2023
“Thà có một Hội Thánh bị bầm dập…”
“Thà có một Hội Thánh bị bầm dập…”
1- Lời Chúa trong Chúa nhật 12 thường niên năm A nhắc nhở chúng ta sứ mạng loan báo Tin Mừng, tuyên xưng Đức Giêsu Kitô, bất chấp những trở ngại, bách hại và khổ đau.
2- Trước hết, bài đọc I cho thấy Giêrêmia (Gr 20,10-13) đã phải chiến đấu để trung thành với sứ mạng loan báo Lời Chúa. Sứ vụ của ông gay go bạc bẽo. Ông phải loan báo những hoạn nạn sẽ xảy tới, và nghe riết người ta đặt cho ông cái tên “lão tứ phía kinh hoàng” và tránh xa ông như tránh dịch. Ông bị nhà cầm quyền bắt nhốt và kết tội phản quốc. Họ hàng thân thích cũng khử trừ. Ông một thân một mình chịu bao đau khổ, chấp nhận không vợ không con theo lệnh của Đức Chúa. Là tiên tri, ông sống trước nơi bản thân số phận cay đắng của dân bội bạc. Tất cả chỉ bởi một nguyên do, bởi trung thành với sứ vụ loan báo Lời Chúa.
Tuy bị ghét bỏ và tấn công tứ phía, nhưng Giêrêmia vẫn trung thành với sứ vụ, bởi như lời ông nói: “Chúa luôn ở với tôi, như một trang chiến sĩ oai hùng”, hoặc bởi lý do sâu xa hơn như lời tâm sự trước đó: “Tôi đã định không nghĩ đến Người nữa, không nhân danh Người mà nói nữa, nhưng lời Ngài cứ như ngọn lửa bùng cháy trong tim, âm ỉ trong xương cốt, khiến tôi không thể nào nén được”. Sứ vụ loan báo Lời Chúa như một định mệnh phải thi hành, phải ưu tiên, và Thần Khí Chúa ban bảo đảm cho việc hoàn thành.
![]() |
3- Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm (Mt 10,26-33) cũng gợi lên tính cách cấp thiết của việc loan báo Tin Mừng: “Điều Thầy nói với các con trong bóng tối, các con hãy nói ra nơi ánh sáng; và điều các con nghe rỉ tai, hãy công bố trên mái nhà”. Cấp thiết đến nỗi liên hệ đến phận số đời đời của người tông đồ: “Ai tuyên xưng Thầy ra trước mặt người đời, thì Thầy cũng sẽ tuyên xưng người ấy ra trước mặt Cha Thầy. Còn ai chối Thầy trước mặt người đời, thì Thầy cũng sẽ chối bỏ nó trước mặt Cha Thầy”.
Tính cấp thiết này còn rõ nét hơn trong lệnh truyền giáo được thánh Luca ghi lại: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về. Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. Đừng mang theo túi tiền…, cũng đừng chào hỏi ai dọc đường… Hãy chữa lành những người đau yếu tật nguyền, và nói với họ: Nước Thiên Chúa đã đến gần các ông”. Trường hợp người ta không đón tiếp, có phải giũ bụi chân trả lại, cũng vẫn phải lên tiếng loan báo: “Tuy nhiên, các ông phải biết điều này: Nước Thiên Chúa đã đến gần” (Lc 10,10-11).
4- Tin Mừng hiện nay chưa đến được với 93% dân số Việt Nam, dù rằng Tin Mừng đã được khởi động từ gần 500 năm rồi. Nguyên nhân phải chăng vì người Công giáo Việt Nam dửng dưng không bận tâm, xem việc loan báo Tin Mừng như trách nhiệm của ai đó hay của một vài người mà không phải mình, không cảm nhận được cái tâm của Chúa, không cảm thấy được Thánh Thần thôi thúc từ bên trong, hoặc bởi ngại ngùng xấu hổ, bởi sợ hãi, bởi không muốn ra khỏi sự an toàn cá nhân?
5- Đâu là cảm nhận, là xác tín của chúng ta trước bảo đảm và thôi thúc của chính Chúa Giêsu: “Đừng sợ những kẻ chỉ giết được thân xác…. Ngay cả tóc trên đầu anh em cũng đã được đếm cả rồi. Vậy đừng sợ, anh em đáng giá hơn muôn vàn chim sẻ” (Mt 10,29-31).
“Khi bị nộp, anh em đừng lo phải nói làm sao hay phải nói gì, vì chính giờ đó Thiên Chúa sẽ cho anh em biết phải nói gì, vì không phải chính anh em nói, mà là Thánh Thần của Cha anh em nói trong anh em” (Mt 10, 19-20).
“Ai bền đỗ đến cùng, sẽ được cứu thoát” (Mt 10,22).
Tình yêu quan phòng của Chúa Cha, sức mạnh và miệng lưỡi từ Chúa Thánh Thần, và phần thưởng là lời tuyên xưng của chính Đức Kitô trước mặt Chúa Cha, hạnh phúc đích thực và siêu việt. Quả thật, Chúa Giêsu cho các tông đồ được hưởng một thứ hạnh phúc không ai lấy mất được, niềm vui và kiêu hãnh ngay trong tù đày và tra tấn. Thánh Phêrô và các tông đồ bị đánh một trận đòn trước khi được trả về. Khi ra về, các ngài vừa đi vừa hát, lòng sung sướng vì được chịu đánh đòn vì Chúa (Cv 5,40-41). Thánh Phaolô và thánh Xila sau khi bị đánh đòn nhừ tử và bị tống vào ngục thì ca hát khiến rúng động cả trại giam. Vì sao? Bởi được chịu đánh đòn vì Đấng mà mình rao giảng (Cv 16,22-26). Sau đó là Tin Mừng lan rộng khắp miền Địa Trung Hải. Thậm chí Tin Mừng còn được thánh Tôma đem đến tận Ấn Độ.
6- Thời Giáo hội sơ khai là thế, còn Giáo hội hôm nay thì sao? Đó là điều phải ngẫm nghĩ, phải đấm ngực sám hối để quay lại với tâm ý của Chúa Giêsu, Đấng Phục Sinh luôn khao khát các linh hồn và phát lệnh: “Anh em hãy đi khắp thế gian, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo”, Tin Mừng “Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban chính Con Một, để ai tin vào Con của Người thì không phải chết, nhưng được sống đời đời” (Ga 3,16).
Phải sám hối, vì mục vụ giáo xứ hôm nay là “dừng chân” và “củng cố nội bộ” hơn là ra đi loan báo Tin Mừng. Hiện nay có biết bao giáo xứ chỉ tăng dân số do con cháu mình sinh ra. Tin Mừng đến với Việt Nam từ những năm 1533, vậy mà qua lịch sử 500 năm số tín hữu vẫn chỉ là con số khiêm tốn hơn 7 triệu, chiếm tỷ lệ 7,21%. Tại sao vậy? Anh em Tin Lành chỉ mới được chính thức cho phép hoạt động từ vài chục năm nay. Thế mà họ đã tăng trưởng đến ba bốn trăm phần trăm. Phải chăng vì người Công giáo Việt Nam không cảm nghiệm được lời trăng trối mang nặng thao thức bức xúc của Chúa là phải khẩn trương bung Tin Mừng đi khắp muôn dân?
7- Chúng ta đừng để bị cướp mất niềm say mê truyền giáo (Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng, số 80), đừng để bị cướp mất niềm vui loan báo Tin Mừng (số 83) là nhiệm vụ hàng đầu của Hội Thánh (số 15), để toàn thể Hội Thánh, từ gia đình cho đến giáo xứ (số 28), giáo phận (số 30–31), mọi phong trào, dòng tu (số 29), thậm chí cả Đức Giáo Hoàng và các cơ quan Tòa Thánh (số 32) cùng tiến tới theo con đường của sự sám hối mục vụ và truyền giáo (số 25), để đi ra cống hiến cho mọi người sự sống của Chúa Giêsu Kitô, vì “thà có một Hội Thánh bị bầm dập, mang thương tích vì đi ngoài đường, hơn là một Hội Thánh bị giam hãm vì bám víu vào sự an toàn của mình…, trong khi ở ngoài cửa người ta đang chết đói và Đức Giêsu không ngừng thôi thúc chúng ta: “Anh em hãy cho họ ăn đi” (Mc 6,37// x. Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng, số 49).
Giám mục Ðaminh Nguyễn Văn Mạnh
2023
Nhà phát minh phiên bản máy fax đầu tiên
Nhà phát minh phiên bản máy fax đầu tiên
Linh mục người Ý Giovanni Caselli (8.6.1815 – 25.4.1891) là nhà phát minh chiếc máy điện báo toàn năng, tiền thân của dòng máy fax ngày nay.
Đam mê môn điện tử và từ trường từ thuở nhỏ, cha Caselli không những tạo ra máy điện báo toàn năng mà còn giới thiệu với thế giới hệ thống máy fax thực tiễn đầu tiên. Ngài nắm giữ nhiều bằng sáng chế và ý tưởng công nghệ của ngài đã được người đời sau phát triển thành truyền hình sử dụng tín hiệu tương tự để truyền tải hình ảnh và âm thanh (TV analog) cũng như máy quay cầm tay.
Yêu thích khoa học từ bé
Cha Caselli chào đời ở thị trấn Siena (Ý) ngày 25.4.1815. Khi còn nhỏ, cậu bé Caselli đã được nhà vật lý Leopoldo Nobili dạy phụ đạo những môn như điện hóa, điện từ và từ trường. Quyết định theo ơn gọi, thầy Caselli được truyền chức linh mục năm 1836 trước khi trở thành sinh viên của Đại học Florence ở các ngành văn chương, lịch sử, khoa học và tôn giáo. Từ năm 1841-1848, vị linh mục chuyển đến sống ở Parma và làm gia sư cho các con trai của Bá tước Sanvitale ở đây.
Năm 1849, sau cuộc binh biến ở Parma, cha quay lại Florence và trở thành giáo sư vật lý tại đại học. Năm 1851, ngài sáng lập chuyên san kỹ thuật La Ricreazione với những bài viết giải thích về các vấn đề vật lý theo ngôn ngữ đời thường. Cha tiếp tục học về điện tử và từ trường. Từ năm 1855 đến 1861, vị linh mục phát minh chiếc máy điện báo toàn năng, tiền thân của máy fax.
Nhờ vào phát minh trên, cha được hoàng đế Napoleon III của Pháp trao Bắc đẩu Bội tinh. Các nhà khoa học và kỹ sư ở Paris bắt đầu thành lập Hiệp hội Điện báo toàn năng nhằm trao đổi ý tưởng về chiếc máy này và lắp đặt hệ thống thiết bị đồng bộ để gởi và nhận thông tin hiệu quả.
Máy điện báo toàn năng
Pantèlègraph là từ ghép của pantograph, thiết bị sao chép những chữ tượng hình và các phác thảo, với telegraph, hệ thống điện tử gởi thông điệp từ nơi này đến nơi khác. Trong thời gian làm giáo sư của Đại học Florence, cha Caselli dành hầu hết thời gian nghiên cứu công nghệ truyền điện báo những nét phác thảo và chữ viết tay. Nhà phát minh Alexander Bain (Scotland) và nhà vật lý học Frederick Bakewell (Anh) cũng đồng thời nghiên cứu kỹ thuật này.
Trở ngại lớn vào thời đó chính là phải đạt được sự đồng bộ hoàn hảo giữa giai đoạn truyền và tiếp nhận. Cha Caselli đã phát triển dạng công nghệ điện hóa với cơ chế đồng bộ dựa trên đồng hồ, cho phép việc truyền và nhận dữ liệu hơn hẳn bất kỳ công nghệ nào mà hai chuyên gia Bain lẫn Bakewell từng thực hiện được.
Linh mục Caselli đã chế tạo nguyên mẫu đầu tiên của hệ thống vào năm 1856 và biểu diễn phát minh đột phá cho Leopold II, Đại Công tước xứ Tuscany. Vị công tước vô cùng ấn tượng với thiết bị của cha và quyết định tài trợ cho các cuộc thử nghiệm của ngài. Khi Leopold II không còn hào hứng tài trợ cho nỗ lực nghiên cứu, vị linh mục chuyển đến Paris để giới thiệu phát minh cho Hoàng đế Napoleon III. Vị hoàng đế lập tức trở thành người ủng hộ nhiệt thành cho dự án của cha Caselli. Từ năm 1857 đến năm 1861, nhờ vào sự dẫn dắt của nhà phát minh kiêm kỹ sư người Pháp Paul-Gustave Froment, cha Caselli hoàn thiện cỗ máy điện báo toàn năng và thiết bị đã có thể hoạt động được.
Năm 1860, hoàng đế Napoleon quyết định đưa thiết bị điện báo toàn năng của cha Caselli vào sử dụng trên thực tế. Cha không những tiếp cận được hệ thống điện báo của nước Pháp mà còn nhận được sự tài trợ từ hoàng đế nước này. Khi chạy thử, máy đã truyền tải thành công hình ảnh chữ ký của nhà soạn nhạc Gioacchino Rossini từ Paris đến Amiens ở cách đó 140km. Năm 1863, cha Caselli tiếp tục thử nghiệm công nghệ mới, lần này thông qua khoảng cách 800km từ Paris đến Marseille, và cũng thành công.
Năm 1864, Pháp ban hành luật cho phép sử dụng máy điện báo toàn năng trong hệ thống điện báo của nước này. Một năm sau, tuyến Paris-Lyon được khai trương, trước khi mở rộng đến Marseille năm 1867. Cha Caselli đã phát minh hệ thống fax thương mại đầu tiên và khai sinh cái gọi là “tờ bìa fax”. Vị linh mục người Ý đã được cấp bằng sáng chế của châu Âu nhờ vào thiết bị này.
Anh quốc cũng mở tuyến thử nghiệm giữa London và Liverpool trong 4 tháng của năm 1863. Năm 1867, Hoàng đế Napoleon chỉ đạo mua thiết bị của cha Caselli để sử dụng truyền thông tin từ Paris đến Marseille. Sa hoàng Nga Alexander II cũng cho chạy thử dịch vụ này từ cung điện ở Saint Petersburg đến Moscow từ năm 1861-1865.
Tuy nhiên, bất chấp những thành công, thiết bị không được kịp thời cải tiến nên hoạt động chậm chạp, dẫn đến không hiệu quả theo thời gian. Cuối cùng, vị linh mục từ bỏ phát minh của mình và quay về Florence, nơi ngài qua đời năm 1891. Phải nhiều thập niên sau, ý tưởng của cha Caselli một lần nữa được phổ biến và tạo tiền đề cho chiếc máy fax thời hiện đại. Cũng xuất phát từ công nghệ trên, máy quay dùng trong phòng quay ra đời và kế đến là máy quay cầm tay.
BẠCH LINH
2023
Lễ tuyên chân phước nữ tu Eliza Martinez
Lễ tuyên chân phước nữ tu Eliza Martinez
Nữ tu Elisa Martinez, người sáng lập dòng Nữ tử Đức Mẹ Leuca, đã được tuyên chân phước ngày 25.6.2023. Đức Hồng y Marcello Semeraro, Tổng trưởng Bộ Phong thánh, đại diện Đức Thánh Cha Phanxicô, đã chủ sự thánh lễ tôn phong tại quảng trường đền thánh Đức Mẹ Leuca, cùng với đông đảo các giám mục thuộc miền Puglia (Ý), linh mục, tu sĩ và giáo dân. Chân phước Elisa Martinez sinh ngày 25.3.1905 tại Galatina, tỉnh Lecce, miền nam Ý. Ngày 25.3.1938, với sự giúp đỡ của linh mục Luigi giáo xứ Mizzano và Đức cha Giuseppe Ruotolo, Giám mục giáo phận Ugento, chị đã thành lập một tổ chức tôn giáo của phụ nữ. Hội này được Đức Giám mục công nhận là dòng giáo phận với danh xưng Nữ tử Đức Mẹ Maria Leuca. Năm 1943, dòng được Tòa Thánh công nhận và bắt đầu phát triển các nơi, dấn thân nâng đỡ các anh chị em nghèo khổ về vật chất cũng như tinh thần. Dòng hiện có 630 Nữ tử Đức Mẹ Leuca đang hoạt động tại 65 cộng đoàn ở 11 quốc gia. Nữ tu Elisa Martinez qua đời ngày 8.2.1991 tại Rome, hưởng thọ 86 tuổi.
2023
Hãy học với ta, vì ta hiền lành và khiêm nhường.
9.7 Chúa Nhật thứ Mười Bốn Mùa Quanh Năm
St 9:9-10; Tv 145:1-2,8-9,10-11,13-14; Rm 8:9,11-13; Mt 11:25-30
Hãy học với ta, vì ta hiền lành và khiêm nhường.
Cuộc đời Chúa Giêsu là một cuộc đời khiêm nhường. Vì khiêm nhường nên Ngài không ngừng đi xuống. Từ trời cao Người đã hạ mình xuống thế. Từ thân phận là Thiên Chúa Người đã hạ mình xuống làm một người bình thường. Là Thiên Chúa cao sang, Người đã tự nguyện xuống làm một người dân dã nghèo hèn. Là thánh thiện vô cùng, Người đã tự nhận lấy thân phận tội đồ. Là Đấng hằng sống, Người đã tự nguyện chết đi. Suốt cuộc đời, Người đã không ngừng cúi xuống những thân phận tăm tối, nghèo hèn, tội lỗi, bị loại trừ. Và một cử chỉ không thể nào quên là trong bữa tiệc ly, Người đã quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ. Người đã hạ mình xuống tận cùng, không còn có thể xuống hơn được nữa.
Bài học Chúa dạy chúng ta hôm nay cũng là hãy sống tinh thần hiền hòa và khiêm nhường. Nhưng, chúng ta không sao chép lại sự hiền lành và khiêm tốn từ nơi bức tượng vô tri vô giác kia. Chúng ta cũng chẳng cần học hỏi sự hiền lành và khiêm tốn nơi các vị hiền nhân quân tử mà sử sách đã nêu gương. Chúa mời gọi chúng ta hãy học hai bài học căn bản này nơi chính trường học của Ngài, phát nguyên từ trái tim nhân lành và yêu thương nơi Ngài. “Anh em hãy học cùng tôi, vì tôi có tấm lòng hiền lành và khiêm nhường”. Chúa Giêsu là vị tôn sư duy nhất và tuyệt hảo mà chúng ta cần phải đến để thụ giáo. Chỉ mình Chúa Giêsu là chuẩn mẫu duy nhất để chúng ta noi theo. Ngài không dạy chúng ta bằng lý thuyết mô phạm, nhưng chính cuộc sống và cái chết của Chúa trên Thập giá đã diễn bày hai phẩm tính ấy một cách tròn đầy.
Vào năm 1944, Hit-le, tên trùm phát xít Đức đã cao ngạo dương oai muốn thôn tính cả thế giới và tập trung quyền bính trong tay mình. Một vị chính khách đã mỉa mai tự hỏi: “Con người đầy tham vọng và kiêu căng này đã chiếm biết bao lãnh thổ. Hắn sẽ dừng lại ở lãnh thổ nào đây ?”. Nghe vậy, một vị giáo sĩ trả lời: “Chắc chắn ông ta sẽ phải dừng lại trên một lãnh thổ rất chật hẹp, vỏn vẹn chỉ hai thước đất, đủ để chôn ông ta mà thôi”. Cũng tương tự như thế, hoàng đế Napolêon đã từng ngạo nghễ bắt giữ ngay cả Đức Thánh Cha Piô VII và giam Ngài ở đảo Saint Hélène.
Vào cuối đời, ông bị thất trận tơi tả, và chính ông lại bị biệt giam tại hòn đảo ấy, nơi mà ông đã kiêu ngạo giam giữ vị sứ giả của Chúa. Phi hành gia Gagarin của Liên Xô sau một vòng bay quanh bầu trời bao la đã kệch cỡm tuyên bố: “Tôi đã bay vào vũ trụ mênh mông và lùng sục khắp nơi mà chẳng tìm thấy một ông gìa nào có tên là Thiên Chúa đâu cả”. Sau lời phát ngôn đầy kiêu căng đó, con thuyền Spounik của ông đã nổ tung. Câu chuyện về con tàu Titanic chìm sâu giữa đại dương vào năm 1911 cũng giống hệt như vậy. Người ta đã kiêu ngạo treo một bảng hiệu trên thành tầu với hàng chữ ‘Ở đây không có Thiên Chúa’ (There is no God). Biến cố bi thảm ấy là một lời cảnh báo đối với sự cao ngạo của con người. Tất cả những dẫn chứng trên giúp chúng ta nghiệm ra rằng, ‘Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng. Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhu’.
Trong thư Rôma, thánh Phaolô đã viết: “Vì một người duy nhất mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, thì cũng nhờ một người duy nhất mà chúng ta được công chính hóa” (Rm 5,18). Con người đầu tiên ấy chính là Adam và tội gây nên cái chết cho con người chính là tội kiêu ngạo. Ngược lại, Chúa Giêsu – Adam mới, đã phục hồi cho chúng ta phẩm giá làm con, qua sự khiêm tốn tự hạ nơi Người.
Trong thư Philipphê, Thánh Phaolô cũng đã viết một bài thánh thi nổi tiếng, họa lại bài ca về ‘Người tôi tớ đau khổ’ trong sách tiên tri Isaia để mời gọi chúng ta chiêm ngắm mẫu gương nơi Chúa Giêsu. Ngài viết : “Đức Giêsu Kitô vốn là Thiên Chúa, mà không nghĩ nhất thiết phải duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống như một phàm nhân. Ngài lại còn hạ mình vâng lời cho đến chết và chết trên cây Thập giá (Philip 2, 6-8). Bài học khiêm nhường Chúa nói hôm nay chính là bài học được hiển thị rõ nét nơi cái chết của Ngài.
Học với Thầy Giêsu suốt đời, lột bỏ những tự hào về khôn ngoan thông thái, sống hồn nhiên khiêm tốn như trẻ thơ, đó là điều cần thiết để mỗi người được Thầy Giêsu mạc khải và đưa vào thế giới của Thiên Chúa. Nhờ vậy, người hiền lành khiêm nhường luôn sống hiệp thông với mọi người, dễ thu hút người xung quanh; luôn biết quên mình, và chỉ muốn phục vụ người khác; sống tế nhị chân thành với mọi người, biết đền đáp những người làm ơn, trân trọng với hết mọi người, không làm mất lòng ai; luôn cảm thấy tâm hồn bình an, hạnh phúc trong Chúa và với mọi người. Chúa ưa thích ai sống hiền lành và khiêm nhường và sẽ ban thưởng phần phúc Nước Trời cho họ. “Phúc thay ai có tâm hồn (khiêm nhường) nghèo khó. Vì Nước Trời là của họ.Phúc thay ai hiền lành. Vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp” (Mt 5, 3-4).
Hôm nay Chúa Giêsu gọi chúng ta đến với Người. Người muốn cất gánh nặng đi cho chúng ta. Ðúng hơn Người muốn đặt trên vai chúng ta một ách khác nhẹ nhàng thoải mái đến nỗi sẽ phục hồi con người vất vả của chúng ta. Chính Người nói: Hãy mang lấy ách của Ta vào mình, hãy thụ giáo với Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng và các ngươi sẽ tìm thấy sự nghỉ ngơi cho tâm hồn.

