2022
Bỏ Đi Hoặc Ở Lại
7/5 Thứ Bảy trong tuần thứ Ba Mùa Phục Sinh
Cv 9:31-42; Tv 116:12-13,14-15,16-17; Ga 6:60-69
Bỏ Đi Hoặc Ở Lại
Chúa Giêsu đã tạo ra nhiều phản ứng nơi những cử tọa Do thái. Khi Ngài tiết lộ cho họ biết Ngài có Bánh hằng sống, ăn vào sẽ không đói khát nữa, họ liền xin Ngài cho họ thứ bánh đó. Tiến thêm một bước, Ngài cho họ biết Bánh đó chính là Ngài từ trời xuống, họ có phản ứng chống lại ngay, vì họ cho rằng Ngài chỉ là con bác thợ mộc Giuse ở Nazareth, làm sao lại có chuyện đó được? Nhưng khi Đức Giêsu cho họ biết Bánh hằng sống đó chính là thịt máu Ngài, phải ăn thì mới có sự sống trong mình, thì họ có phản ứng kịch liệt, vì họ cho đây là một việc tởm gớm không thể chấp nhận được. Thậm chí, cả một số môn đệ cũng có phản ứng tương tự: “Lời này chói tai quá, ai mà nghe được”. Kết quả là một số môn đệ bỏ đi, không theo Ngài nữa.
Tin Mừng hôm nay thuật lại, kết quả diễn từ về bí tích Thánh Thể của Chúa Giêsu lúc bấy giờ xem ra hầu như bị thất bại. Và ngay cả với nhóm Mười Hai, Chúa Giêsu cũng đặt câu hỏi: “Cả các con, các con có muốn bỏ đi không?” (Ga 6,67) – Đây không chỉ là câu hỏi Chúa Giêsu dành cho các Tông Đồ xưa kia, mà còn cho mỗi người chúng ta hôm nay.
Rất là tuyệt vời, khi mà liền ngay lúc ấy, ông Simon Phêrô thay mặt nhóm Mười Hai tuyên xưng: “Lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con tin và chúng con biết rằng: Thầy là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa” (Ga 6,68-69). Thật là niềm an ủi và ấm lòng Chúa Giêsu biết bao; đồng thời, đó cũng là lời giúp chúng ta hôm nay có thêm niềm xác tín vào bí tích Thánh Thể. Nhờ đó, chúng ta ý thức dọn tâm hồn cho xứng đáng để đón nhận Chúa vào ở trong con người chúng ta.
Chính vì quá yêu loài người, nên Chúa Giêsu đã biến bánh và rượu trở nên Thịt và Máu Người làm của ăn nuôi dưỡng và ban sự sống đời đời cho những ai tin nhận Người.
Và ta thấy Tin mừng hôm nay chuyển tải cho chúng ta, là giữa sự thất vọng bỏ đi của nhiều người, thì vẫn còn đó Nhóm Mười Hai với lời tuyên xưng của tông đồ trưởng Phêrô: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng thánh của Thiên Chúa”. Có lẽ ở đây chúng ta chưa dám chắc Phêrô và các Tông đồ đã hiểu được mầu nhiệm Thánh Thể là lấy thịt Chúa cho nhân loại ăn, nhưng ít nhất Phêrô tin vào uy tín của Thầy không thể nói điều sai lạc.
Lời tuyên xưng còn khẳng định rõ hơn về đức tin là một ân ban mà không phải ai cũng dễ dàng có được. Lời tuyên xưng của Phêrô và sự trung thành của các Tông đồ là điểm sáng về niềm tin và lòng trung tín cho chúng ta, nhất là ngày hôm nay không thiếu những người đã lìa bỏ Giáo hội. Nếu không có ơn đức tin thì sẽ không thấy sự khác biệt giữa bánh chưa truyền phép và bánh đã được truyền phép không thể cảm nhận được sự hiện diện thực sự của Chúa Giêsu trong phép Thánh Thể.
Phần chúng ta, chúng ta có thái độ nào trước mạc khải của Chúa Giêsu về Bí tích Thánh Thể? Lời Chúa Giêsu hỏi các môn đệ ngày xưa cũng được lặp lại với mỗi người chúng ta hôm nay: “Chúng con có muốn bỏ đi không?” Tin nhận và sống giáo huấn yêu thương phục vụ của Chúa đã là một điều khó: tin nhận và sống Bí tích Thánh Thể lại càng khó hơn. Tuy nhiên, chúng ta không làm việc đó một mình, bởi vì tin và sống Bí tích Thánh Thể đúng như ý Chúa muốn là một hồng ân của Chúa Cha: “Không ai có thể đến được với Ta, nếu không được Chúa Cha ban cho”.
Chúa Giêsu cũng đòi Nhóm Mười Hai Tông đồ phải dứt khoát lập trường trước sự thật về bí tích Thánh Thể do Người mặc khải: “Thịt Tôi thật là của ăn và Máu Tôi thật là của uống !”. Trước mầu nhiệm này, nhiều môn đệ đã phản đối và rút lui không còn đi theo Người nữa. Riêng ông Phê-rô khi được hỏi đã đại diện Nhóm Mười Hai để tuyên xưng đức tin: “Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Thầy mới có những Lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng: Chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa”. Qua câu nói này, ông Phêrô đã mạnh dạn tuyên xưng đức tin dù chưa hiểu rõ nội dung đức tin vào mầu nhiệm bí tích Thánh Thể. Ông chỉ dựa vào thế giá của Thầy để tin lời Thầy dạy về bí tích này cũng như về các chân lý đức tin khác.
Ngày hôm nay, Chúa Giêsu cũng hỏi mỗi người chúng ta khẳng định lập trường có trung thành tin theo Chúa hay không như vậy. Chúng ta có dám chọn ở lại với Thầy đang khi nhiều bạn bè khác đã bỏ Chúa qua việc bỏ dự lễ Chúa Nhật, hành xử theo ý riêng của mình chứ dựa vào lời Chúa và lề luật Hội Thánh nữa ? Chúng ta có dám trung thành với Chúa và với tuân giữ các chuẩn mực đạo đức đang khi nhiều bạn bè đã chọn lối sống dễ dãi theo tính xác thịt tội lỗi, chọn làm các điều phi pháp để kiếm được tiền bạc bất chính, chọn chối bỏ Chúa trong lý lịch để được hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi và để có được địa vị xã hội ?
Có lẽ phần đông chúng ta đã chọn thái độ lập lờ im lặng. Phải chăng thái độ đó đồng nghĩa với thái đô của ông Giuđa, đã được Tin Mừng Gioan hôm nay nói thêm: “Quả thật ngay từ đầu, Chúa Giêsu đã biết những kẻ nào không tin, và kẻ nào sẽ nộp Người” (Ga 6,64b). Tuy trong thâm tâm Giuđa đã không còn tin vào Thầy và đã rắp tâm phản bội Thầy, nhưng thực tế ông ta vẫn ở lại trong Nhóm Mười Hai để chờ cơ hội thuận tiện sẽ bán nộp Thầy ! (Ga 13,21-27; Mt 26,14-16).
Về vấn đề lựa chọn có theo Chúa hay không thì chính chúng ta phải đích thân lựa chọn và phải sống trung thành với sự lựa chọn đó: Đứng lại với Chúa, không phải chỉ vì thấy người khác, còn đứng lại vì chưa gặp dịp thuận tiện để tháo lui. Nhưng đứng lại với Chúa, vì tin Ngài là Đấng có lời ban sự sống đời đời, không còn ai khác để mình đi theo.
Chúng ta là Kitô hữu, chúng ta đi theo Đức Kitô, chúng ta tin Ngài là Đấng không những ban cho chúng ta sự sống đời này mà còn ban sự sống đời đời nữa. Tuy nhiên, chúng ta hãy nhớ: Sự sống đời đời không phải chỉ là sự sống đời sau, nhưng đến cùng Chúa, tin vào Chúa và ăn thịt máu Chúa là chúng ta đã được sự sống đời đời ngay từ bây giờ, bởi vì mỗi lần rước Chúa là chúng ta rước lấy mầm sự sống đời đời, sự sống vĩnh cửu. Cho nên, chúng ta hãy siêng năng rước Chúa và rước Chúa thật sốt sắng.
Hành trình đi theo Chúa Giêsu không luôn êm ả. Một ngày nào đó, có thể Lời Chúa làm chúng ta cảm thấy chói tai, con không muốn chấp nhận, con còn muốn rút lui. Nhưng xin cho con luôn hiểu rằng Lời Chúa – và chỉ có Lời Chúa – mới là lời chân thật và mới đem lại cho con sự sống thật. Xin cho con đừng bao giờ rút lui, vì “Lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai ? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời”.
2022
Người Công giáo có được tham dự nghi thức thành hôn và tiệc cưới cặp hôn nhân đồng tính không?
Người Công giáo có được tham dự nghi thức thành hôn và tiệc cưới cặp hôn nhân đồng tính không?
Hỏi : xin cha giải thích hai thắc mắc sau đây:
- Người Công giáo có được tham dự đám cưới của hôn nhân đồng tính không?
2.Trong Thánh Lễ thì khi nào thì Chúa Giêsu hiện diện trong bánh và rượu, vì có linh mục kia nói là khi linh mục đặt tay trên chén lễ thì Chúa bắt đầu ngự xuống trên bánh và rượu. Điều này có đúng vậy không ?
Trả lời:
1-Là người tín hữu Công Giáo, chúng ta có bổn phận sống và chu toàn mọi giáo lý và lề luật của Giáo Hội, là Mẹ đang thay mặt Chúa là Cha trong trách nhiệm dạy dỗ con cái mình tuân giữ mọi điều cần thiết cho được rỗi linh hồn để hưởng phúc Thiên Đàng với Chúa trên Nước Trời mai sau.
Cụ thể, giáo lý hôn nhân dạy mọi tín hữu biết rằng hôn nhân chỉ có giữa một người nam và một người nữ mà thôi, vì đây là ý muốn của Thiên Chúa từ đầu khi tạo dựng con người có nam có nữa và truyền cho họ phải “ sinh sản cho nhiều, cho đầy mặt đất và thống trị địa cầu.” ( St 1:28).
Chúa Giêsu đã nâng hôn nhân lên hàng bí tích và truyền cho con người mệnh lệnh
Là “ sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly.” ( Mt 9: 6)
( giáo luật số 1055 &1)
Như Thế, Giáo Hội không thể chiều theo su hướng của thời đại tục hóa để công nhận hôn nhân đồng tính (same sex mariage) , tức là hôn nhân giữa hai người nam hay hai người nữ được, vì đây là điều trái tự nhiên và vô luân, dựa trên chính lời Thiên Chúa đã nói với ông Mô-sê để truyền lại cho dân Do Thái xưa như sau:
“ khi người đàn ông nào nằm với một người đàn ông như nằm với đàn bà, thì cả hai đã làm điều ghê tởm,…” ( Levi 20: 13)
Vậy mà các xã hội bệnh hoạn như Hoa Kỳ, Canada, Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Ý, Đức…là những quốc gia có đông người theo Kitôgiáo, lại công nhận loại hôn nhân trái tự nhiên này để chiều theo đòi hỏi của thiểu số người bệnh hoạn đòi công nhân cho việc trái tự nhiên này là hôn nhân. Đây quả là một tụt hậu thê thảm cho một nếp sống tinh thần và luân lý lành mạnh, khác xa với đời sống của mọi loài vật chỉ sống với bản năng và không biết gì về luân lý, thuần phong mỹ tục.
Chúng ta không ghét hay lên án những người sinh ra với khuynh hướng bất bình thường ( abnormal) về phái tính ( sexuality). Chúng ta thông cảm và tôn trọng họ như mọi người bình thường khác. Nhưng chúng ta không thể công nhận việc sống chung của họ là hôn nhân được, vì bản chất trái tự nhiên, trái luân lý của sự phối hợp giữa hai người nam hay hai người nữ. Hôn nhân mà họ đòi công nhận- và đã được các xã hội bệnh hoạn kia công nhận- là thứ hôn nhân không thể đạt được mục đích của hôn nhân là sinh con cái và giáo dục chúng thành những người biết sống tự nhiên, phát triền bình thường về mọi mặt tinh thần và tình cảm.
Do đó, nếu các trẻ em mà những cặp hôn nhân đồng tính này nhận làm con nuôi thì những trẻ này sẽ nghĩ sao và học được gì trong gia đình chỉ có hai người cha hay hai người mẹ ? Tệ hại hơn nữa là khi thấy hai người cha hay hai người mẹ của chúng ngủ chung với nhau một giường ..thì chúng sẽ nghĩ gì về sự chung sống này
Đấy là những vấn nạn đặt ra cho những cặp hôn nhân đồng tính, cho các nhà giáo dục, các nhà xã hội học và luân lý học, và cách riêng, cho các xã hội bệnh hoạn đã công nhận loại hôn nhân trái tự nhiên này.
Trên bình diện luân lý, đạo đức, Giáo Hội không bao giờ công, nhận loại hôn nhân trái tự nhiên này vì tự bản chất nó là vô luân, trái tự nhiên và không thể đạt mục đích của hôn nhân mà Thiên Chúa đã thiết lập cho mục đích bảo tồn và phát triển sự sống của con người trên trần thế này cho đến ngày mãn thời gian,
Vì Giáo Hội không công nhận, nên người tín hữu Công giáo cũng không được phép tham dự đám cưới của những cặp đồng tính này, kể cả dự tiệc cưới của họ. Lý do là tham dự như vậy, có nghĩa là công nhận việc sống chung của họ là hôn nhân theo luật của Chúa và của Giáo Hội, và phù hợp với luân lý đạo đức của con người.
Tiện đây cũng xin nói thêm điều này : ngay cả những đôi hôn phối Công Giáo, vì lý do riêng nào đó, không được chứng hôn trong nhà thờ,tức là thành hôn trong Giáo Hội, mà vẫn tổ chức tiệc cưới bên ngoài như những cặp hôn phối hợp pháp khác, thì người Công giáo cũng không nên tham dự tiệc cưới này , vì tham dự như vậy, cũng có nghĩa là công nhận sự thành hôn của họ là hợp pháp theo giáo lý của Giáo Hội.
Cũng cùng lý do này, người cử tri Công giáo cũng không được bỏ phiếu cho những ứng cử viên nào đã công khai chống lại Giáo Hội vì tán thành việc phá thai, ly dị, chết êm dịu ( euthanasia) và hôn nhân đồng tính.Các ứng viên này có tham dự Thánh Lễ thì cũng không được rước Mình Thánh Chúa như những người tín hữu sống theo giáo lý, giáo luật của Giáo Hội,
2-Về câu hỏi thứ hai, xin được trả lời như sau:
Mỗi khi Thánh Lễ được cử hành thì , một cách thiêng liêng, Chúa Giêsu hiện diện trong linh mục cử hành, trên bàn thờ, trong Sách Phúc Âm ( Gospel Book) và trong cộng đoàn giáo dân tham dự., đúng như lời Chúa đã phán bảo:
“ Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy Thì có Thầy ở đấy , giữa họ.” ( Mt 18: 20)
Nghĩa là khi linh mục mặc lễ phục , bước lên cung thánh để cứ hành Thánh lễ thì Chúa Giêsu đã hiện diện cùng với linh mục và giáo dân tham dự để diễn lại bữa ăn sau cùng của Chúa với Nhóm Mười Hai Tông Đồ, Và nhất là dâng lại Hy Tế thập giá mà một lần Chúa đã dâng trên thập giá năm xưa để xin Chúa Cha tha tội cho cả loài người đáng phải phạt vì tội.
Ngày nay trên bàn thờ ở khắp mọi nơi trong Giáo Hội, Chúa đã liên tục mượn tay và miệng của các Thừa tác viên có chức thánh là Giám mục và Linh mục để dâng lại Hy tế thập giá của Người cùng thể thức và mục đích Chúa đã một lần dâng lễ đền tội lên Chúa Cha trên thập giá cách nay trên 2000 năm để xin ơn tha thứ cho con người ngày nay như cho con người xưa kia. Vì thế Thánh Lễ Tạ Ơn ( Eucharist là việc thờ phượng, ca ngượi , cảm tạ , và xin ơn cao trọng và quan trọng nhất mà Giáo Hội hiệp nhất cùng với Chúa Giê-su Kitô để dâng lên Chúa Cha cho mục đích cứu rỗi con người tội lỗi ngày nay và và còn tiếp tục cho tới ngày mãn thời gian.
Khi cử hành Thánh Lễ hay bất cứ Bí tích nào, thì giám mục và linh mục đều phải làm nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi) chứ không nhân danh chính mình bao giờ.
Như thế, chính Chúa Kitô rửa tội, thêm sức , cử hành Thánh Lễ , tha tội, và sức dầu bệnh nhân (và truyền chức thánh dành riêng cho giám mục) qua tay giám mục và linh mục. Phải nói lại điều này để lưu ý mọi người là linh muc , hay giám mục chỉ là công cụ hữu hiệu Chúa dùng để ban phát ơn thánh của Người cho những ai muốn lãnh nhận cách nhưng không ( gratuitously)
Cũng chính vì linh mục hay giám mục chỉ là thừa tác viên, nên sự hữu hiệu( validity) của bí tích không liên hệ gì đến phẩm chất của thừa tác viên con người ( ex opera operato). Do đó, đừng ai thắc mắc hay nghi ngờ Thánh Lễ của linh mục này hay linh mục kia không thành sự vì cho là linh mục đó có đời sống bất xứng.Nếu thực sự có đời sống bất xứng , mà vẫn cử hành các bí tích hay Thánh Lễ, thì tất cả vẫn thành sự ( validly), nhưng người cử hành sẽ mắc tội phạm thánh ( sacrilege). Tội phạm thánh hay tội trọng là tội cấm làm lễ ( linh mục) và rước lễ ( giáo dân)
x.giáo luật số 916, SGLGHCG, số 1415)
Trở lại câu hỏi khi nào Chúa Giê su hiện diện trong hai chất thể bánh và rượu.
Khi linh mục đặt tay và cấu xin trên chén thánh ( chalice) thì đó mới chỉ là phút nguyện xin ơn Chúa Thánh Thần (Epiklesis, Epiclesis) để Người biến bánh và rượu thành Mình và Máu Chúa Kitô.Nhưng Chúa Kitô chỉ thực sự hiện diện trong bánh và rượu nho sau khi linh mục đọc lời truyền phép ( consecration) mà thôi. Nghĩa là khi linh mục giơ tay trên lễ vật để xin ơn Chúa Thánh Thần thì lúc đó bánh và rượu nho chưa được biến đổi bản thể ( transubstantiation) để trở nên Mình và Máu Chúa Kitô, cho nên Chúa chưa thực sự hiện diện trong bánh và rượu lúc này.Chúa chỉ thực sự hiện diện sau khi linh mục đọc lời truyền phép là : Đây là Mình Thầy…, đây là chén Máu Thầy..đúng như chữ đỏ ( rubric) qui định.
Chính vì thế mà trước đây khi Thánh Lễ còn cử hành bằng tiếng La tinh, và linh mục quay lưng lại với giáo dân, thì sau khi linh mục đọc lời truyền phép và dâng Mình Thánh Chúa lên thì người giúp lễ phải rung chuông để báo cho công đoàn tham dự lễ biết rằng Chúa Giêsu đã thưc sự hiện diện trong hai chất thể là bánh và rượu nho để mọi người cúi đầu thờ lậy.
Tóm lại, trong phụng vụ thánh, thì Chúa Giêsu luôn có mặt trong các Thừa tác viên con người là linh mục và giám mục, nghĩa là chính Chúa hiện diện trong các Thừa tác viên này để rửa tội, thêm sức, tha tội, sức dầu bệnh nhân và nhất là dâng lại Hy tế thập giá của Người một lần nữa trên bàn thờ ngày nay, cùng thể thức và mục đích mà xưa Chúa đã một lần dâng Hy Tế này lên Chúa Cha trên núi Sọ để đền tội thay cho cả nhân loại.
Nhưng trong Thánh Lễ Tạ Ơn hằng ngày được dâng trên bàn thờ ở khắp nơi trong Giáo Hội, thì Chúa chỉ thực sự hiện diện ( real presence) trong hai chất thể bánh và rượu nho sau khi linh mục đọc lời truyền phép mà thôi.
Việc linh mục giơ tay trên lễ vật và đọc lời cầu xin ơn Chúa Thánh Thần thì lúc này Chúa Kitô chưa thực sự ngự xuống trong bánh và rượu nho.
Ước mong những lời giải thích trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.
Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
2022
Đức Thánh Cha: Đức Mẹ dạy chúng ta không xấu hổ khi khóc
Đức Thánh Cha: Đức Mẹ dạy chúng ta không xấu hổ khi khóc
Trong buổi gặp gỡ 2.800 thành viên của Cộng đoàn Mục vụ Đức Mẹ Nước Mắt ở Treviglio, bắc Ý, thứ Bảy 23/4, Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng thế giới ngày nay không còn khả năng “khóc bằng con tim” như Đức Mẹ trước những thảm trạng. Ngài khích lệ các thành viên không xấu hổ khi khóc trước những đau khổ của nhân loại.
ĐTC tiếp Cộng đoàn Mục vụ Đức Mẹ Nước Mắt (Vatican Media)
Năm nay, Cộng đoàn Mục vụ Đức Mẹ Nước Mắt cử hành 500 năm (28/02/1522) Đức Trinh Nữ cứu thành phố khỏi quân Pháp qua phép lạ nước mắt chảy ra từ một bức ảnh Đức Mẹ với Hài Nhi, được tôn kính trong một tu viện dòng Augustinô. Khi đó, quân Pháp do tướng Lautrec, một người có lòng sùng kính Đức Mẹ dẫn đầu, đang chuẩn bị tấn công làng này, chứng kiến phép lạ cùng với binh lính đã bỏ vũ khí và nhờ đó thành phố đã được cứu.
Nói với các thành viên của Cộng đoàn đến Roma hành hương, Đức Thánh Cha nhấn mạnh tầm quan trọng nước mắt của Đức Mẹ đối với đức tin Kitô. Vì khi Mẹ khóc chính là nước mắt của Chúa Giêsu trước sự khốn cùng của chúng ta. Ngài giải thích rằng khi Đức Maria, môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu khóc, thì những giọt nước mắt đó là dấu chỉ lòng trắc ẩn của Chúa, Người đau đớn vì tội lỗi chúng ta, vì những sự dữ đang gây ra cho nhân loại, đặc biệt cho những người bé nhỏ, những người vô tội.
Đức Thánh Cha tiếp tục chỉ ra rằng những giọt nước mắt của Mẹ cũng là dấu hiệu tiếng kêu của Thiên Chúa dành cho các nạn nhân chiến tranh và không chỉ ở Ucraina. Ngài nói: “Chúng ta hãy phó thác khẩn cầu Trái tim Vô nhiễm Nguyên tội Mẹ, và chúng ta tin chắc Mẹ chúng ta, Nữ Vương Hoà Bình đã đón nhận lời cầu xin và đang khẩn xin bình an cho chúng ta”.
Nói về phép lạ Đức Mẹ khóc, Đức Thánh Cha mời gọi “Đức Maria dạy chúng ta không xấu hổ khi khóc. Vì khóc có nghĩa là mở lòng ra với Cha nhân lành và với anh chị em, làm chúng ta xúc động trước vết thương của những người chúng ta gặp gỡ trong hành trình cuộc sống, giúp chúng ta biết chia sẻ, chào đón, vui với người vui và khóc với người khóc”. Tuy nhiên, Đức Thánh Cha lưu ý “xã hội ngày nay đã mất khả năng khóc với con tim như Đức Maria đã khóc, hoặc như Thánh Phêrô khóc khi ăn năn”.
Ngài nói tiếp: “Đó là lý do tại sao chúng ta cầu xin Chúa ban cho chúng ta ơn biết khóc trước những gì chúng ta chứng kiến: không chỉ chiến tranh, nhưng cả với những người nghèo, người già, trẻ thơ chưa chào đời bị vứt bỏ. Những khốn cùng của thời nay phải làm cho chúng ta khóc và chúng ta cần phải khóc”.
Kết thúc bài nói chuyện với Cộng đoàn Mục vụ Đức Mẹ Nước Mắt, Đức Thánh Cha ca ngợi tinh thần của Cộng đoàn được tóm trong chính tên gọi. Điều này nói lên sự chăm sóc mục vụ dịu dàng, trắc ẩn và gần gũi theo mẫu gương Đức Mẹ.
Ngọc Yến
