15Tháng Một
2022
2022
Đời tu không là sự đổ vỡ nhưng là hiệp thông và chia sẻ
Đời tu không là sự đổ vỡ nhưng là hiệp thông và chia sẻ
Vào ngày 08.9.2010, trên kênh YouTube đã chiếu lại bộ phim “Des homes et des dieux” hay “Of gods and men” (Con người và thần thánh) của đạo diễn Xavier Beauvois người Pháp; bộ phim đạt giải thưởng lớn tại liên hoan phim Cannes năm 2010. Nội dung được xây dựng trên thực tế cuộc sống của các Đan sĩ Dòng Xitô Tiblirine trên núi Atlas tại Algérie, một nước Bắc Phi có đa số dân chúng theo Hồi giáo.
Algérie và Pháp có mối liên hệ rất nhiêu khê và phức tạp. Đã có một cuộc chiến đầy tai tiếng dưới thời chính phủ của tướng De Gaulle. Người Pháp đã phải nhượng bộ cho người Algérie có hai quốc tịch. Nhưng Pháp vẫn can thiệp vào chiến trường Algérie. Trong chiều hướng ấy, Đan viện Thánh Mẫu Atlas bị ảnh hưởng trầm trọng. Tính mạng bị đe dọa khiến cộng đoàn khủng hoảng. Cuộc khủng hoảng là câu hỏi: Nên ở lại hay nên đi? Đây là một vấn đề sống chết liên quan đến tính mạng của các anh em nên mọi người cần thảo luận để tìm câu trả lời chuẩn xác nhất. Sau nhiều cuộc tranh luận diễn ra gay gắt và hết sức căng thẳng đến nỗi cộng đoàn hầu như tan vỡ…; cuối cùng nhờ cầu nguyện, các Đan sĩ đã đi đến quyết định chung kết là ở lại, mặc dù tình hình ngày càng nguy kịch.
Bộ phim khá cô đọng, ngôn ngữ đầy biểu tượng và ý nghĩa rất sâu xa. Nhưng điều đáng chú ý ở đây là nhà đạo diễn đã dàn dựng rất khéo léo và tinh tế. Ngay từ đầu bộ phim, người ta thấy xuất hiện hai câu Thánh Kinh: câu 6 và câu 7 của Thánh vịnh 82: “Ta đã phán: Hết thảy các ngươi đây đều là bậc thần thánh, là con Đấng Tối Cao, thế nhưng rồi phải chết không khác kẻ phàm nhân, và có ngày sụp đổ như mọi bậc quan quyền.”(TV 82, 6 -7). Chắc chắn, nhà đạo diễn, qua hai câu Lời Chúa này, khai mào cho bộ phim và chuyển tải một thông điệp từ cuộc sống của những tu sĩ, những người đi theo Chúa đã từ bỏ mọi sự, sống siêu thoát như cuộc sống của các Thiên Thần và các Thánh trên trời… Bộ phim chứa đựng nhiều bài học cho đời tu nhưng ở đây chúng ta chỉ bàn về khía cạnh hiệp thông trong đời sống cộng đoàn của các Đan sĩ. Phải chăng đây cũng là vấn đề nhức nhối của các Dòng tu hiện nay.
Tông huấn Vita Consecrata của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II năm 1996 đã nhấn mạnh chiều kích hiệp thông, hiệp nhất chính là đặc tính cơ bản, là dấu chỉ tròn đầy của Tin mừng tình yêu: “Những con người hiệp nhất với nhau vì đã cùng cam kết bước theo Đức Kitô – sequela Christi – và được thúc đẩy bởi cùng một Thánh Thần, không thể nào không biểu lộ cách hữu hình sự viên mãn của Tin mừng tình yêu, như là những cành của một cây nho duy nhất”[1]. Trong khi đó, John Lozano mô tả: “Cộng đoàn thánh hiến là một nhóm người Kitô hữu được kêu gọi sống độc thân và giao phó đời mình cho nhau để sống thành một cộng đoàn, cùng nhau tìm Chúa và chia sẻ đời sống vật chất với nhau”.
Khi dấn thân vào đời sống tu trì, mỗi người được mời gọi sống trong một tu hội, một Hội dòng nào đó và ơn gọi sống đời Thánh hiến được diễn tả qua đời sống cộng đoàn. Vì thế, mỗi người Tu sĩ được mời gọi dấn thân theo Chúa Kitô là sống, xây dựng và làm thăng tiến đời sống cộng đoàn mà mình đang là thành viên. Chính vì thế, cộng đoàn không thể tách rời khỏi đời sống của người tu sĩ; nhưng mỗi tu sĩ phải thích nghi và đón nhận tất cả các thành viên trong cộng đoàn. Cộng đoàn là một gia đình gồm những người, có thể bất đồng với nhau về mọi phương diện, nhưng được qui tụ nhân danh Đức Kitô và vì lý tưởng dấn thân phục vụ cho Nước Trời. Vì thế, mỗi thành viên phải đón nhận nhau. Một cộng đoàn có Chúa Kitô hiện diện thì không có sự phân biệt, đố kỵ nhau, như lời Thánh Phaolô nói: “Không còn chuyện phân biệt Do thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Kitô (Gl 3,28). Để có được một cộng đoàn bền vững và phát triển thì cần có sự hiệp nhất và bác ái với nhau:“Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái, đó là mối dây tuyệt hảo liên kết anh em” (Cl 3,12); “Sống đức ái huynh đệ, giúp con người lớn lên trong tình yêu đối với Thiên Chúa và chị em, nên cũng là “mảnh đất” cho con người triển nở” (x. Đời sống Huynh đệ Cộng đoàn 35).
Trong đời sống cộng đoàn, nếu mỗi thành viên biết đón nhận và xây dựng cho nhau thì đời sống cộng đoàn sẽ triển nở hơn; và từ sự triển nở đó mỗi thành viên sẽ đi đến hiệp thông trọn vẹn. Đời sống cộng đoàn phải chăng là một nét đẹp giới thiệu cho mọi người thấy được Nước Thiên Chúa đang ngự trị giữa chúng ta. Hiến chương của Hội Dòng Mến Thánh Giá Qui Nhơn điều 68/1 cũng đã nói đến chiều kích này: “Hình thức tông đồ căn bản nhất là sống đời thánh hiến trong cộng đoàn”. Một cộng đoàn thiếu yêu thương, hiệp nhất sẽ là dấu hiệu phản chứng tình yêu Chúa trong môi trường mình đang phục vụ.
Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong tông huấn Đời sống Thánh hiến, đã ân cần lưu ý: “Trong đời sống cộng đoàn, người ta phải xác tín rằng sự hiệp thông huynh đệ không chỉ là một phương tiện giúp thi hành một sứ mạng nào đó, mà còn là nơi Thiên Chúa ngự, nơi mà người ta có thể kinh nghiệm được sự hiện diện bí nhiệm của Chúa Phục sinh. Điều này được thực hiện nhờ tình yêu hỗ tương của các phần tử trong cộng đoàn, tình yêu được nuôi dưỡng bởi Lời Chúa và Thánh Thể, được thanh luyện nhờ Bí tích Hòa giải, được nâng đỡ nhờ lời nguyện xin ơn hiệp nhất, là một ân huệ Thánh Thần ban cho những ai biết sẵn sàng lắng nghe Tin mừng với lòng vâng phục…”[2].
Toàn thể Giáo Hội đang hiệp thông sống và hành động theo chủ đề của Thượng Hội Hội Đồng Giám Mục thế giới lần thứ XVI đó là: Hướng tới một Hội Thánh hiệp hành: Hiệp thông, Tham gia và Sứ vụ; và khắp nơi đang nỗ lực triển khai định hướng mục vụ này trong Giai đoạn Thượng Hội Đồng cấp Giáo hội địa phương như tài liệu Cẩm Nang hướng dẫn dã chỉ rõ: “Giai đoạn đầu tiên nầy của Tiến trình Thượng Hội đồng là nền tảng cho tất cả các giai đoạn tiếp theo. Mục đích của giai đoạn giáo phận, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, là nhằm cống hiến cho nhiều người, càng nhiều càng tốt, một kinh nghiệm hiệp hành thục sự trong việc lắng nghe nhau và cùng nhau tiến về phía trước, chứ không đơn giản chỉ là trả lời một bảng câu hỏi”[3].
Khi công bố văn kiện Hậu Thượng Hội Đồng về giới trẻ, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã ban hành tông huấn “Christus Vivit” (Đức Kitô đang sống – CV). Nơi đây, ngài đã đề nghị nhiều định hướng cho chương trình mục vụ giới trẻ; và trong đó định hướng “Hiệp Hành” chính là điểm quy chiếu quan trọng cho việc thực hiện tiến trình Tân Phúc Âm hoá: “Sự tham gia của giới trẻ đã giúp “đánh thức”mô thức hiệp hành, là một “chiều kích cấu thành của Hội Thánh.” Như thánh Gioan Kim Khẩu nói, “Hội Thánh đồng nghĩa với Hiệp Hành”, bởi vì Hội Thánh không là gì khác mà chính là việc “cùng nhau bước đi” của đàn chiên trên con đường lịch sử để gặp Đức Kitô”[4].
Hiệp hành có nghĩa là cùng bước đi với nhau, sát bên nhau trên một con đường; và mục đích của hiệp hành là để gặp gỡ, lắng nghe và tìm ra ý muốn của Chúa. Chính Chúa Giêsu đã cứu chúng ta bằng con đường hiệp hành; Ngài đã từ bỏ trời cao, từ bỏ địa vị cao sang, chấp nhận cái nghèo, chấp nhận sự trần trụi để nhận lấy kiếp phàm nhân, chỉ trừ tội lỗi; Ngài đã cùng ăn uống, cùng chung chia vận mạng với chúng ta. Trên con đường Emmau năm ấy, Chúa đã hiệp hành với hai môn đệ. Lúc này Chúa “hiệp hành” chứ không chỉ đồng hành cách đơn điệu; vì Chúa đang cùng đi với hai môn đệ trên một con đường, Chúa đã gợi chuyện và lắng nghe hai môn đệ tâm sự về nỗi buồn của mình. Chúa không ở xa xa nhưng đang ở sát bên cạnh để lắng nghe, để hiểu, để cảm thông và giúp đỡ. Nhờ hiệp hành mà hai môn đệ đã nhận ra Chúa; nhờ hiệp hành nên hai môn đệ đã thay đổi trạng thái, thay đổi suy nghĩ, thay đổi hướng đi, thay đổi mục đích… Sau khi nhận ra Chúa, nỗi buồn tan biến và niềm vui Phục sinh đã bừng sáng.
Tông huấn Christus Vivit nhấn mạnh: “Mục vụ giới trẻ phải “mang tính hiệp hành” (synodale), nghĩa là có khả năng liên kết trong một “hành trình chung”, điều đó bao hàm “sự quý trọng các đặc sủng mà Chúa Thánh Thần ban cho mỗi thành viên trong Giáo Hội theo ơn gọi và vai trò của mình, đồng thời sẽ thúc đẩy mọi thành viên tham gia gánh vác trách nhiệm. Với tinh thần nầy, chúng ta sẽ có thể tiến tới một Giáo Hội có nhiều tác nhân tham gia và cùng chia sẻ trách nhiệm, một Giáo Hội có khả năng cho thấy được nét phong phú nhờ tính đa dạng, đồng thời chúng ta cũng đón nhận với lòng biết ơn sự đóng góp của các tín hữu giáo dân, nhất là của giới trẻ và nữ giới, cùng sự chung tay góp sức của các người sống đời thánh hiến nam và nữ, của các nhóm, hội đoàn và phong trào. Chúng ta không được gạt bỏ một ai hoặc làm cho một ai có thể muốn xa lánh chúng ta”.[5].
Ngày nay đời sống cộng đoàn các Dòng tu gặp nhiều khó khăn bởi ảnh hưởng lối sống tự do, hưởng thụ, chủ nghĩa cá nhân theo trào lưu của xã hội. Để có được một cộng đoàn hiệp nhất bình yên và bền vững theo tinh thần của Đức Kitô chúng ta cần phải có tính hiệp hành. Vậy làm sao để thực hiện tính hiệp hành trong đời sống cộng đoàn? Và hiệp hành như thế nào?
Đối với người tu sĩ, tính hiệp hành được thể hiện qua sứ mạng của mình bằng cách hiệp thông với anh chị em mình gặp gỡ hằng ngày, biết lắng nghe và chia sẻ mọi nỗi vui buồn của họ ngay cả những người gây rắc rối, phiền phức cho mình.Trong đời sống cộng đoàn cần hiệp thông với chị em đang sống chung, sống cùng và sống với. Biết lắng nghe, chia sẻ, cảm thông bằng lời cầu nguyện, qua các sinh hoạt chung, các biến cố vui buồn, coi chị em trong Hội dòng là người thân, cùng nhau sống và gắn bó với nhau, bảo vệ, nâng đỡ nhau suốt đời cho đến chết.
Hiến chương điều 40/1 đã lưu ý: “Chị em hãy yêu mến cộng đoàn mà mình đang là thành viên, đem hết sức lực xây dựng cộng đoàn trở thành như một gia đình”. Sống trong một Hội dòng, một cộng đoàn với nhiều thế hệ, nhiều quan điểm, nhiều khuynh hướng, phong tục tập quán khác nhau… làm sao có thể tránh khỏi những lúc “trái gió trở trời”; nhưng chính những lúc như thế, “nhân tố hiệp hành” sẽ là phương thuốc, là cơn gió xuân lành mạnh để “bầu trời” u ám đó được tươi đẹp hơn!
Thế nhưng, cũng không ít người sẽ tự hỏi: “Hiệp hành bằng cách nào?”. Các Đan sĩ dòng Xitô Tiblirine trên núi Atlas trong câu chuyện phim đã kể ở trên đã cho ta thấy: tuy bị chao đảo về thời cuộc, và cộng đoàn lủng củng hầu như sắp tan rã vì những bất đồng ý kiến, nhưng cuối cùng cũng đã tìm ra lời giải đáp là nhờ vào hiệp thông với Chúa bằng lời cầu nguyện, trung tín với bổn phận, lắng nghe, đối thoại và tìm ra ý Chúa trong cộng đoàn của mình.
Bộ phim đã chuyển tải cho chúng ta một bài học quý giá: cộng đoàn của các Đan sĩ gồm nhiều thế hệ già, trẻ khác nhau, khi bắt đầu cuộc tranh luận tưởng chừng như rất khó hòa hợp. Tuy nhiên, trong sự khác biệt ấy, ta thấy được tình hiệp thông huynh đệ qua sự giúp đỡ của người lớn tuổi giúp người trẻ tuổi bằng lời lời động viên, chia sẻ để nhận ra được lý tưởng của mình. Người nhỏ tuổi thì lắng nghe đối thoại, đón nhận nhau… Và một chi tiết rất cảm động mà đạo diễn muốn gửi đến cho người xem là hình ảnh của các anh em chăm sóc giấc ngủ cho thầy Luca sau một ngày làm việc vất vả và còn đọc báo cho thầy ngủ; hay một chi tiết khác: cha Bề trên đến tắt đèn, đắp chăn cho người anh em già yếu, tận tình phục vụ anh em trong cộng đoàn… Những cử chỉ tuy rất nhỏ nhưng rất dễ thương và làm nên một điều rất vĩ đại là xây dựng một cộng đoàn hiệp nhất yêu thương và bền vững.
Vâng, hiệp thông là thế đấy; ngoài hiệp thông với Chúa, chúng ta cần hiệp thông với chị em trong cộng đoàn; cần đối thoại cách chân thành khi gặp bế tắc, phục vụ lẫn nhau cách tận tâm, tận tình và tế nhị vì tình yêu dành cho Đức Kitô. Từ bỏ ý riêng để tìm ra ý Chúa qua chị em, biết kiên trì cầu nguyện, kiên trì lắng nghe nhau, kiên trì đối thoại. Đôi khi, trong lòng ta không muốn và không thể nào gặp mặt người chị em đó để nói một câu nhưng vẫn phải kiên trì và quyết tâm đối thoại trong tinh thần xây dựng. Có như thế chúng ta mới trở nên một “cộng đoàn hiệp hành”; vì con đường “hiệp hành” luôn đòi hỏi phải khởi đầu, diễn ra, duy trì và hoàn chỉnh với sự hiệp nhất, hiệp thông!
Trong đời sống cộng đoàn, nếu mỗi người chúng ta quá dửng dưng với người bên cạnh thì chúng ta không thể hiểu và cảm thông cho nhau được; mỗi người với mỗi công việc khác nhau, với những địa vị cấp bậc, lứa tuổi khác nhau… nên ai cũng có những nỗi ưu tư lo lắng riêng.Trong môi trường và hoàn cảnh như thế, nếu chúng ta không thể hiện tiến trình hiệp hành thì chúng ta không thể nào hiểu được, cảm thông được và sẵn sàng chia sẻ cho nhau. Sống trong một cộng đoàn nếu mỗi thành viên không trở thành “chuyên viên hiệp hành”, không cùng đi với nhau và dìu nhau tiến bước, thì cộng đoàn có nguy cơ tan vỡ và sẽ trở một gánh nặng, một “cái ách nặng nề” mà mỗi ngày mình phải vác lấy, phải cam chịu cách bất đắc dĩ; hay văn chương một tí, chỉ là “quán trọ để dừng chân”; vui thì ở lại chơi, buồn thì dứt áo ra đi. Cũng đừng quên, một cộng đoàn dòng tu, nếu không được xây dựng và gia cố mỗi ngày trên “nền tảng hiệp hành” thì cuộc sống nơi cộng đoàn đó sẽ chỉ có chỉ trích, chê bai, kết án…; và đến một lúc nào đó, cộng đoàn trở thành tòa án ngày qua ngày xét xử nhau, và chị em sẽ trở thành những con vật sát tế.
Hiệp hành là thay đổi lối sống, thay đổi lối suy nghĩ, thay đổi cách nhìn, thay đổi cách nhận xét; không nên đóng khung người khác trong một thành kiến cá nhân; hãy nhìn thấy điều tích cực của người bên cạnh với một con tim tràn đầy tình Chúa để tất cả đều bước đi chung trên một con đường của Đức Kitô và cùng nhau nhìn về một hướng. Có như thế đời sống cộng đoàn mới phát triển một cách bền vững lâu dài và đời tu không phải là một sự đổ vỡ như những gì ta đã từng gặp nhưng là một sự hiệp thông và chia sẻ.
Như câu ngạn ngữ từ ngàn xưa của các dân tộc Phi Châu mà Đức Phanxicô đã lấy lại để ân cần nhắc nhở các bạn trẻ trong tông huấn Christus Vivit: “Nếu bạn muốn đi nhanh, hãy đi một mình. Nếu bạn muốn đi xa, hãy đi với những người khác”[6], ước gì chúng ta ý thức được tầm quan trọng của tính hiệp hành để mỗi ngày chúng ta xích lại gần nhau, biết lắng nghe, chia sẻ và cùng nhau bước đi trên con đường Đức Kitô cách mạnh mẽ và xác quyết hơn. Và để được như thế, không gì hơn, chúng ta cùng cầu nguyện cho nhau, cho các cộng đoàn đang sống đời thánh hiến, bằng chính những lời cầu cho tiến trình hiệp hành của Thượng Hội Đồng Giám Mục thứ XVI: “Xin dạy chúng con lối đường phải đi và cách bước đi trên lối đường đó… Đừng để chúng con u mê sa vào nẻo đường lầm cũng đừng để chúng con làm theo thiên kiến. Xin giúp chúng con tìm thấy nơi Chúa sự hiệp thông giữa chúng con…”[7].
Nt. Anna Hiền Linh – MTGQN
[1] ĐGH GIOAN PHAOLÔ II, Tông huấn Đời sống Thánh hiến (Vita Consecrata – VC), số 52.
[2] Sđd, số 42.
[3] CẨM NANG CHO THƯỢNG HỘI ĐỒNG VỀ TÍNH HIỆP HÀNH, phần IV, tr. 27.
[4] ĐGH PHANXICÔ, Diễn từ kỷ niệm 50 năm thành lập Thượng Hội Đồng Giám Mục, ngày 17/10/2015.
[5] ĐGH PHANXICÔ, Tông huấn Đức Kitô Đang sống (Christus Vivit – CV), số 206.
[6] CV số 167, tr. 106.
[7] CẨM NANG, sđd, Kinh cầu nguyện cho Thượng Hội Đồng, tr. 3.
15Tháng Một
2022
2022
Tám lời khuyên để Thánh lễ sinh nhiều ơn ích
Tám lời khuyên để Thánh lễ sinh nhiều ơn ích
Nhiều người tham dự Thánh lễ với hy vọng gặt hái được những ơn ích từ đó. Tuy nhiên, những gì họ nhận được trong Thánh lễ tùy thuộc vào cách thay đổi mà họ sẵn sàng thực hiện trước, trong và sau khi tham dự Thánh lễ, bởi vì những gì họ dành cho Thánh lễ quyết định cho điều họ sẽ nhận được.
Cho phép tôi đưa ra 8 lời khuyên vốn giúp tôi gặt hái được nhiều ơn ích từ Thánh lễ:
1. Chuẩn bị cách xứng đáng cho Thánh lễ
– Hãy đọc và nghiên cứu các bài đọc trước khi tham dự Thánh lễ, và hãy chú ý lắng nghe khi Lời Chúa được công bố.
– Hãy học hỏi các giáo huấn của Giáo hội. Bạn càng biết nhiều về Chúa Giêsu và Giáo hội của Ngài thì bạn sẽ yêu mến Ngài và Giáo hội của Ngài nhiều hơn. Bạn không thể yêu những gì bạn không biết.
– Thường xuyên xưng tội. Nó sẽ giúp bạn chuẩn bị về mặt thiêng liêng.
– Hãy cầu nguyện mỗi ngày. Không cầu nguyện bạn không thể có được đời sống thiêng liêng!
– Ăn mặc phù hợp. Bạn đến gặp vị Vua trên các vua, đừng ăn mặc đơn giản như trong bữa ăn tối hay trong lớp học. Đó là một dịp đặc biệt.
– Đến đúng giờ và ngồi vào băng ghế đầu tiên. Bớt lơ đễnh và dành nhiều thời gian cho việc cầu nguyện trước Thánh lễ.
– Một khi đã vào trong nhà thờ, đừng nói chuyện với mọi người và đừng ngó nghiêng. Bạn hãy cầu nguyện.
2. Có thái độ nghiêm túc
– Đừng mong đợi điều gì đó vui nhộn. Bạn tham dự Thánh lễ để thờ phượng Chúa và nhận lãnh ân sủng.
– Hãy tìm kiếm Chúa trong mọi khoảnh khắc của Thánh lễ.
– Đừng để những phiền nhiễu bên ngoài cản trở bình an nội tâm của bạn.
– Tìm kiếm những chỉ dẫn có giá trị trong bài giảng để mang về nhà.
3. Tham gia cách đầy đủ
– Hãy ca hát, đặc biệt ngay cả khi bạn không hát tốt.
– Đáp lại những lời nguyện và sẵn lòng cầu nguyện. Bạn hãy cố gắng hết sức và đừng bận tâm đến những gì người khác nghĩ.
– Hãy nhớ rằng Thánh lễ không phải là cơ hội để thúc đẩy các mối quan hệ xã hội.
– Hãy dâng lên Chúa những buồn phiền và đau khổ, niềm vui và những lời cầu nguyện.
4. Lắng nghe Lời Chúa và hãy để cho mình được Lời Chúa biến đổi.
– Bạn có mở lòng để được Chúa biến đổi không? Nếu không bạn sẽ không biến đổi.
– Hãy lắng nghe Lời Chúa được công bố và hãy để những Lời ấy thách thức bạn.
– Tìm một vài điểm trong bài giảng để áp dụng trong tuần.
5. Hiểu biết, nhận thức và tuyên xưng đức tin của bạn
– Đừng giới hạn bản thân vào việc đọc Kinh Tinh kính: hãy tuyên xưng nó bằng nhận thức thấu đáo những gì bạn đang nói.
6. Dâng cúng
– Nếu mỗi người công giáo đều dâng cúng, bạn hãy nghĩ ra tất cả những gì có thể làm được.
– Đúng vậy, bổn phận của chúng ta là hỗ trợ Giáo hội, vì đức tin của chúng ta hơn là vì chính Giáo hội.
– Hầu hết mọi người đã dâng cúng, nhưng không phải một phần mười. Hãy dâng cúng một phần mười, đừng bố thí.
– Dâng cúng một phần mười giúp xếp đặt cách trật tự những ơn sủng mà Thiên Chúa đã làm cho chúng ta.
7. Khi rước Mình Thánh Chúa hãy biết bạn đang làm gì
– Bạn đang hấp thụ Mình, Máu, Linh hồn và Thần tính của Thiên Chúa.
– Bạn đang kết hợp trời với đất.
– Bạn đang trở nên một thân thể với Chúa Kitô.
– Bạn hãy tôn thờ Người
– Hãy biết rằng Ngài ở trong tất cả những ai đã tiếp rước Ngài.
8. Nói cho mọi người về Chúa
– Giờ đây bạn có thể truyền giảng Tin mừng (Chia sẻ Tin mừng về Chúa Giêsu), đó là lý do để Giáo hội tồn tại….
“Nếu chúng ta thực sự hiểu Thánh lễ, chúng ta sẽ chết vì vui sướng” (Thánh Gioan Mary Vianney).
G. Võ Tá Hoàng chuyển ngữ
15Tháng Một
2022
2022
Hãy vững tin khi đón nhận ý Chúa
Hãy vững tin khi đón nhận ý Chúa
Trong khi đi dạo một mình hay khi bạn đang ở một mình vào một thời điểm nào đó, hãy hướng mắt về ý muốn của Thiên Chúa và nhìn xem việc Người sắp đặt cho mọi công trình của lòng nhân từ và đức công bằng của Người diễn ra như thế nào, trên trời, dưới đất cũng như nơi âm phủ. Để rồi với lòng khiêm nhường sâu thẳm, hãy đón nhận,ngợi khen, và sau đó hãy cầu chúc cho ý muốn tối cao này, một ý muốn hoàn toàn thánh thiện, công bình và tốt đẹp.
Hãy hướng mắt đến ý muốn cụ thể của Thiên Chúa, ý muốn mà qua đó Người yêu thương những gì thuộc về mình và thực thi nơi chúng những công trình của sự an ủi và sầu khổ khác nhau. Hãy suy ngẫm về điều này đôi chút, vì bạn không chỉ xét đến sự an ủi của Người dưới nhiều cách thức, mà trên tất cả còn là những thử thách mà người lành phải gánh chịu. Sau đó, với lòng khiêm nhường lớn lao, hãy đón nhận, ngợi khen và cầu chúc cho toàn bộ ý muốn ấy.
Cuối cùng, hãy xét đến ý muốn này nơi chính con người của bạn, nơi tất cả những gì xảy đến với bạn dù là tốt hay xấu, và nơi tất cả những gì có thể xảy ra với bạn, ngoại trừ tội lỗi. Sau đó, hãy đón nhận, ngợi khen và cầu chúc cho tất cả những ý muốn này, và hãy tuyên bố ý định của bạn là luôn tôn vinh, trân trọng và tôn thờ ý muốn thánh thiêng này, hãy phó thác cho lòng nhân từ của Người và hãy trao cho Người chính cuộc đời của bạn và của những người thân yêu của bạn.
Hãy kết thúc bằng một hành động cậy trông lớn lao vào ý muốn của Người, qua việc tin rằng Người sẽ làm mọi sự vì chúng ta và vì hạnh phúc của chúng ta. Sau khi thực hiện bài thao luyện này hai hoặc ba lần, bạn có thể rút ngắn hoặc thay đổi nó theo cách mà bạn cho là tốt nhất, nhưng bạn nên thường xuyên thực hành lại bài thao luyện này bằng những lời nguyện tắt.
Mang lấy Chúa Giêsu
Chúng ta sống trong thế giới này vì một lý do duy nhất – để đón nhận và mang lấy Chúa Giêsu dịu ngọt: nơi môi miệng của chúng ta, bằng cách nói về Người; nơi đôi tay của chúng ta, bằng cách thi hành những công việc tốt đẹp của Người; trên đôi vai của chúng ta, bằng cách mang lấy gánh nặng và những nỗi sầu khổ của Người, cả bên trong cũng như bên ngoài. Ôi hạnh phúc biết bao đối với những ai mang lấy Người cách nhẹ nhàng và trung tín! Tôi đã thực sự mang lấy Người trên môi miệng của tôi hằng ngày. Và dường như tôi đã mang Người đến Ai Cập, vì trong Bí tích Giải Tội, tôi đã nghe thật nhiều hối nhân, những người với lòng tin cậy lớn lao, đã thành tâm xưng thú với tôi để đón nhận Người vào linh hồn tội lỗi của họ. Ôi, ước chi điều có thể làm vui lòng Chúa là ao ướcđược ở lại nơi đó!
Chỉ có một lời cao vời khi nói về ơn cứu độ của chúng ta: là Chúa Giêsu! Ước mong rằng chúng ta có thể, dù ít nhất là một lần, được nói lên danh thánh này bằng cả con tim mình. Thật là một niềm an ủi biết bao tuôn đổ trên tất cả những mãnh lực của tâm hồn chúng ta. Chúng ta sẽ hạnh phúc đến nhường nào khi không có gì trong trí hiểu của chúng ta ngoàiChúa Giêsu, khi không có gì trong ký ức của chúng ta ngoài Chúa Giêsu, khi không có gì trong ý muốn của chúng ta ngoài Chúa Giêsu, khi không có gì trong trí tưởng tượng của chúng ta ngoài Chúa Giêsu. Chúa Giêsu sẽ ở khắp mọi nơi trong chúng ta, và tất cả chúng ta sẽ ở trong Người. Chúng ta hãy thử làm điều đó bằng cách nói lên thánh danh của Người cách thường xuyên nhất có thể. Mặc dù bây giờ chúng ta có thể nói cách không rành mạch, nhưng sau cùng chúng ta cũng sẽ nói cách suôn sẻ.
Mang lấy thập giá của chúng ta
Không gì có thể mang lại cho chúng ta một sự bình an sâu xa hơn trong thế giới này cho bằng nhìn vào Chúa chúng ta nơi tất cả những phiền muộn xảy đến với Người từ khi chào đời cho đến khi qua đời. Trong cuộc đời của Người, chúng ta thấy rất nhiều điều vu khống, thiếu thốn, phụ thuộc, đau khổ, dằn vặt, tổn thương và đủ loại cay đắng, khi ngẫm lại những điều đó, chúng ta thấy rằng chúng ta đã sai lầm khi gọi những thử thách nhỏ bé của mình là những phiền muộn và đau khổ, và chúng ta cũng đã sai lầm khi nghĩ rằng chúng ta cần thêm kiên nhẫn để chịu đựng được chúng, nhưng trên thực tế tất cả những gì chúng ta thực sự cần để có thể chịu đựng được những gì xảy đến với chúng ta là một chút lòng khiêm nhường. Linh hồn của bạn luôn bị xáo động bởi nỗi buồn phiền, sự kinh ngạc và lo lắng là vì nó chưa được đặt nền tảng cách đúng đắn vào tình yêu của thập giá và vào việc phục tùng ý muốn của Thiên Chúa.
Một tâm hồn hết lòng trân trọng và quý mến Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh cũng sẽ quý trọng cái chết, sự đau đớn, dằn vặt, xúc phạm, đói khát và tủi nhục của Người, và khi được dự phần một chút nào đó vào những điều này, tâm hồn người ấy sẽ vui mừng và đón lấy điều đó cách đầy yêu thương. Mỗi ngày, bạn cần phải ghi nhớ những đau khổ mà Chúa chúng ta phải chịu để cứu chuộc chúng ta – không phải khi đang cầu nguyện mà thôi, mà là vào những thời điểm khác nữa, chẳng hạn như khi đi dạo – và hãy lưu ý rằng thật tốt đẹp biết bao nếu bạn được dự phần vào những đau khổ như thế. Khi tìm hiểu cách thức để thực hành được như vậy, nghĩa là làm thế nào để loại bỏ những ước muốn của bạn, và đặc biệt là những ước muốn đúng đắn và hợp lý nhất của bạn; và sau đó, với tình yêu lớn lao dành cho cuộc Khổ nạn và Thập giá của Chúa chúng ta, hãy cùng với Thánh Anrê mà kêu lên rằng, “Ôi Thập giá vinh phúc được Đấng Cứu Độ của tôi rất mực yêu dấu, khi nào ngươi sẽ đón nhận ta vào vòng tay của ngươi?”
Tác giả: Thánh Phanxicô Salêsiô
Chuyển ngữ: Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên
15Tháng Một
2022
2022
Biểu tượng của Đức Tin
Biểu tượng của Đức Tin
Trận cháy rừng ác liệt mang tên Marshall vào hôm 29/ 12/ 2021 đã xé toạc quận Boulder, tiểu bang Colorado, Hoa Kỳ khi san bằng các dãy phố, thiêu rụi hơn 6.000 mẫu rừng và khoảng 1.000 ngôi nhà. Giữa sự u ám của đống tro tàn, đổ nát ấy, một biểu tượng bất ngờ của đức tin đã xuất hiện.
Bức tượng này là của gia đình anh chị Tom và Kat Greany, thuộc vào số những cư dân buộc phải sơ tán và hầu như bị mất tất cả những gì họ sở hữu vì trận hỏa hoạn. Có vẻ như, dù căn nhà mơ ước của họ mới được sửa chữa đẹp đẽ, khang trang cách đây 9 tháng, giờ đây chỉ còn là đống tro tàn, nhưng, tự trong tâm hồn, anh chị Tom và Kat vẫn không tắt lịm niềm tin yêu, hy vọng.
Thật thế, Tom không hề than thở về những gì đã mất. Thay vào đó, anh dành thời gian để suy ngẫm về tất cả những gì anh có. Giống như câu chuyện ông Job trong Kinh thánh, Tom vẫn nhận ra các phúc lành của Chúa ngay thời điểm mà cuộc sống hàng ngày của gia đình anh hoàn toàn bị đảo lộn, nếu không muốn nói là, không còn gì nữa.
Chứng kiến những gì khi trở về lại sau trận hoả hoạn, từ sự bàng hoàng, đến độ kinh hoàng, một đàng, Tom nhận thức rõ về sự mất mát quá lớn và đầy chua xót. Nhưng đàng khác, như Tom diễn tả: “chúng tôi chỉ có thể cảm thấy sự mất mát như một nỗi đau vì sự to lớn phi thường của những món quà mà chúng tôi đã được ban tặng trong cuộc sống của mình. Chúng tôi thật diễm phúc biết bao.”
Trước đó, gia đình Tom chẳng bao giờ hình dung được rằng ngọn lửa sẽ cướp mất ngôi nhà của họ. Vì, căn nhà toạ lạc tại một khu phố ngoại ô, cây cối được cắt tỉa cẩn thận, cách xa đồng cỏ và dường như không có loại cây nào dễ bén lửa. Cho dù, nếu có một vài vật có thể bị cháy xém bởi đám cháy rừng, gia đình Tom vẫn không hề nghĩ rằng đám cháy sẽ đến được trước cửa nhà mình. Nhưng rồi, anh chỉ kịp mang được cái két an toàn với các tài liệu quan trọng và chiếc máy tính xách tay, vội vã sơ tán theo sự hướng dẫn của đội cứu hỏa, thậm chí chẳng kịp thay quần áo hoặc mang theo bàn chải đánh răng.
Chính vì giả định về sự an toàn nên khi chứng kiến căn nhà bị cháy rụi càng khiến anh chị thấm thía hơn. Với Tom, khung cảnh chẳng khác gì địa ngục! Trước hiên nhà, nền bê tông vỡ vụn, gạch bể nằm ngổn ngang; những cánh cửa trước nhà được thiết kế đẹp đẽ, giờ tan thành như một quả bóng xoắn. Nhưng Mẹ Maria vẫn đứng đó! Dù một nửa bức tượng bị bồ hóng bao phủ nhưng Mẹ không bị thương tổn chút nào cả.
Như thể được xem là nguồn an ủi cho gia đình Tom, Mẹ Maria vẫn như một lính canh, đứng quan sát hiện trường. Dưới chân Mẹ, có hàng chục viên đá hình trái tim, vốn là những vật lưu niệm mà gia đình Tom thu lượm trong những chuyến đi chơi thường xuyên của họ. Trong cuộc sống thường ngày, những viên đá nhỏ này là biểu tượng quan trọng đối với gia đình, vì chúng nhắc nhở họ rằng họ đã dâng hiến cuộc đời cho Chúa Giêsu qua Mẹ Maria, và chính Thánh Tâm và Mẫu Tâm sẽ bảo vệ và nâng đỡ họ vượt thắng mọi sự. Giờ đây, khi những viên đá hình trái tim ấy bị chôn vùi, thì chính bức tượng Mẹ Maria trở thành một biểu tượng mới cho gia đình. Tom giải thích:
“Bức tượng là một biểu tượng. Giữa đống đổ nát âm ỉ mà vài giờ trước đó chẳng khác gì địa ngục, Mẹ Maria vẫn ở lại. Như Mẹ sẽ luôn ở lại trong cuộc đời của chúng tôi. Mẹ cầu bầu cho chúng tôi vượt qua giai đoạn tăm tối nhất, Mẹ cầu bầu với Chúa Giêsu Kitô, con của Mẹ, và cũng là Đấng Cứu độ của chúng ta. Nhìn vào khung cảnh này thật là đau đớn – ngôi nhà đẹp đẽ và mọi đồ đạc trong đó, cả những món quà giáng sinh mà chúng tôi và các con trai trao cho nhau mấy hôm trước, đã tan tành theo mây khói. Toàn bộ khu phố đã biến mất trong vòng chưa đầy một ngày.”
Việc mất đi ngôi nhà mơ ước thật là bi thảm.
Nhưng Tom thừa nhận rằng, tất cả những gì họ mất đều là thuộc về thế giới tạm thời. Họ biết chắc rằng mình không thể mang theo ngôi nhà này cho cuộc sống mai hậu. Sâu xa hơn, Tom nhận thức rõ: “Thiên Chúa đã không đốt nhà chúng tôi để dạy chúng tôi một bài học. Nhưng qua sự mất nhà, Thiên Chúa đã cho chúng tôi một cơ hội để cảm nghiệm sự an ủi của Người qua sự cầu bầu của mẹ Maria.” Cho nên, họ vẫn hết lòng biết ơn, một lòng biết ơn được khơi nguồn từ đức tin sâu xa đó là, dù ngay trong đám cháy, họ vẫn được an toàn và vẫn được ở bên nhau. Hơn nữa, Tom còn mạnh mẽ xác tín: không ai có thể lấy mất đức tin đã ăn sâu vào nơi họ, một đức tin được nuôi dưỡng bằng những dấu chỉ, đó là Thánh Gia không chỉ ở bên, nhưng còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc họ. Các ngài cầu nguyện cho họ cũng như cho thế giới trong thời kỳ đen tối mà chúng ta đang sống.
Giờ đây, Tom coi thảm kịch này là một lời mời gọi đi theo Chúa. Anh nói:
“Tôi đã nài xin một điều duy nhất trong dịp lễ Giáng sinh đó là: Chúa sẽ làm cho gia đình tôi trở nên thánh thiện. Có thể điều đó bắt đầu bằng việc chúng tôi tước bỏ tài sản để hoàn toàn tín thác vào Người. Vâng, ‘Nếu bạn muốn nên trọn lành, hãy bán của cải, phân phát cho người nghèo khó, thì bạn sẽ có được kho tàng ở trên trời; và hãy đến theo Ta.’ (Mt 19, 21)”
Vậy thì phải chăng, từ kinh nghiệm của gia đình Tom, mỗi chúng ta cũng có những kinh nghiệm riêng của cuộc đời mình, nhưng đều có một điểm chung là:
không phải bức tượng Mẹ Maria còn nguyên vẹn giữa đống tro tàn trở thành biểu tượng bất ngờ của niềm tin, mà chính là tâm hồn của những ai, dù trong những khoảnh khắc tồi tệ nhất, với đầy đủ cảm xúc đớn đau khi bị mất mát, khị phải buông bỏ, như bất kỳ ai khác, nhưng đã khiêm tốn chấp nhận ngọn lửa thanh luyện, của chính Chúa, để nên tinh ròng, sáng ngời và mạnh mẽ ngay giữa đống đổ nát của “căn nhà mơ ước” của đời mình?
Nt. Anna Ngọc Diệp, OP
Dựa theo: denvercatholic.org và: aleteia.org
