2023
Bức thư đầy cảm động của thánh Luigi Gonzaga gửi thân mẫu
Bức thư đầy cảm động của thánh Luigi Gonzaga gửi thân mẫu
2023
THANH LUYỆN Ý HƯỚNG VÀ VƯỢT QUA NỖI SỢ HÃI CỦA CHÚNG TA
THANH LUYỆN Ý HƯỚNG
VÀ VƯỢT QUA NỖI SỢ HÃI CỦA CHÚNG TA
LM Nnamdi Moneme, OMV
Cha tôi luôn nói những lời động viên tôi trong suốt quá trình đào tạo linh mục và tu trì của tôi và vẫn còn rất lâu sau khi tôi thụ phong linh mục. Ông luôn kết thúc cuộc trò chuyện của chúng tôi bằng những lời khẳng định như sau: “Ba cảm ơn Chúa vì ơn gọi của con… Gia đình chúng ta thực sự được chúc phúc bởi ơn gọi linh mục của con… Cảm ơn con đã đáp lại ơn gọi này của Chúa.”
Tôi đã khao khát được nghe những lời như vậy kể từ khi cha tôi qua đời khoảng một năm trước. Ông rõ ràng hài lòng với ơn gọi của tôi. Có Chúa phù hộ, sự ra đi của ông đã khiến tôi suy ngẫm về động lực sâu xa nhất của mình để giữ chặt lấy nó và ở lại trong ơn gọi này. Nói cách khác, tôi đã phải tự hỏi mình: “Tại sao tôi phải tiếp tục là một tu sĩ linh mục? Tôi đang cố gắng làm đẹp lòng ai khi đi theo ơn gọi này? Tôi đang cố gắng làm hài lòng bản thân, làm hài lòng những người thân yêu, bạn bè của tôi hay tôi đang làm điều này để làm đẹp lòng Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã yêu thương tôi, chết vì tôi và đã ân cần mời tôi làm linh mục của Người?”
Tất cả bạn bè của tiên tri Giêrêmia đều quay lưng lại với ông, bắt bớ ông, sỉ nhục ông và lên kế hoạch tiêu diệt ông: “Ấy vì tôi nghe lắm người đàm tiếu: “Tứ phía kinh hoàng! Tố cáo đi! Ta hãy tố cáo nó đi!” Mọi kẻ thân tín của tôi đều dòm ngó chờ tôi sẩy ngã” (20, 10). Mặc dù Vị tiên tri đơn độc đối mặt với những kẻ thù đầy thù hận của mình, nhưng ông không sợ hãi vì mục tiêu của ông là làm đẹp lòng một mình Thiên Chúa. Ông nói: “Lạy Chúa các đạo binh, Đấng dò xét người công chính, Đấng thấu suốt tâm can, con sẽ thấy Ngài trị tội chúng đích đáng, vì con đã giãi bày cơ sự cùng Ngài” (20, 12). Ông đã vượt qua nỗi sợ hãi về những gì người ta có thể nói hoặc làm với ông chỉ bằng cách đổi mới và củng cố quyết tâm làm đẹp lòng Thiên Chúa trước hết và trên hết, chớ không phải những người khác.
Chúa Giêsu có hai lời mời gọi chúng ta trong Mt 10: 26-33. Đầu tiên, Ngài nói một cách dứt khoát, “Anh em đừng sợ người ta.” Khi chúng ta sợ hãi người khác, chúng ta cố gắng tránh làm hoặc nói bất cứ điều gì có thể xúc phạm họ hoặc khiến họ tức giận. Chúng ta có thể cố gắng bằng mọi giá để giành được tình cảm của họ đến độ chúng ta bắt đầu che giấu những phần khó chịu của chân lý cứu độ mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta. Đây là lý do tại sao Chúa Giêsu cảnh báo: “Không có gì che giấu mà sẽ không được tỏ lộ, không có gì bí mật, mà người ta sẽ không biết” (Mt 10. 26). Chúng ta phải yêu thương và tôn trọng tất cả mọi người nhưng đừng loại bỏ đi ánh sáng chân lý trong Tin Mừng.
Thứ hai, chúng ta phải kính sợ một mình Thiên Chúa, Đấng “có thể hủy diệt cả hồn lẫn xác trong địa ngục”. Linh hồn bị hủy diệt theo nghĩa là vĩnh viễn xa cách Thiên Chúa, chính là sự sống đích thực của mỗi linh hồn. Sự kính sợ Thiên Chúa này không ám chỉ một nỗi sợ bệnh hoạn bị Thiên Chúa trừng phạt, nhưng là một nỗi sợ làm mất lòng Thiên Chúa, Đấng hoàn toàn biết chúng ta và yêu thương chúng ta hết tình. Do đó, Chúa Giêsu liên kết sự kính sợ Thiên Chúa này với sự tin cậy đầy yêu thương nơi Thiên Chúa: “Ngay đến tóc trên đầu anh em, Ngài cũng đếm cả rồi. Vậy anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ” (Mt 10, 30-31). Dù với bất cứ hình thức nào, thì việc sợ làm mất lòng Thiên Chúa luôn được thể hiện qua quyết tâm vững chắc làm đẹp lòng Ngài trong mọi sự và trên hết mọi sự.
Chúng ta chỉ có thể vượt qua nỗi sợ hãi của mình khi chúng ta thực sự biết sợ làm mất lòng Thiên Chúa, cũng như có quyết tâm vững vàng làm đẹp lòng Ngài trong mọi việc vì tình yêu dành cho Ngài. Chúng ta phải vượt qua nỗi sợ hãi của mình giống như cách mà Chúa Giêsu đã vượt qua nỗi sợ hãi của chính Người, tức là bằng cách có một ý định trong sáng trong mọi việc Người làm, “Đấng đã sai tôi vẫn ở với tôi; Ngài không để tôi cô độc, vì tôi hằng làm những điều đẹp ý Ngài” (Ga 8:29). Bằng cách đó, Chúa Giêsu đã chiến thắng nỗi sợ hãi cái chết trong Vườn Giệtsimani: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được” (Mt 26:38). Vào những giờ phút đen tối đó khi các môn đệ của Người ngủ say và Người bước vào cơn hấp hối một mình, Người đã đối mặt với nỗi sợ hãi này bằng cách liên tục lặp lại sự dâng hiến của Người để làm đẹp lòng Chúa Cha hơn tất cả những người khác: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26,39).
Anh chị em thân mến trong Chúa Kitô, thế giới của chúng ta ngày nay ngày càng trở nên không biết sợ xúc phạm đến Thiên Chúa. Chúng ta phủ nhận rằng tội lỗi của chúng ta thực sự là tội lỗi mà đó chỉ là vấn đề của những quan điểm có thể thay đổi. Chúng ta biện minh cho những lựa chọn tội lỗi của mình bởi vì chúng ta cảm thấy Lời Chúa cần được cập nhật để đáp ứng thị hiếu và sự thích thú nhất thời của chúng ta. Chúng ta có những tội lỗi trái tự nhiên được hệ thống hóa thành luật của xã hội chúng ta dưới hình thức kết hợp đồng giới. Chúng ta không bảo vệ những người vô tội và kỷ luật những kẻ săn mồi tình dục.
Chúng ta cũng đã đánh mất quyết tâm làm đẹp lòng Thiên Chúa trên hết mọi sự. Chúng ta đang ở trong thời đại “tôi là trên hết” chỉ tìm kiếm niềm vui cho bản thân hơn tất cả mọi thứ. Chúng ta không nói sự thật vì chúng ta sợ làm mất uy tín của những người dị ứng với sự thật. Chúng ta thà chết chứ không hy sinh tiện nghi cá nhân. Chúng ta không làm hoặc không chịu đựng bất cứ điều gì nếu điều đó không đem lại một số lợi ích vật chất hoặc lợi ích tức khắc cho chúng ta. Thiên Chúa ngăn chặn không để chúng ta bị mang tiếng xấu vì đã nói và làm điều chân thật.
Nếu không sợ làm mất lòng Thiên Chúa và làm đẹp lòng một mình Ngài trong mọi việc, chúng ta trở thành nô lệ vô vọng của sự sợ hãi. Chúng ta sợ cả những điều sai trái và cả những điều đúng đắn, một cách sai lầm. Chúng ta sợ mọi người và những gì họ có thể nói hoặc làm với chúng ta. Chúng ta sợ bị đau ốm ngay cả khi chúng ta có sức khỏe tốt. Chúng ta sợ đau khổ và hy sinh có thể xẩy đến với chúng ta. Chúng ta sợ tương lai và tất cả những gì tương lai đó có thể gây ra.
Chính nhờ ân sủng đặc biệt của Thiên Chúa mà chúng ta mới có thể kính sợ Thiên Chúa và có ý định trong sạch trong mọi sự. Tội lỗi của chúng ta khiến chúng ta trở nên ích kỷ hơn và muốn làm hài lòng bản thân hơn. Mặt khác, ân sủng của Thiên Chúa dành cho chúng ta nhờ thập giá là để chúng ta cũng có thể như Chúa Kitô chọn làm đẹp lòng Chúa Cha trên hết mọi sự trong trần thế này. Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta về sự dồi dào của ân sủng này dành cho tất cả chúng ta khi đối mặt với tội lỗi, “Thật vậy, nếu vì một người duy nhất đã sa ngã, mà muôn người phải chết, thì ân sủng của Thiên Chúa ban nhờ một người duy nhất là Chúa Giêsu Kitô, còn dồi dào hơn biết mấy cho muôn người” (Rm 5,12-15)
Chúng ta gặp chính Đấng đã nói với chúng ta, “Đừng sợ,” trong mỗi Thánh Lễ. Ngài luôn ban cho chúng ta cùng một ân sủng giúp chúng ta có thể tìm cách làm đẹp lòng Chúa Cha, Đấng yêu thương chúng ta tha thiết. Ân sủng này thúc đẩy chúng ta làm theo ý muốn của Thiên Chúa với ý định ngày càng trong sạch hơn.
Hôm nay chúng ta cần phải thực hiện một sự lựa chọn cá nhân.
Hoặc chúng ta có thể nhận được ân sủng này một cách vô ích và vẫn tiếp tục làm hài lòng bản thân và những người khác trong khi xúc phạm đến Thiên Chúa. Như thế, chúng ta chọn trở thành nô lệ vô vọng của nỗi sợ hãi.
Hoặc chúng ta có thể quyết định sử dụng ân sủng này để làm đẹp lòng một mình Thiên Chúa trên hết mọi sự và chúng ta cảm nghiệm được sức mạnh của Chúa Kitô để vượt qua mọi nỗi sợ hãi của chúng ta.
Thực hiện sự chọn lựa là việc của chúng ta.
Vinh danh Chúa Giêsu! Tôn vinh Mẹ Maria!
Phêrô Phạm Văn Trung
Chuyển ngữ từ: catholicexchange.com (27.06.2023)
2023
TU VIỆN Ở ROMA, NƠI ẨN NÁU CHO “NHỮNG NGƯỜI BỊ ÁP BỨC” TRONG MỌI CUỘC CHIẾN
TU VIỆN Ở ROMA, NƠI ẨN NÁU CHO “NHỮNG NGƯỜI BỊ ÁP BỨC” TRONG MỌI CUỘC CHIẾN
Clare Graziani
– Trước đây, những người Do Thái ở Roma chạy trốn cuộc đàn áp của Đức Quốc xã đã tìm được nơi ẩn náu trong một tu viện ở ngoại ô thủ đô, do các Nữ tu Dòng Phanxicô Thương xót tổ chức. Ngày nay, những cánh cửa của ngôi nhà đó vẫn mở rộng để chào đón và ôm lấy những người chạy trốn khỏi mọi cuộc chiến.
“Chị cũng sống ở đây à?” “Vâng, tất nhiên, ngôi nhà là của tất cả chúng tôi”. “Của các chị?” “Đúng vậy, nhưng nó sẵn sàng giúp đỡ những người gặp khó khăn”. “Vậy các chị thật tốt” Một phụ nữ trẻ người Somali xinh đẹp và mang khăn che mặt theo phong cách Hồi giáo, ngạc nhiên nhìn kỹ hơn người phụ nữ cũng đội khăn, người mà cô đã quyết định trao đổi những lời đầu tiên.
Asha đến Roma từ một trại tị nạn trên một hòn đảo của Hy Lạp, nơi cô sinh con dưới một chiếc lều bằng nhựa không thể bảo vệ cô khỏi cái lạnh, động vật hay kể cả con người. Rời khỏi Somalia, bị người chồng không còn yêu thương đuổi đi, Asha, ở tuổi đôi mươi, lần đầu tiên lên đường từ địa ngục Libya để đến hố đen của hòn đảo Lesbos, trại di cư, nơi cô tin rằng cuộc chạy trốn vô ích của mình kết thúc ở đó.
Những ngày vô vọng, đầy hỗn loạn, kinh hoàng và ồn ào dưới chiếc lều nhựa, bám lấy đứa con gái nhỏ mà cô bảo vệ như một con sư tử cái, trong khi một đứa trẻ khác đang lớn lên trong bụng mẹ để chào đời trong vô vàn nguy hiểm. Asha có đôi tay mạnh mẽ, giống như những người Somalia trẻ tuổi. Nhưng cô chưa bao giờ gặp được điều gì tốt. Sau đó, cô hỏi người phụ nữ đội lúp: “Các con của chị đâu?”. “Tôi không có con,” người này trả lời. “Vậy chồng của chị đâu?” “Tôi không có chồng.” “Không có chồng? Không chứ?”, Asha mở to đôi mắt. “Không. Không có chồng. Tôi được thánh hiến cho Thiên Chúa.”
Asha, người được cộng đồng Thánh Egidio tìm thấy dưới chiếc lều nhựa đó, cuối cùng đã đến Roma, đến tu viện của các Nữ tu Dòng Phanxicô Thương Xót. Với Noor và Fatima, 6 và 3 tuổi, cô được đưa lên tầng hai, nơi cô sắp xếp đồ đạc của mình trong một căn phòng, nơi mà cô không biết rằng nhiều năm trước, vào năm 1943, đã được mở ra cho những người mẹ khác, cho những đứa trẻ bỏ trốn. Những người bị áp bức được giải cứu khỏi sự bách hại của bọn Quốc xã-Phát xít. Họ được các nữ tu cứu sống bất chấp nguy hiểm đến mạng sống.
Asha không biết. Nhưng gia đình của những người phụ nữ không có chồng đã đáp lại ơn gọi này trong nhiều năm. Hãy là con tàu cứu hộ cho bất cứ ai chạy trốn sự ác. Nơi cập bến, đường Poggio Mojano số 8, thành phố Roma, vùng ngoại ô phía bắc. Có một cánh cửa ở đó, nếu bạn gặp khó khăn, sẽ mở ra cho bạn mà không cần thắc mắc. Một câu chuyện bắt đầu khi ở Roma, vào cuối Thế chiến thứ hai, Đức Quốc xã đã săn lùng từng nhà một để tìm người Roma gốc Do Thái và đưa họ lên tàu hỏa đến trại tập trung Auschwitz. Điểm đến tiêu diệt cuối cùng.
Tuy nhiên, ở Roma vào năm 1943, nơi bị chiếm đóng bởi Đức quốc xã, các dấu hiệu về một “ước muốn” của Giáo hoàng đã lan truyền giữa các tu viện. Che giấu người Do Thái, bị Đức quốc xã truy lùng với sự đồng lõa của bọn phát xít Ý, những kẻ đã lập danh sách những người Roma bị vây bắt. Tu viện ở đường Poggio Mojano số 8 đã mở cửa khi mẹ bề trên thời đó, mẹ Elisabetta, như đã ghi lại trong nhật ký của mẹ mong muốn của Đức Giáo hoàng rằng người dân cho “những người bị bách hại được trú ẩn”. Không phải tu viện Roma nào cũng làm theo ý ngài. Tuy nhiên, tại tu viện đường Poggio Mojano, mong muốn đó của Giáo hoàng gần như được thực hiện trước.
Người đầu tiên đến là một giáo viên tiểu học. Sau đó, đến lượt các gia đình chạy trốn. Tất cả được che giấu trên tầng hai, trong 7căn phòng được che khuất khỏi tầm nhìn của những kẻ săn tìm, nơi các nữ tu đặt tượng Đức Mẹ Luxembourg để bảo vệ những người bị đàn áp. Các nữ tu đã xin phép những vị khách Do Thái của họ trước. Với lòng dũng cảm và táo bạo, các nữ tu đã giấu họ trong cùng một cơ sở, nơi mà cho đến ngày 3/10, quân Đức quốc xã đã chiếm đóng để làm bệnh viện quân đội. Và chính sự táo bạo đã hỗ trợ họ mỗi khi các đám lính quay lại tiến hành lục soát. Các nữ tu đã đánh lạc hướng bằng những lời nói dối thánh thiện và sự ứng biến liều lĩnh, cho đến khi quân Đức bỏ đi, vì bị đánh lừa.
Trong thời gian hoà bình, tu viện bắt đầu mở trường mẫu giáo và trường tiểu học Thánh Phanxicô. Nhiều thế hệ trẻ em, trong đó có nhà văn, lớn lên trong những lớp học đó, xếp hàng trên cùng những vạch đen mà chúng không biết rằng lính Đức quốc xã có vũ trang đã xếp hàng vào ngày 3/10/1943. Không ai trong số những đứa trẻ thời bình đó từng biết, cho đến năm 2019 (khi L’Osservatore Romano tiết lộ), câu chuyện che giấu người Do Thái của gia đình của những người phụ nữ đã dạy chúng sự dịu dàng yêu thương của Chúa Giêsu và của Thánh Phanxicô và không bao giờ đánh mất niềm hy vọng.
Nhưng chiến tranh đã đang rình rập. Tham nhũng, buôn bán vũ khí, khí hậu điên cuồng, sự mất ổn định sâu sắc ở Châu Phi, Trung Đông, sự đàn áp của các chế độ độc tài, đã tạo ra những người bị áp bức mới. Do đó, cánh cửa đường Poggio Mojano số 8, một cách tự nhiên, lại mở ra cho những người bị áp bức, những người không còn là người Roma như năm 1943, mà là người Rumania, người Nga, người Ucraina, người Somalia, người Congo, người Syria, người Afghanistan, người du mục Rôm.
Hiện tại, có 12 khách ở trong 7 phòng trước đây thuộc sở hữu của Đức Quốc xã và sau đó là của những người tị nạn Do Thái. Các nữ tu dòng Thánh Phanxicô dành cho họ tầng 2 của tu viện. Và mọi người đến từ khắp nơi trên thế giới. Các trẻ em đến, thậm chí có các em bé được sinh ra. Những bà mẹ lòng đầy đau khổ đến, với những đứa con chào đời trong sợ hãi, đôi khi vì bạo lực, được trải nghiệm như một số phận không thể tránh khỏi. Tu viện một lần nữa là một bệnh viện chữa trị cho những con người bị tổn thương. Con tàu đó sẽ luôn sẵn sàng khởi hành từ đường Poggio Mojano số 8 để đón “những kẻ bị áp bức” trong mọi cuộc chiến.
Nguồn: vaticannews.va/vi
2023
“Thà có một Hội Thánh bị bầm dập…”
“Thà có một Hội Thánh bị bầm dập…”
1- Lời Chúa trong Chúa nhật 12 thường niên năm A nhắc nhở chúng ta sứ mạng loan báo Tin Mừng, tuyên xưng Đức Giêsu Kitô, bất chấp những trở ngại, bách hại và khổ đau.
2- Trước hết, bài đọc I cho thấy Giêrêmia (Gr 20,10-13) đã phải chiến đấu để trung thành với sứ mạng loan báo Lời Chúa. Sứ vụ của ông gay go bạc bẽo. Ông phải loan báo những hoạn nạn sẽ xảy tới, và nghe riết người ta đặt cho ông cái tên “lão tứ phía kinh hoàng” và tránh xa ông như tránh dịch. Ông bị nhà cầm quyền bắt nhốt và kết tội phản quốc. Họ hàng thân thích cũng khử trừ. Ông một thân một mình chịu bao đau khổ, chấp nhận không vợ không con theo lệnh của Đức Chúa. Là tiên tri, ông sống trước nơi bản thân số phận cay đắng của dân bội bạc. Tất cả chỉ bởi một nguyên do, bởi trung thành với sứ vụ loan báo Lời Chúa.
Tuy bị ghét bỏ và tấn công tứ phía, nhưng Giêrêmia vẫn trung thành với sứ vụ, bởi như lời ông nói: “Chúa luôn ở với tôi, như một trang chiến sĩ oai hùng”, hoặc bởi lý do sâu xa hơn như lời tâm sự trước đó: “Tôi đã định không nghĩ đến Người nữa, không nhân danh Người mà nói nữa, nhưng lời Ngài cứ như ngọn lửa bùng cháy trong tim, âm ỉ trong xương cốt, khiến tôi không thể nào nén được”. Sứ vụ loan báo Lời Chúa như một định mệnh phải thi hành, phải ưu tiên, và Thần Khí Chúa ban bảo đảm cho việc hoàn thành.
![]() |
3- Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm (Mt 10,26-33) cũng gợi lên tính cách cấp thiết của việc loan báo Tin Mừng: “Điều Thầy nói với các con trong bóng tối, các con hãy nói ra nơi ánh sáng; và điều các con nghe rỉ tai, hãy công bố trên mái nhà”. Cấp thiết đến nỗi liên hệ đến phận số đời đời của người tông đồ: “Ai tuyên xưng Thầy ra trước mặt người đời, thì Thầy cũng sẽ tuyên xưng người ấy ra trước mặt Cha Thầy. Còn ai chối Thầy trước mặt người đời, thì Thầy cũng sẽ chối bỏ nó trước mặt Cha Thầy”.
Tính cấp thiết này còn rõ nét hơn trong lệnh truyền giáo được thánh Luca ghi lại: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về. Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. Đừng mang theo túi tiền…, cũng đừng chào hỏi ai dọc đường… Hãy chữa lành những người đau yếu tật nguyền, và nói với họ: Nước Thiên Chúa đã đến gần các ông”. Trường hợp người ta không đón tiếp, có phải giũ bụi chân trả lại, cũng vẫn phải lên tiếng loan báo: “Tuy nhiên, các ông phải biết điều này: Nước Thiên Chúa đã đến gần” (Lc 10,10-11).
4- Tin Mừng hiện nay chưa đến được với 93% dân số Việt Nam, dù rằng Tin Mừng đã được khởi động từ gần 500 năm rồi. Nguyên nhân phải chăng vì người Công giáo Việt Nam dửng dưng không bận tâm, xem việc loan báo Tin Mừng như trách nhiệm của ai đó hay của một vài người mà không phải mình, không cảm nhận được cái tâm của Chúa, không cảm thấy được Thánh Thần thôi thúc từ bên trong, hoặc bởi ngại ngùng xấu hổ, bởi sợ hãi, bởi không muốn ra khỏi sự an toàn cá nhân?
5- Đâu là cảm nhận, là xác tín của chúng ta trước bảo đảm và thôi thúc của chính Chúa Giêsu: “Đừng sợ những kẻ chỉ giết được thân xác…. Ngay cả tóc trên đầu anh em cũng đã được đếm cả rồi. Vậy đừng sợ, anh em đáng giá hơn muôn vàn chim sẻ” (Mt 10,29-31).
“Khi bị nộp, anh em đừng lo phải nói làm sao hay phải nói gì, vì chính giờ đó Thiên Chúa sẽ cho anh em biết phải nói gì, vì không phải chính anh em nói, mà là Thánh Thần của Cha anh em nói trong anh em” (Mt 10, 19-20).
“Ai bền đỗ đến cùng, sẽ được cứu thoát” (Mt 10,22).
Tình yêu quan phòng của Chúa Cha, sức mạnh và miệng lưỡi từ Chúa Thánh Thần, và phần thưởng là lời tuyên xưng của chính Đức Kitô trước mặt Chúa Cha, hạnh phúc đích thực và siêu việt. Quả thật, Chúa Giêsu cho các tông đồ được hưởng một thứ hạnh phúc không ai lấy mất được, niềm vui và kiêu hãnh ngay trong tù đày và tra tấn. Thánh Phêrô và các tông đồ bị đánh một trận đòn trước khi được trả về. Khi ra về, các ngài vừa đi vừa hát, lòng sung sướng vì được chịu đánh đòn vì Chúa (Cv 5,40-41). Thánh Phaolô và thánh Xila sau khi bị đánh đòn nhừ tử và bị tống vào ngục thì ca hát khiến rúng động cả trại giam. Vì sao? Bởi được chịu đánh đòn vì Đấng mà mình rao giảng (Cv 16,22-26). Sau đó là Tin Mừng lan rộng khắp miền Địa Trung Hải. Thậm chí Tin Mừng còn được thánh Tôma đem đến tận Ấn Độ.
6- Thời Giáo hội sơ khai là thế, còn Giáo hội hôm nay thì sao? Đó là điều phải ngẫm nghĩ, phải đấm ngực sám hối để quay lại với tâm ý của Chúa Giêsu, Đấng Phục Sinh luôn khao khát các linh hồn và phát lệnh: “Anh em hãy đi khắp thế gian, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo”, Tin Mừng “Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban chính Con Một, để ai tin vào Con của Người thì không phải chết, nhưng được sống đời đời” (Ga 3,16).
Phải sám hối, vì mục vụ giáo xứ hôm nay là “dừng chân” và “củng cố nội bộ” hơn là ra đi loan báo Tin Mừng. Hiện nay có biết bao giáo xứ chỉ tăng dân số do con cháu mình sinh ra. Tin Mừng đến với Việt Nam từ những năm 1533, vậy mà qua lịch sử 500 năm số tín hữu vẫn chỉ là con số khiêm tốn hơn 7 triệu, chiếm tỷ lệ 7,21%. Tại sao vậy? Anh em Tin Lành chỉ mới được chính thức cho phép hoạt động từ vài chục năm nay. Thế mà họ đã tăng trưởng đến ba bốn trăm phần trăm. Phải chăng vì người Công giáo Việt Nam không cảm nghiệm được lời trăng trối mang nặng thao thức bức xúc của Chúa là phải khẩn trương bung Tin Mừng đi khắp muôn dân?
7- Chúng ta đừng để bị cướp mất niềm say mê truyền giáo (Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng, số 80), đừng để bị cướp mất niềm vui loan báo Tin Mừng (số 83) là nhiệm vụ hàng đầu của Hội Thánh (số 15), để toàn thể Hội Thánh, từ gia đình cho đến giáo xứ (số 28), giáo phận (số 30–31), mọi phong trào, dòng tu (số 29), thậm chí cả Đức Giáo Hoàng và các cơ quan Tòa Thánh (số 32) cùng tiến tới theo con đường của sự sám hối mục vụ và truyền giáo (số 25), để đi ra cống hiến cho mọi người sự sống của Chúa Giêsu Kitô, vì “thà có một Hội Thánh bị bầm dập, mang thương tích vì đi ngoài đường, hơn là một Hội Thánh bị giam hãm vì bám víu vào sự an toàn của mình…, trong khi ở ngoài cửa người ta đang chết đói và Đức Giêsu không ngừng thôi thúc chúng ta: “Anh em hãy cho họ ăn đi” (Mc 6,37// x. Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng, số 49).
Giám mục Ðaminh Nguyễn Văn Mạnh


