng gọi là từ thiện sự nghiệp.
1.1.3. Mẫu. Có 9 chữ này: 母, 畝, 畆, 畞, 畮, 亩, 牡, 拇, 鉧, trường hợp hiền mẫu là chữ母, nghĩa là: (dt.) (1) Mẹ: Mẫu thân. (2) Người đàn bà bằng vai với mẹ trong thân thuộc: Cô mẫu (cô); cữu mẫu (mợ); thẩm mẫu (thím); bá mẫu (bác gái). (3) Tiếng tôn xưng các bà trưởng bối hay bậc nữ thánh: Lão mẫu; thánh mẫu; mẫu nghi; mẫu hệ. (4) Phàm vật gì làm cốt để sinh ra các cái đều gọi là mẫu hay mẹ (chỉ căn nguyên): Mẫu tài (tiền vốn); thất bại thị thành công chi mẫu (thất bại là mẹ thành công). (5) Lỗ ốc vít, bộ phận có khía đường xoắn ốc để vặn đinh ốc: Loa ti mẫu (đai ốc). (6) (Họ) Mẫu. (tt.) (7) Mẹ, cái, gốc: Mẫu thuyền (tàu mẹ); mẫu hiệu (trường mẹ); cơ mẫu (máy cái); mẫu giáo; mẫu âm; mẫu số. (8) Mái, cái, chỉ giống cái: Mẫu kê (gà mái); mẫu ngưu (bò cái); mẫu trệ (lợn sề).
1.2 Nghĩa của hiền mẫu và từ mẫu.
1.2.1. Hiền mẫu: Đơn giản có nghĩa là “mẹ hiền”, chữ hiền ở đây vừa có thể hiểu theo nghĩa (7) của mục từ mẫu, tức là “tiếng gọi cách tôn kính để tỏ lòng mến” vừa có thể hiểu theo nghĩa (4) của mục từ mẫu, tức là bà mẹ “tốt, ăn ở phải đạo”. Xa hơn nữa, có thể hiểu theo nghĩa (5) của mục từ mẫu, tức là người mẹ “tốt, có đức hạnh tài năng cao, trung hiếu vẹn toàn”, như trong trường hợp người Công Giáo dùng tôn xưng Đức Mẹ Maria.
1.2.2. Từ mẫu: Nhiều người lầm tưởng “từ mẫu” đương nhiên là người mẹ hiền, mẹ nhân từ. Nhưng thời xưa “từ mẫu” có nghĩa khác, hoàn toàn không có liên hệ gì với hiền lành hay nhân từ gì cả.
Luật nhà Thanh của Trung Quốc cũng như Thọ Mai gia lễ[3] của người Việt đã phân biệt “tam phụ, bát mẫu” để quy định tang phục, tang chế cho người con hoặc người được coi là con. Trong đó “bát mẫu” (tám bà mẹ) là: (1) Đích mẫu (嫡母): Vợ cả (vợ chính thất) của cha (nếu mình không phải là con của người ấy, thì gọi người ấy là “đích mẫu” (Hán Việt) hay “mẹ già” (Nôm). (2) Nhũ mẫu (乳母): Mẹ cho bú, bà vú nuôi mình từ bé. (3) Dưỡng mẫu (養母): Mẹ nuôi. (4) Thứ mẫu (庶母): Vợ lẽ của cha (ngay cả khi mẹ ruột còn sống hoặc còn ở với cha). Theo tục xưa, mẹ đẻ ra mình, nếu là vợ lẽ của cha, không được gọi là “mẹ”, mà gọi là “đẻ”. (5) Kế mẫu (繼母): Mẹ kế, do cha cưới về sau khi vợ cả đã qua đời hoặc không còn ở với cha. Ngày nay người ta vẫn nói kế mẫu thay vì thứ mẫu. (6) Từ mẫu (慈母): Vợ lẽ của cha, có công thay người mẹ quá cố, nhận nuôi mình từ bé như con ruột theo ý cha; (đây không phải là “mẹ hiền”). (7) Giá mẫu (嫁母): Mẹ ruột, nhưng đã lấy chồng khác sau khi cha mất. (8) Xuất mẫu (出母): Mẹ ruột, nhưng đã ly hôn với cha (mẹ bỏ nhà đi hoặc bị đuổi ra khỏi nhà).
Theo sách Nghi lễ[4]: “Truyện viết: Từ mẫu giả hà dã? Truyện viết: Thiếp chi vô tử giả, thiếp tử chi vô mẫu giả, phụ mệnh thiếp viết: Nhữ dĩ vi tử; mệnh tử viết: Nhữ dĩ vi mẫu: Truyện kể: Từ mẫu là người thế nào? Truyện kể: Người vợ lẽ không có con, con của (một) người vợ lẽ (khác) không (còn) mẹ, người chồng dặn người vợ lẽ (rằng): Nàng hãy nhận đứa bé này làm con; lại dặn đứa con (rằng): Con hãy nhận (người đó) làm mẹ”.
Vậy “từ mẫu” không phải là bà mẹ ruột mà là mẹ nuôi, và điều kiện bắt buộc phải có để được gọi là “từ mẫu” (mẹ nuôi) ở đây là: (1) Phải là vợ lẽ; (2) Người vợ lẽ này không có con hoặc không có khả năng sinh con, ít nhất cũng là không sinh được con trai; (3) Quan trọng hơn nữa là người chồng còn phải có một người vợ lẽ khác mà người vợ lẽ này khi qua đời có để lại một đứa con trai. Khi đã đủ những điều kiện đó rồi, lại còn cần (4) người chồng giao trách nhiệm nuôi con cho người vợ lẽ kia và (5) bảo đứa con nhận người đó làm mẹ.
Như vậy “từ mẫu” có nghĩa là mẹ nuôi. Trải qua thời gian lâu đời, bên Trung Hoa, thuật từ “từ mẫu” đã mất đi ý nghĩa ban đầu, hiện giờ người Hoa hiểu là người mẹ “hiền lành, rất mực thương yêu con cái”, đó là nghĩa phổ biến hiện nay trong cách hiểu cũng như trong các từ điển của người Việt và Trung Quốc.
Bên người Hoa khi nói mẹ hiền thường dùng chữ từ mẫu, ít khi dùng hiền mẫu, điều này khác với người Việt. Người Việt thường dùng chữ hiền mẫu hay mẹ hiền, ít khi nói từ mẫu, càng không ai nói “mẹ từ”, khi người ta nói “lương y như từ mẫu” rõ ràng là chịu ảnh hưởng của người Hoa rồi.
2. Để diễn tả tình mẹ thương con, nên nói “tình hiền mẫu” hay “tình mẫu tử”?
2.1 Tình hiền mẫu.
“Tình” là danh từ chính; “hiền” là tĩnh từ, “mẫu” là danh từ. “Hiền” dùng để diễn tả “mẫu”, nghĩa là người mẹ hiền lành. Tình hiền mẫu là lòng thương của mẹ hiền.
Tình hiền mẫu chỉ nói về lòng mẹ, tình thương của mẹ, dành cho con cái, mà không màng đến tình cảm con cái đối với mẹ. Đây là thuật từ ngợi khen người mẹ.
Một trong những bài thơ mà tôi ưa thích là bài “Du tử ngâm”[5]: “Từ mẫu thủ trung tuyến, Du tử thân thượng y. Lâm hành mật mật phùng, Ý khủng trì trì quy. Thuỳ ngôn thốn thảo tâm, Báo đắc tam xuân huy[6]: Sợi chỉ trong tay mẹ hiền, nay đang ở trên áo người đi xa. Lúc sắp lên đường, mẹ khâu kỹ càng, có ý sợ con chậm trễ trở về. Ai dám nói rằng tấm lòng của con chỉ như tấc cỏ lại có thể báo đáp được ánh nắng ấm áp của ba tháng mùa xuân?” Đây chính là ý nghĩa của tình hiền mẫu. Người mẹ chín tháng cưu mang, chịu đựng biết bao khó nhọc, nhưng vẫn phải giữ gìn sức khoẻ chỉ vì con. Tình thương mẹ dành cho con không có giới hạn. Điều ước mong của mẹ là con được trưởng thành cách mạnh khoẻ, bình an và hạnh phúc. Dù bị con chê ghét, mẹ vẫn hết lòng che chở con. Người mẹ như ngọn nến thiêu đốt chính mình để soi đường cho con đi. Vậy người mẹ muốn con mình gặp điều tốt nhất, đó chính là tình hiền mẫu.
2.2 Tình mẫu tử. “Tình” là danh từ chính; “mẫu” và “tử” là hai danh từ bình đẳng nhau. Mẫu là mẹ, tử là con, mẫu tử là mẹ và con.
Tình mẫu tử nghĩa là tình thương giữa mẹ và con. Đây là một tình cảm hỗ tương, tình cảm giữa hai bên, có qua có lại. Mẹ thương yêu con và con hiếu thảo với mẹ. Nên không có nghĩa chỉ nói về mẹ, không phải là thuật từ chỉ ngợi khen mẹ.
Kết luận.
Cả hai từ hiền mẫu và từ mẫu đều chỉ về người mẹ tốt lành đáng tôn kính và quý trọng. Nhưng từ hiền mẫu có tính thụ động, nói lên tài năng và đức hạnh của mẹ; còn từ mẫu có tính tích cực hơn, diễn tả lòng nhân từ, yêu thương của mẹ dành cho con cái.
Tình hiền mẫu và tình mẫu tử có nghĩa hoàn toàn khác nhau. Tình hiền mẫu là lòng mẹ yêu thương con. Khi dâng lời kinh với Đức Mẹ Maria, muốn ngợi khen Đức Mẹ, thì phải dùng từ tình hiền mẫu. Còn khi nói về tình càm giữa mẹ và con thì dùng từ tình mẫu tử. Tương tự, khi diễn tả lòng cha thương con thì dùng tình hiền phụ, muốn nói đến tình cảm giữa cha và con thì dùng tình phụ tử.
Lm. Huỳnh Trụ
Nguồn: https://gpcantho.com/
—-
[1] Nhà thờ Tư Tề lấy từ thành ngữ này.
[2] Luận ngữ論語
[3] Thọ Mai gia lễ của Hồ Sỹ Tân (1690-1760) có dựa theo Chu Công gia lễ tức gia lễ thời xưa của Trung Quốc và có trích dẫn một phần của Hồ Thượng thư gia lễ của Hồ Sỹ Dương (1621-1681).
[4] Viết ở thời nhà Tần (221-207 TCN).
[5] Của thi sĩ Mạnh Giao (751-814) nhà thơ ưu tú trong số nhà thơ thời Trung Đường
[6] Bản dịch của Trần Minh Tú: “Mẹ hiền sợi chỉ trong tay, Đi xa hãy mặc áo này mẹ khâu. Đường kim mãi miết âu sầu, Sợ con chậm trễ kịp đâu ngày về. Tấc lòng ngọn cỏ bờ đê, Báo sao ân nghĩa nắng về ba xuân”.
2023
Từ sự phát triển Con Người Toàn Diện đến nền Sinh Thái Toàn Diện
Grégoire Catta, S.J.
Tư tưởng xã hội của Giáo hội về sự phát triển
Toàn thể Giáo hội bước vào cuộc tranh luận về sự phát triển vào những năm 1960 bằng cách triển khai cái nhìn của mình về “sự phát triển con người toàn diện”. Thông điệp Populorum Progressio (PP) của Đức Phaolô VI là cách diễn đạt mạnh mẽ nhất về điều này. Được công bố vào năm 1967, nó đã truyền cảm hứng cho nhiều tổ chức Giáo hội mà, một cách nào đó, nó là hiến chương: Ủy ban Công lý và Hòa bình, các tổ chức hỗ trợ phát triển như CCFD (Ủy ban Công giáo chống nạn đói và vì sự phát triển) hay DCC (Phái đoàn Công giáo hợp tác) được thành lập cùng năm đó. Trong những thập kỷ sau đó, nó ngày càng trở nên phong phú hơn, dấn thân vào các cuộc tranh luận ý thức hệ và kỹ thuật diễn ra giữa các cơ quan của Liên hiệp quốc và các bên tham gia trong lĩnh vực này. Năm 2015, trong thông điệp Laudato si’ về việc bảo vệ ngôi nhà chung, Đức Thánh Cha Phanxicô đã thúc đẩy điều mà ngài gọi là “một nền sinh thái toàn diện” Gần đây hơn, bằng cách tổ chức lại các các bộ của Vatican, ngài đã thiết lập một cơ quan mới mà ngài gọi là “Bộ phục vụ sự phát triển con người toàn diện”. Bộ này chịu trách nhiệm về tất cả các vấn đề liên quan đến công lý, hòa bình, di cư, sinh thái, việc làm, sức khỏe… Trong khi từ ngữ phát triển thường xuyên bị tranh cãi, tại sao lại phải lấy lại nó? Chắc chắn bởi vì từ chỉ phẩm chất “toàn diện”, mà người ta cũng tìm thấy trong “nền sinh thái toàn diện”, mang lại cho nó ý nghĩa thực sự của nó và cho phép nó ngày nay, cũng như những năm 1960, trở thành lời phê bình đối với các cách tiếp cận khác.
“Để trở nên đích thực, sự phát triển phải mang tính toàn diện, nghĩa là thăng tiến mọi người và toàn thể con người” (PP 15). Một cách tiếp cận chỉ giới hạn ở những cân nhắc thuần túy về vật chất và kinh tế, hoặc chính trị và thậm chí cả văn hóa, mà không bao gồm tất cả chúng và đồng thời không mở ra một chiều kích tâm linh sẽ là không đủ. Cũng giống như một cách tiếp cận không tính đến toàn thể mọi người và toàn thể các dân tộc hoặc – được nhận thức cao hơn trong thời gian gần đây – sẽ vẫn mù quáng trước việc quan tâm đến môi trường. Quả thế, bén rễ từ truyền thống đức tin của mình, Giáo hội không ngừng tái khẳng định sự cao cả của ơn gọi của tất cả mọi người, được tạo dựng theo hình ảnh và giống Thiên Chúa, hoàn toàn liên đới với toàn thể công trình tạo dựng, và được mời gọi hình thành một gia đình thông qua ơn cứu độ được ban tặng trong Chúa Giêsu Kitô. Bằng cách xem xét một số bản văn quan trọng theo thứ tự thời gian, chúng ta hiểu rõ hơn tính đặc thù của cách tiếp cận này do Giáo hội đề xuất về sự phát triển, cũng như chiều hướng tiến triển tất yếu của nó, bởi vì không còn có thể nói về sự phát triển toàn diện theo cùng một thuật ngữ vào năm 2017 như vào năm 1967.
Đức Gioan XXIII
Chính từ các thông điệp của Đức Gioan XXIII vào đầu những năm sáu mươi – Mater et magistra năm 1961 (MM) và Pacem in terris năm 1963 (PT) – mà vấn đề phát triển đã đi vào diễn ngôn của Giáo hội. Nó cũng được đề cập tại Công đồng Vatican II trong Hiến chế Gaudium et spes (1965) (GS). Nhận thấy rằng vấn đề xã hội từ nay có chiều kích toàn cầu, được chứng minh bằng sự bất bình đẳng giữa các nước đã phát triển về kinh tế và các nước đang phát triển (MM 157), Giáo hội đề xuất trong ba văn kiện này một số nguyên tắc chính. Sự phát triển của các dân tộc là một quyền (PT 86) và do đó các nước được gọi là “đã phát triển” có nghĩa vụ đóng góp vào đó chứ không chỉ là một lựa chọn do lợi ích hoàn cảnh quyết định (MM 159, MM 160; GS 86 ) . Tuy nhiên, chính các cá nhân và chính các dân tộc mới là tác nhân chính trong sự phát triển của họ. Do đó, mối nguy hiểm là sử dụng các hình thức viện trợ khác nhau làm công cụ méo mó thống trị chính trị, kinh tế và xã hội và thiếu tôn trọng phẩm giá của các cá nhân và các dân tộc (MM 171; PT 121; GS 85). Cuối cùng, sự phát triển phải mang tính toàn diện, việc cải thiện các điều kiện xã hội đi kèm với tăng trưởng kinh tế (MM 68): mục tiêu là “sự triển nở nhân vị trọn vẹn” của mọi công dân, bao gồm cả việc quan tâm đến chiều kích tâm linh (GS 86).
Đức Phaolô VI
Trong Populorum Progressio, tất cả những yếu tố này sẽ được lấy lại và trình bày một cách có hệ thống hơn. Thông điệp dựa trên kinh nghiệm của những người Công giáo tham gia vào các cuộc tranh luận và hành động ủng hộ sự phát triển. Trong số đó, cha Louis-Joseph Lebret đóng vai trò quan trọng. Là người sáng lập hiệp hội « Kinh tế và Chủ nghĩa nhân văn » vào năm 1941, nhằm tìm cách thúc đẩy một nền kinh tế phục vụ con người, bản thân ngài đã từng là cố vấn cho các chính phủ ở Châu Mỹ Latinh, Châu Phi và Châu Á. Chúng ta nợ ngài khái niệm phát triển toàn diện “của toàn thể con người và của tất cả mọi người”. Thông điệp này nằm trong đường hướng phân định các dấu chỉ của thời đại được khởi xướng tại Vatican II. Dấu hiệu chính được nêu bật ở đây là tiếng kêu của “các dân tộc đói khổ ngày nay đang chất vấn cách thảm thương các dân tộc giàu có” (PP 3) và buộc phải đọc lại Tin Mừng.
Sự phát triển mang tính cá nhân – “mỗi con người được mời gọi phát triển vì mọi sự sống đều là một ơn gọi” trong kế hoạch của Thiên Chúa (PP 15) – nhưng cũng mang tính cộng đồng, bởi vì mỗi con người “thuộc về toàn thể nhân loại” (PP 16 ) và “ sự phát triển toàn diện của con người không thể diễn ra nếu không có sự phát triển mang tính liên đới của nhân loại” (PP 43). Do đó, nó đòi hỏi nghĩa vụ liên đới giữa các dân tộc và các nhân vị nhưng cũng phải tôn trọng sâu sắc khả năng quyết định và hành động của chính họ. Sự phát triển được trình bày như con đường chắc chắn nhất dẫn đến hòa bình: đó là “tên gọi mới của hòa bình” (PP 76-80). Khái niệm này không có tham vọng đưa ra một lý thuyết duy nhất hay giải pháp kỹ thuật cho những thách thức do vấn đề phát triển đặt ra, nhưng là một tiêu chí đánh giá và phân định, là nguồn cảm hứng cho hành động. Sự phát triển “thực sự” là sự chuyển đổi từ những điều kiện ít nhân bản hơn sang những điều kiện có tính nhân bản hơn:
“Ít nhân bản hơn: những thiếu thốn về vật chất của những người bị tước đoạt mức sống tối thiểu và những thiếu sót về đạo đức của những người bị hủy hoại bởi lòng ích kỷ. Ít nhân bản hơn: các cơ cấu áp bức, dù chúng phát sinh từ việc lạm dụng quyền sở hữu hay lạm dụng quyền lực, từ việc bóc lột công nhân hoặc từ sự bất công trong giao dịch. Nhân bản hơn: sự gia tăng khốn khổ hướng tới việc sở hữu những nhu cầu thiết yếu, chiến thắng các tệ nạn xã hội, mở rộng kiến thức, tiếp thu văn hóa. Cũng nhân bản hơn: tăng cường quan tâm đến phẩm giá của người khác, hướng tới tinh thần nghèo khó, hợp tác vì công ích, ước muốn hòa bình. Còn nhân bản hơn nữa, sự thừa nhận của con người về những giá trị tối cao và về Thiên Chúa, Đấng là cội nguồn và là cùng đích của mình. Cuối cùng và trên hết, nhân bản hơn: đức tin, hồng ân của Thiên Chúa được đón nhận bởi thiện chí của con người và sự hiệp nhất trong tình bác ái của Chúa Kitô, Đấng kêu gọi tất cả chúng ta tham gia như những người con vào sự sống của Thiên Chúa hằng sống, là Cha của mọi người” (PP 21).
Trong bối cảnh của những năm sáu mươi, thông điệp đưa ra một số khuyến nghị cụ thể để thực hiện đoạn văn này. Cải cách nông nghiệp là cần thiết ở nhiều vùng nơi có lượng lớn dân cư làm nông nghiệp đang sống trong cảnh khốn cùng vì họ không có đất để canh tác trong khi các điền trang lớn vẫn chưa được khai thác (PP 24). Công nghiệp hóa được coi là một hiện tượng tích cực với điều kiện là nó không chỉ được định hướng bởi việc thu hút lợi nhuận (PP 25). Tính cấp bách của hoàn cảnh đòi hỏi các cơ quan chính phủ phải có hành động lập kế hoạch ngay lập tức cũng như các sáng kiến tư nhân và hành động của các cơ quan trung gian (PP 33). Thương mại quốc tế đòi hỏi những cải cách sâu sắc, bởi vì sự bất bình đẳng không thể được khắc phục chỉ bằng cơ chế thị trường tự do (PP 58). Cuối cùng, thông điệp khuyến khích việc thành lập một quỹ phát triển quốc tế (PP 51).
Thông qua những khuyến nghị này, Giáo hội nằm trong trào lưu cải cách theo chủ nghĩa quốc tế, được đại diện đặc biệt trong những thập niên sau chiến tranh bởi Ủy ban Kinh tế Liên Hợp Quốc về Châu Mỹ Latinh và Tổng Thư ký của nó là Raúl Prebisch. Ngược lại với các lý thuyết về hiện đại hóa coi tình trạng kém phát triển là một sự chậm trễ đơn giản trong một quá trình không thể tránh khỏi mà đơn giản cần phải sửa chữa bằng sự đóng góp của vốn bên ngoài, trào lưu “cơ cấu” này muốn cải cách cơ cấu liên kết các nước phát triển quá mức của phía Bắc và các nước kém phát triển của phía Nam. Chẳng hạn, điều này ngụ ý hành động tuân theo các quy tắc thương mại quốc tế, tăng cường lập kế hoạch ở các nước đang phát triển, từ chối phân chia lao động theo đó một số quốc gia vẫn đơn giản là nhà sản xuất nguyên liệu thô trong khi các quốc gia khác sẽ chịu trách nhiệm về công nghiệp chế biến. Khi đưa ra những quan điểm gần gũi với những người theo chủ nghĩa cơ cấu, Đức Phaolô VI không có tham vọng đồng hóa tầm nhìn của Giáo hội với lý thuyết này một cách dứt khoát[1], ngài lặp lại một cách tiếp cận mà, trong thời kỳ này, thể hiện tầm nhìn về sự phát triển con người toàn diện.
Hội đồng Giám mục châu Mỹ Latinh
Nhân danh tầm nhìn này, các Giám mục Châu Mỹ Latinh, họp tại Medellín, đã chấp nhận một quan điểm triệt để hơn vào năm 1968. Bị chất vấn bởi tai tiếng về nghèo đói và sự bất bình đẳng ngày càng gia tăng trên lục địa của mình, các ngài tố cáo tình trạng phụ thuộc về kinh tế và chính trị đặc biệt vào Hoa Kỳ và kêu gọi hành động chống lại các hình thức chủ nghĩa thực dân mới[2]. Các yếu tố của cách tiếp cận này đã được huấn quyền Rôma lấy lại, đặc biệt trong tài liệu chung cuộc của Thượng Hội đồng Giám mục năm 1971, Justitia in mundo (JM), và trong tông huấn hậu thượng hội đồng của Đức Phaolô VI năm 1975, Evangelii Nuntiandi (EN) . Rõ ràng lưu ý đến các tình trạng “chủ nghĩa thực dân mới”, do đó Giáo hội liên kết sự phát triển con người toàn diện với khái niệm giải phóng: “Nếu các quốc gia và khu vực đang phát triển thất bại trong việc giải phóng họ thông qua sự phát triển, thì có một mối nguy hiểm thực sự là tình hình của họ, đặc biệt được tạo ra bởi sự thống trị của thực dân, sẽ phát triển thành chủ nghĩa thực dân mới, trong đó các quốc gia đang phát triển sẽ là nạn nhân của trò chơi của các sức mạnh kinh tế quốc tế” (JM 16). Tuy nhiên, nhân danh nguyên tắc về một nhân loại được xem xét một cách toàn diện, lời kêu gọi giải phóng được kết hợp với việc tiên thiên từ chối bạo lực và bởi sự cổ vũ việc hợp tác và tham gia.
Đức Gioan-Phaolô II
Hai mươi năm sau Populorum Progressio, đến lượt Đức Gioan Phaolô II đã lấy sự phát triển làm chủ đề trọng tâm trong thông điệp thứ hai của ngài, Sollicitudo rei socialis (SRS), vào năm 1987. Ngài nhấn mạnh đến chiều kích luân lý của nó: đó không phải là vấn đề thuần túy kỹ thuật mà là một thực tại liên quan đến những lựa chọn của con người, được đánh giá theo sự đóng góp của họ hay không cho công ích. Trong bối cảnh luôn hiện diện của chiến tranh lạnh và sự đối lập giữa các ý thức hệ tư bản và cộng sản, ngài tái khẳng định rằng sự phát triển đích thực không thể bị nhầm lẫn với huyền thoại về sự tiến bộ vô tận, cũng không thể nhầm lẫn với sự mở rộng đơn giản của cải vật chất. Các hình thức “phát triển quá mức” ở các nước giàu thậm chí còn bị tố giác (SRS 28). Sự phát triển là cách diễn đạt hiện đại về ơn gọi của con người – theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa Tạo Hóa. Và chính bằng cách suy niệm về hình ảnh Chúa Kitô Đấng Cứu Chuộc con người và thực hiện đầy đủ ơn gọi này mà Giáo hội bén rễ sự dấn thân của mình cho sự phát triển (SRS 30-31). Bằng cái nhìn thần học về những trở ngại cho sự phát triển, Đức Gioan-Phaolô II tố cáo như là các cơ cấu tội lỗi cái lôgíc của các khối và một trật tự kinh tế thế giới bị làm sai lệch bởi lòng ham muốn lợi nhuận và sự khao khát quyền lực “bằng bất cứ giá nào”. Sự phát triển đích thực ngang qua việc thăng tiến tình liên đới, vốn “không phải là một cảm giác trắc ẩn mơ hồ” mà là “quyết tâm vững chắc và kiên trì để làm việc vì công ích […] bởi vì tất cả chúng ta đều có trách nhiệm với tất cả mọi người” (SRS 38). Hơn nữa, thông điệp nhấn mạnh rằng sự phát triển đích thực phải tính đến sự tôn trọng môi trường và tính chất hạn chế của các nguồn tài nguyên thiên nhiên không thể tái tạo. Đây là một bước tiến triển đáng kể so với các tài liệu trước đây. Tuy nhiên, trong cùng năm 1987, báo cáo được gọi là “Bruntland” của Liên hiệp quốc đã định nghĩa phát triển bền vững là hình thức phát triển đáp ứng nhu cầu của các thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến nhu cầu của các thế hệ tương lai[3], diễn ngôn của Giáo hội vẫn khá kín đáo về thách thức sinh thái.
Trái lại, tầm nhìn về sự phát triển con người toàn diện do Giáo hội Công giáo thúc đẩy đã tìm thấy tiếng vang có sức nặng trong bước ngoặt do PNUD (Chương trình Phát triển của Liên hiệp quốc) thực hiện vào năm 1990. Dưới sự thúc đẩy của các nhà kinh tế Mahbud Ul Haq và Amartya Sen , tổ chức Liên hiệp quốc này thúc đẩy sự phát triển như là “tiến trình mở rộng phạm vi khả năng được cung cấp cho các cá nhân” và thiết lập Chỉ số Phát triển Con người (IDH) vốn không còn bằng lòng, như PIB (Tổng sản phẩm quốc nội), đo lường sự giàu có của một quốc gia về mặt của cải có thể định lượng bằng tiền được tạo ra nhưng có tính đến các yếu tố khác như tuổi thọ trung bình và trình độ học vấn[4]. Vài năm sau, mục tiêu phát triển thiên niên kỷ được thúc đẩy: giảm nghèo cùng cực, đảm bảo giáo dục tiểu học cho tất cả mọi người, thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ, giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh, cải thiện sức khỏe bà mẹ, chống VIH/Sida, sốt rét và các bệnh khác, bảo vệ môi trường , thiết lập quan hệ đối tác toàn cầu để phát triển. Danh sách các chủ đề này gợi nhớ đến danh sách các đoạn văn về các điều kiện ít nhân bản hơn đến các điều kiện nhân bản hơn trong Populorum Progressio. Ở đó chúng ta thấy tầm nhìn về một sự phát triển không giới hạn ở các tiêu chí kinh tế nhưng tìm cách đặt người nam và người nữ vào trung tâm và tính đến tất cả các chiều kích nhân tính của họ. Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi các tổ chức Công giáo như Caritas Quốc tế hay ở Pháp, tổ chức CCFD-Terre solidaire đã dấn thân mạnh mẽ với các mục tiêu thiên niên kỷ này.
Ở bước ngoặt năm 2000, chiến dịch toàn cầu nhằm xóa nợ cho các quốc gia nghèo nhất cũng nhận được sự ủng hộ rộng rãi trong các tổ chức này và trong diễn ngôn xã hội chính thức của Giáo hội. Như Đức Gioan-Phaolô II đã chỉ ra trong thông điệp của ngài (SRS 19), vấn đề nợ nần quá mức của một số quốc gia đang phát triển là một vấn đề đạo đức liên quan đến sự tương tùy và tình liên đới giữa các dân tộc chứ không phải là một vấn đề thuần túy kinh tế[5]. Tầm nhìn về sự phát triển toàn diện của con người tìm thấy ở đây một nơi áp dụng cụ thể.
Đức Bênêđíctô XVI
Hai thập niên sau thông điệp của Đức Gioan-Phaolô II, chính tình hình toàn cầu hóa phức tạp hơn bao giờ hết và tình trạng thế tục hóa ngày càng gia tăng, đặc biệt ở châu Âu, đã kích thích Đức Bênêđíctô XVI tái áp dụng chủ đề phát triển vào năm 2009. Trong thông điệp Caritas in veritate (CV), ngài nhấn mạnh đến sự mở ra cho siêu việt như một thành phần quan trọng của sự phát triển con người toàn diện. Một chủ nghĩa nhân bản loại trừ hoàn toàn sự cởi mở đối với Thiên Chúa thì không thể là một chủ nghĩa nhân bản đích thực (CV 78). Nhiều cuộc khủng hoảng mà nhân loại đang trải qua vào đầu thiên niên kỷ thứ ba, các cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế, các cuộc khủng hoảng năng lượng và môi trường, các cuộc khủng hoảng xã hội và chính trị, là cơ hội đào sâu sự phân định và đưa ra những lựa chọn nhắm đến một tương lai tốt hơn bén rễ sâu trên những giá trị căn bản của con người trong một “tổng hợp nhân bản mới” (CV 21). Chiều kích của quà tặng và sự nhưng không, chẳng hạn, được thể hiện trong các hình thức sáng tạo của nền kinh tế liên đới (CV 34), là một phần của sự tổng hợp này nhằm tái khẳng định nhu cầu hợp tác và các mối quan hệ liên vị trong các xã hội ngày càng bị đánh dấu bởi sự cô lập và chủ nghĩa cá nhân (CV. 53). Trong bối cảnh quá trình tài chính hóa nền kinh tế ngày càng gia tăng mà những tác động tàn phá của nó đang được cảm nhận một cách tàn khốc cùng với tác động toàn cầu của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đối với nền kinh tế thực, Đức Bênêđíctô XVI mạnh mẽ nhắc lại sự cần thiết phải đưa nền kinh tế trở lại phục vụ sự phát triển con người và công ích (CV 36). Ngài cũng nhấn mạnh đến việc bảo vệ các giá trị sự sống và gia đình, những giá trị mà ngài coi là hàng đầu cho sự phát triển đích thực của con người (CV 44).
Với Đức Bênêđíctô XVI và thông điệp Caritas in Veritate, chủ đề phát triển giờ đây được liên kết chặt chẽ hơn với chủ đề về mối quan hệ của con người với môi trường (CV 48). Nhận thức về giới hạn của một số tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là năng lượng, và về những thiệt hại thường không thể khắc phục được gây ra cho môi trường do sự phát triển công nghiệp vô trách nhiệm đang ngày càng mạnh mẽ ở nhiều xã hội. Giáo hội Công giáo, từng có vẻ khá ngại ngùng về vấn đề này, lại đang lên tiếng nhiều hơn. Trách nhiệm của mỗi người đối với người nghèo và các thế hệ tương lai được Đức Thánh Cha nhắc nhở mạnh mẽ, ngài kêu gọi cải cách lối sống để phản ứng đặc biệt với chủ nghĩa tiêu dùng của các xã hội giàu có (CV 48-51). Nhưng mối quan tâm đến một tình liên đới mới mẻ giữa các thế hệ cũng như mối quan tâm đến những người mong manh nhất mời gọi tiếp tục nói về “sự phát triển”, theo nghĩa là sự phát triển của nhân loại trong tình liên đới. Mối quan tâm đến việc bảo vệ môi trường và mối quan tâm đến công lý đối với những người mong manh nhất ngày nay luôn song hành với nhau, điều này đã được phê chuẩn hoàn toàn bởi thông điệp xã hội mới nhất của Đức Thánh Cha Phanxicô, Laudato si’ (LS).
Đức Phanxicô và nền sinh thái toàn diện
Thông điệp xã hội của Đức Phanxicô được xuất bản chỉ vài tháng trước khi, một mặt, Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua các mục tiêu mới cho sự phát triển bền vững và, mặt khác, hội nghị Paris về biến đổi khí hậu. Đối với Đức Thánh Cha, mối quan tâm đến sự phát triển con người toàn diện bao gồm sự quan tâm không thể thiếu đến môi trường tự nhiên, vốn đang bị hủy hoại bởi tiến bộ kỹ thuật và một kiểu phát triển vật chất làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên và quên mất rằng chúng có những giới hạn. Thông điệp Laudato si’ nhắc nhở chúng ta rằng mọi thứ đều liên kết với nhau: cách đối xử với người khác, cách đối xử với chính mình, cách đối xử với công trình tạo dựng và liên hệ với Đấng Tạo Hóa (LS 49, LS 66, LS 237). “Ngày nay, chúng ta không thể không nhận ra rằng một cách tiếp cận sinh thái đích thực luôn biến thành một cách tiếp cận xã hội, vốn phải sáp nhập công lý vào các cuộc thảo luận về môi trường, để lắng nghe tiếng kêu của trái đất cũng như tiếng kêu của người nghèo” (LS 49).
Đức Phanxicô đề xuất con đường của một nền sinh thái toàn diện, với cả các thành phần con người, xã hội và môi trường, để không còn chỉ thúc đẩy sự phát triển đích thực của con người mà còn chính xác hơn là “chuyển đổi mô hình phát triển toàn cầu” và “xác định lại sự tiến bộ” (LS 194). Đó là vấn đề thoát ra khỏi lôgíc sản xuất và tiêu dùng vốn làm cạn kiệt tài nguyên, thoát khỏi nền văn hóa lãng phí vốn biến mọi thứ, các sự vật cũng như con người, thành những đồ vật “dùng một lần rồi vứt bỏ” và chấp nhận một sự suy giảm nào đó ở một số bộ phận của thế giới (đặc biệt là ở phương Tây) để mọi người có thể sống trong phẩm giá và hành tinh này có thể tiếp tục có thể sinh sống được (LS 193). Con đường sinh thái toàn diện đòi hỏi những biến đổi sâu xa ở bình diện kinh tế, nhưng cũng cả chính trị, xã hội và văn hóa, để phá vỡ sự thống trị của kinh tế đối với chính trị, xã hội và văn hóa. Nó ngang qua việc thiết lập các cơ cấu hợp tác quốc tế và một “quyền bính chính trị toàn cầu” thực sự cũng như thúc đẩy nhiều sáng kiến địa phương, nơi sự sáng tạo của con người được triển khai với mối quan tâm thường xuyên đối thoại nhằm hướng tới công ích (Cf. LS 137-162).
Với Laudato si’, một lộ trình phát triển toàn diện mới được đưa ra cho Giáo hội và “mỗi người sống trên hành tinh này” (LS 3), gần năm mươi năm sau Populorum Progressio. Vấn đề không còn chỉ là vấn đề phân phối của cải tốt hơn mà chúng ta vô thức nghĩ rằng nó có thể gia tăng vô tận, mà là vấn đề chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta bằng cách chăm sóc những cư dân mong manh nhất trong đó. Đức Thánh Cha Phanxicô kêu gọi một sự hoán cải sâu sắc trong lối sống, cả cá nhân lẫn tập thể, nhưng ngài cũng chỉ ra rằng đó cũng là một sự hoán cải thiêng liêng: “cuộc khủng hoảng sinh thái là một lời kêu gọi hoán cải nội tâm sâu xa” (LS 217).
Như vậy, trong hơn nửa thế kỷ, trong nhiều hoàn cảnh và tranh luận khác nhau xung quanh vấn đề phát triển, khái niệm phát triển con người toàn diện, mà ngày nay trở thành nền sinh thái toàn diện, đã được đưa ra như một tiêu chí trung tâm để lượng giá phê bình các lựa chọn chính trị, kinh tế hay xã hội, trên bình diện cá nhân cũng như tập thể. Nhưng hơn cả một tiêu chí, nó còn là một nguồn lực để hành động. Quan tâm đến tất cả mọi người cũng như mọi chiều kích của nhân vị trong tính năng động của ơn gọi và trong mối liên kết chặt chẽ của họ với toàn thể công trình tạo dựng, đó là thách thức đối với Giáo hội Công giáo trong việc thúc đẩy sự phát triển bất kể hình thức cụ thể nào.
Ban Gia đình và Xã hội toàn quốc của Hội đồng Giám mục Pháp
Chuyển ngữ: Tý Linh
Theo nhật báo CERAS (14.07.2017)
Nguồn: xuanbichvietnam.net (25.08.2023)
[1] Michael Sutton, “Les contingences d’une encyclique : Populorum progressio” In Les chrétiens et l’économie / Colloque de l’Association française d’Histoire religieuse contemporaine, sous la direction de André Encrevé, Paris, Centurion, 1991. p. 31-155.
[2] CELAM, L’Église dans la transformation actuelle de l’Amérique latine à la lumière du Concile Vatican II: conclusions de Medellín 1968, trad. Charles Antoine. Paris, Cerf, 1992.
[3] Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển của Liên hiệp quốc, Tương lai chung của chúng ta, New York, 1987.
[4] PNUD, Báo cáo toàn cầu về sự phát triển con người năm 1990, New York, Economica, 1990.
[5] Xem thêm : Hội đồng Tòa Thánh về Công lý và Hòa bình, Để phục vụ cộng đồng nhân loại ; một cách tiếp cận đạo đức về nợ quốc tế (27 /12/ 1986), Paris, Cerf, 1987.
2023
Thao thức trong mục vụ
Thầy ơi, con là nữ tu thuộc Hội Dòng Nữ Đa Minh Rosa Lima. Con có một thao thức muốn được chia sẻ với Thầy về vấn đề mục vụ.
Con nhìn thấy tình hình ơn gọi hiện nay ở Việt Nam đang giảm sút rất nhanh, giá trị đạo đức, nhân bản trong xã hội bi hạ thấp. Con nghe nói có một số Dòng Tu có nguy cơ là không có ơn gọi nữa. Nghĩ về điều này, con nhận thấy các linh mục, tu sĩ nam nữ không chỉ canh tân đời sống của mình mà còn phải có sáng kiến trong các lĩnh vực mục vụ của mình. Con xin chia sẻ sáng kiến của mình như sau:
Trong lĩnh vực dâng hiến, ngoài những hình thức chiêu sinh ơn gọi như tổ chức những ngày sinh hoạt và giới thiệu ơn gọi của hội dòng ra thì mỗi người tu sĩ cần cộng tác nơi giáo xứ mà mình được gởi tới phục vụ. Cộng tác như thế nào? Để một cây ra hoa và kết trái thì cần có người chăm sóc, vui xới, bón phân, và tưới nước. Cũng vậy để có thêm ơn gọi cho các hội dòng thì cần có người chăm sóc, quan tâm các gia đình trẻ để họ cùng cộng tác qua việc hướng dẫn đời sống thiêng liêng và ơn gọi dâng hiến cho con cái. Chúng ta cũng có thể hình thành những nhóm ơn gọi nhỏ tại các giáo xứ bằng những buổi chia sẻ Lời Chúa, nhân bản, và làm việc tông đồ hàng tuần hoặc tháng. Chúng ta cũng nên có chương trình cụ thể phù hợp với hoàn cảnh và môi trường sống của các em.
Tại các trường mầm non của nhà dòng thì sao? Con thấy đây là môi trường thuận lợi để làm mục vụ. Họ đồng hành trực tiếp với các bé và phụ huynh.
Đối với các bé, người tu sĩ không chỉ trao ban kiến thức mà còn giáo dục đời sống nhân bản. Bên cạnh đó, người tu sĩ cũng có thể hướng dẫn đời sống đức tin qua hành động yêu thương, chăm sóc giúp các bé cảm thấy vui và hạnh phúc mỗi khi đi học, giúp các bé yêu thương cha mẹ, anh chị, các cô, bạn bè, và mọi người xung quanh; và đỉnh cao là đưa các bé vào trong mối tương giao với Chúa bằng những lời cầu nguyện đơn sơ, ngắn gọn. Người tu sĩ chúng con cần tập kiên nhẫn đối với các bé tăng động, và nghịch ngợm, lắng nghe những câu chuyện nhỏ với những ước mơ tương lai của các bé để biết, hướng dẫn, động viên và khích lệ nhằm giúp giúp các bé tự tin bước vào cấp 1.
Đối với phụ huynh, người tu sĩ nên tạo sự gần gũi và tín nhiệm, mời gọi họ cộng tác trong việc dạy dỗ con cái. Trò chuyện với họ để hiểu rõ hơn hoàn cảnh, đời sống và nhất là tính cách của các bé như người Mục Tử biết rõ từng con chiên của mình. Do đó, người tu sĩ cũng phải biết rõ từng bé, cả điểm tốt và điểm chưa tốt để giúp các bé hoàn thiện bản thân.
Ngoài ra, người tu sĩ chúng con cũng nên có những kế hoạch lâu dài để giúp phụ huynh của các bé trong việc giáo dục con cái cả về mặt thể chất và đức tin. Cụ thể là quy tụ những gia đình công giáo để có thể giúp họ gia tăng lòng sống đạo trong thế giới hiện đại ngày nay. Tạo các buổi sinh hoạt, gặp gỡ các gia đình để tạo mối dây liên kết yêu thương, quan tâm, chia sẻ cho nhau những kinh nghiệm và khó khăn trong việc nuôi dạy con cái. Có thể chia nhỏ thành từng nhóm theo từng khối để sinh hoạt với nha theo từng quý với những chủ đề khác nhau và cũng có thể mời một số chuyên gia về tâm lý, sức khỏe để họ trợ các phụ huynh trong việc nuôi dạy con cái.
Con ước mong và thao thức cho các trường mầm non của các hội dòng sẽ có cái nhìn mục vụ xa hơn cho tương lai của giáo hội và xã hội.
Xin Thầy nhân lành và khiêm nhường gìn giữ, thánh hóa và hướng dẫn đời sống mục vụ của mỗi tu sĩ chúng con, uốn nắn tâm hồn chúng con trở nên hiền lành và khiêm tốn trong cung cách phục vụ, nhiệt tâm hơn trong sứ mạng loan báo Tin Mừng, và bác ái với hết mọi người hầu giúp mọi người nhận ra sự hiện diện của Thầy nơi đời sống hiến dâng của chúng con. Amen
2023
Tương quan với các thành viên trong gia đình: Sự tha thứ và ân sủng của Chúa
Tương quan với các thành viên trong gia đình: Sự tha thứ và ân sủng của Chúa
TƯƠNG QUAN VỚI CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH:
SỰ THA THỨ VÀ ÂN SỦNG CỦA CHÚA
Dom Cingoranelli
Trong cuộc sống, đôì khi vì những bất đồng, cãi cọ, tranh chấp và những hành vi thái quá khiến các thành viên trong gia đình tìm mọi cách để tránh dành thời gian cho nhau. Một số người thậm chí còn muốn cắt đứt luôn mối tương quan xã hội giữa họ và người thân. Vào thời điểm không ngừng bị tấn công từ các thế lực bên ngoài như hiện nay, thì điều quan trọng mà bất cứ gia đình nào cũng cần phải quan tâm đó là những xung đột nội bộ đang diễn ra, để có thể cùng nhau đứng vững, như là một gia đình.
Gia đình hạnh phúc và gia đình bất hạnh
Lời nhận xét thú vị được trích dẫn từ tác phẩm Anna Karenina của văn hào Tolstoy xuất hiện trong tâm trí tôi: “Tất cả các gia đình hạnh phúc đều giống nhau; mỗi gia đình bất hạnh đều bất hạnh theo cách riêng của họ”. Tôi tin rằng có thể có nhiều cách giải thích và bào chữa khác nhau về lý do cho sự bất hòa cũng như bất hạnh trong gia đình.
Những nguyên nhân có thể gây ra bất hòa trong gia đình
Thật ra, sự bất hòa có thể phát sinh từ bất kỳ nguyên nhân nào. Sống chung với nhau, hầu hết chúng ta đều biết đến những “nút nóng” riêng của từng người trong gia đình mình. Nói cách khác, đôi khi thật dễ dàng để khiến ai đó “nổi giận”, mặc dù người chạm vào nút nóng đó chỉ đơn thuần là để cho vui, nhưng người bị “nhấn nút” có thể không thấy sự hài hước, mà thay vào đó, là thấy bị tổn thương.
Đôi khi một thành viên trong gia đình có quan điểm mạnh mẽ về các chủ đề chính trị, văn hóa, hoặc tôn giáo trái ngược với quan điểm của các thành viên khác. Và sau đó, sự khác biệt này dẫn đến tình trạng giống như “dầu pha với nước” khiến cho sự khó chịu, khắc khẩu trở thành triệu chứng gây nên sự xa cách giữa các thành viên trong gia đình.
Ngoài ra, theo dòng thời gian, một số sự cạnh tranh, ghen tị nào đó giữa các anh chị em cũng có thể phát triển hơn lên. Điều này cũng không có gì lạ, bởi vì sự ganh tị giữa anh em ruột thịt đã tồn tại từ thời Cain và Abel.
Tha thứ lỗi lầm cho nhau
Mặc dù sự khác biệt, như được đề cập trên đây, có thể gây ra một số vấn đề, nhưng tình trạng khó chịu, căng thẳng liên tục ở một số gia đình có thể xuất phát từ thực tại sâu xa hơn đó là thiếu sự tha thứ cho những sai lầm của nhau trong quá khứ. Chẳng hạn, ai đó đã nói hoặc làm điều gì đó xúc phạm tôi, từ nay, tôi sẽ giữ khoảng cách và không muốn liên quan gì đến người ấy nữa. Nên việc họ có vô tình hay cố ý xúc phạm tôi hay không đều không quan trọng. Với tôi, tôi tin rằng họ luôn luôn thực sự có ý định làm tổn thương tôi. Bất cứ điều gì họ đã nói, đã làm trong thời điểm đó mà với tôi, là điều ngu ngốc hoặc gây tổn thương, tôi sẽ nắm chặt lấy nó, và gặm nhấm trong lòng thay vì tha thứ cho họ.
Đức Giám mục Barron kể lại câu chuyện về một vị giúp tĩnh tâm nói với một nhóm dự tĩnh tâm rằng: “Mỗi người hãy nghĩ đến một người nào đó mà mình thấy khó tiếp nhận nhất và hãy kể lại chi tiết những đặc điểm khiến người ấy trở nên quá đáng ghét đối với mình như vậy. Sau đó, ngài khuyên họ trở về phòng và cầu xin Chúa tha thứ cho những lỗi lầm giống như vậy nơi chính bản thân từng người”. Thật là một cơ hội tuyệt vời! Nhìn vào gương, và với sự trợ giúp đỡ của ơn Chúa, chúng ta có thể thực hiện bước đầu tiên để tha thứ và bỏ đi sự oán giận đối với những thành viên khó ưa trong gia đình.
Vết thương nuôi dưỡng thù hận
Tuy nhiên, việc không thừa nhận ai đó cũng như sự xáo trộn trong gia đình nói chung có thể vượt quá điều đơn giản là từ chối sự tha thứ và lòng thương xót. Tận cùng của vấn đề đó là sự tổn thương của chính chúng ta. Phải công nhận rằng, khi sống chung, ai trong chúng ta cũng đều có thể gây tổn thương và bị tổn thương cách nào đó. Có điều là, chúng ta ít khi quan tâm đến vết thương mình gây ra, nhưng lại rất lưu tâm đến vết thương của mình, chính mâu thuẫn này phát sinh những lời nói dối mà chúng ta tự trấn an mình. Những tổn thương nơi chúng ta tạo cơ hội cho ma quỷ gây ảnh hưởng đến suy nghĩ và khiến chúng ta lặp đi lặp lại và mở rộng những lời nói dối đó. Qua lăng kính méo mó này, chúng ta không còn nhìn thấy thực tại khách quan mà chỉ nhìn thấy những vết thương theo thành kiến của mình. Từ đó, chúng ta thường quan sát thành viên mà mình có ác cảm nói hoặc làm điều gì đó, và ngay lập tức, chúng ta giả định về động cơ của họ, và rồi, sự tổn thương đang có sẵn mở ra cho chúng ta khả năng phòng thủ và đưa ra những giả định thiên kiến. Tiến sĩ Edgar Schein nói rằng, chính điều này dẫn chúng ta đến những phản ứng cảm xúc không phù hợp, và chúng ta không biết rằng mình đã thực hiện một cú nhảy cấp độ Olympic dẫn đến một kết luận sai lầm. Và cứ thế, mối tương quan của chúng ta với thành viên ấy tiếp tục xuống dốc.
Chúng ta không nhìn như Thiên Chúa nhìn
Khi nhìn vào những tính cách khác biệt, những tính xấu, những điều khó chịu nơi các thành viên trong gia đình mình, chúng ta rất dễ quên rằng tất cả mọi người đều được dựng nên theo hình ảnh và giống Thiên Chúa. Không những thế, chúng ta cũng quên là Thiên Chúa yêu thương người khác vô bờ bến và vô điều kiện, bất chấp những gì tốt đẹp chúng ta không thấy nơi họ. Đồng thời, nhiều khi chúng ta không biết là có thể họ đang trải qua điều gì vào thời điểm khiến họ hành động như vậy, kể cả việc bản thân họ đang bị tổn thương vì lời nói hoặc hành vi của chính chúng ta.
Là con người, ai trong chúng ta cũng có những giới hạn nhất định, nên chúng ta không nhìn như Thiên Chúa nhìn, không thấy như Thiên Chúa thấy ngay cả khi chúng ta cố gắng để nhìn thấy điều tốt, điều chân thật, và điều đẹp đẽ nơi người khác. Thậm chí, dù có tháo bỏ những lăng kính méo mó của mình, thì chúng ta vẫn không thể nhìn thấy bức tranh bao quát hơn như Thiên Chúa thấy.
Hơn nữa, cũng không phải lúc nào chúng ta cũng nhìn nhận bản thân – hành vi và động cơ của chính mình – một cách rõ ràng và không thành kiến. Trên thực tế, đã bao nhiêu lần chúng ta nghĩ rằng không phải mình mà là người khác cần thay đổi như thế nào? Thật dễ dàng để chúng ta chỉ ra những sai phạm của người khác, nhưng lại thường mù quáng trước lỗi lầm của chính mình.
Xa lánh
Một số người có thể nói: “Tôi muốn hoặc thực sự cần phải tránh những người gây phiền hà và khiến tôi căng thẳng”. Liệu đây có phải là điều Chúa Giêsu đã làm khi Người thi hành sứ vụ công khai chăng? Các sách Phúc Âm cho thấy Chúa Giêsu đã luôn ở giữa đám đông, ngay cả với những người có hành vi sai trái, thậm chí cố ý đối xử tệ với Người.
Chúng ta thường chọn cách đơn giản nhất đó là né tránh những người thân trong gia đình mà chúng ta không ưa hoặc vì họ đã nói hoặc làm điều gì đó mà chúng ta coi là xúc phạm đến mình. Tuy nhiên, chúng ta không thể làm điều này mãi mãi, vì đó chỉ là một cơ chế đối phó ngắn hạn. Xét cho cùng, cách chúng ta phản ứng với một người nào đó nói lên nhiều điều về chính chúng ta hơn là về họ.
Qua gương của Chúa Giêsu, bằng cách tương tác với những người ấy, rất có thể Người muốn chúng ta trở thành chứng tá về thế nào là tình yêu đích thực của Kitô hữu. Với ơn thánh, Chúa Giêsu muốn chúng ta thấy mình có thể thay đổi động cơ bằng cách thay đổi hành vi của chính mình ra sao. Từ đó, chúng ta có thể lớn lên trong nhân đức, và điều này chắc chắn cũng giúp ích cho các thành viên trong gia đình chúng ta.
Ơn trợ lực của Chúa
Thiên Chúa muốn giúp chúng ta yêu thương những người thân trong gia đình mình, nhưng đôi khi chúng ta, vì nhiều lý do, cảm thấy điều này là bất khả thi. Chúng ta cần ơn Chúa. Với sự luyện tập và trợ lực của ân sủng, chúng ta có thể học biết làm thế nào để không vấp ngã trước những lời nói, hành vi không thích hợp của người khác bằng cách thay đổi suy nghĩ và hành vi của chính mình.
Chúng ta cũng cần cầu xin Chúa Thánh Thần giúp chúng ta lớn lên, không chỉ về sức mạnh mà còn về sự khôn ngoan và lòng bác ái. Ơn khôn ngoan để giúp chúng ta nhìn, hiểu, và đón nhận những thành viên khó ưa trong gia đình với sự kiên định, kiên trì, và kiên nhẫn. Lòng bác ái để giúp chúng ta lớn lên khi học cách tương tác với người khác, cả trong và ngoài gia đình, bằng tình yêu như Chúa yêu.
“Đối với Thiên Chúa, không gì là không thể làm được” (Lc 1, 37). Liệu cách cư xử của chúng ta đối với những người trong gia đình có cho thấy chân lý này chăng? Liệu gia đình của chúng ta sẽ cho thấy chân lý này được thể hiện nơi chúng ta như thế nào?
***
Nếu bạn muốn đem lại hạnh phúc cho toàn thế giới,
hãy về nhà và yêu thương gia đình mình.
(Thánh Têrêsa Calcutta).
Nt. Anna Ngọc Diệp, OP
Dòng Đa Minh Thánh Tâm
Lược dịch từ: catholicstand.com
