Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Tác giả: Anmai

Home / Anmai
13Tháng Bảy
2023

Đâu là vai trò của một Hồng Y?

13/07/2023
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Đâu là vai trò của một Hồng Y?

 

Nếu vai trò của họ trong mật nghị bầu Giáo hoàng được nhiều người biết đến, thì những sứ mạng khác của các Hồng y ít được biết đến hơn. Đâu là những chức năng của 116 Hồng y hiện tại, vốn sẽ có thêm 21 tân Hồng y vào ngày 30/9/2023 ?

 

« Hãy nhận lấy mũ đỏ như dấu hiệu phẩm giá của bậc hồng y, cho thấy hiền đệ sẵn sàng hành động cách can đảm, đến chỗ đổ máu, vì sự tăng trưởng của đức tin Kitô giáo, vì hòa bình và sự hài hòa của dân Thiên Chúa và vì sự tự do và phát triển của Hội Thánh Rôma. » Chính bằng những lời này mà Đức Thánh Cha tấn phong một Hồng y.

 

« Nơi xuất thân của các ngài diễn tả tính phổ quát của Giáo hội, vốn tiếp tục loan báo tình yêu thương xót của Thiên Chúa cho tất cả mọi người trên Trái đất », Đức Thánh Cha đã tuyên bố như thế vào ngày 9/7/2023, tại quảng trường thánh Phêrô, khi thông báo việc tấn phong 21 tân Hồng y.

 

Nguồn gốc của từ « Hồng y » (Cardinal) xuất phát từ tính từ tiếng Latinh « cardinalis », và chính từ này bắt nguồn từ từ « cardo », có nghĩa là « cột trụ » : vào những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo, người ta chỉ như thế các giáo sĩ gắn bó với một giáo xứ hay một tác vụ phục vụ, một thuật ngữ vẫn còn để chỉ hàng giáo sĩ của giáo phận Rôma mà thôi.

 

Do đó, sứ mạng đầu tiên của một Hồng y là rõ ràng : nó được thẻ hiện qua phẩm phục màu đỏ đặc trưng của ngài : dâng hiến cuộc sống mình cho Tin Mừng, dù phải trả giá bằng mạng sống. Sứ mạng của các ngài không chỉ giới hạn trong sự dấn thân này vì Giáo hội.

 

Trước hết, sứ mạng chính của các Hồng y là đại diện cho cộng đồng Công giáo Rôma mà Đức Thánh Cha là Giám mục. Vì thế, các ngài được chia thành ba phẩm trật : phó tế, linh mục và giám mục. Mỗi Hồng y được chỉ định một nhà thờ hiệu tòa trong giáo phận Rôma. Đức Phanxicô, khi thông báo tấn phong các tân Hồng y vào ngày 9/7, đã nhấn mạnh : « Việc bổ nhiệm các tân Hồng y vào Giáo phận Rôma biểu lộ mối liên hệ không thể tách rời giữa ngai tòa Phêrô và các Giáo hội địa phương trên khắp thế giới. »

 

 

Trợ giúp Đức Thánh Cha trong sứ mạng của ngài

Như Đức Thánh Cha giải thích trong Hội nghị tấn phong Hồng y, « chúng ta sẽ kêu gọi một số anh em của chúng ta gia nhập Hồng y đoàn, để họ kết hợp với Ngai Tòa Phêrô bằng một mối liên hệ chặt chẽ hơn với sứ vụ tông đồ của chúng ta ». Nói cách khác, các Hồng y được mời gọi trở thành những cộng tác viên đầu tiên của Đức Thánh Cha. Bộ Giáo luật 1983 cho thấy ý nghĩa này : « Các Hồng y cũng trợ giúp Đức Thánh Cha bằng hành động mang tính hiệp đoàn khi các ngài được triệu tập để cùng bàn luận những vấn đề quan trọng, hoặc với tính cách cá nhân bằng cách giúp Đức Giáo hoàng Rôma qua những nhiệm vụ khác nhau mà các ngài đang đảm nhận, nhất là qua việc chăm lo hằng ngày cho Giáo hội phổ quát » (điều 349).

 

Sứ mạng này được tuân giữ đặc biệt ở cấp Giáo triều Rôma. Quả thế, một số vị trí – ít nhất là trên lý thuyết – tự động được gắn liền với chức Hồng y. Chẳng hạn, đó là  trường hợp đối với Quốc vụ khanh Tòa Thánh và Tổng trưởng của các Bộ. Các Hồng y khác trên thế giới cũng thực thi chức năng nay bằng cách trợ giúp cho công việc của các Bộ mà Đức Thánh Cha đã chỉ định các ngài làm thànhviên hay cố vấn.

 

Các Hồng y cử tri hay không

Ngoài ra, các Hồng y có thể « đại diện trong một buổi cử hành long trọng hay trong một hội nghị với tư cách là đặc sứ của Đức Giáo hoàng, tức là như một bản ngã khác của ngài ». Đó là trường hợp của ĐHY Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, đã dẫn đầu phái đoàn Vatican ở hội nghị thượng đỉnh COP26 vào tháng 9/2021 ở Glasgow (Scotland).

 

Tất cả các Hồng y có thể thực hiện tất cả các sứ mạng này. Nhưng có một sứ mạng khác, có lẽ là quan trọng nhất, liên quan đến những vị dưới 80 tuổi : sứ mạng tham gia và bỏ phiếu trong mật viện bầu tân Giáo hoàng.

 

Quy định này là tương đối gần đây, vì nó chỉ được đưa ra vào năm 1970 bởi Đức Phaolô VI. Ngài giải thích trong Tự sắc « Ingravescentem aetatem » : « Đối với chúng ta, dường như thiện ích vượt trỗi của Giáo hội đòi hỏi phải tính đến vấn đề tuổi già ».

 

Vào thời điểm đó, quyết định này đã được các Hồng y trên 80 tuổi chấp nhận rất khó khăn. Cần lưu ý rằng một Hồng y đạt tới độ tuổi này trong thời gian mật viện có thể ở lại và tiếp tục bỏ phiếu cho đến khi có kết quả.

 

Được Đức Thánh Cha chọn, các Hồng y vẫn hoàn toàn thuộc quyền quyết định của ngài : ngài có thể yêu cầu các ngài từ bỏ tước vị hoặc các đặc quyền của các ngài.

 

Ai có thể trở thành Hồng y ?

Trong một thời gian dài, mặc dù đại đa số được tấn phong từ các linh mục, nhưng mọi người nam đều có thể được phong Hồng y. Vị Hồng y giáo dân cuối cùng là Teodolfo Mertel người Ý (1806-1899), người đã thực thi một số chức năng trong Giáo triều Rôma và tương đương với bộ trưởng Bộ Tư pháp của các Nhà nước Giáo hoàng cho đến khi ông được phong Hồng y vào tháng 3/1858 bởi Đức Piô IX. Ông được phong chức Phó tế một vài tuần sau khi được phong Hồng y, nhưng chưa bao giờ là linh mục. Từ năm 1917, việc thụ phong linh mục được đòi hỏi. Thông thường, các Hồng y thậm chí phải là Giám mục và một số do đó nhận được cấp bậc thứ ba của phẩm trật một ngày trước khi họ được tấn phong Hồng y.

 

Đức Thánh Cha cũng có thể chọn (đặc biệt để bảo vệ người được phong Hồng y khi ngài đến từ một nước nơi Giáo hội bị bách hại) tấn phong một Hồng y « in pectore » (trong tâm hồn của mình), nghĩa là giữ bí mật tên của vị đó. Khi tên của vị đó được công khai, vị Hồng y này sẽ tìm thấy chỗ đứng của mình trong Hồng y đoàn kể từ ngày được giữ trước (reservatio). Nhưng có thể xảy ra trường hợp Đức Giáo hoàng qua đời mà tên của vị được chọn không được biết đến, kể các chính vị đó (điều này đã xảy đến đối với vị Hồng y được phong « in pectore » vào năm 2003 bởi Đức Gioan-Phaolô II).

 

Hồng y đoàn là gì ?

Hồng y đoàn thường được coi như « Thượng viện của Giáo hội ». Trên thực tế, các Hồng y trước hết có sứ mạng tư vấn cho Đức Thánh Cha trong vai trò điều hành Giáo hội hoàn vũ. Một sứ mạng mà các Hồng y đảm nhận từ rất sớm : từ thế kỷ IV, hàng giáo sĩ Rôma đã được gắn liền với các quyết định của Giám mục Rôma, đặc biệt khi ngài được thỉnh cầu quyết định các vấn đề do các Giám mục khác đệ trình. Do đó, các Đức Giáo hoàng đã có thói quen tập hợp các linh mục và phó tế của Rôma lại với nhau trong một hội nghị (xuất phát từ consistorium, vốn chỉ hội đồng của các hoàng đế Rôma).

 

Với Đức Urbanô II (1088-1099), hội nghị này, lúc đó chỉ quy tụ các Hồng y – linh mục, vượt lên trên Công nghị của giáo phận Rôma và trở thành nơi quyết định thực sự. Chính từ đó mà chúng ta có thể nói về Hồng y đoàn với tư cách là một cơ quan thực sự được tạo nên. Nó được tổ chức dần dần : vào năm 1245,  ở công đồng Lyon, các Hồng y được phép đội mũ (bị xóa bỏ vào năm 1969) trong khi vào năm 1291, Đức Boniface VIII ban cho các ngài chiếc áo soutane màu đỏ. Cuối cùng, vào năm 1464, các ngài được đặc ân đội mũ barrette, dấu hiệu đặc biệt của các tiến sĩ thần học.

 

Với cuộc cải cách to lớn của Đức Sixtô V, vào năm 1588, và việc thành lập ở Giáo triều các bộ khác nhau do một Hồng y – Tổng trưởng đứng đầu, các Hồng y xuất hiện như những cộng tác viên cá nhân của Đức Thánh Cha nhiều hơn, hội nghị Hồng y quy tụ định theo giai đoạn hơn và được dành riêng cho các dịp đặc biệt.  Phải đợi đến Đức Gioan-Phaolô II, rồi  Đức Bênêđíctô XVI, để thấy vai trò của hội nghị Hồng y khôi phục giá trị thông qua các cuộc họp khoáng đại của Hồng y đoàn dành cho những vấn đề quan trọng mà Đức Thánh Cha muốn lấy ý kiến của các Hồng y. Đó là trường hợp vào năm 2022, khi Đức Phanxicô mời các ngài tham dự hai ngày suy tư về Tông hiến về việc cải cách Giáo triều, Praedicate Evangelium, được công bố vào ngày 19/3/2022.

 

Hồng y đoàn bao gồm ba phẩm trật : giám mục, linh mục và phó tế. Được chủ trì bởi một « niên trưởng » mà không phải là người lớn tuối nhất trong các Hồng y, nhưng là một trong các Hồng y – giám mục, được chọn bởi các đồng sự của mình rồi được Đức Thánh Cha bổ nhiệm (hiện nay là Đức Hồng y Giovanni Battista Re, người Ý) và được hỗ trợ bởi một phó niên trưởng (hiện nay là ĐHY Leonardo Sandri, người Argentina). Các Hồng y lớn tuổi nhất của mỗi phẩm trật (Hồng y trưởng đẳng linh mục và Hồng y trưởng đẳng phó tế) cũng có những trách vụ đặc biệt : chẳng hạn, chính Đức Hồng y trưởng đẳng phó tế công bố tên của Đức tân Giáo hoàng.

 

Tý Linh

(theo nhật báo La Croix)

Read More
11Tháng Bảy
2023

Đức Hồng y tân cử tại Đất Thánh bất ngờ vì thông báo tấn phong: Hành động cho thấy ơn gọi đối thoại của Đất Thánh

11/07/2023
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Đức Hồng y tân cử tại Đất Thánh bất ngờ vì thông báo tấn phong: Hành động cho thấy ơn gọi đối thoại của Đất Thánh

Đức Tổng Giám Mục (TGM) Pierbattista Pizzaballa, Thượng phụ Công giáo Latinh ở Giê-ru-sa-lem, có một vài chia sẻ khi nói về việc Đức Thánh Cha (ĐTC) Phan-xi-cô bổ nhiệm ngài làm Hồng y.

Vào Chúa nhật, ngày 9/7/2023, Đức Hồng y (ĐHY) tân cử Pierbattista Pizzaballa đã vô cùng ngạc nhiên khi ĐTC Phan-xi-cô tuyên bố tại buổi Kinh Truyền tin rằng ngài sẽ tấn phong Thượng phụ Công giáo Latinh ở Giê-ru-sa-lem làm Hồng y, cùng 20 Đức Giám mục khác từ khắp nơi trên thế giới.

Công nghị tấn phong Hồng y sẽ được cử hàng tại Vương cung thánh đường Thánh Phê-rô vào ngày 30/9/2023.

Lời mời gọi đối thoại và gặp gỡ của Giê-ru-sa-lem

Với tư cách là Thượng phụ Công giáo Latinh của Giê-ru-sa-lem từ 24/10/2020, Đức cha Pizzaballa xem quyết định của ĐTC là một dấu chỉ thể hiện sự chú ý của Giáo hội Roma đối với Giáo hội ở Giê-ru-sa-lem.

ĐHY tân cử nhấn mạnh ơn gọi của Giáo hội địa phương mình là thúc đẩy đối thoại và hiệp nhất giữa các Giáo hội. Tất cả các Ki-tô hữu và những người không theo Ki-tô giáo có sứ mạng gặp gỡ và hòa giải.

Đức Thượng phụ Pizzaballa cũng xem quyết định của ĐTC chính là lời mời gọi tiếp tục đi theo con đường này.

Căng thẳng trên Đất Thánh

Việc tấn phong Hồng y diễn ra trong bối cảnh căng thẳng ở Đất Thánh đang leo thang, sau bạo lực gần đây ở Jenin do một hoạt động quân sự của Israel. Hàng nghìn người Palestine đã chạy trốn khỏi trại tị nạn ở phía bắc Bờ Tây. Một số người được ghi nhận đã thiệt mạng.

ĐTC Phan-xi-cô nhắc đến tình trạng bạo lực này trong buổi Kinh Truyền tin và kêu gọi nối lại đối thoại, cũng như theo đuổi con đường dẫn đến hòa bình và hòa giải.

Một tu sĩ dòng Phan-xi-cô ở Đất Thánh

ĐHY tân cử Pierbattista Pizzaballa sinh ngày 21 tháng 4 năm 1965, tại Cologno al Serio, thuộc vùng Bergamo của nước Ý.

Ngài tuyên khấn Dòng Anh Em Hèn Mọn (OFM) tại Nhà thờ Thánh An-tôn ở Bologna năm 24 tuổi và được thụ phong linh mục một năm sau đó.

Với khả năng thông thạo tiếng Ý, tiếng Do Thái hiện đại và tiếng Anh, ngài đã đóng góp bản dịch tiếng Do Thái cho Sách lễ Roma năm 1995. Ngài còn dịch các bản văn phụng vụ khác cho cộng đoàn Công giáo ở Israel.

Từ ngày 2/7/1999, ngài phục vụ với tư cách là Giám quản Đất Thánh. Đến ngày 24/10/2020, ĐTC Phan-xi-cô bổ nhiệm ngài làm Thượng phụ Công giáo Latinh của Giê-ru-sa-lem.

Lược dịch: Khánh Ly

Read More
11Tháng Bảy
2023

Tân Hồng y Luis Dri, một Cha giải tội tuyệt vời

11/07/2023
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Tân Hồng y Luis Dri, một Cha giải tội tuyệt vời

 

Trong số 21 Hồng y tân cử được Đức Thánh Cha công bố sau khi đọc kinh Truyền Tin trưa Chúa Nhật 9/7/2023 có Cha Luis Pascual Dri, 96 tuổi, dòng Capuchinô, từ nhiều năm nay là giải tội tại đền thánh Đức Mẹ Pompei ở Buenos Aires. Vào ban chiều cha thường cầu nguyện trước Nhà Tạm Thánh Thể và xin Chúa tha thứ, bởi vì cha đã “tha tội quá nhiều”.
tan hong y
Đức Thánh Cha đã nhiều lần nói về Cha Luis Dri. Lần thứ nhất vào ngày 6/3/2014, khi gặp gỡ các cha xứ Roma. Ngài lặp lại gương mẫu này vài tháng sau, vào ngày 11/5/2014, trong bài giảng Thánh lễ truyền chức linh mục. Ngài đã trưng dẫn gương của cha Dri một lần nữa trong cuốn sách phỏng vấn “Tên của Thiên Chúa là thương xót”, sau đó trưng dẫn một lần nữa vào tháng 2/2016, trong bài giảng thánh lễ với các tu sĩ dòng Capuchinô tại đền thờ Thánh Phêrô, và một lần nữa trong cuộc gặp gỡ với các các cha giải tội của Năm Thánh. Vào tháng 2/2017, Đức Thánh Cha đã tặng cho các cha xứ Roma cuốn sách “Đừng sợ tha thứ”, với tiểu sử của Cha Dri.
Một cha giải tội tuyệt vời
Đức Thánh Cha kể: “Tôi nhớ đến một cha giải tội tuyệt vời, một cha dòng Capuchinô, người đã thi hành sứ vụ ở Buenos Aires. Một lần cha đến gặp tôi, cha muốn nói chuyện. Cha nói với tôi: ‘Con xin Đức cha giúp, ở tòa giải tội con luôn gặp rất nhiều người, đủ loại người, khiêm nhường và kém khiêm nhường, nhưng cũng có nhiều linh mục… Con tha thứ nhiều và đôi khi cũng rất lo lắng, lo lắng vì đã tha thứ quá nhiều.’ Chúng tôi nói về lòng thương xót, và tôi hỏi cha ấy đã làm gì khi cha ấy cảm thấy bối rối như vậy. Cha đã trả lời tôi như thế này: ‘Con đến nhà nguyện của chúng con, trước Nhà Tạm Thánh Thể và con nói với Chúa Giêsu: Lạy Chúa, xin tha thứ cho con vì con đã tha thứ quá nhiều. Nhưng chính Chúa đã làm gương xấu cho con!’. Điều này tôi sẽ không bao giờ quên. Khi một linh mục cảm nghiệm được lòng thương xót của chính mình theo cách này, thì ngài có thể ban phát lòng thương xót cho người khác.”
Giúp đỡ, gần gũi với những người đến xưng tội
Cha Luis Dri đã chia sẻ: “Tôi không phải là một người, một linh mục, một tu sĩ học thức, tôi không có bằng tiến sĩ, tôi không có gì cả. Nhưng cuộc đời đã dạy tôi rất nhiều, cuộc đời đã ghi dấu ấn trong tôi, và vì tôi sinh ra trong hoàn cảnh rất nghèo khó, dường như tôi luôn phải có một lời thương xót, một lời giúp đỡ, một sự gần gũi với bất cứ ai đến đây. Không ai nên rời đi với suy nghĩ rằng họ không được hiểu hoặc bị coi thường hoặc bị từ chối.”
Thương xót; đừng sợ
Cha dành mỗi sáng và mỗi chiều để ngồi giải tội cho đến chiều muộn. Cha không có lời khuyên cho các linh mục giải tội, nhưng nói rằng “Thương xót, thấu hiểu, đặt cả cuộc đời để lắng nghe, để hiểu, để có thể đặt mình vào da thịt của người khác, để hiểu những gì đang xảy ra.” Và với các hối nhân, cha luôn khuyên: “Đừng sợ. Tôi luôn cho thấy hình ảnh này, hình ảnh diễn tả cái ôm của người Cha dành cho đứa con hoang đàng.”

 Vatican News

Read More
11Tháng Bảy
2023

Tại sao Giáo hội Công giáo ghét người đồng tính?

11/07/2023
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Tại sao Giáo hội Công giáo ghét người đồng tính?

 

Hay đúng hơn, tại sao có nhiều người lại nghĩ như thế?
Tại sao Giáo hội Công giáo ghét người đồng tính? Có lẽ bạn đã từng tự vấn như vậy. Trong tư cách là một linh mục Công giáo, tôi chắc chắn đã nghe điều đó. Nên giờ đây tôi muốn giải đáp cho câu hỏi này.
Tuy nhiên, trước hết cho phép tôi thay đổi câu hỏi một chút. Bởi vì tôi không hề cho rằng Giáo hội Công giáo lại đi căm ghét bất kỳ ai, do đó câu hỏi đúng hơn phải là “tại sao Giáo hội Công giáo có vẻ ghét những người đồng tính?”. Tại sao nhiều người lại cảm nhận có một hố sâu ngăn cách lớn hơn cả vực Grand Canyon giữa những người Công giáo và những người nhận mình đồng tính?

Tôi không có mục tiêu trình bày trọn vẹn cách tiếp cận của Giáo hội Công giáo về sự hấp dẫn hoặc hành vi đồng tính. Thay vào đó, tôi chỉ có hai mục tiêu khiêm tốn hơn trong đầu. Trước hết, tôi muốn cho thấy Giáo hội Công giáo không căm ghét bất kỳ ai. Thứ nữa, tôi muốn đề xuất lý do tại sao đối với nhiều người, Giáo hội dường như lại thế [có vẻ ghét người đồng tính].
Bất đồng không có nghĩa là căm ghét
Đầu tiên là một sự thật căn bản. Giáo hội Công giáo là ngôi nhà dành cho các tội nhân, cho mọi người trong chúng ta. Không ai ở bên ngoài vòng tay chăm sóc và sự quan tâm của Giáo hội. Bấy kỳ người nào nhắm đến những ai bị hấp dẫn bởi người cùng phái tính để khinh thường hay kỳ thị bất công, thì cũng bởi chính sự xét đoán ấy, đã đi chệch khỏi đức tin Công giáo. Giáo hội không chấp nhận sự thù ghét dưới bất kỳ hình thức nào. Chúng ta tin rằng mọi người đều là dấu chỉ và hoa trái của tình yêu Thiên Chúa, đều xứng với Máu Thánh Đức Kitô cực trọng. Mọi người, không trừ một ai, đều được kêu gọi để nên thánh, trở thành một vị thánh, và để cư ngụ muôn đời trên thiên đàng. Theo nghĩa chặt chẽ, Giáo hội không thể ghét bất kỳ ai.
Ý mà mọi người thường có khi nói rằng Giáo hội Công giáo “căm ghét”, theo tôi nghĩ, đó là Giáo hội không đồng tình với những người tán thành hành vi đồng tính luyến ái. Ngày nay quả thực có một áp lực xã hội dữ dội buộc phải bình thường hóa các mối quan hệ đồng tính, và Giáo hội đã không chịu khuất phục trước sức ép ấy. Một số người bất mãn với điều này là chuyện có thể hiểu được. Nhưng hoàn toàn không thể cho rằng người Công giáo căm ghét những ai nhận mình là đồng tính.
Xét cho cùng, ai cũng có những phán đoán về cách hành xử của con người. Lấy một ví dụ rõ ràng dù không liên quan đến cuộc thảo luận hiện tại, hầu hết sẽ không tán đồng việc một người đàn ông lừa dối vợ mình và bỏ rơi con cái. Những người phản đối hành vi này không phải là người giữ lòng thù ghét; nhưng có nghĩa là chúng ta đặt niềm tin vào sự hưng vượng của con người, là điều chúng ta xem là hệ trọng. Nó có nghĩa là chúng ta lo lắng cho người vợ và những đứa trẻ bị bỏ rơi. Nó cũng có nghĩa là chúng ta quan tâm đến người chồng lừa đối; nghĩa là chúng ta trông chờ con tim của anh ta biến đổi.
Đây là một ví dụ sinh động để minh họa cho một điểm. Nhưng điểm ấy quá thường xuyên bị lãng quên trong những cuộc thảo luận như thế này: đó là tất cả chúng ta đều đặt niềm tin vào cách hành xử của con người, mà nếu chúng ta suy nghĩ nghiêm túc và thực sự để tâm đến tha nhân, điều ấy sẽ khiến chúng ta phản đối một số hành vi.
Xét theo quan điểm Công giáo, khi chúng ta không đồng thuận với việc bình thường hóa tình dục đồng giới, đó không phải là thù ghét nhưng là yêu thương đích thực – dựa theo cách chúng ta nhìn thế giới. Dù có ai đó tán đồng với quan điểm này hay không, thì đó vẫn là một giáo huấn đặt nền tảng trên đức ái. Trong thực tế, khi đối mặt với sự phản đối dữ đội từ nền văn hóa phóng khoáng, thì thậm chí đó còn là đức ái anh hùng.
Hai thế giới quan
Vậy thì tại sao lại có sự bất đồng gay gắt đến thế? Tại sao giáo huấn của Giáo hội, đối với một số người, xem ra hà khắc và bất khoan nhượng? Tại sao Giáo hội lại quan tâm đến điều mà người ta làm với chính thân xác họ trong đời tư nơi chính nhà của họ? Tại sao chúng ta dường như quá thường xuyên “trống đánh xuôi kèn thổi ngược” trong các cuộc thảo luận như thế này?
Tôi tin rằng đây là vấn đề của hai cách nhìn thế giới khác biệt nhau. Và khi khám phá rằng hai thế giới quan này không thể thu hẹp khoảng cách bất đồng, tôi nghĩ rằng việc xác định chúng sẽ góp phần cho việc hiểu biết lẫn nhau sâu sắc hơn. Nắm bắt quan điểm của người khác không đồng nghĩa với chấp nhận nó. Nhưng tôi tin rằng nó sẽ giảm bớt mức gay gắt cho những cuộc trao đổi tương tự. Khi chúng ta thừa nhận, dù bất đắc dĩ, rằng ai đó đều có thể tiếp cận một vấn đề cá nhân và nhạy cảm từ một góc độ hoàn toàn khác và làm như thế cách thiện chí, chúng ta từng bước đến gần hơn một cuộc đối thoại đầy tôn trọng và nhân văn.
Vậy những thế giới quan tương phản này là gì?
Bản tính
Chẳng hạn, hãy chấp nhận một điều gì đó một cách cơ bản như nó là. Trong thế giới quan truyền thống hay “cổ điển”, mọi thứ đều có bản tính để xác định nó là gì. Một cái cây không phải là cái cây bởi vì chúng ta định nghĩa nó như thế; nó là một cái cây bởi vì đó là điều nó là. Nó vẫn là cái cây dù cho chẳng có người nào vây quanh để xem xét, nghiên cứu và dán nhãn cho nó.
Ngược lại, theo thế giới quan thế tục, các bản tính lại khá bất định. Mọi thứ dễ thay đổi, dễ uốn nắn hơn, và là đối tượng để chúng ta kiểm soát. Tiến bộ kỹ nghệ đã tăng thêm sức nặng cho não trạng thế tục này. Chẳng hạn, chúng ta có thể mang lên một cặp kính và bước vào một “thực tại khác”. Một cái cây có thực sự là một cái cây khi, trong thực tế ảo thay thế, những cái cây có thể đi đứng và nói chuyện? Một ví dụ khác: các nhà khoa học đã thực sự tạo ra những thể lai giữa người và lợn. Điều này có ý nghĩa gì đối với bản tính của con người và của những chú lợn? Ví dụ thứ ba: trong một phán quyết vào năm 1993, các thẩm phán Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ xác nhận “quyền xác định khái niệm của chính một người về sự hiện hữu, về ý nghĩa, về thế giới và về mầu nhiệm sự sống con người”.
Với hoàn cảnh như thế, không có gì ngạc nhiên khi một số nhà quan sát gọi thời đại của chúng ta là “thời đại lỏng”, một thời đại của sự bất định lan rộng.
Nhãn quan cổ điển về bản tính cho thấy những người Công giáo nhìn thấy mục đích nơi công trình tạo dựng. Chúng ta thấy các bản tính như có một căn cốt nội tại. Hãy quay lại vấn đề tính dục ở con người. Từ cách nhìn của chúng ta, giới tính có một bản tính, một cứu cánh, một nguyên lý nền tảng cho sự hiện hữu của nó, là điều cần phải được tôn trọng: sinh sản con cái. Các hành vi đồng tính luyến ái không thể phù hợp với lý tính nội tại của tình dục. (Tiện thể, điều này cũng giải thích lý do tại sao chúng ta không được thực hiện các hành vi tình dục khác ngoài hôn nhân, như ngoại tình, quan hệ tình dục trước hôn nhân và thủ dâm.)
Cũng thế, hôn nhân có một bản tính. Đó là sự kết hiệp của một người nam và một người nữ trong một mối tương quan độc hữu và chung thủy hướng tới việc sinh sản và nuôi dạy con cái. Theo cách nhìn của chúng ta, không chính phủ nào có thể thay đổi định nghĩa về hôn nhân cũng như chuyện không thể thay đổi bản tính của một cái cây.
Nhân đây, cách tiếp cận này về bản tính con người cũng lý giải vì sao người Công giáo không thể chấp nhận việc đồng nhất hóa một người với các xu hướng tính dục của anh hoặc cô ta. Đối với chúng ta, gọi một người là “đồng tính” quả là tầm thường. Chúng ta không được định nghĩa bởi những hấp dẫn tính dục nhưng đúng hơn là bởi nhân tính rộng lớn hơn của chúng ta. Người Công giáo xem chủ nghĩa bộ lạc [tribalism] về giới tính, điều quá phổ biến hiện nay, không chỉ gây nguy hại cho cộng đồng nhân loại, mà còn làm hạn hẹp đi rất nhiều mỗi một nhân vị. Một con người là một điều gì đó sâu sắc hơn, phong phú hơn và cao cả hơn rất nhiều so với những hấp dẫn tính dục của riêng anh hoặc cô ta.
Tôi thừa nhận rằng thế giới quan mà đức tin Công giáo đón nhận đặt chúng ta vào mối xung đột với những người có cách hiểu lỏng lẻo hơn về con người, tính dục và hôn nhân. Khi chúng ta nắm bắt được sự khác biệt này, không có nghĩa là những quan điểm của chúng ta về đồng tính luyến ái thay đổi, nhưng nó giúp chúng ta nhìn về phía bên kia với một tâm thái cảm thông nhiều hơn.
Hạnh phúc
Một khác biệt nữa, thậm chí rõ ràng hơn, giữa hai thế giới quan này nằm ở quan điểm tương phản giữa chúng về hạnh phúc con người.
Theo thế giới quan cổ điển, hạnh phúc được tìm thấy trong sự thành toàn của bản tính thông qua một đời sống nhân đức. Đối với Kitô hữu, điều này có nghĩa là mến Chúa yêu người. Điều trái ngược với hạnh phúc, sự dữ lớn nhất, điều gặp phải khi bản tính chúng ta bị ngăn trở, đó chính là tội lỗi.
Ngược lại, theo thế giới quan thế tục, hạnh phúc là một khái niệm trực tiếp hơn, thường được định nghĩa bởi sự hài lòng mặt cảm xúc và trí óc. Vì thế, trái ngược với nó, sự dữ lớn nhất, là đau khổ. Biết bao nhiêu bất đồng trong các đoán xét luân lý nảy sinh từ điểm khác biệt duy nhất này! Nếu tôi tin sự dữ tối hậu là tội lỗi, còn bạn tin đó là đau khổ, chúng ta có vẻ sẽ đi đến những kết luận rất khác nhau về mọi vấn đề gồm cả việc ăn chay cho đến chuyện tự tử với sự trợ giúp của thầy thuốc.
Hạnh phúc là nơi mà hai thế giới quan gặp bất đồng lớn nhất, chí ít là trong vấn đề tính dục. Dĩ nhiên hành vi tình dục đem lại khoái cảm rất lớn. Nếu khoái cảm là thứ đo lường hạnh phúc, thì sẽ có rất ít những e ngại về luân lý, nếu có, khi thực hiện hành vi trên. Mặt khác, nếu hạnh phúc liên quan đến sự thành toàn bản tính chúng ta, thì các hành vi tình dục được trao phó cho một tầm quan trọng về luân lý nhiều hơn. Các cảm xúc có thể dữ dội và thường làm ta “thấy hợp lý” để thực hiện hành vi tình dục ngoài hôn nhân – nhưng theo quan điểm của Giáo hội, nó không thực sự giúp ta thành toàn, không đưa đến một sự phát triển về nhân đức, sự thánh thiện hay hạnh phúc. Điều này cũng đúng trong trường hợp của các hành vi đồng tính luyến ái.
Quan điểm khác biệt này về thế giới, có lẽ nhiều hơn bất kỳ điều gì khác, giải thích khoảng cách rộng lớn tách biệt những người Công giáo với các nhà tư tưởng thế tục trong vấn đề luân lý tính dục.
Giáo huấn của Giáo hội là một dấu chỉ của tình yêu
Cần phải nhắc lại rằng việc hiểu quan điểm của người khác không có nghĩa là chúng ta chấp nhận nó. Tôi không trông đợi điểm nào trong bài viết này thuyết phục được ai đó không đồng tình với Giáo hội Công giáo thay đổi suy nghĩ của họ. Còn nhiều điều phải nói về vấn đề này. Nhưng tôi hy vọng sẽ cho thấy chúng ta không hề có ý xấu.
Ngày nay, trên thực tế, trong thời đại thế tục cao độ của chúng ta, thường sẽ dễ dàng hơn nhiều khi biết chiều theo, thậm chí là tán dương, điều số đông tán thành về lối sống đồng tính luyến ái. Tuy nhiên, tôi hy vọng rằng ngay cả những người chống đối chúng ta mạnh mẽ nhất cũng có thể thừa nhận sự thật là người Công giáo từ chối làm vậy, dựa trên một quan điểm khác, không vì thế mà mắc tội thù ghét hay thành kiến. Tóm lại, lập trường luân lý của chúng ta cần được thừa nhận vì bắt nguồn từ đức ái chân thật (ngay cả khi bị xem là sai lầm). Đây là vấn đề người Công giáo phán đoán dựa trên những tiêu chuẩn của chính họ, chứ không theo các tiêu chuẩn thế tục.
Penn Jillette, một ảo thuật gia, diễn viên và là cây bút nổi tiếng, có lần đã đưa ra quan điểm tương tự. Dẫu vô thần, ông đã phát biểu rằng ông không tôn trọng những Kitô hữu không cố gắng đưa người khác trở lại đức tin.
“Tôi không tôn trọng những người đó chút nào”, ông nhấn mạnh. “Nếu bạn tin rằng có thiên đàng và hỏa ngục, và người ta có thể sa hỏa ngục hoặc không được hưởng sự sống đời đời, và bạn nghĩ rằng không thực sự đáng giá để nói điều này cho họ bởi việc này có thể gây rắc rối về mặt xã hội… thì bạn phải ghét ai đó biết bao nhiêu khi không giúp họ trở lại? Bạn phải ghét ai đó biết bao nhiêu khi tin rằng sự sống đời đời là điều khả dĩ mà lại không loan báo cho họ?
Tôi nghĩ Jillette vẫn còn công khai theo vô thần. Nhưng ông có thể nhìn mọi sự từ một quan điểm khác, và kết luận của ông vừa đúng đắn lẫn gây kinh ngạc. Ông có thể nhận ra rằng các Kitô hữu, những người tìm giúp người khác hoán cải, không có khuynh hướng phán xét và bảo thủ, nhưng thực ra lại giàu tình thương hơn những người đồng đạo nhút nhát. Ngày nay, khả năng nhìn thế giới qua đôi mắt của tha nhân thật hết sức cần thiết.
Tôi tin rằng thế giới quan cổ điển không những đúng đắn mà con là một cách thế hấp dẫn và đẹp đẽ hơn nhiều để ngắm nhìn thế giới. Nó làm phong phú nhân vị và cổ võ sự tôn trọng sâu xa đối với thân xác và tính dục. Nó thúc đẩy phẩm giá cao cả của mỗi một người, kể từ lúc thụ thai cho đến khi chết tự nhiên. Nó khuyến khích một môi trường gia đình biết làm thăng tiến nhất hạnh phúc và sự phát triển của trẻ em.
Nó đem lại lối thoát cho những ai bị hấp dẫn bởi người cùng phái tính, những người cảm thấy mắc kẹt trong việc xác định bản thân bởi những lôi cuốn của họ theo logic của thứ văn hóa tình dục quá khích. Nó đưa ra lý giải phù hợp cho cảm thức thẳm sâu về sự tha hóa, chán nản và lệch lạc mà nhiều người trẻ (và không quá trẻ) ngày nay đang trải nghiệm, khi sống trong sự trỗi dậy đầy nguy hại của cuộc cách mạng tình dục.
Nó là sự khẳng định đầy tươi vui về thực tại và về hạnh phúc, là thức được được bén rễ sâu nơi bản tính nhân loại nói chung.
Lập trường Công giáo về hành vi đồng tính luyến ái có tính hợp lý, chặt chẽ và được đặt ra với thiện chí. Trong thực tế, nó phát xuất từ nơi sâu thẳm của tình yêu và lòng trắc ẩn. Giáo hội dạy rằng mọi con người đều có một phẩm giá bẩm sinh và vô song. Chúng ta được kêu gọi để trở nên con cái Thiên Chúa và thực sự là những vị thánh. Giáo huấn của Giáo hội về hành vi đồng tính luyến ái, dựa theo những tiêu chuẩn của mình, có mục đích không gì khác hơn là phát huy phẩm giá ấy.
Và điều ấy chẳng liên quan gì đến chuyện thù ghét như bạn cảm thấy.
Tác giả: Carter Griffin
Grêgôriô Võ Trần Nhựt chuyển ngữ
Nguồn: https://www.catholiceducation.org/
Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 393
  • Page 394
  • Page 395
  • …
  • Page 2.055
  • Next page
Bài viết mới nhất
TRONG HỌC THUYẾT XÃ HỘI CỦA GIÁO HỘI, “DẤU CHỈ THỜI ĐẠI” KHÔNG HỀ BỊ BỎ QUA
01/06/2026
ĐẼO CÀY GIỮA ĐƯỜNG - MỖI TUẦN MỘT THÀNH NGỮ
01/06/2026
TỔNG GIÁM MỤC HICKS CỦA NEW YORK: ‘MAGNIFICA HUMANITAS’ SẼ ĐỊNH HÌNH CÁC THẾ HỆ TƯƠNG LAI
01/06/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.