2023
Đức khiêm nhường trong đời sống linh mục
Đức khiêm nhường trong đời sống linh mục
Kevin Vost
Giáo sư tâm lý học tại University of Illinois, Springfield;
Lincoln Land Community College, MacMurray College,
và Aquinas College, Nashville, Tennessee.
Ích lợi của đức khiêm nhường ngày càng được nhìn nhận ngay trong thế giới trần tục. Các nhà tâm lý học nổi tiếng như Christopher Peterson, Ph.D., và Martin Seligman, Ph.D., đã dành một chương nói sự khiêm tốn trong cuốn sách tâm lý được đón nhận nồng nhiệt vào năm 2004, cuốn Character strengths and virtues: A handbook and classification (American Psychological Association, Oxford University Press, 2004). Họ trình bày những quan niệm sai lầm phổ biến về sự khiêm tốn trong thế giới hiện đại của chúng ta. Họ nói rằng “sự khiêm tốn và giản dị rất dễ bị hiểu sai tại Hoa Kỳ, nơi chúng ta được khuyến khích lòng tự hào, tự cao và đánh giá cao tầm quan trọng của bản thân.” Thật vậy, họ cảm thấy cần phải làm rõ rằng “khiêm tốn và giản dị không có nghĩa là tự hạ thấp phẩm giá hay tự hạ mình,” và hơn nữa, “những đặc điểm này không là dấu hiệu của một người thua cuộc, hèn nhát, hay suy nhược”.
Các giáo sư môn kinh doanh là Edward Hess và Katherine Ludwig gọi đức khiêm tốn là “sự thông minh mới” trong sách của mình, Humility Is the New Smart: Rethinking Human Excellence in the Smart Machine Age (Berrett-Koehler Publishers, 2020). Họ cũng nói lên những quan niệm sai lạc điển hình về sự khiêm tốn trong nền văn hóa Hoa Kỳ hiện tại, cả ý tưởng cho rằng sự khiêm tốn là “nhu nhược hoặc bị khuất phục hoặc nghĩ rằng mình là người không xứng đáng”. Các tác giả tin rằng điều này là do những từ đồng nghĩa phổ biến là “sự thấp hèn, nhu nhược và phục tùng – những đặc tính này dường như là phản đề của thành đạt và thành công.”
Các nhà tâm lý học đã loại bỏ những quan niệm sai lầm này và giải thích rằng đặc điểm của sự khiêm tốn được đánh dấu bằng “sự trung thực và đúng đắn”, là “sự toàn vẹn” và “gắn kết với sự chấp nhận chính mình và đánh giá cao vị trí của một người trong thế giới rộng lớn hơn”. Nó “được đánh giá cao, nếu không phải luôn ở trong chính chúng ta thì chắc chắn là ở nơi những người khác,” và thực sự, “sức mạnh do tính cách này nâng những người khác lên”.
Các chuyên gia kinh doanh đã viết rằng sự khiêm tốn là “người hùng” trong câu chuyện của họ về cách thành công trong thế giới kinh doanh điện tử đang thay đổi nhanh chóng, đã gọi sự khiêm tốn là “cửa ngõ dẫn đến sự xuất sắc của con người”.
Người khiêm nhường không ngủ quên trên vinh quang khi thế giới lướt qua họ. Đúng hơn, họ luôn sẵn sàng học điều mới từ người khác, những cách nhìn mới về sự vật và những cách mới để làm công việc mới. Sự khiêm nhường như thế không chỉ dẫn đến những lợi ích trần gian cho chính người khiêm nhường, mà còn giúp họ vươn lên và làm điều tốt cho những người họ yêu thương.
Những lý do Nước Trời
Trước hết, chúng ta nên xem xét bản tính của sự khiêm nhường. Khiêm nhường là đức tính gắn bó mật thiết với chân lý và thực tại. Theo Thánh Thomas Aquinas, con người trải nghiệm chân lý khi những quan niệm hoặc niềm tin của chúng ta về thực tại tương thích hay phù hợp với chính thực tại. Một người thực sự khiêm nhường chắc chắn sẽ không quá tin vào những khả năng mà mình không có, nhưng họ cũng sẽ không thiếu tin tưởng vào những tài năng Chúa ban cho mà mình thực sự có được – và đã siêng năng vun vén theo thời gian (vì thực hành là cần thiết để hoàn thiện bất kỳ đức tính nào).
Một trong những vai trò cơ bản nhất của đức khiêm nhường theo nghĩa đen là “chạm đất” – trong tiếng Anh là “ground”, có nghĩa là ở trên mặt đất, bén rễ trong đất. Đức khiêm nhường trong tiếng Anh là humility, có nguồn gốc từ tiếng Latinh là humilitas, và chính từ này có liên hệ với từ humus, có nghĩa là đất cát, nền đất, mảnh đất hay đất đai. Do đó, ý nghĩa hạ mình của sự khiêm nhượng khá là chính xác – theo một nghĩa nào đó, khiêm nhượng là hạ thấp như đất dưới chân ta! Vậy thì, làm thế nào mà đức khiêm nhường “thấp kém” như thế lại được xếp vào một trong những đức tính quan trọng và đáng ao ước nhất trong tất cả các đức tính của con người? Câu hỏi hay đấy và đây là nỗ lực đầu tiên để trả lời.
Khi hành động cách khiêm nhường, thể hiện sự khiêm tốn, chúng ta nhận ra vị trí thực sự của mình trong phẩm trật vũ trụ của Thiên Chúa. Khi nhớ lại rằng từ “khiêm nhường” (humility) có liên quan đến bùn đất (humus), thì chúng ta cũng xem xét rằng chính từ con người (human) cũng liên quan đến từ đó! Thật vậy, mặc dù chúng ta được tạo thành từ bùn đất thấp hèn, song được nâng cao hơn tất cả động vật và thực vật trên trái đất. Tuy được tạo dựng thấp hơn các thiên thần “một chút” (Tv 8, 6), song chúng ta thấp kém vô cùng so với Thiên Chúa, Đấng đã dựng nên tất cả chúng ta.
Sự khiêm nhượng được gọi là nền tảng của mọi nhân đức, vì khi nhận ra thực tế là trong khi chúng ta ít có thể tự mình làm được việc gì, chúng ta vẫn ở vị trí tốt nhất để xin và nhận được ân sủng của Thiên Chúa như Thánh Phaolô đã nói: “Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu được hết” (Pl 4, 13).
Chúng ta thấy rằng sự khiêm nhường, mặc dù thấp hèn và nhu mì song không hề yếu đuối – một vị thần Atlas thực sự không chỉ nâng đỡ trái đất mà còn giúp chúng ta nắm lấy “cánh tay uy quyền mạnh mẽ” của Thiên Chúa (Tv 136, 11) khiến mọi gánh nặng trở nên nhẹ nhàng. Sự khiêm nhường sẽ không khiến chúng ta chôn vùi tài năng của mình dưới đất, nhưng sẽ làm chúng ta nhân lên bất cứ tài năng nào mà Chúa đã ban cho chúng. Khiêm tốn không chống lại tính cao thượng (sự cao cả của tâm hồn) mà nâng đỡ nó. Khiêm tốn nhìn nhận sự yếu đuối tự nhiên của chúng ta, cũng như tính cao thượng nhận ra tiềm năng của mình để có được sức mạnh vô biên từ Thượng Đế. Đúng ra, không phải sự khiêm tốn, mà là sự nhu nhược, sụ nhát đảm của tâm hồn, đã chôn vùi tài năng và làm mờ đi ánh sáng của chúng ta.
Trong tác phẩm vĩ đại của mình về sự khiêm nhường, cha Cajetan Mary da Bergamo đã viết: “Ở thiên đàng, có nhiều vị thánh không bao giờ bố thí trên trái đất: sự nghèo khó đã biện minh cho họ. Có nhiều vị thánh chưa bao giờ hành xác bằng cách ăn chay hoặc mặc áo nhặm: những bệnh tật về thể xác đã biện minh cho họ. Cũng có nhiều vị thánh không khiết trinh: ơn gọi của họ thì khác. Nhưng trên thiên đàng thì chẳng có vị thánh nào mà không khiêm nhường”.
Đức khiêm nhường sẵn sàng mở cánh cổng ngọc trai trên thiên đàng cho các linh mục và mọi giáo dân dưới sự chăm sóc của họ, những người sẵn sàng canh tác đất đai trần thế. Và hẳn nhiên, chính Đức Giêsu đã kêu gọi chúng ta tham gia vào việc canh tác ấy như ngài đã làm.
Đức khiêm nhường và tình yêu cùng chung ách với Đức Kitô
Cha Reginald Garrigou-Lagrange theo chủ nghĩa Tôma ở thế kỷ XX đã phác ra một bức tranh mô tả hình ảnh đền thờ thiêng liêng được xây dựng trên tảng đá vững chắc là Đức Giêsu Kitô. Nó mô tả sự khiêm nhường như nền móng của đền thờ. Đức khiêm tốn là nền tảng cho các nhân đức luân lý, đặc biệt bốn nhân đức chính (cardinal virtues) là khôn ngoan, công bằng, dũng cảm và tiết độ, giúp giữ vững các cánh cửa (cardo trong tiếng Latinh có nghĩa là “bản lề”) dẫn đến một loạt các nhân đức và ân sủng khác của Chúa Thánh Thần. Thật vậy, sự khiêm nhường cũng là nền tảng mà trụ cột các đức tính cao cả nhất dựa vào, các nhân đức đối thần được Thiên Chúa phú bẩm như đức tin và đức cậy, với đức ái (hay đức mến) là đức tính cao cả nhất và trường tồn nhất, như mái vòm bao phủ lên trên.
Hãy lưu ý ngôi đền đức hạnh thiêng liêng này được xây dựng trên sự khiêm nhường và đỉnh cao là đức ái. Khi được hỏi điều răn nào lớn nhất, Đức Giêsu trả lời: “Ngươi phải yêu mến Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Ðó là điều răn trọng nhất và điều răn đứng đầu. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Mt 22, 34-40). Đây là những giới răn bác ái yêu thương từ chính Thiên Chúa, Đấng “là tình yêu” (1 Ga 4, 8).
Đức Giêsu cũng nói với chúng ta: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11, 29-30). Đây là lời mời gọi để chúng ta lớn lên trong sự khiêm nhường giống như Đức Kitô.
Trong số chú giải yêu thích của tôi về văn bản này là nhận xét ngắn gọn của tu viện trưởng dòng Xitô, Thánh Aelred of Rievaulx: “Vâng, ách của ngài êm ái và gánh của ngài nhẹ nhàng; do đó bạn sẽ tìm thấy nơi nghỉ ngơi cho linh hồn mình. Cái ách này không áp bức nhưng kết nối; gánh nặng này có đôi cánh, không trọng lượng. Ách này là đức ái. Gánh nặng này là tình đệ huynh”.
In Persona Christi
Thật là một vinh dự cao cả và trách nhiệm lớn lao khi mỗi linh mục được thụ phong được hành động nhân danh Chúa Kitô bằng cách trao Mình, Máu, Linh hồn và Thần tính của chính Chúa Giêsu Kitô trong Bí tích Thánh Thể cho chính mình và đoàn chiên của mình. Thật là một vinh dự cao cả và trách nhiệm lớn lao để ngày qua ngày phản ánh tình yêu và sự khiêm nhường của Đức Kitô trong những tương tác trần thế với tha nhân. Theo cái nhìn của giáo dân, các linh mục đáng được tôn kính và tôn trọng, khi chúng ta sử dụng các danh hiệu đáng kính như “Reverend” hoặc “Your Excellency” cho các linh mục hoặc giám mục, và bằng cách sử dụng các tước vị tỏ lòng quý mến, có thể nói được như vậy, như “Cha” và “Đức giám mục”, [1] người chăm sóc và bảo vệ chúng ta.
May mắn được biết nhiều linh mục khiêm nhường, tôi xin đưa ra một gợi ý, đặc biệt là với các tân linh mục, đừng để sự khiêm nhường hạ thấp tác động tiềm ẩn của lời nói và hành vi của bạn đối với giáo dân. Có lẽ đôi mắt của một số giáo dân sẽ lờ đờ khi bạn giảng lễ. (Tôi nhớ lại nhà giảng thuyết Tin lành Norman Vincent Peale nói rằng ông ấy không phiền lòng khi thấy ai đó ngủ trong khi giảng, mà ông rất vui khi họ có thể thư giãn và thoải mái khi có mặt ông ấy!) Tuy nhiên, bạn có thể yên tâm khi biết rằng những tương tác trực tiếp nhỏ nhặt nhất lại có ý nghĩa rất lớn đối với hầu hết giáo dân, vì vậy xin đừng nghĩ rằng việc chẳng có gì khác biệt khi bạn tiếp cận, chào hỏi và chia sẻ vài câu với một giáo dân nhút nhát hoặc cô đơn.
Trong cuốn Humble Strength: The Eye-Opening Benefits of Humility (Kevin Vost, Ascension Press, 2022), tôi kết luận với 50 gợi ý rất đơn giản, thu thập được từ sự khôn ngoan của Giáo Hội để trưởng thành hơn trong sự khiêm nhường khi chia sẻ tình yêu thương của Đức Kitô với người khác. Đây là những hành vi có ý nghĩa khi đến từ bất kỳ ai đó, và khi đến từ một linh mục, việc thể hiện sự khiêm nhường và tình yêu của Chúa Kitô là cách đơn giản nhất. Tôi kết luận với năm gợi ý:
• Nếu không biết thì sẵn sàng nói “Tôi không biết,” ngay cả khi được hỏi về điều gì đó mà bạn được coi là chuyên gia. (Và đối với các linh mục, điều này cũng đòi buộc phải tìm ra câu trả lời, nếu được hỏi về giáo huấn của Giáo hội!). Đừng “nổ” về những kiến thức chuyên môn mà bạn chưa một ngày nào học về nó!
• Trau dồi tính dễ bảo bằng cách nhận ra rằng hầu như mọi người bạn gặp đều có thể có những bài học hay dạy bạn về sự khiêm tốn và những điều quan trọng khác trong đời.
• Nhìn nhận phẩm giá Chúa ban cho mỗi người bạn gặp tình cờ, dù ngoài đường hay trong cửa hàng tạp hóa. Chỉ một lời chào hoặc thậm chí một nụ cười để người đó biết rằng bạn thấy họ quan trọng (và điều này có thể đặc biệt có giá trị khi đến từ một linh mục). Với giáo dân, thể hiện sự tôn trọng qua cách xưng hô!
• Ngay cả khi bạn lớn tuổi, hãy học một bài học từ Chân Phước Pier Giorgio Frassati,[2] 24 tuổi. Khi bạn đến một buổi họp mặt xã hội, hãy để mắt đến một người có vẻ cô đơn hoặc buồn bã, hãy đến đó, bắt chuyện và đối xử với người đó một cách nhẹ nhàng và khiêm nhường như Đức Kitô (và đừng ngần ngại chia sẻ một hoặc hai tiếng cười vui vẻ vừa phải)
• Đây là điều khó kết luận: khi một người xúc phạm hoặc làm hại bạn, hãy nghĩ cách nào đó để bạn có thể thực hiện một chút hành động tử tế đối với họ, ngay cả khi bạn làm điều đó một cách ẩn danh. Dù sao đi nữa, bạn có thể chắc chắn rằng Thánh Martin de Porres[3] sẽ nhìn bạn và mỉm cười.
Tạ ơn Chúa vì các linh mục khiêm nhường và biết yêu thương!
[1] “Bishop” trong tiếng Anh có gốc từ tiếng Latinh là episcopus, và chính từ này lại xuất phát từ episkopos (ἐπίσκοπος) trong tiếng Hy Lạp, có nghĩa là người giám sát, trông nom. episkopos gồm hai từ là epi ( bên trên, over) + skopos (người giám sát, chăm sóc, bảo vệ – one that watches, one that looks after; a guardian, protector”. Tiếng Việt dịch là “Giám mục” theo Hán tự 監牧. Theo Từ điển Thiều Chửu, 監: Soi xét, coi sóc; 牧: Kẻ chăn giống muông.
[2] Pier Giorgio Frassati (6/4/1901 – 4/7/1925) là nhà hoạt động Công giáo người Ý và là thành viên của Dòng Ba Đaminh. Ngài dấn thân vào các vấn đề công bình xã hội, gia nhập các tổ chức bác ái để giúp đỡ người nghèo, kém may mắn. Sau chuyến đi với các bạn, ngài trở về nhà và lâm bệnh nặng ngày 30 tháng 6 năm 1925. Cùng ngày hôm ấy, bà ngoại của ngài qua đời. Vì sự khiêm nhường, ngài hối gia đình đừng lo cho mình mà hãy lo cho bà. Đức Gioan Phaolô II đã đặt ngài làm bổn mạng của Ngày giới trẻ thế giới, gọi ngài là “người của các mối phúc” khi thể hiện các mối phúc này qua đời sống hằng ngày. Đức Phanxicô liệt kê ngài trong số 12 gương mẫu tiêu biểu cho giới trẻ trong Tông huấn Christus Vivit (số 60), “những người tận hiến đời mình cho Đức Kitô… là những suy tư quý giá về chàng trai trẻ Kitô; chứng nhân của họ khích lệ và đánh thức chúng ta khỏi cơn mê ngủ”(CV 49).
[3] Martín de Porres Velázquez, OP (9/12/1579 – 3/11/1639) là vị thánh da màu, gốc Peru. Ngài là bổn mạng của những người lai và tất cả những người tìm kiếm sự hòa hợp sắc tộc. Do nguồn gốc của mình, ngài phải chịu nhiều đối xử bất công lúc sinh thời.
https://www.thepriest.com/2023/03/15/humility-in-the-life-of-the-priest/
Tác giả bài viết: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính chuyển ngữ
2023
Giáo Hội của người trẻ và cho người trẻ
Giáo Hội của người trẻ và cho người trẻ
Chúng ta hãy xin Chúa giải thoát Hội Thánh khỏi những kẻ muốn làm cho Hội Thánh già đi, giam hãm Hội Thánh trong quá khứ, kềm hãm hay làm cho Hội Thánh bị tê liệt.

Trong danh sách 21 Hồng y tân cử, một trong những khuôn mặt gây tranh cãi là Đức cha Americo Manuel Alves Aguiar, Giám mục phụ tá Tổng giáo phận Lisbon, Bồ Đào Nha. Gây tranh cãi không phải do ngài còn quá trẻ, mới 49 tuổi, vì có vị còn trẻ hơn. Cũng chẳng phải vì ngài mới là Giám mục phụ tá một Giáo phận, có các linh mục cũng được nâng lên Hồng y thì đã sao! Có lẽ lý do chính là vì Đức cha Aguiar là Giám mục phụ tá của Tổng giáo phận Lisbon và vị lãnh đạo của Giáo phận này đã là Hồng y rồi, Đức hồng y Manuel Clemente. Bây giờ lại thêm một Hồng y nữa trong cùng một Giáo phận. Và người ta đặt câu hỏi: Còn Paris, Milano thì sao? Chẳng lẽ những Giáo phận ấy không quan trọng bằng Lisbon sao? Tại sao chờ mãi vẫn không có Hồng y, đang khi Lisbon đã có thì lại cho thêm!

Để giải thích việc chọn lựa này, thiết nghĩ nên quan tâm đến một sự kiện khác: Đức cha Aguiar là người được trao trách nhiệm tổ chức và điều hành Đại hội giới trẻ thế giới, diễn ra từ 1-6/8 tại Lisbon. Và chính trong những ngày sát với Đại hội, vị giám mục này được nâng lên hàng hồng y, qua đó Đức Giáo hoàng Phanxicô muốn giới thiệu hình ảnh một Giáo hội của người trẻ và cho người trẻ, như ngài từng bày tỏ trong Tông huấn Christus vivit:
“Chúng ta hãy xin Chúa giải thoát Hội Thánh khỏi những kẻ muốn làm cho Hội Thánh già đi, giam hãm Hội Thánh trong quá khứ, kềm hãm hay làm cho Hội Thánh bị tê liệt. Chúng ta cũng hãy xin Chúa giải thoát Hội Thánh khỏi một cơn cám dỗ khác, là tin rằng mình trẻ trung vì đã chấp nhận tất cả những gì thế giới mời mọc, tin rằng mình đổi mới vì đã quên đi sứ điệp của mình mà bắt chước người khác. Không! Hội Thánh trẻ trung khi Hội Thánh là chính mình, khi Hội Thánh đón nhận sức mạnh luôn mới mẻ của Lời Chúa, của Thánh Thể, của sự hiện diện của Đức Kitô và sức mạnh Thánh Thần của Người mỗi ngày. Hội Thánh trẻ trung khi Hội Thánh có khả năng không ngừng trở về nguồn” (Christus vivit, 35).
Đức Hồng y tân cử Aguiar xem ra là người có khả năng quy tụ giới trẻ, lắng nghe và làm việc chung với họ, đồng thời có tầm nhìn mở về Giáo hội. Một vài phát biểu của ngài gần đây thể hiện phần nào quan điểm trên. Khi được hỏi Giáo hội phải làm gì để các bạn trẻ ở lại với Giáo hội sau những ngày đại hội, ngài trả lời:
“Einstein nói rằng cứ đòi hỏi người ta phải làm cùng một việc đang khi mong chờ những kết quả khác thì quả là không lành mạnh. Đôi khi tôi có cảm giác là trong Giáo hội, chúng ta thường nghĩ ‘điều này đã là như thế cả hai ngàn năm rồi, cho nên không cần phải thay đổi gì hết’. Một trong những điều làm tôi khó chịu nhất là đang khi chúng ta cố gắng tìm cách giải quyết vấn đề thì lại nghe ai đó nói, ‘Theo truyền thống thì phải thế này, thế kia!… Lập luận như thế là thứ mục vụ bảo quản! Cứ như thế đi cho đến lúc nó không còn như thế nữa vì chẳng có ai lo việc bảo quản nữa.”
Khi được hỏi về mong ước của ngài đối với Đại hội giới trẻ tại Lisbon, ngài nói: “Ước mơ của tôi là các bạn trẻ đến Lisbon sẽ trở về quê hương mình với ước muốn sống tốt hơn, dù họ theo tôn giáo nào. Bởi lẽ ở Lisbon này họ gặp được cả người da trắng cũng như da màu, cao lớn hay thấp bé, từ Nam hay Bắc bán cầu, giàu hay nghèo, Hồi giáo hay Do thái giáo hay các tôn giáo khác, và họ khám phá ra rằng sự khác biệt ấy làm nên sự phong phú. Và như thế mọi khác biệt giữa các anh chị em trở thành cơ may cho chúng ta” (National Catholic Register, 19/07/2023).
Những phát biểu trên lại chẳng phản ánh tinh thần Tông huấn Christus vivit (Chúa Kitô đang sống) và Thông điệp Fratelli tutti (Tất cả là anh em) đó sao? Và phải chăng Đức giáo hoàng mong muốn có một hồng y như thế để hướng dẫn giới trẻ xây dựng một thế giới mới, thế giới của tình huynh đệ: “Các con phải là những người có khả năng tạo ra tình bằng hữu trong xã hội” (Christus vivit, số 169)?
2023
Hai từ cần nhớ khi bạn cảm thấy lo lắng
Hai từ cần nhớ khi bạn cảm thấy lo lắng
| Có những lúc cũng cần ghi nhớ những điều căn bản trong sứ điệp của Chúa Kitô, điều đó đủ cho chúng ta sức mạnh vượt qua những thử thách đớn đau và những thời khắc đầy khó khăn.Đối với một số người, những bấp bênh xảy ra liên tục trong cuộc sống có thể là nguồn gốc của sự lo lắng sâu xa và lâu dài. Ngày càng có nhiều người mắc chứng rối loạn lo âu, đó là hậu quả của cuộc sống căng thẳng trong một xã hội siêu kết nối, chủ nghĩa cá nhân lên ngôi, nơi mọi thứ phải diễn ra nhanh chóng và cũng là nơi có nhiều nguyên nhân dẫn đến căng thẳng. Đối mặt với những tình huống căng thẳng, mọi người đều biết cách khéo léo duy trì sự kiểm soát càng nhiều càng tốt, xua đuổi những cảm giác lo âu đang chế ngự tâm hồn mình: đi chơi với bạn bè, lên danh sách những việc cần làm, chạy bộ… Nhưng hiếm khi chúng ta cầu xin Chúa, Đấng có thể giúp đỡ chúng ta. Để giúp bạn kiểm soát được những cảm xúc, căng thẳng và chấp nhận những điều chưa biết, bạn có thể lặp lại liên tục hai từ dưới đây trong những lúc sợ hãi: “kiên nhẫn” và “niềm tin”. Kiên nhẫn nghĩa là không phải tất cả chúng ta đều có nhịp sống giống nhau. Theo Chúa Kitô, mọi người phải dành thời gian để dõi theo cách sống của mình, theo nhịp độ của riêng mình và cũng có thể Chúa đã đặt ra khung thời gian riêng cho con đường của Ngài trong cuộc đời. Việc lặp lại từ “niềm tin” cho phép chúng ta nhớ rằng dù bất cứ điều gì xảy ra Chúa Kitô vẫn hiện diện và yêu thương chúng ta vô bờ. Việc lặp đi lặp lại này có thể làm dịu bớt căng thẳng và giúp bạn bình tâm trước những khoảnh khắc sợ hãi. Và những từ này càng được lặp lại nhiều lần thì càng có thể hiểu được ý nghĩa thực sự của nó và mang lại cho bạn hy vọng rằng điều tồi tệ vẫn chưa xảy ra.
|
| Chuyển ngữ: Võ Tá Hoàng Từ: https://fr.aleteia.org |
2023
Những người vợ về nguồn trong đời sống hôn nhân gia đình
Những người vợ về nguồn trong đời sống hôn nhân gia đình
Nếu có dịp đọc tác phẩm “The Surrendered Wife” (Người Vợ Về Nguồn) của Laura Doyle [1], thì cũng giống như phần lớn các độc giả, bạn sẽ bị thu hút vào một cuộc tranh chấp nội tâm: tán thành hoặc phản đối nội dung và triết lý được tác giả trình bày trong đó.
Trong khi cao trào về nam nữ bình quyền, về nữ quyền đang được đề cao mà có ai đó nói rằng đã đến lúc chị em phụ nữ cần dừng lại để xem xét lại những gì mình đã làm, đã đòi hỏi liệu có đem lại hạnh phúc hôn nhân cho mình, cho người phối ngẫu, và cho gia đình hay không thì chắc chắn sẽ bị nhiều người lên tiếng phản đối, và cho rằng đó là một hình thức tụt hậu, một sự quay về với quá khứ thiệt thòi và thua lỗ của phụ nữ. Nhưng một ý tưởng về nguồn trong vai trò làm vợ và làm mẹ của người phụ nữ với ý nghĩa trung thực và trưởng thành có phải là điều nên làm hay không?
Trong quá khứ với quan niệm “chồng chúa vợ tôi”, quan niệm “trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng”, hoặc “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” không phải chỉ là một sự thua thiệt, tủi hổ cho giới phụ nữ, mà đúng hơn, đó là một sự xỉ nhục và đáng xấu hổ của những đầu óc thủ cựu và những cái tôi vô lý của giới đàn ông nữa, vì họ đã tự cho mình quyền được sai khiến, khống chế, và làm chủ phụ nữ. Nhưng tất cả đã là quá khứ, những quan niệm và lối sống ấy họa chăng chỉ còn tồn tại ở các nước kém mở mang, những nước còn đang bị cai trị bởi những đầu óc nặng về giáo điều như ở một số quốc gia mà nơi đó phụ nữ không được đi học, không được lái xe, không được đi ra đường một mình, hoặc phải trùm đầu, phủ kín mặt. Hồ Xuân Hương (胡春香,1772 – 1822) là một thi sĩ sống ở cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX dưới thời Hậu Lê, một người có tư tưởng nữ quyền. Bà đã dùng thơ văn để diễn tả sự bất bình đẳng thuộc xã hội bấy giờ. Chúng ta có thể tìm được tư tưởng này qua hai câu thơ:
“Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung.” (Lấy Chồng Chung- Hồ Xuân Hương)
Tuy nhiên, nhìn vào những phong trào bình quyền và những gì mà giới nữ quyền ngày nay đang đòi hỏi và tranh đấu, vô tình đã cho thế giới biết họ chính là những phụ nữ đáng thương nhất. Bởi vì họ đã vứt bỏ những phẩm giá đáng cao quí của mình, để chạy tìm những hình ảnh về một người phụ nữ trong ảo tưởng, ảo giác. Một trong những phụ nữ ấy đã dám ngừng bước để đối diện với mình và tìm về nguồn đích thực của nữ giới là Laura Doyle.
Là một nhà nữ quyền (feminist), và đồng thời cũng là một nhà tâm lý học tại Nam California, bà đã trình bày lý do cũng như triết lý “về nguồn” qua tác phẩm gây tranh cãi The Surrendered Wife. Nội dung của tác phẩm nêu lên quan điểm của tác giả nhằm bảo vệ hạnh phúc hôn nhân, vì theo tác giả, phải chăng cuộc chiến bình quyền đến đây đã tới một khúc quanh mà người trong cuộc nên dừng lại suy nghĩ để tìm những giải pháp khả dĩ mang lại hạnh phúc cho cuộc đời hôn nhân của mình.
Từ một phụ nữ cấp tiến, say mê điên cuồng chủ nghĩa nữ quyền. Bà thú nhận là từ khi lấy chồng năm 22 tuổi, bà không ngớt chỉ trích, gắt gỏng, xỏ xiên, bươi móc, hạ nhục chồng về bất cứ sơ xuất nào. Bà thích chỉ huy, kiểm soát, khống chế, sai khiến chồng, xem chồng như tấm thảm chùi chân. Nhưng cuối cùng bà đã nhận ra rằng càng ngày chồng bà càng có khuynh hướng tách rời ra xa bà. Vợ chồng mất dần đi sự đồng cảm của buổi ban đầu. Tình yêu phai nhạt. Cay đắng chán chường chồng chất thêm lên mãi từ cả hai phía. Viễn ảnh ly dị đang ngấp nghé ngoài cửa… Để cứu vãn hạnh phúc quá mong manh, bà cố tìm hiểu, học hỏi kinh nghiệm từ những cặp vợ chồng thật sự gắn bó yêu thương nhau và đang có cuộc sống hạnh phúc. Từ những kinh nghiệm quý báu của họ, bà đem áp dụng cho trường hợp của bà. Bà đã ngộ ra chân lý: phải tự mình thay đổi chính bản thân mình chớ không phải mong đợi sự thay đổi ở phía người khác. Sau đó một thời gian, chồng bà trở nên vui vẻ trở lại, tự tin hơn và bắt đầu quan tâm đến trách nhiệm gia đình. Phần bà thì cũng cảm thấy thanh thản, hạnh phúc hơn xưa nhiều. Tình yêu vợ chồng đã được hàn gắn trở lại nhờ bà đã biết thay đổi suy nghĩ, thái độ và cách ứng xử với chồng. Bà đã trở nên một người vợ về nguồn và quyết định viết sách chia sẻ kinh nghiệm của mình với các chị em phụ nữ.
Ngoài ra bà còn đi khắp nước Mỹ tổ chức những buổi hội thảo, thuyết trình, và gặp gỡ những người vợ có cùng quan điểm, trao đổi kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau nhằm bảo vệ hạnh phúc hôn nhân và gia đình. Phong Trào “Những Người Vợ Về Nguồn” (The “Surrendered Wives” movement) đặt căn bản trên 6 nguyên tắc: [2]
1.Chấm dứt việc kiểm soát chồng những điều không thích đáng.
2.Tôn trọng những suy nghĩ của chồng.
3.Biểu lộ lòng biết ơn và cám ơn những gì chồng làm cho mình.
4.Bày tỏ những gì mình muốn nhưng không áp đặt chồng.
5.Tin tưởng chồng trong việc giải quyết những khó khăn tài chính của gia đình.
6.Chú tâm vào việc săn sóc và hoàn tất những công việc của mình.
Tóm lại, để sống với thiên chức làm vợ của mình, người phụ nữ cần nên:
– Tế nhị thay vì cằn nhằn.
– Thoải mái thay vì kiểm soát.
– Tôn trọng thay vì miệt thị.
– Biết ơn thay vì coi thường.
-Tin tưởng thay vì nghi ngờ.
Phong trào Những Người Vợ Về Nguồn hiện lan rộng ra khắp thế giới, có mặt tại nhiều quốc gia như Canada, Anh Quốc, Úc Châu, Norway, Finland, Singapore, Nhật Bản…
Tác phẩm cũng như những việc làm của bà đã tạo một chấn động mạnh mẽ trong xã hội Hoa Kỳ và nhiều nơi, thành công ngoài sức tưởng tượng. Tuy nhiên, kẻ khen, người chê cũng từ đó nổi lên. Nhiều phê bình trái chiều mà tựu trung cũng chỉ là đối với những phụ nữ theo chủ thuyết bình quyền cực đoan, và những nhóm ủng hộ nữ quyền. Họ cho rằng việc trở về nguồn với trách nhiệm làm vợ và làm mẹ theo Laura Doyle như vậy sẽ đi ngược lại hoàn toàn với những gì mà họ mong đợi, phá vỡ những gì mà họ đã mất bao công sức để có được, hướng dẫn giới phụ nữ trở về với xuất xứ nô lệ cho đàn ông, và tạo cơ hội cho phía đàn ông phủ nhận, coi thường việc thể hiện sự bình đẳng, tài năng và vai trò của giới phụ nữ.
Thực tế thì để tạo điều kiện cho việc trở về nguồn, và để chinh phục được người vợ, vẫn theo Laura Doyle, những người chồng ấy phải là những người:
– Không vũ phu, hành hung, đánh đập vợ.
– Không bạo hành con cái.
– Không bê tha rượu chè, cờ bạc, nghiện hút.
– Không trăng hoa, ngoại tình. [3]
Đó gọi là có đi, có lại. Một người người chồng, người cha có trách nhiệm, có tư cách và có bổn phận với vợ con, với gia đình, đương nhiên xứng đáng có một người vợ hiền đức và biết yêu thương.
Phụ nữ ngày nay không phải thuộc kiểu “tam tòng, tứ đức” một cách máy móc. Họ cũng không thuộc thành phần “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, nên việc họ đòi hỏi những gì chính đáng thuộc phẩm giá và tư cách con người của họ là điều chính đáng. Tuy nhiên, trong việc tranh đấu, đòi hỏi ấy, giới phụ nữ cũng cần phải tôn trọng, tế nhị với những đối thủ mà họ vẫn cho rằng đã làm họ phải thiệt thòi, đã khống chế, hoặc coi thường họ.
Thật ra, cả nam cũng như nữ cần phải trở về với con người, phẩm cách, và đặc thù riêng biệt của phái tính mình để thể hiện trách nhiệm, tình cảm, và tình yêu trong đời sống hôn nhân và gia đình. Đi đâu thì đi, làm gì thì làm khi về đến nhà vai trò và vị trí cao quí nhất, đặc biệt nhất của người phụ nữ vẫn là vai trò và địa vị làm mẹ và làm vợ. Đây cũng là kinh nghiệm thực tế trong cuộc sống của một nhà tâm lý học. Thời còn là sinh viên, khi học môn tâm lý phụ nữ, vị nữ giáo sư của tôi đã có lần nói với các sinh viên của bà là ở nhà, mỗi khi bà dùng kiến thức và địa vị xã hội để cư xử với chồng hoặc con cái bà đều thất bại. Nhưng ngược lại, mỗi khi bà dùng tâm tình và tư cách của một người vợ và người mẹ thì mọi chuyện đều trở nên tốt đẹp.
Thượng Đế ngay từ ban đầu đã biết rằng “Đàn ông sống một mình không tốt”, và vì thế Ngài đã phải “Tạo cho hắn một người phụ giúp xứng với hắn” (Genesis 2:18). Người đó, Adam gọi là “xương của xương tôi, thịt của thịt tôi” (Genesis 2: 23). Người mà vì người ấy, “người nam sẽ từ bỏ cha mẹ mình và kết hợp với vợ nó, và cả hai trở nên một xương một thịt” (24). Đây chính là ý nghĩa cuối cùng của tình yêu, của hôn nhân, và của gia đình. Và đây cũng chính là lý do về nguồn của nữ giới theo sau những ồn ào, kiếm tìm, đòi hỏi, và tranh đấu cho những gì không thiết thực về một hôn nhân và gia đình hạnh phúc.
______________________
Tài liệu tham khảo:
1. Simon & Schuster 2001.
2 & 3. https://lauradoyle.org/surrendered-wife-sample-chapter/ Ts. Trần Mỹ Duyệt
