2022
ĐTC Phanxicô: Đẩy nhanh cái chết của người già là vô nhân đạo
ĐTC Phanxicô: Đẩy nhanh cái chết của người già là vô nhân đạo
Đức Thánh Cha cảm ơn những tiến bộ của y học trong việc chữa trị giảm đau để đồng hành với những người ở giai đoạn cuối đời, nhưng nhấn mạnh rằng an tử và trợ tử là điều không thể chấp nhận được. Sự sống mới là quyền của con người, chứ không phải sự chết. Từ đó ngài lên án việc đẩy nhanh cái chết của người cao tuổi là một điều vô nhân đạo và phi Kitô giáo.
Từ đề tài “sự hiệp thông của các thánh” được trình bày trong bài giáo lý thứ Tư tuần trước, sáng thứ Tư ngày 9/2/2022, Đức Thánh Cha giúp các tín hữu khám phá lòng sùng kính đặc biệt của các Kitô hữu dành cho thánh Giuse như thánh bổn mạng của những người chết lành.
Đức Thánh Cha mời gọi các Kitô hữu đối diện với cái chết với đức tin vào sự phục sinh và nhấn mạnh rằng đức tin Kitô giáo không phải là cách diệt trừ nỗi sợ hãi cái chết nhưng giúp chúng ta đối diện với nó. Đức Thánh Cha cũng cảm ơn những tiến bộ của y học trong việc chữa trị giảm đau để đồng hành với những người ở giai đoạn cuối đời, nhưng nhấn mạnh rằng an tử và trợ tử là điều không thể chấp nhận được. Sự sống mới là quyền của con người, chứ không phải sự chết. Từ đó ngài lên án việc đẩy nhanh cái chết của người cao tuổi là một điều vô nhân đạo và phi Kitô giáo.
Thánh Giuse được Chúa Giêsu và Mẹ Maria đồng hành trong giờ lâm tử
Mở đầu bài giáo lý, Đức Thánh Cha nói rằng lòng sùng kính thánh Giuse như Đấng bảo trợ của những người chết lành xuất phát từ ý tưởng rằng thánh Giuse qua đời với sự nâng đỡ của Đức Trinh nữ Maria và Chúa Giêsu, trươc khi rời ngôi nhà ở Nadarét. Đức Thánh Cha giải thích thêm: “Không có dữ liệu lịch sử về điều này, nhưng vì người ta không còn thấy thánh Giuse trong cuộc sống công cộng, nên ngài được cho là đã chết tại Nadarét, cùng với gia đình của ngài. Và đồng hành với ngài đi đến cái chết là Chúa Giêsu và Mẹ Maria.”
Các hiệp hội khẩn cầu thánh Giuse thay cho những người đang hấp hối
Đức Thánh Cha lưu ý: “Một thế kỷ trước, Đức Biển Đức XV đã viết “qua thánh Giuse, chúng ta trực tiếp đến với Mẹ Maria, và nhờ Mẹ Maria, chúng ta đến với nguồn gốc của mọi sự thánh thiện là Chúa Giêsu”. Cả thánh Giuse và Mẹ Maria giúp chúng ta đế với Chúa Giêsu. Và khi khuyến khích các thực hành đạo đức để tôn vinh thánh Giuse, Đức Biển Đức XV đặc biệt khuyến nghị một điều: “Bởi vì thánh nhân xứng đáng được xem là người bảo vệ hữu hiệu nhất cho những người sắp qua đời, ngài đã qua đời với sự nâng đỡ của Chúa Giêsu và Mẹ Maria, nên mối quan tâm của các mục tử sẽ là ghi khắc và khuyến khích […] những hiệp hội ngoan đạo đã được thành lập khẩn cầu thánh Giuse thay cho những người đang hấp hối, ví dụ như những hiệp hội ‘Chết lành’, ‘thánh Giuse qua đời’ và ‘cầu cho những người sắp qua đời” (Tự sắc Bonum sane, 25/7/1920).
“Ở cánh cửa tối tăm của sự chết”
Đức Thánh Cha nói tiếp: “Anh chị em thân mến, có lẽ một số người nghĩ rằng loại ngôn ngữ này và chủ đề này chỉ là di sản của quá khứ, nhưng trên thực tế, mối quan hệ của chúng ta với cái chết không bao giờ nhìn về quá khứ, nhưng luôn hướng về hiện tại.” Nói về Đức nguyên Giáo hoàng Biển Đức, trong lá thư gửi các tín hữu cách đây vài ngày, đã nói về chính mình “đang đứng trước cánh cửa tối tăm của sự chết”, Đức Thánh Cha cảm thán: “Thật tốt khi cảm ơn Đức Giáo Hoàng, người có sự sáng suốt này, ở tuổi 95, đã nói với chúng ta điều này: ‘Tôi đang đối mặt với bóng tối của sự chết, ở cánh cửa tối tăm của sự chết’. Đó là một lời khuyên tuyệt vời ngài dành cho chúng ta, phải không?”
“Cái gọi là văn hóa ‘an sinh’ cố gắng xóa bỏ thực tế về cái chết, nhưng đại dịch virus corona đã làm cho nó nổi bật lại theo cách bi thương. Thật là khủng khiếp: sự chết đã ở khắp nơi và rất nhiều anh chị em đã mất đi những người thân yêu mà không thể ở gần họ, và điều này càng khiến cho cái chết trở nên khó chấp nhận và đón nhận hơn.” Đức Thánh Cha chia sẻ rằng có một y tá, đứng trước một người bà sắp chết vì Covid và người này nói: “Tôi xin từ biệt người thân của tôi, trước khi tôi ra đi.” Cô y tá đã can đảm, lấy điện thoại và kết nối cho bà. Đức Thánh Cha nói: “Đó là sự dịu dàng của cuộc chia ly đó …”
Đức tin Kitô giáo giúp đối diện với sự chết
Dù con người cố gắng bằng mọi cách để xua đuổi ý nghĩ về sự tồn tại hữu hạn của mình, tự huyễn hoặc bản thân khi tin rằng chúng ta có thể loại bỏ sức mạnh của cái chết và xua tan nỗi sợ hãi, Đức Thánh Cha nhấn mạnh: “Nhưng đức tin Kitô giáo không phải là cách xua đuổi nỗi sợ hãi cái chết; đúng hơn, nó giúp chúng ta đối mặt với nó. Trước hay sau, tất cả chúng ta sẽ đi đến cánh cửa đó…”
“Ánh sáng đích thực soi sáng mầu nhiệm sự chết đến từ sự phục sinh của Chúa Kitô.” Thánh Phaolô viết: “Nhưng nếu chúng tôi rao giảng rằng Đức Kitô đã từ cõi chết trỗi dậy, thì sao trong anh em có người lại nói: không có chuyện kẻ chết sống lại? Nếu kẻ chết không sống lại, thì Đức Kitô đã không trỗi dậy. Mà nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng.” (1Cr 15, 12-14). Đức Thánh Cha khẳng định: “Có một điều chắc chắn: Chúa Kitô đã sống lại, Chúa Kitô đã phục sinh. Chúa Kitô đang sống giữa chúng ta. Và đây là ánh sáng đang chờ đợi đằng sau cánh cửa tử thần tăm tối đó.”
“Anh chị em thân mến, chỉ nhờ đức tin vào sự phục sinh chúng ta mới có thể đối diện với vực thẳm của sự chết mà không bị nỗi sợ hãi lấn át. Không chỉ vậy: chúng ta có thể khôi phục vai trò tích cực cho sự chết. Thật vậy, suy nghĩ về cái chết, được soi sáng bởi mầu nhiệm của Chúa Kitô, giúp chúng ta nhìn mọi sự sống qua đôi mắt tươi mới.”
Điều cần tích luỹ không phải là của cải, nhưng là lòng bác ái
Tiếp tục bài giáo lý, nhận định về việc tích luỹ của cải vô ích, Đức Thánh Cha nói: “Tôi chưa bao giờ nhìn thấy một chiếc xe tải chở đồ dọn nhà đi theo sau một chiếc xe tang! Chúng ta sẽ đến đó đơn độc, không có gì trong túi của tấm vải liệm: không có gì. Vì tấm vải liệm không có túi. Sự cô đơn của cái chết: đó là sự thật, tôi chưa bao giờ nhìn thấy một chiếc xe tải dọn nhà đi theo sau chiếc xe tang. Nếu một ngày chúng ta sẽ chết thì tích lũy sẽ chẳng có ý nghĩa gì.” Và ngài nhắc nhở: “Những gì chúng ta phải tích lũy là lòng bác ái, và khả năng chia sẻ, khả năng không thờ ơ khi đối mặt với nhu cầu của người khác. Hoặc, nếu một ngày nào đó chúng ta sẽ chết, tranh cãi với anh em, với chị em, với bạn bè, với người thân, hoặc với anh chị em trong đức tin có ý nghĩa gì? Tức giận với chính mình hay với người khác thì có ích gì? Trước cái chết, rất nhiều vấn đề trở nên nhỏ bé. Thật tốt khi chết mà được hòa giải, không có thù hận và không hối tiếc!”
Tiếp đến, Đức Thánh Cha nhắc các tín hữu rằng “Tin Mừng cho chúng ta biết rằng cái chết đến như một tên trộm, và dù chúng ta cố gắng kiểm soát sự xuất hiện của nó đến mức nào, thậm chí có thể lên kế hoạch cho cái chết của chính mình, thì nó vẫn là một sự kiện mà chúng ta phải nhìn nhận và khi đối diện với nó chúng ta cũng phải đưa ra lựa chọn.
Tránh điều trị dai dẳng khi đã cố gắng hết sức
Đối với các Kitô hữu, Đức Thánh Cha đề nghị hai điều cần cân nhắc. “Thứ nhất: chúng ta không thể tránh khỏi cái chết, và chính vì lý do này, sau khi đã làm mọi việc có thể theo cách con người để cứu chữa người bệnh, thì việc điều trị dai dẳng kiên quyết trở thành trái đạo đức (x. Giáo lý Hội thánh Công giáo, số 2278). Câu nói của đoàn dân trung thành của Chúa, của những người đơn sơ là: ‘Hãy để họ ra đi bình an’; ‘hãy giúp họ chết trong an bình’, thật là khôn ngoan biết bao!
Tránh khuynh hướng an tử
Sự cân nhắc thứ hai liên quan đến phẩm chất của chính cái chết, của nỗi đau, của đau khổ. Đức Thánh Cha nói: “Thật vậy, chúng ta phải biết ơn tất cả sự giúp đỡ mà y học đã cố gắng ban tặng, để thông qua cái gọi là ‘chăm sóc giảm nhẹ’, mỗi người đang chuẩn bị sống chặng đường cuối cùng của cuộc đời có thể sống theo cách nhân văn nhất có thể. Tuy nhiên, chúng ta phải cẩn thận để không nhầm lẫn sự trợ giúp này với khuynh hướng không thể chấp nhận được, đưa đến việc giết người.”
Nhấn mạnh rằng “chúng ta phải đồng hành với mọi người đi đến sự chết, nhưng không được tạo nên cái chết hoặc giúp đỡ cho bất kỳ hình thức tự tử nào, Đức Thánh Cha kêu gọi quyền được chăm sóc và điều trị cho tất cả mọi người, “để những người yếu nhất, đặc biệt là người già và bệnh tật, không bao giờ bị loại bỏ. Thật vậy, sự sống là một quyền, chứ không phải là cái chết; sự chết phải được đón nhận chứ không phải được tạo nên. Và nguyên tắc đạo đức này áp dụng cho tất cả mọi người, không chỉ Kitô hữu hay những người có đức tin.”
Đẩy người già đến gần cái chết hơn là điều vô nhân đạo
Đức Thánh Cha nói thêm: “Nhưng ở đây tôi muốn nhấn mạnh một vấn đề xã hội, nhưng là một vấn đề có thật. “Việc lập kế hoạch” đó – tôi không biết đó có phải là từ thích hợp không – nhưng để thúc đẩy nhanh cái chết của những người già. Rất nhiều lần người ta thấy trong một số xã hội rằng những người già không có của cải thì người ta cho họ ít thuốc hơn mức họ cần, và điều này là vô nhân đạo: điều này không phải là giúp đỡ cho họ, điều này là đẩy họ đến gần cái chết hơn. Và đây không phải là cách nhân bản cũng như không phải cách của Kitô giáo.”
Khởi đầu và kết thúc cuộc đời đều là một mầu nhiệm cần trân trọng
Theo Đức Thánh Cha, “người cao tuổi phải được coi như một kho tàng của nhân loại: họ là trí tuệ của chúng ta. Cho dù họ không nói, và cho dù họ không có cảm thức nữa, họ là biểu tượng sự khôn ngoan của con người. Họ là những người đã đi trước chúng ta và để lại cho chúng ta biết bao điều đẹp đẽ, bao kỉ niệm, bao sự khôn ngoan.” Ngài kêu gọi: “Xin đừng cô lập người già, đừng làm cho người già nhanh chết. Việc dịu dàng với một người già cũng mang lại hy vọng giống như vuốt ve một đứa trẻ, bởi vì khởi đầu và kết thúc của cuộc đời luôn là một mầu nhiệm, một mầu nhiệm cần phải được trân trọng, đồng hành, chăm sóc và yêu quý.”
Cuối cùng, Đức Thánh Cha “xin thánh Giuse giúp chúng ta sống mầu nhiệm sự chết cách tốt nhất có thể. Đối với một Kitô hữu, chết lành là một kinh nghiệm về lòng thương xót của Thiên Chúa, Đấng đến gần chúng ta ngay cả trong giây phút cuối cùng của cuộc đời chúng ta.”
Đức Thánh Cha nói rằng “ngay cả trong Kinh Kính Mừng, chúng ta cũng cầu xin Đức Mẹ ở gần chúng ta “vào giờ lâm tử”. Vì vậy, ngài muốn kết thúc bài giáo lý này bằng cách mời gọi các tín hữu cùng nhau đọc một kinh Kính Mừng cầu nguyện cho những người hấp hối, những người đang sống giây phút chuyển tiếp để đi đến cánh cửa tăm tối này, và cho những người thân đang chịu cảnh tang tóc mất mát…
Đức Thánh Cha và cộng đoàn đã đọc một kinh Kính Mừng theo ý chỉ này.
Hồng Thủy
2022
Hạnh phúc
Chúa Nhật VI TN Năm C
Lc 6, 17. 20-26
Hạnh phúc
Ngày hôm nay chúng ta suy niệm về “các mối phúc thật theo thánh Luca”: Chúng ta biết nhiều hơn về các mối phúc thật của thánh Matthêu, vẫn được hát trong ngày lễ Các Thánh. Nhung vì chúng ta có một Lời Chúa được truyền lại bởi hai truyền thống khác nhau, chúng ta hãy thử lắng nghe bản văn hoàn toàn đặc biệt của Luca. Ở đấy, có một thứ liệu quả của kỹ thuật âm thanh lập thể bởi hai cái loa khác nhau.
Các mối phúc thật theo Thánh Matthêu (5,1):
Bài giảng trên Núi…
Bao gồm chín “mối phúc thật…”
Nhấn mạnh đến sự “nghèo khó tâm linh”, sự đói khát công lý sự đau khổ nội tâm…
Các mối phúc thật của Thánh Luca (6,20):
Bài giảng ở chỗ đất bằng.
Bao gồm “bốn” mối phúc thật và bốn mối hoạ.
Nói về những người nghèo đói thật, bụng đói thật sự và khóc chảy nước mắt.
Chúa Giêsu đi xuống cùng với các ông, Người dừng lại ở một chỗ đất bằng. Tại đó, đông đảo môn đệ của Người, và đoàn lũ dân chúng từ khắp miền Giu-đê, Giê-ru-sa-lem cũng như từ miền duyên hải Tia và Xi-đôn
Hình ảnh Chúa Giê-su xuống núi và đến một chỗ đất bằng, tại đó dân Thiên Chúa tụ tập quanh Người gợi nhớ hình ảnh ông Mô-sê từ trên núi Xi-nai xuống mang theo sứ điệp của Thiên Chúa. Thính giả của Chúa Giê-su đại diện đầy đủ mọi thành phần Dân Thiên Chúa: nhóm Mười Hai, đông đảo môn đệ của Người và đoàn lũ dân chúng từ khắp nơi đến.
Sau khi đã thường xuyên nói Chúa Giê-su giảng dạy, cuối cùng thánh Lu-ca sắp sửa đưa ra một trong những khuôn mẫu cô động nhất của công việc giảng dạy đó. Để làm điều này, thánh Lu-ca không tham khảo sách Tin Mừng Mác-cô nữa mà tận dụng “Nguồn các lời”.
Bài Diễn Từ Trên Cánh Đồng của thánh Lu-ca phù hợp theo mức độ nào đó với Bài Diễn Từ Trên Núi, một bài trình thuật rộng lớn mà thánh Mát-thêu ghi lại cho chúng ta từ chương 5 đến chương 7. Trong suốt sứ vụ công khai của Người ở những miền và những thành phố khác nhau của Ít-ra-en, chắc hẳn Đức Giê-su đã rao giảng những điều như vậy trong những dịp khác nhau. Khi sử dụng “Nguồn các lời” này, mỗi thánh ký, dưới ơn linh hứng của Chúa Thánh Thần, đã sẽ chọn tường thuật những lời mà các ngài cho là hữu ích nhất trong việc giảng dạy cho độc giả đương thời của các ngài: người Ki-tô hữu gốc Do thái trong trường hợp thánh Mát-thêu, người Ki-tô hữu gốc lương dân trong trường hợp thánh Lu-ca.
Trước khi Chúa Giê-su công bố các Mối Phúc và các Mối Họa, thánh Lu-ca ghi nhận: “Đức Giê-su ngước mắt nhìn lên các môn đệ” (6: 20). Tại sao thánh Lu-ca lại ghi nhận cái nhìn của Đức Giê-su như thế? Đức Giê-su là Thiên Chúa làm người để gặp con người, chứ không phải là một đạo sư truyền bá một đạo lý hay một giáo thuyết. Ánh mắt của Người, cũng chính là cái nhìn của Thiên Chúa, đang rọi xuống trên những con người đang hiện diện trước mặt Người. Nơi những con người mà Người đang đưa mắt nhìn, Đức Giê-su thấy những người con được Chúa Cha tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa; vì thế, Người mặc khải cho họ biết họ là ai và làm cách nào để sống cho xứng đáng là những người con đích thật của Chúa Cha.
Tin Mừng hôm nay trình bày bốn lời chúc phúc cho những kẻ nghèo đói, khóc than, bị oán ghét, khai trừ, sỉ vả, kèm theo bốn lời nguyền rủa những người giàu có, no nê, vui cười, được mọi người ca tụng. Đó là những phản dề đối chiếu giữa người nghèo và kẻ giàu, giữa người đói khát và kẻ no đầy. Đó!à hai giai cấp trong xã hội luôn đối chọi nhau mà Tin Mừng muốn mô tả để người tín hữu Kitô chọn lựa.
Một điều rất hiển nhiên là Tin Mừng hướng chúng ta về người xấu số bất hạnh và cho họ niềm hy vọng hạnh phúc ở tương lai. Tin Mừng không hề lên án người giàu chỉ vì họ có nhiều tiền của, nhưng chỉ lên án những ai giàu có mà không biết sử dụng của cải cho đúng, thậm chí còn dùng của cải như chướng ngại vật chặn đứng lối vào Nước Trời. Giàu có mà hành xử như các thành viên của hội thượng lưu ở New York trong câu chuyện còn được Chúa chúc phúc. Họ được hưởng hạnh phúc đời này lẫn đời sau. Bí quyết của họ rất đơn giản, đó chính là biết chia sẻ và trao ban.
Chúa Giêsu không lên án của cải nói chung, nhưng lên án cách sử dụng của cải. Tiền bạc tự nó không có giá trị đạo đức. Nó có thể dùng vào việc tốt cũng như việc xấu. Tự bản chất, của cải không là những gì xấu xa, và tự bản chất, nghèo khó cũng không phải là nhân đức.
Chỉ “khốn cho người giàu có” khi họ không phân định rạch ròi giữa phương tiện và cùng đích, giữa điều kiện vật chất và định mệnh con người. Đời sống của họ bị nhận chìm bởi các con sóng là các phương tiện vật chất như áo quần, xe cộ, nhà cửa và các tiện nghi trong cuộc sống. Đời sống của họ bị đè bẹp bởi các hành trang vật chất chỉ giúp họ duy trì và phát huy sự sống trong cuộc lữ hành ngắn ngủi của một đời người. Họ quên rằng con người sống nhờ phương tiện nhưng lại sống cho cùng đích. Và cùng đích của con người là “Hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6,33). Thảm kịch của cuộc sống chính là lo lắng tìm kiếm phương tiện, và để cho cùng đích tan biến trong phương tiện.
Con đường hạnh phúc là một lược đồ gợi ra những thái độ nội tâm phải sống (tâm hồn nghèo khó, dợn sơ, tin tưởng), những cách xứ sự đối với tha nhân (lòng thương xót, ý muốn hoà bình), những hoàn cảnh khó khăn phải đối phó (những thử thách về tâm hồn và vật chất, những sự bắt bớ). Tất cả những điều này đều hoà hợp chặt chẽ trong bản thân Đức Giêsu, Đấng được coi như thực hiện trọn vẹn nơi mình khát vọng hạnh phúc. Chính Người đã muốn sống cách hoàn hảo tinh thần của Mối Phúc trong cuộc sống của mình và đến cả trong cái chết của Người nữa.
Nếu như các mối phúc dẫn nhập vào một luân lý chủ trương hạnh phúc, thì không phải vì luân lý ấy có những lời khuyên thực hành rõ rệt, hoặc đòi hỏi phải tự mình cố gắng mới được nhưng luân lý ấy chỉ muốn đưa ra cho người ta một ân huệ nhưng không của Thiên Chúa, ân huệ được hiệp thông trong sự sống và hoan lạc với Người. Ân huệ này, người ta sẽ bắt đầu tiếp nhận bằng cách ngày qua ngày sống hai giới luật về tình yêu của Chúa là yêu Chúa và yêu người. Giống như con đường hạnh phúc mà Đức Giêsu đã khởi sự và đi trước vậy.
Chúa Giêsu cũng chính là kho tàng ẩn giấu. Ngài là niềm hạnh phúc lớn lao ở rất gần chúng ta mà chúng ta không nhận ra Ngài. Chúng ta chỉ có thể tìm gặp được Ngài Bằng “con đường ngược chiều”, con đường đau khổ và hy sinh. Chỉ qua con đường này chúng ta mới đến được vinh quang.
2022
Chúa Nhật Tuần VI – Mùa Thường Niên
Chúa Nhật Tuần VI – Mùa Thường Niên
Ca nhập lễ
Tv 30,3-4
Lạy Chúa,
xin Ngài nên như núi đá cho con trú ẩn,
như thành trì để cứu độ con.
Núi đá và thành trì bảo vệ con,
chính là Chúa,
vì uy danh Ngài,
xin dẫn đường chỉ lối cho con.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa, Chúa thích ngự trong những tâm hồn ngay thẳng, xin tuôn đổ hồng ân giúp chúng con ăn ở thế nào, để trở nên đền thờ của Chúa. Chúng con cầu xin …
Bài đọc 1
Gr 17,5-8
Đáng nguyền rủa thay kẻ tin ở người đời ; phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Đức Chúa.
Bài trích sách ngôn sứ Giê-rê-mi-a.
5Đức Chúa phán như sau :
Đáng nguyền rủa thay kẻ tin ở người đời,
lấy sức phàm nhân làm nơi nương tựa,
và lòng dạ xa rời Đức Chúa !
6Người đó sẽ như bụi cây trong hoang địa
chẳng được thấy hạnh phúc bao giờ,
hạnh phúc có đến cũng chẳng nhìn ra,
nhưng sẽ ở mãi nơi đồng khô cỏ cháy,
trong vùng đất mặn không một bóng người.
7Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Đức Chúa,
và có Đức Chúa làm chỗ nương thân.
8Người ấy như cây trồng bên dòng nước,
đâm rễ sâu vào mạch suối trong,
mùa nóng có đến cũng chẳng sợ gì,
lá trên cành vẫn cứ xanh tươi,
gặp năm hạn hán cũng chẳng ngại,
và không ngừng trổ sinh hoa trái.
Đáp ca
Tv 1,1-2.3.4 và 6 (Đ. Tv 39,5a)
Đ.Phúc thay người đặt tin tưởng nơi Chúa.
1Phúc thay người chẳng nghe theo lời bọn ác nhân,
chẳng bước vào đường quân tội lỗi,
không nhập bọn với phường ngạo mạn kiêu căng,
2nhưng vui thú với lề luật Chúa,
nhẩm đi nhẩm lại suốt đêm ngày.
Đ.Phúc thay người đặt tin tưởng nơi Chúa.
3Người ấy tựa cây trồng bên dòng nước,
cứ đúng mùa là hoa quả trổ sinh,
cành lá chẳng khi nào tàn tạ.
Người như thế làm chi cũng sẽ thành.
Đ.Phúc thay người đặt tin tưởng nơi Chúa.
4Ác nhân đâu được vậy :
chúng khác nào vỏ trấu gió thổi bay.
6Vì Chúa hằng che chở nẻo đường người công chính,
còn đường lối ác nhân đưa tới chỗ diệt vong.
Đ.Phúc thay người đặt tin tưởng nơi Chúa.
Bài đọc 2
1 Cr 15,12.16-20
Nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền.
Bài trích thư thứ nhất của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Cô-rin-tô.
12 Thưa anh em, nếu chúng tôi rao giảng rằng Đức Ki-tô đã từ cõi chết trỗi dậy, thì sao trong anh em có người lại nói : không có chuyện kẻ chết sống lại ? 16 Vì nếu kẻ chết không trỗi dậy, thì Đức Ki-tô cũng đã không trỗi dậy. 17 Mà nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em. 18 Hơn nữa, cả những người đã an nghỉ trong Đức Ki-tô cũng bị tiêu vong. 19 Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Ki-tô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người.
20 Nhưng không phải thế ! Đức Ki-tô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu.
Tung hô Tin Mừng
Lc 6,23ab
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Chúa nói : Anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng
Lc 6,17.20-26
Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó. Khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
17 Khi ấy, Đức Giê-su ở trên núi xuống cùng với Nhóm Mười Hai, Người dừng lại ở một chỗ đất bằng. Tại đó, có nhiều môn đệ của Người, và đoàn lũ dân chúng đến từ khắp miền Giu-đê, Giê-ru-sa-lem cũng như từ miền duyên hải Tia và Xi-đôn.
20 Thấy vậy, Đức Giê-su ngước mắt nhìn các môn đệ và nói :
“Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó,
vì Nước Thiên Chúa là của anh em.
21“Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói,
vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng.
“Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc,
vì anh em sẽ được vui cười.
22 “Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xoá tên như đồ xấu xa. 23 Ngày đó, anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Bởi lẽ các ngôn sứ cũng đã từng bị cha ông họ đối xử như thế.
24 “Nhưng khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có, vì các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi.
25 “Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các ngươi sẽ phải đói.
“Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được vui cười vì các ngươi sẽ phải sầu khổ khóc than.
26 “Khốn cho các ngươi khi được mọi người ca tụng, vì các ngôn sứ giả cũng đã từng được cha ông họ đối xử như thế.”
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin cho thánh lễ này, tẩy rửa và đổi mới chúng con, để chúng con đáng được phần thưởng muôn đời Chúa hứa ban cho những kẻ thi hành ý Chúa. Chúng con cầu xin …
Lời Tiền Tụng
Lạy Chúa là Cha chí thánh, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Chúng con biết rằng: vì vinh quang vô biên của Chúa, Chúa dùng thần tính mà cứu giúp chúng con là những kẻ phải chết. Hơn nữa, Chúa còn dự liệu linh dược để chữa lành bản tính phải chết của chúng con và giải thoát tất cả những ai vì mang bản tính đó mà bị hư mất, nhờ Ðức Ki-tô, Chúa chúng con.
Nhờ Người, đạo binh các Thiên thần thờ lạy uy linh Chúa, muôn đời hoan hỷ trước Tôn Nhan. Xin cho chúng con được đồng thanh với các ngài hân hoan tung hô rằng:
Thánh! Thánh! Thánh! …
Ca hiệp lễ
Tv 77,29-30
Họ được ăn, ăn thật no nê,
thèm thứ gì, Chúa đãi cho thứ đó,
ước ao chi, họ chẳng hề thất vọng.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, Chúa đã cho chúng con được thưởng thức bánh bởi trời, xin dạy chúng con không ngừng khao khát Chúa là nguồn sống đích thực. Chúng con cầu xin …
2022
BỮA TIỆC GIỮA ĐỒNG VẮNG
- 2Thứ Bảy trong tuần thứ Năm Mùa Quanh Năm
1 V 12:26-32; Tv 106:6-7,19-20,21-22; Mc 8:1-10
BỮA TIỆC GIỮA ĐỒNG VẮNG
Tin mừng theo thánh Matcô hôm nay đã kể lại hành trình giảng dạy và những việc làm của Chúa Giêsu nơi vùng đất của dân ngoại, trong miền thập tỉnh, gần biển hồ Tibêria.
Chúa Giêsu xuất hiện như vị cứu tinh chữa lành mọi chứng đau bệnh trong dân. Đến địa hạt Tia, Người trừ quỷ cho con gái một người đàn bà Hy Lạp, gốc Phinêxi thuộc xứ Xyri (Mc 7, 24-30). Sau đó qua vùng Xiđon, Người còn chữa một người vừa điếc vừa ngọng. Tiếng lành đồn xa, đám dân ngoại nghe và chứng kiến nhiều nhiều phép lạ phi thường Chúa Giêsu đã làm thì kéo đến để nghe Người giảng dạy. Họ đi ròng rã suốt ba ngày đàng và chiều hôm ấy, Chúa Giêsu đã thực hiện phép lạ hóa bánh ra nhiều, dọn một bữa tiệc thịnh soạn giữa đồng vắng đãi bốn ngàn người ăn no nê.
Đây là lần thứ hai Chúa Giêsu làm phép lạ hóa bánh ra nhiều. So với lần thứ nhất (Mc 6, 30-44), thấy đám đông dân chúng đi theo, các môn đệ xin Đức Giêsu cho họ giải tán vào làng mạc tìm thức ăn. Đức Giêsu đề nghị các ông hãy cho họ ăn. Sau đó Người dùng 5 chiếc bánh và 2 con cá thực hiện phép lạ cho 5 ngàn người đàn ông ăn và còn dư 12 thúng đầy.
Phép lạ lần thứ hai xảy ra là do lòng thương của Đức Giêsu khi thấy đám đông đi theo suốt ba ngày mà không có gì ăn. Từ 7 chiếc bánh và vài con cá nhỏ, Đức Giêsu đã làm phép lạ cho 4 ngàn người ăn no và còn dư 7 giỏ bánh. Trong Kinh Thánh, số 7 tượng trưng cho sự hoàn hảo, cho đức ái và ân sủng của Thiên Chúa. Trong cuộc sáng tạo kỳ diệu, Thiên Chúa đã hoàn tất mọi việc trong sáu ngày và ngày thứ bảy Người nghỉ ngơi.
Từ đó “số 7” trở thành khuôn mẫu để quy định thời gian làm việc mà chúng ta thường gọi là “một tuần”.Vì thế phép lạ từ 7 chiếc bánh là một bằng chứng sống động cho tình thương của Thiên Chúa. Người không chỉ cho ăn qua cơn đói mà cho cách hào phóng dư thừa suốt chu trình của 7 ngày sống. Người không chỉ đáp ứng nhu cầu vật chất tạm thời mà còn hướng dân chúng đến nguồn lương thực Thần Linh để được sống muôn đời.
Lương thực, ăn uống là nhu cầu sống còn của loài người.Như đám đông dân chúng đi theo Chúa Giêsu, nhân loại hôm nay cũng mong muốn một cuộc sống no cơm ấm áo. Tận sâu trong cõi lòng, chúng ta ấp ủ khát vọng một cuộcsống hạnh phúc, công bằng và bác ái. Đáng tiếc chúng ta lại đặt khát vọng ấy nơi vật chất và nơi con người trần gian nên chỉ nhận được nỗi thất vọng ê chề. Chỉ nơi Chúa Giêsu mới có câu trả lời chính đáng cho mọi khát vọng của chúng ta. Người đã thực hiện tất cả vì yêu thương trong sự vâng phục thánh ý Chúa Cha. Người không chỉ cho ăn bánh vật chất mà còn hiến thân mình làm của ăn nuôi của uống cho loài người được sống đời đời.
Con người được ban cho hai món quà vô giá là sự sống và tình yêu. Sự sống là một huyền nhiệm và tình yêu là điều thiêng liêng cao quý. Tình yêu mang đến cho con người sự sống và sự sống duy trì được là nhờ vào tình yêu. Sự sống và tình yêu đều xuất phát từ Thiên Chúa, hay nói cách khác Thiên Chúa là cội nguồn của sự sống và tình yêu. Thiên Chúa đã biểu lộ tình yêu của Người qua cuộc sáng tạo kỳ diệu để trao ban sự sống cho muôn vật muôn loài. Sự hiện hữu của chúng ta trên cõi đời này là bằng chứng hùng hồn nhất về tình yêunhiệm mầu của Thiên Chúa.
Trong lá thư thứ nhất, thánh sử Gioan đã định nghĩa: “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4, 16). Chân lý này được mặc khải nhiều lần cho dân Chúa. Tình yêu Thiên Chúa hiện diện và đồng hành với dân Israeltrong mọi biến cố. Tình yêu ấy được cụ thể hóa và thành toàn viên mãn nơi Chúa Giêsu, một tình yêu đã hiến dâng đã cho đi đến giọt máu cuối cùng. Tình yêu ấy biểu lộ nơi trái tim từ ái của Chúa Giêsu, một trái tim tỏa ra ngọn lửa nồng ấm thiêu đốt mọi thứ yếu hèn của loài người. Trái tim ấy đã mở ra ôm ấp những tâm hồn đau khổ, xoa dịu mọi vết thương và tha thứ mọi tội lỗi. Chỉ có Thiên Chúa mới thấu hiểu mọi nỗi khổ đau phiền lụy của kiếp người, chỉ có tình yêu mới làm cho con người được sống và sống dồi dào sung mãn.
Không có tình thương nào cao quý hơn tình thương của người đã hy sinh mạng sống vì người mình yêu, một tình yêu được ký kết bằng máu và mạng sống. Lời khẳng định ấy mở ra cho loài người tia hy vọng sau những tháng ngày đi hoang. Tình yêu có một mãnh lực kỳ diệu không chịu khuất phục trướcmột thế lực nào. Biết bao lần loài người đã phản bội, lãng quên lời giao ước để rồi chuốc lấy những đổ vỡ và đắng cay, chuốc lấy những ly tan và chết chóc. Tình thương và ơn tha thứ của Thiên Chúa đã xóa nhòa tất cả, cho chúng ta tận hưởng hạnh phúc đích thực.
Nơi Chúa Giêsu, hạnh phúc vượt lên các giá trị trần gian, vượt qua những bãi bờ thác ghềnh danh vọng và quyền lực. Hạnh phúc đó được ấp ủ và dưỡng nuôi trong hạnh phúc lớn lao của người Thiên Chúa Cha – Đấng giàu lòng thương xót. Hạnh phúc ấy được kết tinh trong Người Con duy nhất, trở thành hy tế sống động dâng lên Thiên Chúa Cha.
Với con mắt đức tin, chúng ta biết rằng Thiên Chúa hằng tuôn đổ ân phúc của Người ngay cả lúc chúng ta gặp đau khổ thất bại và mang đầy những lầm lỗi. Vì thế hạnh phúc chính là nhận ra những giới hạn của thân phận con người trước tình thương vô biên của Thiên Chúa. Như bản tình ca được kết dệt bởi những nốt trầm bổng, hạnh phúc không chỉ là lúc chúng ta nhận được nhiều điều may lành nhưng cũng là lúc chúng ta dám cho đi, dám trao tặng, dám hao mòn vì tình yêu; không chỉ là lúc chúng ta sum họp mà cả những lúc chia xa đổ vỡ. Tất cả là hồng ân, không có gì của con người nằm ngoài bàn tay yêu thương quan phòng của Thiên Chúa. Bao lâu sống xa Thiên Chúa là chúng ta phải gánh chịu nỗi bất hạnh. Chỉ phút giây nào chúng ta còn sống trong ân sủng của Thiên Chúa đó là chúng ta đang có hạnh phúc đích thực. Nói như thánh Augustinô “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên trái tim con cho Chúa, linh hồn con còn mãi khắc khoải cho đến khi nào được an nghỉ trong Chúa”.
Ngày hôm nay, để nuôi sống nhân loại, Chúa Giêsu đã lấy chính Thịt Máu Ngài làm lương thực. Với lương thực này, Ngài tin chắc mọi người sẽ được no thỏa để phát triển đến mức tối đa. Tuy nhiên, để lương thực ấy đủ cho mọi người thuộc mọi thế hệ, Chúa Giêsu cần đến sự cộng tác của con người, đặc biệt của Giáo Hội, bằng cách phân phát, chia sẻ. Ðám đông sẽ vẫn tiếp tục đói khát, nếu hôm ấy, các Tông đồ không phân phát bánh và cá cho người khác, vì sợ thiếu hay sợ không còn phần cho mình. Nếu vậy, cảnh đói khát hiện nay vẫn còn, là vì người ta từ chối phân phát và chia sẻ cho người khác, mà chỉ bo bo giữ lấy cho mình.
Nếu không có tấm lòng yêu thương, thì chẳng những chúng ta không thể có sáng kiến trong việc cứu giúp người khác, mà còn biện hộ cho khả năng giới hạn của mình và đình hoãn việc trợ giúp. Những lúc ấy, Bí tích Thánh Thể chúng ta đón nhận mỗi ngày trở thành vô hiệu: thay vì là nguồn lương thực không bao giờ cạn thúc đẩy chúng ta quảng đại hiến tặng người khác, nó trở thành gia sản độc quyền và cằn cỗi của riêng chúng ta
Chúa Giêsu đã chạnh lòng thương đám đông dân chúng, dưới ánh sáng của Lời Chúa, chúng ta cũng được mời gọi “cảm thương” trước nhu cầu của tha nhân. Xung quanh chúng ta còn biết bao người đang chịu cảnh thiếu thốn về của ăn vật chất, thiếu công bằng bác ái. Ước gì chúng ta biết trao cho nhau một cử chỉ yêu thương, một ánh mắt thân thiện, một câu nói cảm thông thể hiện tinh thần Phúc Âm, cho tình thương Chúa thẫm đẫm mọi sinh hoạt của đời sống chúng ta.
