2023
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP KHAI GIẢNG NĂM HỌC 2023 – 2024
ỦY BAN GIÁO DỤC CÔNG GIÁO
trực thuộc
Hội Đồng Giám Mục Việt Nam
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO
NHÂN DỊP KHAI GIẢNG NĂM HỌC 2023 – 2024
Các con thân mến,
Các con đã trải qua một mùa hè với nhiều cảm xúc khác nhau, người thì có những
ngày vui trọn vẹn bên cha mẹ ông bà, người thì có được những chuyến đi giải trí thanh bình.
Dõi theo các con qua những phương tiện truyền thông hàng ngày, cha đã cầu nguyện cho
các con trong những ngày thi tốt nghiệp đầy vất vả, cảm thông với các con trước những âu
lo và hồi hộp nơi các kỳ xét tuyển: Điểm chuẩn loạt trường lớn và mức học phí cụ thể;
Nhiều trường Đại học công bố điểm chuẩn 2023; Điểm chuẩn Đại học 2023 so với năm
ngoái như thế nào?…Giờ đây, những ngày hè đã dần kết thúc, các lo lắng ấy đã qua đi, một
năm học mới sắp bắt đầu. Năm học mới là một hành trình mới: người thì mới trong cảnh
quang của ngôi trường và lớp học, thầy cô và bạn bè mới. Thế nhưng, với người Công giáo
chúng ta, Giáo lý đức tin vẫn mãi là một môn học trường kỳ, Chúa Giêsu vẫn luôn là một
người Thầy quan trọng hơn hết, vì một lý do đơn giản: Người sẽ dạy chúng ta sống an vui
hạnh phúc ở đời này và đời sau. Người Thầy vĩ đại ấy vẫn luôn ngỏ lời với chúng ta rằng:
“Hãy học cùng Ta… Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng” (x. Mt 11, 28-29).
1. Âm vang một sự kiện
Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới tại thành phố Lisbon – Bồ Đào Nha đã kết thúc, các tham
dự viên đã trở về với cuộc sống thường nhật của mình. Tuy nhiên, cha tin rằng: dư âm tốt
lành của sự kiện ấy đã vang xa đến mọi vùng miền của thế giới, đánh thức niềm hy vọng
cho những tâm hồn thành tâm thiện chí luôn thao thức về ý nghĩa cuộc đời mình. Thật vậy,
thế giới hướng về sự kiện này không phải đơn thuần vì nó là một cuộc hội ngộ để giao lưu
văn hóa hay thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của người trẻ mang tầm vóc quốc tế, mà trên
hết và quan trọng hơn cả, đó là một cuộc gặp gỡ đức tin giữa con người và Thiên Chúa, giữa
người trẻ và vị đại diện Chúa Kitô. Chính vì thế mà trọng tâm của cuộc gặp gỡ này sẽ là
những bài phát biểu của Đức Thánh Cha Phanxicô. Theo dõi nhiều bài diễn văn và giảng
thuyết của vị đại diện Chúa Kitô ở sự kiện này, với cá nhân cha, hai chữ “Đừng sợ” như là
một thông điệp lớn mà người muốn nói với tuổi trẻ hôm nay. Bởi đó, viết cho các con lần
này, cha muốn mượn lại thông điệp ngắn gọn ấy để chia sẻ một ít suy nghĩ của mình.
Đến với Lisbon như một người trẻ, Đức Thánh Cha cũng mang trong mình một trăn
trở to lớn như người trẻ, khi phải sống với và trong những thách đố đầy lo lắng: chiến tranh
ở Châu Âu ngày càng trở nên căng thẳng, thế giới miệt mài chống chọi dịch bệnh, đói nghèo
và biến đổi khí hậu, nặng lòng trước những vụ bê bối tình dục trong Giáo hội, một tổ chức
mà những người trẻ đã và đang tin tưởng chọn lựa để tiếp tục thuộc về.
Trong bối cảnh ấy, vào ngày Chúa Nhật 06/8/2023, trước một triệu rưỡi bạn trẻ đang
hiện diện, từ câu chuyện Chúa biến hình, Đức Thánh Cha nhấn mạnh: “Các con thân mến,
chúng ta cũng cần một vài tia sáng để đối mặt với bóng tối của đêm, của những thách thức
của cuộc sống, của những nỗi sợ hãi khiến chúng ta lo lắng. Chúa Phục Sinh sẽ mang lại
cho ta những tia sáng ấy. Người chính là ánh sáng không bao giờ tắt, ngay cả trong đêm
tối”. Cuối cùng, trong niềm xác tín mạnh mẽ, Đức Thánh Cha khẳng định: “Chúa Giêsu
đang nhìn các con, Người biết lòng mỗi người các con, Người biết cuộc đời của mỗi người,
Người biết những niềm vui, Người biết những nỗi buồn, những thành công và thất bại,
Người biết trái tim của các con. Và hôm nay Người nói với các con, tại Lisbon, vào Ngày
Giới trẻ Thế giới này: đừng sợ, đừng sợ, hãy can đảm lên, đừng sợ”.
“Đừng sợ!” cũng là lời nói đầu tiên của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong
Thánh lễ Khai mạc Triều đại Giáo Hoàng của ngài 22 /10 /1978: “Đừng sợ! Hãy mở ra, hãy
mở rộng những cánh cửa cho Chúa Kitô, vì chỉ mình Người biết cái gì ở trong con người,
và chỉ có Người mới biết điều đó…. Vì vậy, hãy cho phép – tôi xin bạn, tôi cầu xin bạn với
sự khiêm nhường và tin tưởng – hãy để Chúa Kitô nói chuyện với con người. Chỉ một mình
Người có lời ban sự sống, vâng, sự sống đời đời”.
2. Hướng về một năm học mới
Từ những lời của Đức Thánh Cha Phanxicô vang lên tại Lisbon, cha ước mong các
con hãy mang lấy thông điệp này như một hành trang cần thiết để bước vào năm học mới.
“Sợ hãi” vốn là một trong những cảm xúc thuộc về bản tính của con người. Trong góc nhìn
nhân bản, nó sẽ là một sự cảnh báo cần thiết, giúp ta chọn lựa những điều hay lẽ phải, tránh
được những điều tệ hại trong cuộc sống. Tuy nhiên, nỗi sợ hãi cũng trở nên một rào cản vô
hình, trói buộc những ước mơ của người trẻ, làm ta trở nên khô khan nghèo nàn trong các
mối tương quan cần thiết. Bởi đó, Chúa Giêsu đã khuyến khích chúng ta đừng sợ, mà nếu có
sợ, thì phải sợ ai (x. Mt 10, 24 – 33). Vậy, trong một ý nghĩa mà Chúa Giêsu đã dạy, với tinh
thần mà Đức Thánh Cha Phanxicô đã mang đến cho người trẻ tại Lisbon, cha cũng lập lại
với các con rằng: các con đừng sợ. Đừng sợ đi ra ngoài, đến với người khác để nói cho họ
biết rằng: Giáo Hội là món quà cho tất cả mọi người. Mỗi người đều có chỗ trong Giáo Hội,
Giáo Hội không dành cho nhóm này hay nhóm kia, nhưng là cho tất cả, trong đó cũng có
chỗ cho những người vấp ngã, sai lầm. Và trên hết là, đừng sợ đến với Chúa Giêsu và học
với Người, bởi vì Chúa là nguồn ánh sáng cho đời sống con người (x. Ga 9, 5).
Nếu trong cuộc sống đời thường, không ai phủ nhận được vai trò của ánh sáng, thì
trong đời sống đức tin của chúng ta, sự vắng bóng Chúa Giêsu sẽ là trở thành một sự tăm tối
vô biên (x. Ga 8, 12). Ông Si-mê-ôn được Chúa Thánh Thần soi sáng và hướng dẫn, khi ẵm
Hài Nhi Giêsu trên tay, đã công bố cho mọi người biết rằng: “Đó là ánh sáng soi đường cho
dân ngoại” (Lc 2, 32). Với lời tuyên bố này, ta hiểu rằng: từ nay về sau tất cả mọi người sẽ
được hướng dẫn bởi ánh sáng của Chúa Kitô. Ánh sáng của Ngài là ánh sáng chân chính soi
sáng mọi người chúng ta. Đó cũng là lý do mà Đức Thánh Cha Phanxicô khuyến khích mọi
người hãy cầm quyển Thánh Kinh lên mà đọc.
3. Lời cầu chúc nhân ngày khai giảng
Các con thân mến, ngày 05.9 tới đây, các con sẽ cùng với hàng triệu bạn bè trong cả
nước, đồng loạt nghe tiếng trống của ngày khai trường vang lên. Cha cầu chúc chúng con
một năm học mới mang nhiều kết quả tốt về mọi phương diện của cuộc sống. Và rồi theo ý
tưởng của Đức Phanxicô vị đại diện Chúa Kitô: Các con chính là tương lai của Giáo hội và
Xã hội. Các con cũng chính là những con người của hiện tại. Tương lai của các con sẽ
chẳng có gì nếu không bắt đầu từ hiện tại này. Vậy, để phát triển toàn diện con người và đạt
đến cùng đích sau cùng của người Kitô hữu, cùng lúc với việc trao dồi kiến thức trên ghế
nhà trường, thì các con đừng quên và đừng sợ thăng tiến đức tin qua việc học tập nơi Chúa
Giêsu, Chúa chúng ta. Đó cũng là lời nhắn nhủ và khen ngợi của vị Tông đồ Phaolô nhiệt
thành dành cho người học trò Timôthêô của mình: “Từ thời thơ ấu, anh đã biết Sách Thánh,
sách có thể dạy anh nên người khôn ngoan để được ơn cứu độ, nhờ lòng tin vào Đức Ki-tô
Giêsu” (2 Tm 3, 15).
Mến chào tất cả các con trong năm học mới 2023 – 2024.
Thân ái trong Chúa Kitô.
Vĩnh Long, ngày 31 tháng 8 năm 2023.
+ Phêrô Huỳnh Văn Hai
Giám mục Giáo Phận Vĩnh Long
Chủ tịch Ủy Ban Giáo Dục Công Giáo

2023
Năm bước hướng tới sự chữa lành tâm linh
Năm bước hướng tới sự chữa lành tâm linh
Dựa trên hành trình hướng tới sự chữa lành của chính mình, sau đây là 5 bước đã giúp tôi tìm thấy sự tự do và bình an nội tâm thực sự.

Trong phận người yếu đuối, sau khi phạm sai lầm, nhiều khi chúng ta mang nơi mình những vết thương tâm lý và tâm linh gây ảnh hưởng đến động cơ, phản ứng của chính chúng ta đối với hành vi của người khác. Thậm chí, đôi khi vì những lý do sâu xa hơn, những lỗi phạm này cũng có thể khiến chúng ta sợ hãi hoặc tránh né một số điều nào đó. Khi còn học cấp hai, tôi đã tò mò tìm hiểu về những điều huyền bí. Cha mẹ tôi đã cảnh báo tôi trước khi tôi tỏ vẻ quan tâm đến bảng Ouija (Cầu cơ), và nói rằng đó là một thứ rất tệ hại, tôi cần phải tránh xa. Dù thế, trong một lần đến chơi nhà người bạn, tôi thấy có mấy người ở đó đang chơi với bảng Ouija. Và rồi, vì tò mò, tôi cũng tham gia vào với họ.
Sau đó, tôi thấy mình như rơi vào trạng thái rất sợ hãi mà tôi chưa từng trải nghiệm trước đây, kể cả cảm giác tội lỗi len lỏi vào lòng. Nhận ra những gì mình đã làm là sai, nên tôi đã kể lại sự việc với bố mẹ, và cha mẹ tôi đã đưa tôi đến với tòa giải tội.
Nhiều năm trôi qua, tôi tin rằng việc xưng tội của mình là đủ để xóa bỏ những hậu quả còn sót lại của những gì tôi đã làm hôm ấy, nhưng tôi vẫn bị ám ảnh bởi một gánh nặng vô hình và nỗi sợ hãi hầu như khiến đời sống tâm linh của tôi bị tê liệt. Gần đây, tôi biết được việc chữa lành là một tiến trình phức tạp, đôi khi kéo dài nhiều năm, và trong nhiều trường hợp, thậm chí cả đời.
Dựa trên hành trình hướng tới sự chữa lành của chính mình, sau đây là 5 bước đã giúp tôi tìm thấy sự tự do và bình an nội tâm thực sự.
1. Sám hối
Sự chữa lành không thể xảy ra với một con tim khép kín hoặc chai đá. Khi bị tổn thương, phản ứng tự nhiên là chúng ta dễ khép mình khỏi việc đón nhận tình yêu hoặc chấp nhận rủi ro khi yêu thương người khác. Chúng ta sợ bị phản bội hoặc bị từ chối. Nhưng nếu thực sự mong muốn được chữa lành nội tâm sâu xa, chúng ta cần cầu nguyện để có được tâm hồn ngoan nguỳ.
Sự ngoan nguỳ là một phúc lành bao gồm sự nhạy cảm, cởi mở, và dịu dàng. Ngoan nguỳ hoàn toàn trái ngược với cứng lòng. Khi tâm hồn lắng đọng, chúng ta sẽ nhận thấy một ước muốn chân thành muốn cải thiện để sống cuộc đời tốt lành hơn. Một khi biết mở lòng và khiêm tốn sám hối, thì cũng có nghĩa là chúng ta đang bước đi trên hành trình của sự chữa lành.
2. Từ bỏ
Từ bỏ nghĩa là chúng ta dốc tâm cự tuyệt tội lỗi. Sau khi chơi bảng Ouija hôm đó, tôi không bao giờ chạm vào nó một lần nào nữa. Tôi xa lánh tất cả các hình thức của sự huyền bí, bởi vì tôi biết nó nguy hiểm như thế nào đối với tâm hồn tôi và nó khiến xúc phạm đến Thiên Chúa ra sao. Khi từ bỏ một điều gì sai phạm mà chúng ta đã làm, là chúng ta đang cho thấy rằng mình hoàn toàn biết điều đó là sai và quyết tâm tránh tái phạm điều đó trong tương lai.
Khi từ bỏ tội lỗi, chúng ta củng cố ý chí của mình và có thêm khả năng hợp tác với ơn thánh hơn trong những lúc bị cám dỗ.
3. Hòa giải
Bí tích Sám hối và Hòa giải là điều thiết yếu để chữa lành thương tổn của chúng ta. Ân sủng mà chúng ta nhận được qua hành động khiêm tốn tự hạ này mang lại cho chúng ta sự minh bạch, sáng suốt, và khôn ngoan để có thể nhận ra những yếu đuối và thiếu sót của mình tốt hơn. Nếu năng đến với Bí tích hoà giải (khoảng một tháng/lần chẳng hạn), tâm hồn chúng ta sẽ cảm nhận sự bình an, bớt đi cảm giác sợ hãi Thiên Chúa và muốn né tránh người khác để dễ trao tặng tình yêu cách vô điều kiện hơn.
Sự sám hối thực sự là nền tảng cho hành trình hướng tới sự chữa lành của chúng ta. Đặc biệt, khi kết hợp việc lãnh nhận Bí tích Hoà giải và Bí tích Thánh Thể, vốn được xem là những Bí tích chữa lành, chúng ta được củng cố, hàn gắn những gì đã bị phá vỡ trong tâm hồn, và được dẫn vào một lối sống của lòng can đảm và niềm hy vọng.
4. Đền tội
Chỉ nói những từ “Tôi xin lỗi” hoặc “Những gì tôi đã làm là sai” và sau đó tiếp tục cuộc sống của mình là chưa đủ. Dấu vết của tội lỗi đôi khi đọng lại trong tâm hồn và gây thêm đau đớn nếu chúng ta không nỗ lực một cách ý thức để đền bù tội lỗi của mình.
Điều này có nghĩa là gì? Không phải là Thiên Chúa ngăn cản ân sủng hoặc tình yêu của Ngài đối với chúng ta trừ phi chúng ta cố tình làm điều đó đối với Ngài. Đền tội là vì lợi ích của chúng ta. Đó là chúng ta tự nguyện chọn để thực hiện sự hy sinh hoặc hãm mình vì lòng yêu mến Chúa cách chân thành. Việc đền tội là một cách thế chúng ta chứng tỏ qua hành động rằng chúng ta hết sức hối hận về tội lỗi của mình.
Về phần mình, tôi đã quyết tâm đọc Kinh Chuỗi Máu Châu Báu Chúa Giêsu vào mỗi Thứ Sáu với ý hướng đền bù cho tội lỗi của tôi. Đây cũng là cách thế để tôi suy niệm về những mầu nhiệm tình yêu của Chúa Kitô dành cho tôi, đồng thời dành thêm thời gian trong ngày để bày tỏ tình yêu tôi dành cho Người.
5. Phục hồi
Cuối cùng, Thiên Chúa muốn chúng ta được phục hồi hoàn toàn về tình trạng trọn vẹn. Chúng ta càng mở lòng để cho Thiên Chúa chữa lành những vết thương và lấp đầy lỗ hổng trong tâm hồn chúng ta, thì cuộc sống của chúng ta càng phản chiếu hình ảnh của Ngài; và khi càng kết hợp mật thiết với Thiên Chúa, chúng ta càng lớn lên trong sự thánh thiện. Sự phục hồi là tiến trình qua đó Thiên Chúa cắt tỉa và thanh luyện chúng ta, đôi khi điều này gây đau đớn trước khi được chữa lành, và sự đau đớn là do hành vi tiêu cực và những tật xấu đã ăn sâu nơi chúng ta gây ra.
Sự cắt tỉa đôi khi tạo cảm giác giống như là một hình phạt, nhưng thực ra, đó là cách thế đầy lòng thương xót của một người Cha, Đấng luôn mong muốn khôi phục lại vẻ đẹp ban đầu cho chúng ta. Chúng ta phải cho phép mình có thời gian và không gian để Thiên Chúa làm mới tâm hồn và cuộc sống của chúng ta theo cách mà Ngài biết là cần thiết để sự phục hồi đó xảy ra. Để rồi, chúng ta lại trở thành kiệt tác mà Thiên Chúa muốn chúng ta trở thành.
***
Trên hành trình cuộc đời, ai trong chúng ta cũng nhận ra rằng sự bất toàn gắn liền với số phận của con người. Nhưng, khác ở chỗ là sau những vấp ngã, sai phạm, chúng ta chọn cách hành xử với chính mình, với người khác, và với Thiên Chúa như thế nào. Xin cho chúng ta biết ngoan nguỳ trước tình yêu tha thứ và ân sủng chữa lành của Thiên Chúa, vì biết rằng, giống như trải nghiệm của Thánh Augustinô: Chúa dựng nên con, không cần có con, nhưng Chúa chẳng thể cứu chữa con, nếu không có sự đồng ý của con!
Nt. Anna Ngọc Diệp, OP
Dòng Đa Minh Thánh Tâm
Chuyển ngữ từ: catholicdigest.com
2023
Chân dung Linh mục
Chân dung Linh mục
Theo cái nhìn truyền thống dựa trên các năng quyền thì linh mục là người đã lãnh nhận chức tư tế thừa tác, được trao ban các năng quyền như quyền hiến thánh…

Có thể nói một trong các thành phần của Giáo hội được khen chê nhiều nhất đó là linh mục. Các tiếng khen chê ấy lại nhiều hơn khi Giáo hội mở Thượng Hội Đồng “Hiệp Hành”. Qua một vài sự cố “lạm dụng” mà báo chí Âu Mỹ làm rùm beng, nhiều linh mục phân trần cách dí dỏm rằng linh mục, cách riêng linh mục triều là kiếp trên đe dưới búa. Cũng có thể là thế, tuy nhiên cần chân nhận với nhau sự thật này: khi yêu ai, kính trọng ai nhiều thì người ta đòi hỏi kẻ ấy nhiều. Do đó, việc các linh mục cần phản tỉnh, trở về với căn tính của mình hầu sống “chính danh, chính phận” là một đòi hỏi như là tất yếu.
Theo cái nhìn truyền thống dựa trên các năng quyền thì linh mục là người đã lãnh nhận chức tư tế thừa tác, được trao ban các năng quyền như quyền hiến thánh, quyền hiến dâng Mình và Máu Thánh Chúa Kitô trong Thánh Lễ, quyền tha các tội đã phạm sau khi được rửa tội qua bí tích Hòa giải và bí tích Xức Dầu (J. A. Hardon). Theo giáo huấn Công đồng Vaticanô II, thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II trong Tông huấn Pastores Dabo Vobis nhấn mạnh linh mục là Kitô hữu đã lãnh nhận chức tư tế thừa tác để nên đồng hình đồng dạng với Kitô trong tư cách là thủ lãnh và là mục tử (x.GH số 28).
1. Là người lãnh đạo và là người thầy: Chúa Giêsu đã từng khẳng định rõ ràng: “Anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời, chỉ có một Thầy và một vị lãnh đạo là Đức Kitô” (x.Mt 23,8-10). Dưới ánh sáng đức tin, nếu xét Cha là cội nguồn của mọi hiện hữu và mọi điều thiện hảo thì chỉ có một Cha là Đức Chúa Trời Ngôi thứ Nhất. Nếu xét người thầy như là người truyền giảng chân lý không hề sai lầm thì duy chỉ có Chúa Kitô mới thực là thầy. Và nếu xét người lãnh đạo là người dẫn dắt tha nhân không hề lầm đường, lạc lối thì cũng chỉ một mình Đức Kitô mới thực là người lãnh đạo. Các mục tử trong giáo hội dù vai cao vị trọng, dù được gọi là cha hay đức cha, dù được phong làm thầy dạy chân lý, dù được gọi là lãnh đạo tối cao một giáo phận hay cả thế giới thì cũng chỉ là những người được thông phần vào phụ tử tính của Cha trên trời, thông phần vào vai vị làm thầy, làm người lãnh đạo của Chúa Kitô. Vì được thông phần nên có đó sự hạn chế, sự bất cập vốn là lẽ tất nhiên.
Vai trò làm thầy và phận vụ lãnh đạo của Đức Kitô là hướng dẫn nhân loại nhận biết chân lý, thúc giục con người tìm kiếm, đón nhận chân lý để được cứu độ. Chúa Kitô đến thế gian này là để làm chứng cho sự thật, ai hâm mộ sự thật thì đi theo Người (x.Ga 18,37). Khi đứng đầu trong một tập thể là giáo xứ hay một cộng đoàn, các linh mục phải biết tổ chức các sinh hoạt, đề ra đường lối hoạt động, để gìn giữ và làm phát triển tập thể được giao phó. Việc tổ chức các đoàn thể, lập ra các ban bệ, việc đề ra các chương trình sinh hoạt… đúng là cần thiết. Tuy nhiên những hình thái tổ chức, sinh hoạt ấy không phải là điểm đến của linh mục trong vai trò lãnh đạo và là người thầy. Mục tiêu hàng đầu và không thể thiếu của linh mục khi lãnh đạo đoàn chiên đó là giúp đoàn chiên nhận biết chân lý, ái mộ chân lý và đón nhận chân lý bằng mọi giá để được cứu độ. Như thế trọng tâm của vai trò linh mục là giúp đoàn chiên biết phân biệt các giá trị, không chỉ biết phân biệt điều tốt với điều xấu mà còn phải biết phân biệt giữa điều tốt ít với điều tốt hơn, theo bậc thang giá trị để rồi biết vượt qua cả những điều tốt hữu hạn mà chọn lấy điều tốt nhất.
Để có được khả năng này thì ngoài sự học hỏi tìm tòi nghiên cứu, người linh mục không thể thiếu một điều căn bản đó là cầu nguyện. Chúa Kitô đã nêu gương cho chúng ta ở việc này. Tin Mừng tường thuật rằng Người thường xuyên lên núi hay vào nơi vắng vẻ để cầu nguyện cùng Chúa Cha (x.Mc 1,35). Để có thể lãnh đạo dân thoát ra khỏi cảnh nô lệ mà vào đất hứa, nhất là để huấn luyện dân trở thành một dân tuyển lựa thì Môsê ngày ngày vào Trướng Tao Phùng để hội ngộ, đàm đạo cùng Thiên Chúa (x.Xh 32,7-11).
Một trong những nghệ thuật lãnh đạo đó là không bao giờ làm một mình mà biết sử dụng nhân sự, biết dùng người đúng việc, hợp khả năng. Dù là Con Thiên Chúa, là Đấng mà không có sự gì là không thể, Chúa Giêsu đã chọn gọi mười hai tông đồ và thêm bảy mười hai môn đệ để công tác với Người trong việc loan báo tin mừng. Môsê sau khi được nhạc gia hiến kế “đã chọn trong toàn dân những người có tài và đặt họ làm đầu dân, điều khiển một ngàn hay một trăm, năm mươi hay mười người…” (x. Xh 18,13-27).
Một vấn đề đặt ra cho người lãnh đạo là chọn người cho việc hay chọn việc cho người? Đây là một câu hỏi khiến chúng ta liên tưởng đến tình trạng bố trí nhân sự trong nhiều tổ chức xã hội, nhất là trong xã hội Việt Nam chúng ta một thời gian đã qua và có thể còn tồn tại trong hiện nay. Đã có lúc, có thời người ta tìm việc cho nhân sự để giải bài toán nhân sự của mình. Như thế vô tình người ta xem nhẹ ích lợi của quần chúng nhân dân. Chính vì thế mà đã có nhiều trường hợp, có người thú nhận công khai rằng tôi không có khả năng, nhưng vì do tổ chức phân công, nên chuyện sai sót là do khách quan, do cơ chế… Trái lại, một nhà lãnh đạo có tâm có lòng thì luôn lấy đại sự làm trọng, lấy lợi ích của quần chúng nhân dân làm mục tiêu phục vụ. Và như thế người lãnh đạo công tâm sẽ luôn tìm người cho việc chứ không ngược lại.
Một phẩm tính nữa của người lãnh đạo chân chính đó là luôn liên đới trách nhiệm với cộng sự viên, luôn biết cảm thông và đồng phận với những người mình chăm nom, hướng dẫn. Cung cách hành xử của ông Môsê cho ta hiểu thế nào là liên đới với số phận của đoàn dân mình lãnh đạo. Nhiều khi Thiên Chúa đã như hết kiên nhẫn trước sự phản phúc của dân mà Người đã ưu ái tuyển lựa, dẫn dắt ra khỏi ách nô lệ Ai Cập. Đói một chút họ cũng la toáng, khát một tí họ cũng phản loạn, chán chê mùi vị Manna lại nhớ đến củ hành củ tỏi của thời nô lệ đến nỗi không muốn sống đời tự do mà phải vất vả, thà làm nô lệ mà có cái ăn… Thiên Chúa đã từng đe dọa tiêu diệt họ và cho Môsê trở thành tổ phụ một dân tộc thay thế. Môsê đã hoàn toàn đứng về phía dân để cầu xin Chúa tha thứ. Có lần ông đã như “chơi khăm” Thiên Chúa để mong Người thu hồi cơn giận: “Lạy Chúa là Đức Chúa, xin đừng hủy diệt dân Ngài, cơ nghiệp Ngài đã dùng sức mạnh lớn lao của Ngài để giải thoát, và đã ra tay uy quyền đưa ra khỏi Ai Cập. Xin nhớ đến các tôi tớ Ngài là ông Abraham, ông Isaác và ông Giacóp, xin đừng để ý đến sự ngoan cố, sự gian ác và tội của dân này, kẻo tại miền đất từ đó Ngài đã đưa chúng con ra, người ta lại nói: Chính vì Đức Chúa đã không thể đưa chúng vào đất Người đã thề hứa với chúng, và chính vì ghét chúng mà Người đã đưa chúng ra để giết chúng trong sa mạc!” (Đnl 9,26-28).
Sự liên đới trách nhiệm của Đấng là Môsê mới, Giêsu Kitô, đã được bốn tin mừng minh chứng cách rõ nét. Chọn gọi môn đệ xong, Chúa Giêsu huấn luyện họ đủ đầy các phương diện. Những lần sai đi thực tập truyền giáo thì không thiếu những lời căn dặn thiết yếu cùng việc trao ban quyền năng trên các thần ô uế và bệnh tật. Khi đã đến giờ phải bỏ thế gian mà về cùng Chúa Cha, Người khẩn khoản nài xin Cha gìn giữ những kẻ mà Cha đã ban cho Người (x.Ga 17,9-19). Trước đám đông quân lính tìm bắt Người tại vườn cây dầu, Người đã tìm cách che chở môn sinh cho đến cùng (x.Ga 18,8).
Chúa Giêsu không chỉ liên đới với các môn đệ mà còn với mọi người, với cả những người vì ganh tương đố kỵ mà loại bỏ Người. Vốn sang giàu, Người đã tự nguyện nên nghèo hèn để chúng ta được nên sang giàu (x.2Cor 8,9-12). Vốn vô tội, Người đã tự nguyện mang kiếp tội nhân để chúng ta được thứ tha. Ngay phút giây hấp hối trên thập giá, Người cũng không quên nài xin chúa Cha tha tội cho những kẻ giết Người (x.Lc 23,34).
2. Là vị mục tử nhân lành và là con chiên ngoan hiền: Hình ảnh vị mục tử nhân lành được minh họa nhiều trong Thánh Kinh và Kitô hữu chúng ta vốn đã rất thân quen. Dưới cái nhìn của Thánh Kinh, đặc biệt qua sách ngôn sứ Êdêkien và Tin mừng Thánh Gioan chúng ta cùng phác họa đôi nét về chân dung vị mục tử nhân lành.
– Sự hiện hữu của vị mục từ là vì đàn chiên và cho đàn chiên. Trước hết chúng ta cần khẳng định chân lý này: Sẽ không có mục tử nếu không có đàn chiên. Không có chiên thì cũng chẳng cần có sự hiện hữu của mục tử. Mục tử chỉ là mình trong tương quan với chiên. Bí tích truyền chức thánh là bí tích mang tính cộng đoàn, nghĩa là vì cộng đoàn, cho cộng đoàn. Sẽ không còn ý nghĩa hay sẽ là một dấu phản chứng khi mục tử chỉ biết sống cho mình. Ngôn sứ Êdêkien đã nói thay Thiên Chúa những lời chúc dữ: “Khốn cho các mục tử Israel, những kẻ chỉ biết lo cho mình! Nào mục tử không phải chăn dắt đàn chiên sao? Sữa các ngươi uống, len các ngươi mặc, chiên béo tốt thì các ngươi giết, còn đàn chiên lại không lo chăn dắt. Chiên đau yếu, các ngươi không làm cho mạnh; chiên bệnh tật, các ngươi không chữa cho lành; chiên bị thương, các ngươi không băng bó; chiên đi lạc, các ngươi không đưa về; chiên bị mất, các ngươi không chịu đi tìm. Các ngươi thống trị chúng một cách tàn bạo và hà khắc. Chiên của Ta tán loạn… Ta lấy mạng sống Ta mà thề… Ta chống lại các mục tử. Ta sẽ đòi lại chiên của Ta…” (Ed 34).
– Mục tử nhân lành là người biết chiên: Cái “biết” theo nghĩa Thánh Kinh đó là một sự gắn bó, đồng thân, đồng phận như trong nghĩa tình phu thê (x.St 4,1; 25). Khi đã có cái sự “biết” như thế giữa mục tử và đàn chiên thì mục tử sẽ luôn đi trước đàn chiên để dẫn chiên đến dòng suối mát, đến đồng cỏ xanh tươi, đồng thời đi trước đàn chiên để bảo vệ chiên khỏi nanh vuốt của sói dữ, thậm chí sẵn sàng hy sinh mạng sống vì chiên, chứ không bỏ chạy lấy thân như kẻ chăn thuê (x.Ga 10,1-18).
Là kẻ trộm, kẻ cướp trong vai vị mục tử thì xem ra rất họa hiếm. Tuy nhiên trong thực tiễn có đó sự nhập nhằng đen trắng giữa hình ảnh mục tử và người chăn thuê. Người chăn thuê vẫn đường đường chính qua cửa ràn chiên tức là được lãnh nhận thánh chức cách hữu hiệu và hợp pháp. Không khác gì mục tử, người chăn thuê vẫn biết chiên và dẫn chiên đến đồng cỏ xanh và nguồn nước trong lành nghĩa là vẫn chu toàn bổn phận rao giảng Lời Chúa và cử hành các bí tích cũng như chăm sóc mục vụ. Tuy nhiên xin đừng quên rằng đã là chăn thuê thì luôn đặt lợi nhuận của mình lên trên thiện ích của đàn chiên, trái lại đã là mục tử thì luôn lấy sự sống và hạnh phúc của đàn chiên làm mục tiêu hàng đầu. Người làm thuê thì thường làm hết giờ hơn là hết việc và có khi làm hết việc nhưng chưa hẳn đã hết tình. Trái lại người mục tử vẫn có nhiều khi làm không hết việc, có một đôi khi làm không được việc nhưng đã làm thì luôn làm với cả tấm lòng vì đàn chiên. Đã là làm thuê thì ít có ai muốn dài tay, tuy nhiên đã là mục tử thì không chỉ chăm lo chiên trong đàn mà còn biết nghĩ đến chiên ngoài đàn. Một hiện thực mà Chúa Giêsu đã từng nói đó là kẻ chăn thuê thì không hề có trong tâm trí chuyện hy sinh mạng sống vì đàn chiên mà đây là một tiêu chí không thể thiếu để thẩm định mục tử chính danh. Thời gian dịch bệnh Côvid 19, tạ ơn Chúa về tấm gương sáng của nhiều tu sĩ nam nữ và linh mục tình nguyện xả thân vì đồng loại. Tuy nhiên cũng có đó không ít hình ảnh không được sáng đó đây mà nói theo ngôn ngữ bình dân là vì “quá sợ chết” mà đóng quá chặt các cánh cửa…
Biện chứng mục tử – chiên: Để là một mục tử nhân lành thì cần phải là một con chiên ngoan hiền, thanh sạch và ngược lại. Chúng ta nhận ra cái biện chứng này nơi cuộc đời Chúa Giêsu. Chắc hẳn không một ai phủ nhận sự thật là Chúa Giêsu đã vuông tròn trong vai trò mục tử nhân hậu. Chính Người đã khẳng định sự thật này cách công khai: Tôi là mục tử tốt lành…” (Ga 10,11). Để chu toàn phận vụ mục tử tốt lành thì Chúa Giêsu đã sống trọn hảo thân phận Con Chiên Thiên Chúa, con chiên tinh tuyền xóa tội trần gian (x.Ga 1,29). Thánh Giám Mục Âugustinô đã có câu nói thời danh: “cho anh em, tôi là giám mục (mục tử), cùng với anh em, tôi là tín hữu (con chiên).
Quả thật không ít vị khi đã lãnh nhận thiên chức linh mục thì vô tình quên bẵng đi sự thật là mình vẫn là một tín hữu và như thế vô tình hay hữu ý, không lưu tâm gì đến tâm tư, nguyện vọng của đàn chiên. Câu chuyện một linh mục sau khi qua đời, phải đền tội ở luyện ngục với hình thức là phải nghe lại tất cả các bài giảng của mình, là một minh họa. Lạm dụng bài giảng hình như đang dần được xem không chỉ là tệ nạn mà là một loại hình tội phạm. Ngoại trừ các cha dòng sống tập thể và các cha trong Chủng viện, các cha triều ở ngoài xứ rất ít có dịp nghe các cha khác giảng lễ, trừ một vài lễ đồng tế trong các dịp lễ đặc biệt. Và hình như các ngài rất hiếm khi tham dự Thánh Lễ trong tư cách một tín hữu bình thường (ở hàng ghế giáo dân).
Để sống cái biện chứng mục tử -chiên , thiết nghĩ rằng các linh mục hãy ghi nhớ lời khuyên bảo của Giám mục cho các ứng viên trong lễ phong chức linh mục: “Anh em hãy tin điều anh em đọc, dạy điều anh em tin và thực thi điều anh em dạy”. Có thể nói rằng hầu hết các linh mục đều dâng Thánh Lễ mỗi ngày theo lời khuyên dạy của giáo hội (GL Đ.904), và đại đa số đều có giảng lễ. Thật tuyệt vời nếu các linh mục đều sống, thực hành trước một điều gì đó trong nội dung những gì mình giảng dạy. Vị mục tử nhân lành và là Con chiên tinh tuyền, Giêsu Kitô là mẫu gương cho chúng ta điều này. “Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13,15).
Trên bờ hồ Tibêria, trước khi trao phó tất cả chiên mẹ lẫn chiên con cho Phêrô, Chúa Phục Sinh dù đã thoáng nhắc khéo vị tông đồ về sự yếu đuối của ngài, nhưng Chúa không hề khiển trách mà chỉ nhấn mạnh đến lòng mến của vị Tông đồ cả (x.Ga 21,15-19). Cảm cho mình thì sẽ biết nghĩ đến người. Thánh Phêrô đã có những lời khuyên nhủ hữu lý, đạt tình với các mục tử: “Anh em hãy chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa đã giao phó cho anh em: lo lắng cho họ không phải vì miễn cưỡng, nhưng hoàn toàn tự nguyện như Thiên Chúa muốn, không phải vì ham hố lợi lộc thấp hèn, nhưng vì lòng nhiệt thành tận tụy. Đừng lấy quyền mà thống trị những người mà Thiên Chúa đã giao phó cho anh em, nhưng hãy nêu gương sáng cho đoàn chiên. Như thế, khi vị Mục Tử tối cao xuất hiện, anh em sẽ lãnh được triều thiên vinh hiển không bao giờ hư nát” (1P 5, 2-4).
Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa
2023
Kinh nghiệm về Thiên Chúa hay chỉ là gặp gỡ chính mình?
Kinh nghiệm về Thiên Chúa hay chỉ là gặp gỡ chính mình?
Giới thiệu
Chúng ta tạm dừng “Những suy nghĩ tản mạn về đời sống và tác vụ linh mục”. Vào dịp thuận tiện, chúng ta sẽ quay trở lại. Ở đây, xin giới thiệu bài của cha Anselm Grun về sự phân định giữa kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa và sự gặp gỡ chính mình được phản chiếu qua hình ảnh Thiên Chúa mà ta tưởng là đã gặp. Sự phân định này rất cần cho đời sống thiêng liêng và hoạt động tông đồ của mọi người, đặc biệt là các linh mục trong các hoạt động mục vụ.

KINH NGHIỆM VỀ THIÊN CHÚA
HAY CHỈ LÀ GẶP GỠ CHÍNH MÌNH?[1]
Chúng ta chỉ có thể có kinh nghiệm về Thiên Chúa trong lòng thế giới chúng ta đang sống. Thần học nói rằng, chúng ta chỉ gặp Người trong nội tại, chứ không bao giờ trong tính siêu việt tuyệt đối của Người. Vì thế, khi chúng ta trải qua một kinh nghiệm về Thiên Chúa, thì kinh nghiệm đó luôn bao gồm sự trộn lẫn giữa những hình ảnh, những khát vọng, những ước mơ, những ham muốn, những biểu thị của chúng ta về Thiên Chúa và thực tại siêu việt của Người. Chúng ta có thể tự hỏi cái mà chúng ta gọi là kinh nghiệm về Thiên Chúa đơn giản không phải là những gì của riêng chúng ta được phản chiếu lên Người sao. Tuy nhiên, vẫn có một kinh nghiệm đích thực về Thiên Chúa, trong đó, chính Người nói với chúng ta, trong đó, sự hiện diện của Người hiển nhiên đối với chúng ta, trong đó, tự đáy sâu tâm hồn, chúng ta biết rằng, chúng ta gặp gỡ chính Thiên Chúa.
Ngôn sứ Êlia, một bài học về sự gặp gỡ Thiên Chúa đích thực
Kinh nghiệm của Êlia ở núi Horeb là một ví dụ tuyệt vời về sự hoà trộn chặt chẽ giữa một kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa với cấu trúc tâm lý của con người.
Khi lửa từ trời xuống thiêu cháy của lễ hi sinh, Êlia đã cho bắt giữ và giết chết 450 thầy sãi Baal. Đó có phải là ý Chúa không? Hay chỉ là tính hung hăng của ông phản chiếu qua ý Chúa? Ai cũng nghĩ rằng sau chiến thắng oai hùng đó, Êlia đạt tới đỉnh cao của thành công và vinh quang. Nhưng điều hoàn toàn trái ngược lại xảy đến. Ông lâm vào hoàn cảnh thất vọng, tinh thần xuống dốc. Ông đã lẫn lộn giữa ý Chúa và ý riêng. Chẳng mấy chốc, ông hiểu rằng mình đã sai lầm, đã lạc hướng. Ông cảm thấy mình bị Thiên Chúa bỏ rơi, mặc kệ sống chết của ông. Ông không thể có một suy nghĩ, một cái nhìn tích cực về Chúa nữa: “Bây giờ, thì quá đủ rồi, Chúa ơi! Xin cho con chết cho rồi vì con không hơn gì cha ông của con”. (1 V 19,4). Chúa lại dạy bảo ông, cho ông biết thế nào là gặp gỡ Thiên Chúa cách đích thực. Ngài cho thiên thần đến giúp ông mạnh sức để đi đến núi của Chúa là Horeb. Đó là nơi ông sẽ gặp gỡ Ngài.
1. Trước hết, một cơn bão mạnh, xẻ núi non ập tới, nhưng Chúa không ở trong cơn bão (1 V 19,10)
Cơn bão tượng trưng cho lòng nhiệt thành. Thiên Chúa có thể hoàn toàn chiếm hữu một người và làm bùng phát nơi người đó một trận bão của nhiệt tâm. Nhưng nếu người đó lẫn lộn Chúa với những cảm xúc của mình thì chẳng bao lâu, sẽ nhận ra rằng Ngài đã không còn ở với mình nữa, mà đã rời đi nơi khác. Khi đồng hoá Chúa với những cảm xúc của mình, chúng ta đã sử dụng Chúa như một thứ thuốc phiện để tôn mình lên trên hết mọi sự. Khi đó, chúng ta không thực sự gặp gỡ Chúa mà là gặp lại chính những cảm xúc, những ảo tưởng của chúng ta. Hậu quả là chúng ta vẫn khép kín vào chính mình.
Những biểu thị Êlia có về Thiên Chúa không phải là sai lạc, chúng vẫn là thành phần của sự thật, nhưng chúng chỉ đơn phương, một chiều; và khi chúng ta gắn chặt Thiên Chúa vào một hình ảnh nào đó mà thôi, hình ảnh đó luôn đáng sợ[2].
2. Sau cơn bão là một trận động đất, nhưng Chúa không ở trong trận động đất (1 V19, 11)
Trận động đất tượng trưng cho việc coi Chúa là một thầy ma thuật, có thể làm được mọi sự. Chỉ cần tin tưởng vững chắc vào Thiên Chúa, thế là có thể chiến thắng mọi định luật tự nhiên. Ngài sẽ chữa lành mọi chứng bệnh nan y. Sức mạnh của Thần Khí Ngài sẽ lay chuyển mọi tâm hồn, giúp họ thây đổi hoàn toàn như một trận động đất biến đổi tất cả.
Sau khi tham dự một lễ nghi tôn giáo, một tuần tĩnh tâm đặc biệt cách hết sức tích cực, sống động, bỗng ta thấy mình hoàn toàn thay đổi, thoát khỏi sự lệ thuộc vào rượu chè hay cờ bạc… Ta coi đây là phép lạ Chúa làm. Nhưng có thực đúng như vậy không? Vì đôi khi sự lệ thuộc này lại được thay thế bởi một sự lệ thuộc khác. Ví dụ, một người được giải thoát khỏi tật nghiện rượu; từ đó trở đi, anh hết sức tin tưởng vào Chúa. Anh siêng năng tham dự hết lễ nghi ngày đến lễ nghi khác, và nuôi dưỡng ý định hoán cải mọi người xung quanh để họ biết “trận động đất” mà Chúa đã thực hiện nơi anh.
Người này không biết rằng minh chỉ đang đi tìm quyền lực, sự nhìn nhận và uy tín, được phản chiếu qua Thiên Chúa mà anh cho rằng mình đã gặp gỡ, chứ không phải là một kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa đích thực; vì Chúa không ở trong “trận động đất” của sự hoán cải dữ dội nơi anh; và dù anh không ngừng nói về Chúa, thì Chúa cũng không ở trong dòng chảy của những lời từ miệng anh tuôn ra.
3. Sau trận động đất là lửa. Chúa cũng không ở trong lửa
Lửa là một biểu tượng rất phong phú. Lửa có thể tượng trưng cho đam mê, cho tình dục và cho bản năng. Trong khi nước vọt lên từ mặt đất thì lửa lại từ trời rơi xuống. Lửa có thể tượng trưng cho cơn giận của Thiên Chúa khi thiêu huỷ hai thành tràn ngập tội lỗi là Sôđôma và Gômôra.
Lửa cũng có thể tượng trưng cho tình yêu của Thiên Chúa. Tình yêu ấy thiêu huỷ hết những tội lỗi, những yếu đuối, những dơ nhớp trong tâm hồn chúng ta, biến đổi chúng ta thành một người hoàn hảo.
Có những người nghĩ rằng một khi đã gặp gỡ Chúa, tự khắc Ngài sẽ loại bỏ mọi khía cạnh tối tăm nơi mình. Điều đó không đúng. Chúng ta phải biết rằng là người phàm, chúng ta luôn có những thiếu sót và yếu đuối. Hình ảnh bụi gai ông Môsê gặp cho chúng ta thấy rõ điều đó. Bụi gai bốc cháy mà lửa không làm cho nó bị thiêu rụi. Nó vẫn khô khốc, với những cành trơ trụi, vô giá trị. Bụi gai đó là hình ảnh của những gì vô ích, hư hỏng, khô khan nơi mỗi người chúng ta. Thiên Chúa có thể tỏ lộ trong lửa, nhưng không phải là lửa mà Êlia đã thấy vì chính ông đã thất vọng, cạn kiệt sức lực trong lửa là tính hung hăng của ông. Ông đã nghĩ mình có thể dùng lửa thiêu huỷ mọi kẻ thù. Nhưng không như ông muốn, thay vào đó là hoàng hậu Giêzabel, người có thể huỷ diệt ông.
Vì lòng nhiệt thành với Thiên Chúa, mà một người nào đó, có tính hung hăng, muốn chống lại phần bóng tối của mình, và chống lại người khác, thì chỉ đánh thức nơi bản thân và nơi người khác một sự hung hăng còn dữ dội hơn nữa. Êlia đã không gặp gỡ Thiên Chúa trong cuộc chiến của ông chống lại các thầy sãi Baal. Đúng ra, trước hết, ông phải đi gặp một Thiên Chúa đích thực trong sa mạc. Chỉ vào lúc ấy, ông mới được biến đổi và thanh tẩy để nhận biết chính mình một cách chân thực. Giờ đây, sau cuộc hành trình trong sa mạc đến núi Horeb, ông mới trải qua kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa thực sự; để rồi, một lần nữa, ông lại vượt qua sa mạc, trở về Đamas hoàn thành sứ mạng của ông giữa mọi người.
4. Kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa trong thinh lặng
Sau lửa là một cơn gió hiu hiu. Vừa nghe tiếng gió, Êlia lấy áo choàng che mặt, đi ra và đứng ở cửa hang (1 V 19,12).
Trong tiếng động nhẹ của làn gió hiu hiu, trong tiếng thầm thì của một giọng nói giữa bầu khí thinh lặng, Êlia gặp gỡ Thiên Chúa. Chính Chúa là làn gió nhẹ này. Qua làn gió nhẹ, Ngài tới gặp Êlia, nhưng ông không nắm giữ được Ngài, ông đã lấy áo choàng che mặt. Ông không dám gắn chặt Chúa bằng đôi mắt của mình; trái lại, ông phải nhắm mắt để hoàn toàn ý thức về mình. Ông biết rằng chính Chúa đụng chạm đến ông qua làn gió nhẹ. Và về một Thiên Chúa dịu dàng như thế, ông không thể có một hình ảnh chắc chắn nào về Ngài, ông chỉ có thể cởi mở hết lòng để đón nhận những gì ông cảm thấy.
Với áo choàng che phủ khuôn mặt và cả thân thể, trong thinh lặng tuyệt đối, không một chút phân tâm, ông ý thức trọn vẹn về mình, về những gì cảm nhận được, về những gì ông lắng nghe. Tuy gặp gỡ Chúa đó, nhưng Ngài vẫn ở trong bóng tối, không thể nhìn thấy và cũng không thể diễn tả được.
Chúng ta không thể chắc chắn diễn tả trọn vẹn về Thiên Chúa mà Êlia gặp gỡ. Ở đây, chúng ta chỉ có thể nêu ra cách Chúa tỏ lộ cho Êlia. Đây là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá một gặp gỡ đích thực với Thiên Chúa, một gặp gỡ diễn ra trong thinh lặng và chúng ta chỉ có thể rụt rè nói về nó.
Ai quá vội vàng cho người khác biết về kinh nghiệm gặp gỡ Chúa của mình, thường người đó đã dùng Chúa để phô trương. Êlia không thấy mình có nhu cầu phải khoe khoang về cuộc gặp gỡ này. Ông đã học được một bài học từ trường học của Chúa. Đối với ông, rõ ràng là Chúa không đến gặp ông ở nơi ông chờ đợi Ngài, nhưng ở trong tiếng thì thầm không thể cảm nhận được, cũng như không thể diễn tả được của cơn gió hiu hiu.
Truyền thống linh đạo rất coi trọng kinh nghiệm của Êlia. Truyền thống đó coi thinh lặng là nơi tuyệt hảo để gặp gỡ Chúa. Thinh lặng không chỉ làm cho những hỗn loạn trong tâm hồn tan biến, và thinh lặng không chỉ giúp ta thoát khỏi những lo lắng, những thăng trầm của đời ta, mà còn giúp ta ngừng suy tư về Thiên Chúa. Chỉ như vậy, ta mới có thể gặp gỡ Chúa. Nếu không, ta vẫn bị gắn chặt vào những tư tưởng, những hình ảnh định sẵn về Ngài.
Eckhart, một bậc thầy về linh đạo, đã nhận ra điều này nơi các đan sĩ đầu tiên của Giáo hội. Theo ông, thinh lặng là hành vi cao quí nhất của con người. Ở trọng tâm của thinh lặng; nơi mà không bao giờ có một tư tưởng nào tới được; nơi mà chúng ta ngừng suy nghĩ và ngừng soạn thảo những chương trình, những dự định; nơi mà chúng ta không còn nghĩ đến người khác để xét đoán họ; nơi mà chúng ta ngừng, không còn cho mình là quan trọng; chính ở nơi đó, Chúa sẽ sinh ra và ở với chúng ta.
Và rồi, chính trong gặp gỡ Thiên Chúa đích thực này, tôi có kinh nghiệm về cái TÔI đích thực của mình, vì Chúa giải thoăt tôi khỏi những hình ảnh về mình mà chính tôi đã vẽ ra. Ngài cho tôi biết hình ảnh không méo mó mà Ngài có về tôi, một hình ảnh chân thực, giải thoát tôi khỏi sự cần thiết phải chứng mình, phải biện hộ, phải giải thích cho mình. Như Êlia, tôi có thể che dấu mặt tôi trong Chúa. Tôi không còn nhu cầu phải biểu lộ mình cho người khác, cũng không cần giải thích tính đích thực của kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa của mình. Tôi tự che dấu để Thiên Chúa có thể biểu lộ nơi tôi. Tôi tự ẩn giấu mình trước người khác và trước những tư tưởng riêng của mình, để Thiên Chúa giúp tôi tham dự vào đời sống ẩn dấu của Ngài.
Tự vấn
Từ những suy tư trên của Anselm Grunt về kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa đích thực, anh em linh mục chúng ta hãy cố gắng suy nghĩ và xét mình về những điểm sau đây:
1. Hàng ngày, tôi có ưu tiên dành những giờ thinh lặng để cầu nguyện riêng không?
2. Linh mục là thầy dạy về đời sống thiêng liêng, vậy có bao giờ tôi gặp gỡ Thiên Chúa cách đích thực chưa? Nếu gặp rồi thì ở đâu, lúc nào, cách nào? Nếu chưa, thì tại sao?
3. Từ những gặp gỡ Chúa, tôi có biết về mình một cách thẳng thắn, trung thực với những thiếu sót, những tội lỗi, những ảo tưởng … không?
4. Những hoạt động mục vụ của tôi có thực sự làm theo ý Chúa để phục vụ, yêu thương hết mình như Chúa Giêsu, vị Mục tử nhân lành chưa? Hay tôi thường sử dụng Chúa như một cách để thoả mãn ý riêng là tỏ lộ quyền hành, là thuận lợi cho tôi vì lười biếng, vì muốn thoải mái, thảnh thơi, tự do cho mình?
Những câu hỏi khác …
[1] Chuyển ý từ Anselm Grun, “Ouvre tes sens à Dieu”, Mediaspaul, Paris, 2006, tr. 45-54.
[2] Ví dụ, chúng ta chỉ gắn chặt Chúa vào hình ảnh một Thiên Chúa công minh, trừng phạt đích đáng tội nhân theo lẽ công bình, thì chúng ta đã làm méo mó hình ảnh về Thiên Chúa, Thiên Chúa trở nên một người đáng ghê sợ, mà quên Chúa còn là Đấng giầu lòng thương xót, chậm bất bình và hết mực khoan dung. (giải thích của người dịch).
