2022
ĐTC tuyên bố thứ Tư lễ Tro, 3/2, là Ngày ăn chay cầu nguyện cho Ucraina
ĐTC tuyên bố thứ Tư lễ Tro, 3/2, là Ngày ăn chay cầu nguyện cho Ucraina
Cuối buổi tiếp kiến chung ngày 23/2/2022 Đức Thánh Cha đã đưa ra lời kêu gọi hoà bình cho Ucraina; ngài mời gọi dành ngày thứ Tư lễ Tro, 3/2, ăn chay cầu nguyện cho hoà bình.
Đức Thánh Cha bày tỏ đau khổ và lo lắng vì tình hình ở Ucraina: “Tôi rất đau lòng vì tình hình ngày càng tồi tệ ở miền đông Ucraina. Bất chấp những nỗ lực ngoại giao trong vài tuần qua, những viễn cảnh ngày càng đáng báo động đang mở ra.”
Kêu gọi những người có trách nhiệm chính trị
Nhận xét rằng “một lần nữa hòa bình của tất cả lại bị đe dọa bởi các lợi ích đảng phái”, Đức Thánh Cha kêu gọi “những người có trách nhiệm chính trị nghiêm túc kiểm tra lương tâm trước mặt Thiên Chúa, Đấng là Thiên Chúa của hòa bình chứ không của chiến tranh; là Cha của tất cả mọi người, không chỉ của một ai đó, Đấng muốn chúng ta trở thành anh em chứ không phải kẻ thù.” Ngài “yêu cầu tất cả các bên liên quan tránh bất kỳ hành động nào gây ra đau khổ hơn nữa cho người dân, làm mất ổn định sự chung sống giữa các quốc gia và làm mất uy tín của luật pháp quốc tế.”
Ngày 2/3: Ngày ăn chay cầu nguyện cho hoà bình ở Ucraina
Ý thức rằng chỉ có Chúa mới có thể thay đổi lòng họ, Đức Thánh Cha kêu gọi tất cả mọi người, những người có đức tin và những người không tín ngưỡng, cùng cầu nguyện cho hoà bình. Ngài nói: “Chúa Giêsu dạy chúng ta rằng sự vô nghĩa tàn ác của bạo lực được giải đáp bằng vũ khí của Thiên Chúa, bằng cầu nguyện và ăn chay. Tôi mời mọi người vào ngày 2/3 tới, Thứ Tư Lễ Tro, là Ngày ăn chay vì hòa bình. Tôi đặc biệt khuyến khích các tín hữu tận tâm hết lòng cho việc cầu nguyện và ăn chay vào ngày đó. Xin Nữ Vương Hòa bình bảo vệ thế giới khỏi sự điên cuồng của chiến tranh.”
Hồng Thủy
2022
TGP.HÀ NỘI: Thông Báo – Hai cán bộ phá rối và xúc phạm Thánh Lễ tại Nhà thờ Vụ Bản, tỉnh Hoà Bình
TGP.HÀ NỘI: Thông Báo – Hai cán bộ phá rối và xúc phạm Thánh Lễ tại Nhà thờ Vụ Bản, tỉnh Hoà Bình
Xin thông báo tới Quý Cha và Anh Chị Em trong Tổng Giáo phận. Chúng ta cùng cầu nguyện để những khó khăn về thực hành đức tin của các Linh mục và giáo dân trong tỉnh Hòa Bình mau chóng được giải quyết.
THÔNG BÁO
Hai cán bộ phá rối và xúc phạm Thánh Lễ tại Nhà thờ Vụ Bản, tỉnh Hoà Bình
Văn phòng Toà Tổng Giám mục Hà Nội trân trọng thông báo tới Quý Cha, Quý Tu sĩ và Anh Chị Em giáo dân.
Theo chương trình mục vụ của năm Truyền giáo, hồi 10 giờ sáng Chúa nhật, ngày 20/02/2022, Đức Tổng Giám mục Giuse Vũ Văn Thiên đã dâng lễ tại Nhà thờ giáo xứ Vụ Bản, thuộc thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình. Thánh lễ tới phần rước Mình Thánh Chúa thì hai người trong trang phục bất xứng (một người mặc áo mưa và đội mũ bảo hiểm) xông thẳng lên cung thánh. Họ ngang nhiên đoạt micro ở giảng đài, yêu cầu giáo dân phải giải tán, bất chấp sự can ngăn của một số giáo dân và linh mục đồng tế. Được biết hai người này là Phạm Hồng Đức, Bí thư thị trấn Vụ Bản và Phạm Văn Chiến, phó Chủ tịch UBND thị trấn Vụ Bản.
Đây là hành động thiếu văn hóa, vô nhân bản, lạm dụng chức quyền, vi phạm nghiêm trọng quyền tự do tôn giáo, quyền thực hành tôn giáo của Giám mục, Linh mục và giáo dân, cũng như xúc phạm đến nghi lễ thánh thiêng nhất và niềm tin của các tín hữu Công Giáo. Hành động này không thể chấp nhận trong một đất nước có pháp quyền, gây bức xúc và đau buồn cho các tín hữu có mặt cũng như mọi người xem hình ảnh lưu truyền trên các trang mạng.
Ngay hôm sau, ngày 21/02/2022, Tòa Tổng Giám mục Hà Nội đã gửi văn thư khiếu nại khẩn cấp đến các cấp chính quyền về vụ việc rất đáng lên án này, đồng thời đề nghị UBND tỉnh Hòa Bình tôn trọng tự do tôn giáo và sinh hoạt tôn giáo của các tín hữu Công Giáo trong tỉnh. Tỉnh Hoà Bình là một địa bàn thường xuyên bị chính quyền địa phương gây khó dễ trong các hoạt động tôn giáo, mặc dù Toà Tổng Giám mục đã nhiều lần kiến nghị với các cấp chính quyền từ trung ương tới địa phương.
Xin thông báo tới Quý Cha và Anh Chị Em trong Tổng Giáo phận. Chúng ta cùng cầu nguyện để những khó khăn về thực hành đức tin của các Linh mục và giáo dân trong tỉnh Hòa Bình mau chóng được giải quyết.
Hà Nội, ngày 24 tháng 02 năm 2022
T/M Tòa TGM Hà Nội
Linh mục Anphongsô Phạm Hùng
Chánh Văn phòng Toà Tổng Giám mục, Chưởng Ấn
2022
ĐTC Phanxicô: Phải tìm lại sự liên kết, liên minh giữa người già và người trẻ
ĐTC Phanxicô: Phải tìm lại sự liên kết, liên minh giữa người già và người trẻ
Bắt đầu một loạt suy tư mới về ý nghĩa và giá trị của tuổi già, trong buổi tiếp kiến chung sáng thứ Tư 23/2/2022, Đức Thánh Cha nhấn mạnh sự cần thiết của một liên minh giữa các thế hệ, dưới ánh sáng Lời Chúa.
Trong buổi tiếp kiến chung sáng thứ Tư 23/2 Đức Thánh Cha đã trình bày loạt bài giáo lý mới về chủ đề “Tuổi già”: Ý nghĩa và giá trị của tuổi già, được nhìn dưới ánh sáng Lời Chúa.
Đức Thánh Cha nhận xét rằng tuổi thọ gia tăng dẫn đến việc gia tăng số người cao tuổi trong thời đại chúng ta, và do đó cần phải suy tư lại về mối quan hệ giữa các thế hệ. Xã hội của chúng ta, với khuynh hướng vứt bỏ những gì bị cho là không hữu ích, thường đề cao sự trẻ trung và thậm chí coi người già như một gánh nặng không được mong muốn. Do đó, điều quan trọng là phải xem xét và đánh giá cao thành quả tinh thần mà khoảng thời gian sống này có thể mang lại cho chính người cao tuổi, cũng như những món quà mà họ có thể cống hiến cho cộng đồng mà họ là một phần không thể thiếu.
Theo nghĩa này, chúng ta cần khám phá lại “giao ước” gắn kết các thế hệ trong việc hướng tới tương lai của gia đình nhân loại chúng ta. Trong những ngày đại dịch này, một lần nữa chúng ta lại thấy tầm quan trọng của việc cung cấp cho những người trẻ của chúng ta sự hướng dẫn khôn ngoan, hy vọng và nhiệt huyết khi họ nhìn về tương lai.
Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu cầu xin Chúa Thánh Thần giúp chúng ta hiểu và đánh giá cao sự đóng góp to lớn mà người cao tuổi có thể tạo ra cho một xã hội công bằng và huynh đệ.
Bài giáo lý của Đức Thánh Cha
Anh chị em thân mến, chào anh chị em.
Chúng ta đã kết thúc các bài giáo lý về thánh Giuse. Hôm nay chúng ta bắt đầu loạt bài giáo lý tìm sự soi sáng của Lời Chúa về ý nghĩa và giá trị của tuổi già. Từ một vài thập kỷ, giai đoạn này của cuộc sống nói đến một “lớp người mới” thực sự – những người cao tuổi. Chưa bao giờ trong lịch sử loài người chúng ta người già lại đông như vậy. Nguy cơ bị loại bỏ thậm chí còn thường xuyên hơn: người cao tuổi thường bị xem là “gánh nặng”. Trong giai đoạn đầu bi thương của đại dịch, chính họ là những người phải trả giá đắt nhất. Họ vốn đã là nhóm yếu nhất và bị lãng quên nhất: chúng ta đã không gặp họ nhiều khi họ còn sống, chúng ta thậm chí không nhìn thấy họ khi họ chết. Ngoài ra, tôi đã thấy bản Hiến chương về quyền của người cao tuổi và các bổn phận của cộng đồng: bản này đã được các chính phủ viết, không phải do Giáo hội. Thật tốt, thật thú vị để biết rằng người cao tuổi có quyền. Thật tốt khi đọc nó.
Cùng với vấn đề di cư, tuổi già là một trong những vấn đề cấp bách nhất mà gia đình nhân loại được mời gọi đương đầu lúc này. Nó không chỉ là một câu hỏi về sự thay đổi số lượng; nó là sự thống nhất giữa các lứa tuổi của cuộc sống đang bị đe dọa: đó là điểm quy chiếu thực sự để hiểu và đánh giá toàn bộ sự sống của con người. Chúng ta tự hỏi: liệu có tình bạn, có sự hợp tác giữa các giai đoạn khác nhau của cuộc sống không, hay sự chia cách và vứt bỏ vẫn chiếm ưu thế?
Tất cả chúng ta đang sống trong một hiện tại mà trẻ em, người trẻ, người lớn và người già cùng chung sống. Nhưng tỷ lệ đã thay đổi: người sống thọ đã trở thành đa số và ở nhiều nơi trên thế giới, tỷ lệ trẻ em rất thấp. Chúng ta đã nói về vấn đề mùa đông dân số. Sự mất cân bằng kéo theo nhiều hệ quả. Nền văn hóa thống trị có hình mẫu duy nhất là người trẻ trưởng thành, tức là một cá nhân tự lập và luôn luôn trẻ trung. Nhưng liệu có đúng là tuổi trẻ chứa đựng trọn vẹn ý nghĩa của cuộc sống, trong khi tuổi già chỉ đơn giản là biểu hiện cho sự trống trải và mất mát? Việc tôn vinh tuổi trẻ như là lứa tuổi duy nhất xứng đáng là hiện thân của lý tưởng con người, cùng với sự coi thường tuổi già như là sự yếu đuối, suy tàn, khuyết tật, đã là hình ảnh chủ đạo của chủ nghĩa độc tài thế kỷ XX. Chúng ta đã quên điều đó rồi sao?
Tuổi thọ gia tăng có tác động đến lịch sử của các cá nhân, các gia đình và xã hội. Nhưng chúng ta phải tự hỏi: phẩm chất tâm linh và ý thức cộng đồng của nó có phù hợp với thực tế này không? Phải chăng người già cần phải xin lỗi vì việc họ cố sống bất chấp người khác? Hay họ có thể được vinh danh vì những quà tặng mang lại cho ý nghĩa sống của mọi người? Trên thực tế, trong việc thể hiện ý nghĩa của cuộc sống – và chính xác là trong cái gọi là các nền văn hóa ‘phát triển’ – tuổi già ít có tác động. Tại sao? Bởi vì họ bị xem là lứa tuổi không có điều gì đặc biệt để trao tặng, cũng không có ý nghĩa để sống. Thêm vào đó, thiếu sự khuyến khích để mọi người tìm kiếm họ, và thiếu sự giáo dục để cộng đồng nhận ra họ. Nói tóm lại, đối với một lứa tuổi mà hiện nay là một phần quyết định của không gian cộng đồng và chiếm đến một phần ba thời gian của toàn bộ cuộc đời, đôi khi có những kế hoạch chăm sóc, nhưng lại không có những dự án sống để giúp họ sống tràn đầy. Và đây là một sự thiếu vắng những suy nghĩ, trí tưởng tượng và sự sáng tạo.
Tuổi trẻ thì tươi đẹp, nhưng sự tươi trẻ mãi mãi là một ảo tưởng rất nguy hiểm. Là những người già thì cũng quan trọng – và xinh đẹp – như là những người trẻ. Chúng ta hãy nhớ điều này. Sự liên minh giữa các thế hệ, điều trả lại cho con người mọi giai đoạn tuổi tác của cuộc sống, là món quà đã mất của chúng ta. Nó phải được tìm lại.
Lời Chúa nói nhiều về giao ước này. Chúng ta vừa nghe lời của ngôn sứ của Giô-en: “Người già được báo mộng, thanh niên thấy thị kiến” (3,1). Nó có thể được hiểu như sau: khi người già chống lại Thần Khí, chôn vùi ước mơ trong quá khứ thì người trẻ không còn thấy được những việc phải làm để mở ra tương lai. Ngược lại, khi người già truyền đạt ước mơ của họ, thì người trẻ nhìn thấy rõ ràng những gì họ phải làm. Khi những người trẻ tuổi không còn hỏi về những ước mơ của người già nữa, khi họ cắm đầu vào những tầm nhìn không vượt tầm mắt của họ, họ sẽ vất vả để thực hiện hiện tại và chịu đựng tương lai của họ. Nếu ông bà chúng ta khép kín trong sự buồn bã, thì những người trẻ sẽ nhìn vào các điện thoại thông minh của họ nhiều hơn. Màn hình có thể vẫn sáng, nhưng sự sống sẽ chết trước thời điểm của nó. Chẳng phải hậu quả nghiêm trọng nhất của đại dịch chính là sự lạc hướng của những người trẻ tuổi sao? Người già có những nguồn sự sống đã được trải nghiệm mà họ có thể cậy dựa vào. Họ sẽ đứng nhìn những người trẻ lạc hướng, hay sẽ đồng hành cùng họ bằng cách sưởi ấm ước mơ của họ?
Sự khôn ngoan của cuộc hành trình dài đồng hành với tuổi già đến cuối đường phải được trải nghiệm như một món quà có ý nghĩa của cuộc sống, chứ không phải bị xem như sự ù lì của sự tồn tại của tuổi già. Đức Thánh Cha cảnh báo: Nếu tuổi già không được trả lại phẩm giá của một cuộc sống xứng đáng với con người, thì nó kết thúc với việc đóng kín mình trong nỗi tuyệt vọng, điều tước đi tình yêu của mọi người. Thách đố này của nhân loại và của nền văn minh đòi hỏi sự dấn thân của chúng ta và sự trợ giúp của Thiên Chúa. Chúng ta hãy cầu xin Chúa Thánh Thần. Với những bài giáo lý về tuổi già này, tôi muốn khuyến khích mọi người dành suy nghĩ và tình cảm của mình vào những quà tặng mà tuổi già mang lại và vào những lứa tuổi khác nhau của cuộc sống. Tuổi già là một quà tặng cho tất cả mọi lứa tuổi của cuộc sống. Là một quà tặng của sự trưởng thành, của sự khôn ngoan. Lời Chúa sẽ giúp chúng ta phân định ý nghĩa và giá trị của tuổi già; xin Chúa Thánh Thần cũng ban cho chúng ta những ước mơ và tầm nhìn mà chúng ta cần.
Và tôi muốn nhấn mạnh, như chúng ta đã nghe trong lời ngôn sứ Giô-en rằng điều quan trọng không chỉ là người già có sự khôn ngoan, giữ vai trò lịch sử họ đã sống trong xã hội, mà còn là một cuộc trò chuyện, nói chuyện với những người trẻ. Người trẻ phải nói chuyện với người già, và người già với người trẻ. Và cây cầu này sẽ là sự trao truyền sự khôn ngoan trong nhân loại. Tôi hy vọng rằng những suy tư này sẽ hữu ích cho tất cả chúng ta, để phát triển thực tế mà ngôn sứ Giô-en đã nói, rằng trong cuộc đối thoại giữa người trẻ và người già, người già có thể trao các ước mơ và người trẻ có thể tiếp nhận và thực hiện chúng. Chúng ta đừng quên rằng trong văn hóa gia đình và xã hội, người cao tuổi giống như gốc rễ của cây: họ có tất cả lịch sử ở đó, và người trẻ như hoa và quả. Nếu không có nhựa từ gốc rễ chúng sẽ không bao giờ có thể nở hoa. Đừng quên bài thơ mà tôi đã nhiều lần nói: “Tất cả những gì cây có để cho hoa, đều đến từ những gì chôn vùi dưới đất” (Francisco Luis Bernárdez). Tất cả những gì đẹp đẽ về một xã hội đều liên quan đến cội nguồn của những người cao tuổi. Vì lý do này, trong các bài giáo lý này, tôi muốn nêu bật hình ảnh người cao tuổi, để hiểu rõ rằng người già không phải là vật phế thải: họ là một phúc lành cho một xã hội.
(Vatican News 23.02.2022)
2022
LY DỊ
25.2 Thứ sáu Gc 5:9-12; Tv 103:1-2,3-4,8-9,11-12; Mc 10:1-12
LY DỊ
Ly dị ! Ta đi tìm hiểu một chút.
Trước hết, ly di nghĩa là bỏ đàn bà đúng hơn là bỏ vợ và cưới vợ khác. Như vậy ly di là sự tan rã của một gia đình và nó làm đảo lộn nền tảng quan trọng của hôn nhân mà Thiên Chúa đã thiết lập là bất khả phân lý. Vậy tại sao nhưng người Pharisêu lại đề cập đến vấn đề này? Một đàng, đối với người Do thái hôn nhân là một nhiệm vụ thiêng liêng.
Ở độc thân sau tuổi 20 là vi phạm mệnh lệnh tích cực, là hãy sinh sôi nảy nở cho đầy mặt đất. Kẻ nào không có con là tiêu diệt hậu tự của mình và làm giảm đi hình ảnh của Chúa trên mặt đất. Đàng khác, vấn đề ly dị lại nằm trong luật Môsê. Như vậy, họ vừa dựa vào luật Môsê đồng thời vừa để kéo Chúa Giêsu vào cuộc tranh luận này để thử người. Đứng trước chủ đề tranh luận đầy nóng bỏng và khó khăn như thế Chúa Giêsu giải quyết thế nào?
Thứ đến, câu trả lời của Chúa Giêsu về vấn đề ly dị. Để trả lời cho chủ để này Chúa Giêsu dẫn họ trở về từ thuở ban đầu của công trình tạo dựng là: Thiên Chúa đã làm nên người nam người nữ vì thế người nam sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy sự gì Thiên Chúa đã phối hợp loài người không được phân ly. Như thế, sự kết hợp của họ là trọn vẹn và không phá vỡ.
Nếu vậy thì ông Môsê sai lầm chăng? Chúa Giêsu cho họ biết rằng đúng là ông Môsê cho phép ly di, nhưng đó chỉ là một sự nhượng bộ so với lý tưởng đã bị đánh mất. Vì các ông lòng chai dạ đá, theo cha hoàng đắc Ánh là lòng trí chai đá trước sự thật. Tội cứng lòng không chỉ có dân Israel xưa mà ngày nay cũng không tránh khỏi. Như vậy, đứng trước cuộc tranh luận về sự ly dị mà người Phariêu nêu lên, một đàng Ngài không để mình bị rơi vào bẩy của các nhà thông luật Do thái, một đàng ngài cũng không nhượng bộ cho vấn đề ly dị. Ngài bảo vệ luật nguyên thủy bằng mọi giá: sự gì Thiên Chúa đã phối hợp loài người không được phân ly.
Là một xác nhận mạnh mẽ ý nghĩa nguyên thủy mà Thiên Chúa đã ban cho mối dây liên kết hôn nhân. Con đường Ngài mở ra mang tính cách đòi hỏi hơn các quan điểm nhân loại rất nhiều. Tại sao Ngài lại bảo vệ luật bất khả phân ly của hôn nhân? Vì hôn nhân là mối giây tình yêu liên kết hai người phối ngẫu, và tình yêu này phản chiếu tình yêu thần diệu giữa Chúa Kitô và Giáo Hội. Thánh Phaolô đã ân cần nhắc nhở: “Chồng hãy yêu thương vợ như Chúa Kitô yêu mến Giáo Hội và phó nộp mình đi”. Trong đời sống hôn nhân, hai người nương tựa vào nhau, bổ túc và tài bồi lẫn nhau. Thiên Chúa thấy người nam ở một mình không tốt, Ngài đã dựng nên cho nó một người nữ, rút từ cạnh sườn người nam, và người nam sẽ bỏ cha mẹ để nên một với vợ mình, đó là hình ảnh của một tình yêu kết hợp. Nhờ tình yêu kết hợp trong hôn nhân, người nam và người nữ sẵn sàng chấp nhận việc sinh dưỡng và giáo dục con cái thành những đứa con ngoan của Thiên Chúa, của Giáo Hội, của gia đình và xã hội.
Chính vì những giá trị cao đẹp của hôn nhân như thế, nên thái độ của Chúa Giêsu về vấn đề hôn nhân thật dứt khoát. Ngài xác định lại nền tảng thánh thiêng cũng như tính cách bất khả phân ly của giây hôn phối. Ngài mạnh mẽ lên án tội dâm bôn ngoại tình, cả việc rẫy vợ nữa, trừ phi là nố gian dâm, nhưng điều đó có lẽ không nhằm biện minh cho việc ly dị, mà chỉ là đuổi người vợ bất chính, hoặc là ly thân rồi sau đó không được tái hôn nữa. Như thế, chính nhờ Chúa Giêsu, hôn nhân đã được nâng lên hàng Bí Tích và mặc một sắc thái mới phản ánh vẻ đẹp ban đầu đã bị lu mờ vì tội lỗi nhân loại.
Nếu trong tình yêu hôn nhân chấp nhận sự ly dị, thì tình yêu đó đánh mất bản chất là sự tha thứ và hiến thân. Ly dị là lìa xa chính cội nguồn, lìa xa những phúc lành mà Thiên Chúa đã ấn định. Chính Chúa Giêsu đã dang rộng cánh tay tha thứ và đón nhận những kẻ lỗi nghịch vào Hội Thánh Người.
Đề cập đến vấn đề ly di, ngày hôm nay giáo hội còn phải đương đầu với những hôn nhân bị đứt đoạn và vấn đề tái hôn. Giáo hội vẫn luốn dè dặt trong vấn đề này.
Chúa Giêsu đã dạy bảo dân chúng về đời sống hôn nhân và gia đình, đó cũng là bài học giáo lý rất căn bản nói về hai điều răn thứ 6 và thứ 9: cấm ngoại tình và không được ly dị. Ngay từ khi tạo dựng vũ trụ, muôn loài, muôn vật; Thiên Chúa cũng tạo dựng loài người có nam, có nữ và Ngài đã kết hợp hai người nam và nữ thành đôi vợ chồng đầu tiên đó là Ađam cùng với vợ của ông là bà Evà để làm nên một gia đình. Thế rồi hôn nhân này tiếp nối hôn nhân khác làm thành gia đình nhân loại. Thiên Chúa đã tạo dựng con người trong sự bình đẳng để họ yêu thương và nâng đỡ nhau trong cuộc sống.
Khi đã kết hôn, đôi vợ chồng không những phải tìm mọi cách để giữ lòng chung thuỷ trong tình yêu, mà còn phải làm cho tình yêu tươi thắm, tốt đẹp luôn mãi trong đời sống gia đình, bời vì nếu sống trong tình yêu đích thực, thì không được quyền thay đổi, mà đòi phải thật lòng trung tín với nhau. Chính vì thế, mà câu trả lời của Chúa Giêsu với những người biệt phái trong bài Tin Mừng hôm nay là: “Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không thể phân ly“. Điều đó cho chúng ta thấy Thiên Chúa mong muốn những ai sống ơn gọi hôn nhân và gia đình, hãy yêu thương và tôn trọng nhau suốt đời.
Chúa Giêsu đã dạy bảo dân chúng về đời sống hôn nhân và gia đình, đó cũng là bài học giáo lý rất căn bản nói về hai điều răn thứ 6 và thứ 9: cấm ngoại tình và không được ly dị. Ngay từ khi tạo dựng vũ trụ, muôn loài, muôn vật; Thiên Chúa cũng tạo dựng loài người có nam, có nữ và Ngài đã kết hợp hai người nam và nữ thành đôi vợ chồng đầu tiên đó là Ađam cùng với vợ của ông là bà Evà để làm nên một gia đình. Thế rồi hôn nhân này tiếp nối hôn nhân khác làm thành gia đình nhân loại. Thiên Chúa đã tạo dựng con người trong sự bình đẳng để họ yêu thương và nâng đỡ nhau trong cuộc sống.
