Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Tác giả: Anmai

Home / Anmai
25Tháng Sáu
2022

Đức Thánh Cha Phanxicô mừng bổn mạng Đức Hồng y Gioan Baotixita

25/06/2022
Anmai
GH Việt Nam, Tin tức
0

ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ
MỪNG BỔN MẠNG ĐỨC HỒNG Y GIOAN BAOTIXITA

 Nhân dịp Lễ sinh nhật thánh Gioan Tẩy Giả, bổn mạng Đức Hồng y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, Đức Thánh Cha Phanxicô đã gửi điện mừng.

Đức Tổng Giám mục Marek Zalewski, Sứ thần Tòa Thánh tại Singapore kiêm Đại Diện Tòa Thánh không thường trú tại Việt Nam đã gửi văn thư đến Đức Tổng Giám mục Giuse Nguyễn Năng để chuyển lời chúc mừng của Đức Thánh Cha đến Đức Hồng y Gioan Baotixita.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã viết: Nhân dịp lễ mừng trọng thể sinh nhật thánh Gioan Tẩy Giả, tôi vui mừng gửi đến Hồng y lời chào huynh đệ và lời cầu chúc tốt đẹp nhất. Xin Chúa Giêsu Kitô tuôn đổ đầy tràn niềm vui và hy vọng xuống trên Hồng y. Tôi trao gửi ngài phúc lành và bình an của Chúa.

Đức Hồng y Gioan Baotixita dâng lễ ngày 24.6.2022

Cùng với lời chúc mừng của Đức Thánh Cha, Đức Hồng y Quốc vụ khanh Pietro Parolin và Đức Tổng Giám mục Pena Para, Phó Quốc vụ khanh, cũng gửi đến Đức Hồng y Gioan Baotixxita lời cầu chúc an lành nhân dịp bổn mạng.

Văn phòng Sứ thần Tòa Thánh tại Singapore

Read More
25Tháng Sáu
2022

400 năm thành lập Thánh bộ phụ trách truyền giáo (1622-2022): Thánh bộ Truyền bá Đức Tin

25/06/2022
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

400 NĂM THÀNH LẬP THÁNH BỘ PHỤ TRÁCH TRUYỀN GIÁO (1622-2022): THÁNH BỘ TRUYỀN BÁ ĐỨC TIN

Marie-Alpais Dumoulin

– Ngày 22 tháng 6 năm 1622, với sắc chỉ Inscrutabili divinae providentiae (Do sự quan phòng lạ thường của Thiên Chúa), Đức giáo hoàng Grêgôriô XV đã long trọng thành lập De Propaganda Fide (Thánh bộ Truyền bá Đức tin), cơ quan đầu tiên thuộc quyền giáo hoàng dành riêng cho “công cuộc truyền giáo” và đến năm 1967 đã trở thành Congrégation pour l’Evangélisation des peuples (Thánh bộ Phúc âm hóa các dân tộc).

Thực tế, từ ngày 6 tháng 1 năm 1622, Đức thánh cha đã công bố việc thành lập này và đã triệu tập 13 hồng y, 2 giám mục và thư ký để lập thánh bộ. Từ tháng 3, những vùng được biết đến trên hành tinh đã được phân chia là 13 khu vực được giao cho một trong 13 hồng y trong thánh bộ mới này. Sắc chỉ vào tháng 6 ra đời để tạo một nền tảng cuối cùng cho việc thành lập này mà mục đích được tuyên bố là “củng cố tính chất giáo hội của việc truyền giáo”.

Làm sao mà công cuộc truyền giáo của Công giáo thấy cần phải có mối liên hệ với Giáo Hội, và do đó với Rôma? Nếu ta lấy trường hợp của Á châu, ta thấy các tu sĩ Công giáo Âu châu đã đến đấy từ thời Trung cổ. Vào đầu thế kỷ XVIIe, từ Philippines cho đến Nhật bản, một bức tranh ghép các dòng tu truyền giáo đang hoạt động. Sự hiện diện này được quản lý bởi một khuôn khổ pháp lý được gọi là Padroado từ năm 1514, ngày mà giáo hoàng đã thương lượng để chuyển giao trách nhiệm truyền giáo cho vua Bồ Đào Nha.

Thừa hưởng hàng loạt những đặc quyền lâu đời và quyền thiêng liêng rộng lớn, hàng giáo sĩ của hệ thống Padroado hầu như hoàn toàn độc lập với Tòa Thánh. Hệ thống có quyền rất cụ thể trên miền truyền giáo: không thừa sai nào có thể đi đến Á châu mà không có sự đồng ý của nhà vua Bồ Đào Nha; mọi vi phạm đều bị trừng trị nghiêm khắc. Chuyện đến tai Rôma là các nhà truyền giáo bị những người dân địa phương cho là những ủy viên chính trị hay chỉ là những thương nhân, không quan tâm gì đến nền văn hóa hay các ngôn ngữ bản địa vì họ chỉ ở lại một thời gian ngắn. Dù sao, tình trạng chung là thiếu hụt các nhà truyền giáo. Về phần hàng giáo sĩ gọi là “bản địa”, chỉ có một vài linh mục bản địa nhập vào các dòng tu Âu châu.

Thêm vào tình hình này là cuộc bách hại chung nổ ra tại Nhật bản vào năm 1614. Đối với  F. Buzelin, “thảm họa này bộc lộ một thiếu sót lớn của tổ chức truyền giáo: các Kitô hữu địa phương, thần phục các linh mục ngoại quốc, đã bị xem như đồng lõa của những kẻ xâm lăng tiềm năng. Trước vấn đề này, một giải pháp được đặt ra: đào tạo các linh mục xuất thân từ bản địa và có thể hoàn toàn hòa nhập vào dân cư địa phương”. Vì thế, Rôma thấy mình có bổn phận thiết lập một cơ quan quản trị tập trung các công cuộc truyền giáo lại nhưng cũng xây dựng các nguyên tắc cho hoạt động truyền giáo nhằm thành lập một hàng giáo sĩ địa phương. Do đó, vào năm 1622, Đức Grêgôriô XV có sáng kiến “lập các giám mục  hoàn toàn trung thành với quyền bính của ngài, nhằm thành lập hệ thống các địa phận truyền giáo”, theo như cách nói của G. Pizzorusso.

Nhằm đến mục đích này, hành động đầu tiên của Francesco Ingoli, vị thư ký mới của thánh bộ Truyền giáo, là phát động một cuộc điều tra rộng lớn về tình hình Công giáo trên toàn thế giới. Cuộc điều tra này được xuất bản dưới tiêu đề Rapport sur les quatre parties du monde (Tường trình về bốn phần thế giới), nghĩa là Phi châu, Mỹ châu, Á châu và Âu châu. Thật vậy, người ta có khuynh hướng xem thánh bộ này chỉ là một dụng cụ dành cho Tân Thế Giới (Nouveaux Mondes), cho các miền truyền giáo ad extra (ở bên ngoài). Đó là quên đi rằng, ngoài các miền truyền giáo của Padroado, bối cảnh của cuộc phản- cải cách (contre-réforme) và bắt đầu Cuộc chiến Ba mươi năm (Guerre de Trente Ans) buộc phải nói đến các dân tộc “không tin” và đặc biệt là những người Thệ phản ở Bắc và Đông Âu.

Vào thời kỳ thứ hai, một phương pháp truyền giáo mới mà Rôma mong muốn để canh tân công cuộc truyền giáo đã được William Lesley, quản thủ văn khố của thánh bộ truyền giáo, soạn thảo ra.  Năm 1659, dưới tiêu đề Instructions aux vicaires apostoliques des royaumes du Tonkin et de la Cochinchine (Huấn thị gởi các đại diện tông tòa tại Đàng Ngoài và Đàng Trong), ông đã liệt kê các nguyên tắc hành động được trông đợi nơi các vị giám mục truyền giáo đầu tiên trực thuộc Rôma. Đây có là những nguyên tắc mới không? Không hoàn toàn như thế, theo như sử gia Y. Essertel, người nói rằng đúng hơn đó là sự hài hòa các phương pháp: “Chúng ta đi ra khỏi chủ nghĩa duy nghiệm là đặc điểm của công cuộc truyền giáo dưới chế độ Bảo hộ. (…) Huấn thị Instructions do Lesley soạn thảo là kết quả công trình nghiên cứu của một nhà quản thủ văn khố thu gom lại những thực hành khác nhau của mục vụ truyền giáo từ tông đồ Phaolô cho đến các tu sĩ dòng Tên”.

Chính các vị Đại diện Tông tòa của hội MEP là những người đầu tiên thực thi các huấn thị này của Thánh bộ Truyền giáo, trong các miền truyền giáo của họ là Xiêm La, Đàng Trong, Đàng Ngoài và Trung Hoa, trong những năm 1660. Khởi đầu của một lịch sử bốn thế kỷ luôn nối kết hai thể chế này trong cùng một nhiệt tình truyền giáo!

THƯ MỤC:

BUZELIN, Françoise, Découvrir les Missions étrangères de Paris, Paris: Missions étrangères de Paris, 2014, 81 trang.

COLZANI, Gianni, Church’s Mission. History, Theology and the Way Forward, Rome: Urbaniana University Press, 2019, 168 trang.

ESSERTEL, Yannick, Évangélisation & Cultures, Paris: Editions du Cerf, 2021, 553 trang.

ETCHARREN, Jean-Baptiste (MEP), “Les débuts de la Société des Missions étrangères”, trong LAUNAY Marcel & MOUSSAY Gérard (dir.), Les Missions Étrangères. Trois siècles et demi d’histoire et d’aventure en Asie, Paris, Perrin, 2008, tr. 16-23

Instructions aux vicaires apostoliques des royaumes du Tonkin et de la Cochinchine (1659), éd. Mgr Bernard JACQUELINE ; suivi par LANEAU Louis (Mgr), Instructions pour ceux qui iront fonder une mission dans les royaumes du Laos et d’autres pays (1682), éd. Jean GUENNOU và André MARILLIER, Paris: Archives des Missions étrangères de Paris, 2008, 118 trang.

PIZZORUSSO, Giovanni, “Le Monde et/ou l’Europe: la Congrégation de Propaganda Fide et la politique missionnaire du Saint-Siècle (XVIIe siècle)”, hội thảo tại Università degli Studi G. D’Annunzio de Chieti, 24 tháng 3 năm 2014.

Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính
Chuyển ngữ từ: Tạp chí MEP, tháng 7/2022

Read More
25Tháng Sáu
2022

Chủ nghĩa vô thần và Chính Thống giáo tại nước Nga hiện đại

25/06/2022
Anmai
Chưa phân loại
0

Trong bài nói chuyện này, tôi đề nghị phác họa lịch sử chủ nghĩa vô thần ở Nga trong một trăm năm qua. Trước hết, tôi sẽ xem xét loại vô thần nào có mặt tại Nga trước Cách mạng; sau đó sẽ nói một chút về sự phát triển của chủ nghĩa vô thần trong thời Xô-Viết; cuối cùng sẽ trình bày một vài nhận định về bản chất của chủ nghĩa vô thần hậu Xô-Viết.

Xin bắt đầu bằng những câu hỏi: Làm thế nào trong một đất nước vốn được coi là “Nước Nga thánh thiện” với lịch sử lâu dài của Kitô giáo Chính Thống, vậy mà chỉ trong thời gian ngắn đã bị những người Bônsêvích biến thành quốc gia vô thần hàng đầu của thế giới? Tại sao chính những người đã được giáo dục về tôn giáo trong các trường trung học ở thập niên 1910 lại có thể trở thành những người trực tiếp phá hủy các nhà thờ và đốt các ảnh thánh trong thập niên 1920? Phải giải thích làm sao về sự kiện Giáo Hội Chính Thống, vốn có quyền lực rất lớn trong đế quốc Nga, lại bị biến thành số không do chính những thành viên trước đây của mình?

Tôi xin nói ngay là không thể chỉ nhìn những gì xảy ra ở Nga năm 1917 như một tai nạn bất ngờ, với sự kiện một nhóm nhỏ những kẻ xảo quyệt nắm được quyền lực. Đúng hơn, tôi nhìn cuộc cách mạng Nga như hậu quả cuối cùng của tiến trình đã diễn ra trong xã hội từ trước Cách mạng, do đó cũng diễn ra trong lòng Giáo Hội (bởi lẽ không có sự tách biệt giữa Giáo Hội và xã hội). Tôi cho rằng cách mạng Nga là hệ quả của chính nền quân chủ và của Giáo Hội tại Nga. Nên tìm kiếm gốc rễ của chủ nghĩa vô thần hậu cách mạng từ trong xã hội Nga cũng như trong Giáo Hội.

Người ta nói rằng nước Nga được rửa tội nhưng không được khai sáng. Thật vậy, trong thế kỷ 19, hiển nhiên là chủ trương khai sáng luôn xung đột với tôn giáo: quần chúng nông dân ít học vẫn giữ những niềm tin truyền thống, nhưng giới có học, kể cả những người có gốc rễ tôn giáo, ngày càng rũ bỏ niềm tin và trở thành vô thần. Chernyshevsky và Dobroliubov là những mẫu điển hình: cả hai đều xuất thân từ những gia đình giáo sĩ, cả hai đều thành vô thần sau khi đã học thần học trong chủng viện. Với những người như Dostoyevsky, tôn giáo là điều cần phải tái khám phá, sau khi bị mất đi do hậu quả của giáo dục. Đằng khác, Tolstoy vươn đến niềm tin nào đó vào Thiên Chúa nhưng vẫn xa cách với Giáo Hội Chính Thống. Khi nhìn vào giai đoạn trước Cách mạng, rõ ràng có khoảng cách rất lớn giữa Giáo Hội và giới trí thức, và khoảng cách đó ngày càng gia tăng.

Nhưng vào thời điểm sát Cách mạng thì chủ nghĩa vô thần xâm nhập cả quần chúng bình dân. Berdyaev vào thời đó viết rằng ngay cả một bà già nhà quê cũng trở thành vô thần và chủ trương hư vô. Xin trích dẫn thêm những gì triết gia vĩ đại này đã viết năm 1917, ít tháng trước cuộc cách mạng tháng 10:

“Dân tộc Nga vẫn luôn coi mình là dân Kitô giáo. Nhiều nhà tư tưởng và nghệ sĩ Nga còn nhìn nước Nga như dân Kitô tuyệt hảo. Những người yêu văn hóa Slave đã cho rằng dân Nga sống bằng đức tin Chính Thống giáo, được coi là đức tin chân chính duy nhất, chứa đựng toàn bộ chân lý… Dostoyevsky rao giảng điều đó. Dân Nga là chứng nhân của Chúa…Thế nhưng chính ở đây mà cách mạng bùng nổ…và nó cho thấy sự trống rỗng thiêng liêng nơi người Nga. Sự trống rỗng này là hậu quả của tình trạng nô lệ kéo dài quá lâu, của tiến trình đoạn tuyệt chế độ cũ đã đi quá xa, của sự tê liệt nơi Giáo Hội Nga và sự xuống cấp đạo đức nơi hàng lãnh đạo Giáo Hội đã kéo dài quá lâu. Từ lâu cái linh thánh đã bị trục xuất khỏi tâm hồn người dân, dù theo phe hữu hay phe tả, và tình trạng đó chuẩn bị cho thái độ bài khích cái linh thánh, sự bài khích đang phơi bày tất cả vẻ ghê tởm của nó”.

Berdyaev đã trách móc chế độ Sa hoàng và Giáo Hội Chính Thống về những gì diễn ra vào năm 1917. Bây giờ hãy nhìn vào vai trò của Giáo Hội trong giai đoạn trước Cách mạng. Một đàng, Giáo Hội vẫn là Giáo Hội Nhà Nước, đầy quyền lực và ảnh hưởng, thấm nhập mọi bình diện của đời sống xã hội. Vẫn có các vị thánh như thánh Gioan Kronstadt và đời sống thiêng liêng vẫn nở hoa ít ra là trong một vài tu viện. Đàng khác, Giáo Hội bị điều hành bởi chính quyền dân sự, kể cả những khuôn mặt đáng ghét như Rasputin, và thật ra Giáo Hội đã bị tê liệt ở mức nào đó.

Tôi nhớ đã đọc một cuốn sách của cha Georgy Shavelsky, Tổng tuyên úy của Lục quân và Hải quân Nga dưới thời Nicholas II. Là một thành viên kỳ cựu của Hội Đồng điều hành Giáo Hội, ông xác nhận rằng Hội Đồng xa rời đời sống người dân, đã làm rất ít (nếu không nói là không làm gì) để ngăn cản làn sóng vô thần đang xâm nhập đời sống những người dân thường. Ông đưa ra ví dụ: do sắc chỉ đặc biệt của nhà vua, khi việc tham dự Phụng vụ không còn là điều bắt buộc đối với binh sĩ nữa, thì chỉ còn 10% tiếp tục đến nhà thờ.

Một chứng từ khác tương tự là của Thượng phụ Veniamin (Fedchenkov), sau này là giám mục của Bạch quân thời hậu cách mạng. Ông viết rằng không có sinh viên nào ở trường Thần học St. Petersburg đến thăm cha John Kronstadt và một vài sinh viên còn là người vô thần. Ông mô tả bầu khí giá lạnh thiêng liêng và thiếu tính ngôn sứ trong Giáo Hội Chính Thống. Ông cho rằng không phải tình cờ mà những người như Rasputin nổi lên: trên nền sự dửng dưng tôn giáo, Rasputin xuất hiện như một khuôn mặt hấp dẫn và trước hết được giáo quyền đón nhận, dọn đường cho ông bước vào dinh thự hoàng cung.

Chứng từ thứ ba tôi muốn nêu lên ở đây có tính riêng tư hơn, là chứng từ của cha Sergei Bulgakov. Là con của một linh mục Chính Thống, sau khi học ở chủng viện thần học, ông trở thành vô thần. Trong những ghi nhận tự thuật, ông tự hỏi sự việc đó diễn ra như thế nào, và ông trả lời: “Điều đó xảy đến ngay lập tức và không lường trước được, như cái gì đó thật tự nhiên… Khi tôi bắt đầu nghi nan thì những lập luận hộ giáo truyền thống không đủ để làm thỏa mãn những suy nghĩ phê phán của tôi, ngược lại tôi thấy nó kệch cỡm…Sự phản kháng của tôi lại càng mạnh hơn vì những việc đạo đức bó buộc, những nghi thức rườm rà hình thức làm tôi khó chịu”. Cha Bulgakov lúc đó đã từ bỏ đức tin tôn giáo cách dễ dàng, không phải chiến đấu gì, cả gốc rễ giáo sĩ cũng như giáo dục thần học đều không giúp được ông chống lại cơn cám dỗ của chủ nghĩa vô thần và hư vô.

Bức tranh chúng ta có được khi đọc lại hồi ức của những người sống trong giai đoạn trước cách mạng là bức tranh về sự suy thoái trầm trọng trong niềm tin tôn giáo. Mặc dù Kitô giáo Chính Thống vẫn được duy trì như tôn giáo chính thức của chế độ quân chủ Nga, nhưng cả xã hội lẫn Giáo Hội đều đã bị nhiễm độc trầm trọng do sự vô tín, chủ nghĩa hư vô và vô thần. Kể cả các chủng sinh, những linh mục tương lai, cũng vật vờ giữa tôn giáo và vô thần. Nhiều Kitô hữu bình dân, nếu không nói là đa số, không còn đức tin nữa, và chính họ là những người quay ra chống Giáo Hội. Ngay lập tức Giáo Hội mất đại đa số thành viên của mình, chỉ còn lại một đoàn chiên nhỏ bé sẵn sàng chết cho Đức Kitô.

Chúng ta biết điều gì đã xảy ra cho những tín hữu trung thành với Giáo Hội: hoặc là họ bị thủ tiêu hoặc bị bách hại ác liệt, chỉ một thiểu số sống sót. Đã có một ít tiến bộ trong tình hình của Giáo Hội trong và sau Đệ nhị thế chiến, tuy nhiên Giáo Hội không bao giờ lấy lại được vị trí trong xã hội Nga như trước Cách mạng.

Loại vô thần nào chế độ Xô-Viết đã áp đặt trên người dân Nga? Thật ra, đó không phải là sự vô tín, nhưng đúng hơn, là niềm tin mạnh mẽ rằng Thiên Chúa không hiện hữu, đồng thời tin vào tương lai hạnh phúc ngay trong cuộc đời này, tin vào sự bất khả ngộ của đảng Cộng sản và hệ ý thức duy vật của nó. Khuôn mặt Lênin được trình bày như thần thánh (trong nhiều năm, được gắn chung với Stalin, rồi sau đó là một mình Lênin), khuôn mặt đó thống trị mọi nơi, ở mọi chỗ, trong mọi phòng của mọi tòa nhà, dù là nhà trẻ hay đại học, bệnh viện hay cửa hàng. Lênin được xem như thần thánh, đảng được xem như giáo hội duy nhất, các lãnh đạo (trung ương đảng) như hội đồng các thánh, lời của Lênin như Sách Thánh… Dân Xô-Viết không được trao tặng chủ nghĩa vô thần nhưng là một tôn giáo giả hiệu, thứ tôn giáo của tên phản-Kitô. Chính vì thế Berdyaev hoàn toàn chính xác khi nói về đặc tính tôn giáo trong chủ nghĩa xã hội và vô thần của Nga.

Hệ ý thức vô thần này được người dân chấp nhận tới mức độ nào, hoặc đúng hơn, có bao nhiêu người chấp nhận hệ ý thức này và bao nhiêu người kháng cự lại? Vào thập niên 1920-1930, chủ nghĩa vô thần Nga vươn đến mức mạnh mẽ nhất, rất hung hăng và kéo theo đám đông quần chúng nhân dân. Thế nhưng đến cuối thập niên 1960, nó đã mất đi nhiều nhiệt tình trước đó, phần đông coi nó như chuyện đương nhiên nhưng không còn nhiệt tình và cuồng tín như xưa. Cho nên, về mặt phẩm chất, thập niên 1930 có thể coi như đỉnh điểm. Nhưng về mặt số lượng thì tôi cho rằng thập niên 1960-1970 lại đông hơn. Trong thập niên 1930 vẫn còn những người âm thầm giữ đức tin họ được thừa hưởng từ thời Sa hoàng. Nhưng đến cuối thập niên 1970, hầu hết những người này (được giáo dục từ thời trước Cách mạng) đã chết và được thay thế bằng những người lớn lên dưới chế độ vô thần.

Tôi có thể minh họa điều đã nói về phẩm chất của chủ nghĩa vô thần tại Nga bằng những ví dụ từ chính gia đình tôi. Tất cả ông bà nội ngoại của tôi đều sinh ra trước Cách mạng, nhưng được giáo dục sau Cách mạng: không ai trong số họ có đạo cả! Kể cả lúc đến tuổi 80, khi hầu như mọi người trẻ trong gia đình tôi đều lần lượt đến nhà thờ và được rửa tội, thì ông bà tôi vẫn không theo. Một trong các cụ nói với tôi: “Tao thấy mình cứ như Robinson trên hòn đảo không người. Mọi người chung quanh đây đều đi nhà thờ, còn tao thì không”. Bà từng là thành viên đảng Cộng sản hơn 50 năm và tôi đoán ở tuổi 20, chắc bà là chiến sĩ vô thần rất hăng. Đến tuổi 80, bà không có gì chống tôn giáo nữa, nhưng cũng không tha thiết gì đến đạo. Chủ nghĩa vô thần nơi bà hoàn toàn thụ động, bà coi nó như chuyện đương nhiên và chẳng suy nghĩ gì.

Cha mẹ tôi lớn lên trong xã hội vô thần vào thập niên 1940-1950 và chưa bao giờ là chiến sĩ vô thần cả. Trong thời tuổi trẻ, họ đã muốn phủ nhận hệ ý thức Xô-Viết và tìm kiếm sự thật bên ngoài hệ ý thức đó. Thế nhưng vẫn còn đó sức ép rất lớn từ phía xã hội, trong đó họ phải cố tồn tại, luôn sợ hãi bị phát hiện là mình không tin vào chế độ và như thế sẽ bị trừng phạt. Mẹ tôi xin nhập đạo Kitô vào giữa thập niên 1970 nhưng vẫn không thể công khai hành đạo. Công khai tỏ ra mình là người có đạo cũng có nghĩa là sẽ bị trục xuất khỏi xã hội vô thần và có lẽ mất công ăn việc làm. Thành ra tôi được rửa tội không phải trong nhà thờ nhưng trong một nơi bí mật nào đó.

Bản thân tôi lớn lên trong thập niên 1970-1980, rõ ràng là thời kỳ suy thoái của chủ nghĩa vô thần tại Nga. Tuy nhiên vẫn còn nguy hiểm nếu công khai hành đạo. Chẳng hạn tôi có thể bị trục xuất khỏi trường nhạc danh tiếng nếu họ biết tôi đi nhà thờ. Trong 11 năm học ở trường nhạc, tôi không thấy học sinh nào dám công khai hành đạo. Mọi người coi chuyện vô thần là chuyện đương nhiên. Nhưng đồng thời nhiều bạn học của tôi không chấp nhận hệ ý thức của chế độ và họ có những quan điểm phóng khoáng. Họ còn xa Giáo Hội nhưng nhiều người trong số họ cũng chẳng tin vào lý tưởng Cộng sản. Vẫn còn khó khăn cho việc tin vào Thiên Chúa nhưng ít ra cũng có thể không tin vào hệ ý thức Cộng sản. Do đó, mặc dù lớn lên trong chế độ vô thần nhưng chưa bao giờ tôi bị áp lực lớn đến độ không dám đề kháng, tôi cảm thấy mình không sợ hãi gì và thoải mái tự do. Chính vì thế tôi không ngạc nhiên khi thấy hầu hết mọi người thuộc thế hệ của tôi đã xuống đường ở Moscow vào tháng 8 năm 1991 để giã từ chế độ Cộng sản. Họ không sợ bởi vì họ đã lớn lên trong thời kỳ suy thoái và tan rã của hệ ý thức Cộng sản.

Một trong những lý do chính tạo nên sự tan rã của hệ ý thức vô thần Xô-Viết đơn giản là người dân không còn tin vào nó nữa. Khi chủ nghĩa vô thần mất đi đặc tính tôn giáo của nó, nó trở nên trống rỗng và mất đi sức mạnh từ trước khi chính thức bị bỏ rơi.

Bây giờ, cách vắn tắt, tại nước Nga ngày nay, tình trạng vô thần và tôn giáo ra sao sau sự sụp đổ của hệ thống Xô-Viết? Theo tôi, mặc dù số tín hữu gia tăng rất nhiều trong những năm qua, nước Nga còn lâu mới là một đất nước Kitô giáo. Rửa tội và là tín hữu Chính Thống giáo đã thành một thứ thời trang. Tôi không ngạc nhiên khi thấy đa số người dân, nếu được hỏi, sẽ xưng mình là tín hữu Chính Thống. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là họ đi nhà thờ. Điều đó chỉ có nghĩa là hầu hết đã chấp nhận một thứ căn cước mới bên ngoài cho phù hợp với “cuộc hồi sinh tôn giáo”. Tôi nhớ có lần hỏi một em thiếu niên đi cùng với mẹ đến xin rửa tội: “Con có tin Chúa không?” Em trả lời “Không”. “Thế tại sao con muốn được rửa tội?” “Vì mọi người ai cũng rửa tội”. Đây là một trong nhiều trường hợp cho thấy nhiều người theo đạo cách rất hời hợt, kể cả không tin vào Thiên Chúa. Dù bên trong vẫn là vô thần, nhưng bên ngoài lại mang danh tín hữu Chính Thống.

Cuộc thăm dò mới đây nhất ở Nga cho biết chỉ có số tương đối nhỏ những người chủ trương vô thần, nhưng số Kitô hữu thực hành đạo cũng không phải là đa số. Hầu hết người ta nói rằng “Chúng tôi tin vào điều gì đó”. Chúng tôi nhìn nhận có đấng siêu nhiên nào đó, nhưng cũng thú nhận rằng niềm tin tôn giáo không đóng vai trò quan trọng trong đời sống. Nghịch lý khác là không phải mọi người xưng mình là tín hữu Chính Thống đều tin vào Thiên Chúa. Thậm chí một số người tham gia vào những tổ chức và phong trào của Giáo Hội nhưng vẫn không thực hành đạo.

Nói về sự hồi sinh tôn giáo tại Nga ngày nay đã trở thành chuyện quen thuộc. Nhưng người ta lại có những cách hiểu khác nhau về thế nào là hồi sinh. Chắc chắn là có sự hồi sinh bên ngoài: nhiều nhà thờ, tu viện, trường thần học được mở lại, cơ sở được tái thiết. Nhưng còn quá sớm để nói về sự hồi sinh của linh hồn Nga. Không có tiến triển về mặt luân lý đạo đức trong nước Nga ngày nay. Ngược lại, phải nhìn nhận rằng những chuẩn mực đạo đức đã xuống thấp hơn dưới thời Xô-Viết. Lại chẳng phải là chỉ dấu cho thấy không có sự hồi sinh bên trong của đời sống Kitô giáo, và người dân chưa thật sự đón nhận Kitô giáo như luật sống của họ sao? Lại chẳng phải là bằng chứng cho thấy sự hoán cải và sám hối, hiểu như sự thay đổi não trạng, vẫn chưa xảy ra tại Nga sao?

Một số người cho rằng sự suy đồi chuẩn mực đạo đức là do ảnh hưởng phương Tây: chính từ phương Tây suy đồi mà phim khiêu dâm, nạn mại dâm, và mọi thứ vô đạo tràn vào nước Nga. Đây là cách chúng ta tự biện hộ: đổ lỗi cho hết mọi người ngoại trừ bản thân mình. Nhưng thực tế như Berdyaev đã diễn tả từ năm 1918 là: “Dù cay đắng thế nào chăng nữa thì cũng phải nhận rằng dân Nga ngày nay ít mang tính tôn giáo hơn nhiều dân tộc Tây phương…nền văn hóa tôn giáo trong linh hồn họ yếu ớt hơn”. Berdyaev nói đúng nếu hiểu văn hóa tôn giáo ở đây không chỉ là chuyện gia nhập tổ chức của Giáo Hội, nhưng trước hết là sống theo những chuẩn mực của luân lý Kitô.

Khi công cuộc “đổi mới” bắt đầu, xã hội trông mong nhiều vào Giáo Hội. Nhiều người tin rằng Giáo Hội có thể đảm nhận vai trò dẫn đường trong cuộc hồi sinh thiêng liêng của dân tộc. Phải thú nhận rằng điều đó đã không xảy ra. Giáo Hội đã bắt đầu hồi sinh bằng việc xây lại những bức tường tu viện (thật sự là nhiệm vụ quan trọng và khó khăn), nhưng Giáo Hội đã không đáp ứng cách thích đáng nhu cầu khai sáng tôn giáo và đạo đức cho dân. Các vị lãnh đạo Giáo Hội có thể đến gần chính quyền dân sự nhưng lại không gần gũi với dân thường, nhất là những người ở ngoài Giáo Hội. Giáo Hội Chính Thống vẫn khép lại với chính mình, bận tâm với những vấn đề nội bộ hơn là với những nhu cầu thiêng liêng của xã hội hiện đại. Hệ quả là những giáo phái Tin Lành phương Tây đã nắm lấy vai trò khai sáng những người vô thần trước đây, và không lạ gì khi họ ngày càng chiếm được thiện cảm của người dân thường.

Chủ nghĩa vô thần ở Nga một ngày nào đó sẽ chết hẳn, nhưng điều đó chỉ xảy ra khi đất nước không những được rửa tội mà còn được khai sáng và tái sinh. Giáo Hội Chính Thống cần đóng vai trò chính yếu trong cuộc hồi sinh thiêng liêng này. Nhưng điều đó chỉ xảy ra khi Giáo Hội thật sự trở thành Giáo Hội quốc gia: không phải là Giáo Hội của Nhà nước (dù là Nhà nước nào) nhưng là Giáo Hội của dân tộc, của nhân dân. Để được như thế, Giáo Hội phải ra khỏi vỏ ốc của mình, phải nói thứ ngôn ngữ người dân đang nói, phải đối diện với những nhu cầu của xã hội và trả lời cách thích đáng.

Vào thời điểm hiện nay, Giáo Hội đang nỗ lực tìm ra căn tính mới của mình trong nước Nga hậu Cộng sản và hậu vô thần. Theo tôi, có hai nguy hiểm chính. Thứ nhất là mối nguy trở về tình trạng trước Cách mạng, khi Giáo Hội Nhà nước ngày càng không phải là Giáo Hội của dân tộc. Nếu trong một giai đoạn phát triển nào đó của xã hội, Giáo Hội được Nhà nước trao cho vai trò như thế, thì quả là một sai lầm lớn nếu Giáo Hội chấp nhận. Trong trường hợp đó, Giáo Hội sẽ lại bị đa số nhân dân khước từ như đã xảy ra năm 1917. Bảy mươi năm chịu bách hại dưới thời Xô-Viết đã là kinh nghiệm luyện ngục khủng khiếp cho Giáo Hội Nga, từ đó Giáo Hội nên được đổi mới hoàn toàn. Sự sai lầm nguy hiểm nhất có lẽ là không chịu học hỏi từ những gì đã xảy ra để rồi lại quay về với tình trạng trước Cách mạng, như một vài giáo sĩ ngày nay đang mong muốn.

Mối nguy hiểm thứ hai là một thứ Chính Thống giáo mang tính chiến đấu, như thể đối kháng lại thứ chủ nghĩa vô thần chiến đấu. Tôi hiểu Chính Thống giáo chiến đấu ở đây là thứ Chính Thống chủ trương chống lại người Do Thái, chống lại dân chủ, chống lại văn hóa Tây phương, chống lại sự khai sáng. Thứ Chính Thống này đang được rao giảng, thậm chí do một vài nhân vật chủ chốt của hàng giáo phẩm, và có nhiều người ủng hộ. Cho dù được Nhà nước hỗ trợ, thứ Chính Thống này có thể đẩy chủ nghĩa vô thần rút lui tạm thời. Nhưng chủ nghĩa vô thần Nga sẽ không bị đánh bại cho đến khi sự biến hình của linh hồn và đòi hỏi sống theo Tin Mừng trở thành sứ điệp duy nhất của Giáo Hội Chính Thống Nga.

Thượng phụ Hilarion Alfeyev

Chuyển ngữ: Thiên Triệu

Read More
25Tháng Sáu
2022

Nhu Cầu Truyền Giáo

25/06/2022
Anmai
Phụng vụ, Suy niệm hàng ngày
0

5.7 Thứ Ba trong tuần thứ Mười Bốn Mùa Quanh Năm

Hs 8:4-7,11-13; Tv 115:3-4,5-6,7-8,9-10; Mt 9:32-38

Nhu Cầu Truyền Giáo

Tin Mừng theo thánh Mát-thêu hôm nay, cùng với việc giảng dạy để loan báo Tin Mừng Nước Trời, Chúa Giê-su còn “chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền”; không chỉ bệnh hoạn tật nguyện gây ra do thân phận của con người, nhưng còn do bởi ma quỉ, vốn luôn phá hoại tương quan tin tưởng và tình yêu giữa con người với Thiên Chúa và giữa con người với nhau. Bởi vì, con người không chỉ sống bằng sức khỏe thể lí, nhưng còn bằng tương quan nữa, tương quan với mình, với người khác và với Chúa; con người không thể sống bình an và hạnh phúc, nếu những tương quan này bị tổn thương.

Ngoài ra, để cho sự sống này có ý nghĩa, con người còn cần có hướng đi và niềm hi vọng hướng tới cùng đích đáng ước ao và mong chờ; chính vì thế, Chúa Giê-su còn quan tâm đến sứ mạng chăn dắt đối với con người nữa, vì dưới mắt Ngài, loài người chúng ta “lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt”.

Như thế, Tin Mừng Nước Trời gắn liền với dấu chỉ phục vụ cho sự sống: ở đâu có Nước Trời, ở đó có sự phục vụ cho sự sống; và ở đâu có sự phục vụ cho sự sống, ở đó Nước Trời hiện diện. Đức Ki-tô đã phục vụ cho sự sống của loài người và từng người chúng ta “cho đến cùng”, nghĩa là trở thành “Bánh” nuôi dưỡng chúng ta, trở thành hiện thân của tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa cho chúng ta; và Ngài mời gọi mỗi chúng ta đích thân đón nhận sự phục vụ của Ngài, để có thể phục vụ như Ngài. Đó chính là cách thức Đức Ki-tô loan báo Tin Mừng và làm cho Nước của Thiên Chúa Cha trị đến.

Các Pharisiêu nhìn Đức Giêsu và bảo Ngài liên minh với quyền lực của ma quỷ. Họ không chống đối được quyền năng lạ lùng của Ngài, nhưng họ cho rằng sở dĩ Chúa Giêsu có được nó là do liên minh với quỷ vương. Chắc rằng, một khi họ phán đoán như vậy thì chính là do tâm trí họ chưa thoát được cái bóng của bản thân mình. Họ bị cột chặt vào một lối tư duy cũ kĩ, chật hẹp và không thể thay đổi. Như chúng ta đã thấy, họ luôn luôn cho rằng, không được thêm hoặc bớt đi bất kì một chữ nào trong Lề Luật.

Đối với họ, mọi việc trong đời đều đã thuộc về quá khứ, thay đổi một truyền thống hay một quy ước là đáng tội chết. Bất cứ điều gì mới đều sai, đều có vấn đề. Khi Chúa Giêsu đến với những giải thích mới mẻ về tôn giáo thật thì họ ghét Ngài như họ đã từng ghét các ngôn sứ xưa kia.

Họ quá hãnh diện trong sự tự mãn nên không thể thuần phục. Nếu Chúa Giêsu đúng thì họ sai. Chúa Giêsu không thể làm gì cho một ai đó bao lâu người ấy chưa tuân phục Ngài, cả trong ý chí lẫn trong hành động. Người Pharisiêu tự mãn đến nỗi họ thấy không cần thay đổi, và họ ghét người nào muốn cảm hóa họ, muốn sửa lưng họ. Sự hoán cải là vé vào cửa Nước Trời. Nó có nghĩa là thừa nhận con đường chúng ta đi là sai, chỉ có sự sống trong Chúa và chỉ có tuân phục Ngài, tuân phục chân lý và quyền năng Ngài, chúng ta mới được thay đổi và cứu thoát.

Họ quá thành kiến nên không thấy, mắt họ đui mù bởi thành kiến và những ý riêng đến nỗi không thể thấy chân lý và quyền năng của Thiên Chúa. Một người biết mình thiếu thốn bao giờ cũng thấy sự kỳ diệu trong Chúa Giêsu. Người cố chấp không chịu đổi thay, người kiêu ngạo trong sự công chính riêng đến nỗi không tuân phục, người bị thành kiến làm đui mù đến nỗi không thấy, thì bao giờ cũng phản đối, ghen ghét và tìm cách loại trừ Chúa Giêsu.

Hình ảnh về mùa gặt hái đã được các Tiên Tri dùng để chỉ Nước Chúa Cứu Thế sau này. Thời kỳ sau cùng là thời kỳ gặt hái thu lượm, nghĩa là lúc Thiên Chúa đến phán xét trong ngày tận thế. Chính Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh này trong dụ ngôn cỏ lùng và lúa. Giai đoạn sau cùng của lịch sử đã bắt đầu với việc Nước Thiên Chúa đến; tất cả đều sẵn sàng, nhưng thiếu thợ gặt. Thế giới ngày nay như một cánh đồng mênh mông, nơi có rất nhiều linh hồn sẵn sàng đón nhận Nước Trời nhưng phải có người chỉ đường cho họ. Chúa muốn cứu thế gian và Ngài kêu gọi sự cộng tác của con người. Lời kêu gọi của Ngài vẫn có giá trị và khẩn cấp trong mọi thời đại.

Chúa Giêsu đi khắp các thành thị, làng mạc giảng dạy trong các hội đường. Là người tông đồ, chúng ta phải biết thích nghi với mọi hoàn cảnh, mọi môi trường và tiếp xúc với mọi hạng người để phục vụ và rao giảng về Chúa cho họ. Chúa thấy đám đông và chạnh lòng thương xót: Chúa nhạy cảm trong việc biểu lộ tình thương trong tâm tư, lời nói và việc làm. Người tông đồ cũng phải đến với anh em với cả tâm hồn để nhận biết và bày tỏ tình thương cách hợp tình, hợp lý và hợp cách.

Trích đoạn Tin mừng hôm nay còn cho thấy, Chúa Giêsu không chỉ trao cho Giáo hội sứ mạng truyền giáo mà Ngài còn là mẫu gương truyền giáo đối với hết thảy chúng ta. Thật thế, người truyền giáo, trước hết, phải là người có bản lãnh, không bao giờ đầu hàng trước bất cứ khó khăn nào. Chúa Giêsu trong suốt hành trình rao giảng của mình đã không lùi bước cho dù bị con người chối bỏ, bị những người biệt phái giải thích một cách ác ý, bị khinh thị và thậm chí muốn loại trừ Ngài. Trong hoạt động tông đồ của chúng ta cũng vậy, chúng ta có thể sẽ gặp những thất bại khi những nỗ lực sống yêu thương của chúng ta không được người khác đón nhận; thế nhưng, không vì thế mà chúng ta bỏ cuộc, đầu hàng hay khoanh tay chờ đón thất bại.

Kế đến, người truyền giáo phải là người biết ra đi để đến với tha nhân. Chúa Giêsu là một người lữ hành rày đây mai đó. Ngài không ngừng đi khắp nơi để rao giảng Tin mừng. Ngài không ngừng đi đến với mọi người, để yêu thương và phục vụ họ. Chúng ta cũng vậy, nếu chúng ta không ra khỏi con người ích kỷ của mình để đến với tha nhân; nếu chúng ta không chấp nhận hy sinh thời giờ, sức khỏe, tiền của, để đến với anh chị em của mình, nhất là những người bất hạnh, chúng ta sẽ không thể chu toàn nhiệm vụ truyền giáo mà Chúa và Giáo hội giao phó.

 

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 790
  • Page 791
  • Page 792
  • …
  • Page 2.058
  • Next page
Bài viết mới nhất
TÂM SỰ NGƯỜI LINH MỤC.
23/07/2026
Di chúc thiêng liêng của Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp
11/07/2026
Hoa trái thiêng liêng hậu tuần Cửu nhật
11/07/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.