2023
Người giáo dân vẫn bị bỏ quên ?
Người giáo dân vẫn bị bỏ quên ?
Công đồng Vatican II kết thúc đã gần 60 năm. Những khẳng định về linh đạo giáo dân, ơn gọi và sứ mạng của người giáo dân trong Công đồng Vatican II, rồi Tông huấn Kitô hữu Giáo dân của Đức Gioan Phaolô II và trong nhiều văn kiện hậu Công đồng; cùng với không ít những khóa học hỏi, những nỗ lực của một số tín hữu giáo dân tích cực để tìm được cách thể hiện ơn gọi và sứ mạng của mình… những điều ấy xây dựng được những nền tảng rất quan trọng và có lẽ cũng khá phong phú…, Câu hỏi đặt ra bây giờ là tại sao tất cả những nỗ lực ấy dường như vẫn chưa đánh thức được một phần chi thể lớn nhất của Giáo hội? Tại sao vai trò của người giáo dân trong Giáo hội vẫn còn rất mờ nhạt? Do cơ chế? Do não trạng? Do cấu trúc đời sống đức Tin? Do dáng dấp đời sống đức Tin? Do tình hình kinh tế chính trị của thế giới?
Những giáo huấn của Giáo hội tựa như những hạt giống, nhưng hạt giống còn cần phải có môi sinh tốt để có thể phát triển. Tạm nhận xét tình trạng còi cọc của “sinh lực đức tin” nơi thành phần giáo dân bằng cách phân tích “môi sinh” trong đời sống Giáo hội dưới hai khía cạnh: cấu trúc và dáng dấp của đời sống đức Tin Kitô giáo.
![]() |
| Trong bữa Tiệc Ly, Đức Giêsu diễn tả chiều ngang trong mối quan hệ giữa Thiên Chúa với con người qua việc bẻ bánh, cùng thông chia một chén rượu với nhau |
1. Cấu trúc đời sống đức Tin
1.1 Tính toàn thể của sứ mạng Kitô giáo
Truyền thống Do Thái Kitô giáo có một đường nét đặc biệt, khác hẳn những tôn giáo khác, đó là mang lấy sứ mạng đưa dẫn lịch sử của cả thế giới tới sự thành toàn trọn vẹn.
Vận mạng của dân Do Thái gồm tóm trong hai yếu tố nền tảng có tính cách quyết định:
– Đây là một Dân tộc được xây dựng xung quanh một Cuốn Sách. Sách ấy được chấp nhận như Lời mạc khải của Thiên Chúa.
– Mạc khải của Thiên Chúa cho thấy một quan niệm về thời gian và tính lịch sử của cả vũ trụ; qua đó dân Do Thái sống hành trình lịch sử được đan bện từ quá khứ, hướng đến tương lai và cả hai được gồm gói trong hiện tại.
Hai điều ấy, lời Mạc khải và vận hành lịch sử được nối kết chặt chẽ với nhau; và hiệu quả là người Do Thái, trong khi trung tín đọc Lời Thiên Chúa, có khả năng dấn bước trong dòng lịch sử với một sự xác tín mang cường độ tôn giáo. Lời Chúa soi sáng cho lịch sử và lịch sử chính là sự thành toàn của Lời Chúa. Lịch sử được đan bện do Ý Chúa và thái độ trung tín của Dân.
Ý nghĩa của cuộc sống nơi người Do Thái không bị hạn hẹp trong một khung giá trị luân lý, nhưng được thành toàn bằng cách thực hiện ý Thiên Chúa trong dòng lịch sử; và lịch sử ấy diễn tiến để đi đến một chung cục hoàn hảo như một chứng thực cho hiệu năng của Lời Chúa. Do đó, người Do Thái không chỉ nuối tiếc một quá khứ vàng son, nhưng quan trọng hơn là coi thời vàng son ấy là những dấu chỉ giúp họ xác tín vào quyền năng của Thiên Chúa trong nỗ lực xây dựng một tương lai trọn vẹn. Lời Chúa không phải nhằm tạo nên những bài học “luân lý siêu hình”, nhưng như một giải đáp cho “biện chứng lịch sử”. Dĩ nhiên, đó không phải là một thứ biện chứng lịch sử theo quy luật vô ngã như quan điểm Mác-xít. Ở đây tính thống nhất của tôn giáo và lịch sử được hình thành trong sự đồng hành của một Đấng, một “Logos hữu ngã”, với khả năng quyền biến để tình yêu và ơn cứu độ được bộc lộ trong muôn ngàn nét phong phú bất tận.
“Với quan niệm thả neo vào lịch sử như vậy đã mặc cho truyền thống Do Thái một năng động tính mà đức tin Kitô giáo đã thừa kế và không một thế giới cổ đại nào có thể cung cấp được. Phụng vụ những ngày đại lễ và những buổi cầu nguyện tại hội đường luôn thấm nhuần niềm hy vọng ấy”[1]
Tiếp nối truyền thống ấy, Kitô giáo cũng mang vác một sứ mạng lịch sử toàn diện. Kitô giáo không phải là một tôn giáo chỉ liên quan đến một thế giới bên trên và song song với cuộc sống, nhưng giải pháp Kitô giáo bao trùm toàn bộ thực tại và là một giải pháp nhằm tới sự thành toàn của cái toàn thể.
Thực sự sứ điệp của Tin Mừng Nhất Lãm là Vương Quốc Thiên Chúa, còn sứ điệp của Tin Mừng thứ Tư là chính bản thân Đức Giêsu. Hai khía cạnh đó gồm gói trong nhau. Một Đức Giêsu như “Trung tâm” luôn gắn liền với Nước Thiên Chúa như “Chu vi”. Có thể nói hơi lộng ngôn một chút: một Đức Giêsu mà không tha thiết loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa là một “Đức Giêsu què”; một Nước Thiên Chúa mà không có Đức Giêsu ở Trung Tâm lại là một “Nước Trời mù”.
Có nhiều lý do làm tách rời hai yếu tố “Trung tâm” và “Chu vi” ấy, chẳng hạn sự hiểu lầm từ ngữ “thế gian” trong Tin Mừng thứ Tư, nền thần học tu đức quá nghiêng về một thứ duy linh, tạo nên thái độ siêu thoát, xa lánh ma quỷ, thế gian và xác thịt… Mặt khác, khi mà uy tín của Giáo hội đã lên đến cao điểm; khi mà những người lãnh đạo trong Giáo hội có đủ quyền bính và biện pháp để giải quyết mọi vấn đề theo ý của mình, thì người ta không còn nhận ra tính cách bất toàn căn cội của cuộc sống, và không còn mong chờ một giải pháp dứt khoát của Thiên Chúa trên dòng lịch sử…
Hệ quả là niềm mong chờ cánh chung không còn là mong chờ Chúa dẫn dắt lịch sử đến ngày thành toàn, nhưng là nỗ lực thanh luyện, lập công để chuẩn bị cho cuộc sống mai sau. Khi ấy, đức Cậy, chỉ được hiểu như một nhân đức đối thần thuần túy, nhằm hy vọng hạnh phúc mai sau, chẳng những không đón nhận được những ưu tư làm đẹp trần gian, nhưng còn tỏ ra thù địch với những nỗ lực ấy.
Chính lối nhìn ấy đã vẽ nên một khuôn mặt Kitô giáo bi quan, ảm đạm. Khi bắt đầu thời Phục Hưng, thế kỷ XV-XVI, thế giới bắt đầu tìm thấy niềm vui cuộc sống nhiều hơn, lạc quan hơn về khả năng con người và những tiến bộ khoa học, thì người ta cũng bắt đầu viết nên nhiều “Bản cáo trạng” đối với Kitô giáo. Ta có thể chọn một đoạn văn tiêu biểu như sau:
“Do những sai lầm bi thảm, con người ngày nay coi người Kitô hữu như kẻ thù của cái có thời gian, và mỗi người chúng ta đều đã loáng thoáng nghe thấy những lời người ta tố cáo chúng ta…”[2]
Tuy nhiên, từ Công đồng Vatican II, khía cạnh cánh chung trở thành nét cơ bản. Đường nét này chẳng những liên quan đến mọi vấn đề thần học nhưng còn hình thành chiều kích mới của thần học, ảnh hưởng trên toàn bộ đời sống đức Tin của người Kitô hữu. Quả thật, nền thần học Cánh chung có thể giúp người Kitô hữu tìm thấy căn tính của đời sống đức Tin trong thời đại hôm nay.
Thực sự sứ điệp Kitô giáo không phải chỉ là thiết lập một dòng chảy bên trên dòng chảy của cuộc sống này, nhưng chính là một giải pháp cho chính cuộc sống, cho toàn thể vận mạng của vũ trụ và nhân loại. Sứ điệp ấy, một cách chính yếu, không nhằm lôi kéo con người bước vào một thế giới hoàn toàn mới, hoặc là chỉ như một thứ “đóng hụi chết” cho đời sống tôn giáo để mong sẽ được có phần lời sau khi chết…, nhưng sứ điệp Kitô giáo nhằm hội nhập và dẫn đưa toàn bộ cuộc sống tới sự thành toàn.
Sách Kinh Bổn thường đọc sau kinh Mười Điều Răn rằng: “Mười điều răn ấy tóm về hai điều mà chớ…”. Nói như thế không sai, nhưng mới chỉ là một thứ phân chia theo “chất thể” của Mười Điều Răn, trong khi thực sự chính Điều răn Thứ Nhất mới là “mô thể” cho tất cả Mười Điều Răn; bởi vì đối với người Do Thái, điều khoản thứ nhất bao giờ cũng mang ý nghĩa toát lược toàn bộ các điều khoản khác, do đó, một khi người tín hữu thảo kính cha mẹ, không gian tham, không dối trá…, thì đó là đang thờ phượng và kính mến Chúa vậy.
Dĩ nhiên không thể chối rằng, trong tâm thức xã hội tại một số nơi, sự sống đức Tin Kitô giáo cũng có góp một phần “uy tín” để bảo đảm cho một số giá trị nhân bản; nhưng hình như tâm thức của người giáo dân, hoặc ngay cả nơi nhiều linh mục, tu sĩ, vẫn chưa thấm được cấu trúc này, cả trong nội dung giảng dạy, trong cử hành phụng vụ, trong sinh hoạt giáo xứ… Hầu hết những sinh hoạt đạo đều “quy về” chuyện đạo đức, chứ ít có chiều hướng “mở ra” với xã hội và thế giới. Những phong trào tông đồ giáo dân mang bản chất “Công giáo Tiến hành”, mang đạo vào đời… thì khi du nhập vào Việt Nam luôn có khuynh hướng biến tướng trở thành “hội đạo đức”…
Người Kitô hữu cần phải xác tín rằng: Mười Điều Răn ấy tóm về “một điều mà chớ…”; đó là cách khẳng định lại cấu trúc đức Tin Kitô giáo… và chỉ khi đó, cả một lãnh vực rộng lớn của đời sống giáo dân mới tìm lại được “lý do hiện hữu” với những ý nghĩa đúng đắn.
![]() |
| Mục tử đích thực phải có “mùi chiên”, phải là những người lắng nghe được “tiếng nói” của đoàn chiên |
2. Dáng dấp đức Tin Kitô giáo
Giáo hội đang nỗ lực đi vào nẻo đường “hiệp hành”, và hiệp hành, nói chung, là một cách thức để mọi thành phần trong Giáo hội cùng nhau, hợp tác với nhau, liên đới với nhau trong sứ vụ chung… Nhưng ta cũng có thể thấy rằng, thành quả thu được là nhiều hay ít thì còn tùy vào phẩm tính của truyền thống và thực trạng của hoàn cảnh cụ thể.
2.1 Chiều dọc và chiều ngang (chiều kích chính trị)
Chiều kích chính trị, hiểu như là cách thức tổ chức sinh hoạt của cộng đồng, chắc chắn ảnh hưởng rất nhiều tới phẩm tính của Giáo hội xét như một cộng đồng xã hội.
Ta có thể tạm giản lược các thể chế chính trị vào hai hình thức chính, quân chủ và dân chủ. Mặc dù có nhiều khác biệt giữa những loại thể chế quân chủ khác nhau, nhưng nói chung thể chế quân chủ là lối tổ chức xã hội được điều hành với quyền lực tuyệt đối của một vị vua. Quyền bính được thừa hành có cội nguồn từ trên xuống, thường là theo đường lối cha truyền con nối. Ta tạm gọi đây là thể chế chiều dọc.
Trong khi đó thể chế dân chủ lại mang ý nghĩa quyền bính từ dân mà ra. Việc đặt quyền lực trong tay người dân, trực tiếp hoặc gián tiếp, được thể hiện bên ngoài theo quy luật đa số thắng thiểu số; nhưng sâu xa hơn, đó là một cách thức tin tưởng vào khả năng tìm chân lý một cách phong phú và dễ đạt được sự quân bình hơn, so với những quyết định của riêng một người, hoặc một số ít người.
Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều chọn một hình thức dân chủ nào đó. Ngay cả nhiều quốc gia gọi là quân chủ lập hiến thì trong thực chất của việc thực thi quyền lực vẫn là dân chủ. Người ta ghi nhận chỉ còn 7 quốc gia theo thể chế quân chủ chuyên chế mà chủ yếu là các nước Hồi giáo, vương quốc Esquatini ở châu Phi… và quốc gia Vatican.
Dĩ nhiên, mỗi hình thức chính trị sẽ có thể thích hợp hơn cho một hoàn cảnh riêng biệt, để mang lại những lợi ích phong phú hơn. Tuy vậy, ta vẫn có thể thấy một chiều hướng chung là dần dần người ta hiểu rằng hình thức dân chủ tránh được nhiều sai lầm nghiêm trọng của các nhà cai trị độc tài, khơi dậy được một nguồn sinh lực vô cùng phong phú từ rất nhiều nguồn và nhất là chính hình thức dân chủ mới mang lại sự bình đẳng thực sự cho phẩm giá của mỗi người dân.
Tất cả những điều đó chắc chắn không thể hoàn toàn đúng với trường hợp Giáo hội. Có phải chăng, vì thế, ngay những bước đầu của tiến trình Hiệp hành, đã thấy có đấng bậc lo lắng về một khuynh hướng dân chủ trong Giáo hội…(?).
Thực sự Giáo hội không phải là một tổ chức chính trị xã hội, nhưng là một huyền nhiệm[3], vừa hữu hình vừa vô hình. Giáo hội luôn xác tín quyền bính đến từ Chúa mà các người lãnh đạo trong Giáo hội không bao giờ là người kế vị Chúa, nhưng chỉ là người đại diện của Chúa; bởi vì Chúa không bao giờ thoái vị, nhường ngôi hoặc đã về hưu, không còn dính dáng gì tới đời sống Giáo hội. Xét về mặt thuần túy tự nhiên, người ta xếp quốc gia Vatican vào loại thể chế quân chủ. Đó là một cách nhìn, theo lý thuyết, không hoàn toàn đúng; nhưng với một chút thành thật của lương tâm, có lẽ chúng ta có thể nói rằng, trong thực tế, việc xếp loại ấy cũng không hoàn toàn là sai…
Tuy nhiên, Vatican II cũng đã đưa ra một mô hình Giáo hội đa dạng và hiệp nhất: Giáo hội là phản ảnh của Chúa Ba Ngôi, là Dân của Chúa Cha, là Thân Mình Chúa Kitô và là Đền thờ của Chúa Thánh Thần[4]. Trong Dân của Cha, các phẩm trật có vai trò quan trọng trong Thân Mình Chúa Kitô và Thánh Thần làm cho mọi thành phần được sống phong phú và trọn vẹn. Trong Giáo hội, Chúa Thánh Thần, “Ngài thông đạt cho Giáo hội toàn thể Chân lý (Ga 16,13). Ngài thống nhất Giáo hội nơi việc kết hiệp và phục vụ. Ngày xây dựng và dẫn dắt Giáo hội bằng nhiều ân huệ khác nhau theo phẩm trật và đoàn sủng, trang bị Giáo hội bằng hoa quả của Ngài…” (GH 4)
Mặc dù khó nói rằng có một tiến trình mang tên dân chủ trong lịch sử văn hóa đức Tin Kitô giáo, nhưng chúng ta cũng thấy khá rõ một chiều hướng tương tự. Nếu Cựu Ước diễn tả mối tương quan chiều dọc như nền tảng, thì nơi Tân Ước ta lại thấy mối tương quan của Thiên Chúa với con người có một quá trình rộng mở chiều ngang phong phú hơn nhiều.
Đức Hồng y Albert Vanhoye cho thấy, trong hai chiều hướng ấy, có một sự “cân đối” mới. Trong giao ước Sinai, chiều kích bên ngoài tỏ rõ là chiều dọc; trong bữa Tiệc Ly lại trình bày chiều kích bên ngoài rõ nét là chiều ngang. Chiều dọc luôn luôn là nguồn mạch và là điều chính yếu; tuy nhiên, trong bữa Tiệc Ly, Đức Giêsu diễn tả chiều dọc chỉ trong một từ duy nhất “khi đã tạ ơn” (eukharistêsas), một lần trên bánh và một lần trên rượu; rồi sau đó là một sự phong phú thân tình được triển nở qua việc bẻ bánh, trao ban; và qua việc cùng thông chia một chén rượu với nhau[5].
Như thế, dù không người Kitô hữu nào chối từ quyền bình đến từ Chúa và cũng không thể phủ định quyền bính quản trị trong Giáo hội qua hàng giáo phẩm, chúng ta vẫn khám phá quyền bính “từ trên” ấy càng có thể và cần thể hiện trong một cách thức mang “tính dân chủ” một cách nào đó. Nếu không thì người giáo dân vẫn khó lòng có được một không gian để góp phần một cách tích cực hơn vào đời sống Giáo hội.
2.2. Mặt bằng và ngôi sao (chiều kích văn hóa xã hội)
Căn bệnh trầm kha, nặng nề nhất của mọi người, ở mọi thời và mọi nơi vẫn thật sự là căn bệnh ưu tuyển. Ở đâu người ta cũng chỉ đề cao những “ngôi sao” và quên mất tầm quan trọng chính yếu của “mặt bằng”. Dĩ nhiên, đóng góp của ngôi sao vẫn luôn có ý nghĩa không nhỏ, nhưng không phải vì thế mà người ta quên rằng một cộng đoàn, một tổ chức hay một dân tộc… chỉ dễ dàng phát triển và phát triển một cách quân bình khi được sự đồng thuận của “mặt bằng” và khi sự phát triển phổ cập đến “mặt bằng”. Phát triển chỉ thực sự là phát triển khi “mặt bằng” được phát triển.
Đời sống Giáo hội cũng không tránh khỏi cám dỗ ngôi sao và não trạng chung vẫn chỉ thấy, chỉ kể, chỉ tán dương các ngôi sao mà thôi. Điều đó khiến cho người ta ít quan tâm đến cảm nhận của giáo dân và cũng làm thui chột nhiều nguồn mạch phong phú ẩn tàng trong “mặt bằng”.
Có một khái niệm lâu đời trong truyền thống Giáo hội và cũng đã được nhiều nhà thần học nhắc tới. Tuy nhiên, cùng với tinh thần của Đức Giáo Hoàng Phanxixô, Ủy Ban Thần học Quốc tế đã công bố, ngày 5.5.2014, văn kiện Cảm Thức Đức Tin trong đời sống Giáo hội, nhằm suy tư một cách hệ thống về vai trò tích cực của người tín hữu như là những chủ thể của chân lý đức Tin. Văn kiện có gắng xóa bỏ lối phân biệt truyền thống trong Giáo hội, theo đó có một “Giáo hội dạy dỗ” (Ecclesia docens / phẩm trật) và “Giáo hội học tập” (Ecclesia discens / giáo dân). Bởi vì mọi người tín hữu, khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, rồi Bí tích Thêm sức, đều được lãnh nhận Thánh Thần, được tham dự vào vai trò ngôn sứ của Đức Giêsu. Do đó, người tín hữu cũng được hưởng một thứ ân huệ “vô ngộ khi tin” (in credendo), và một sự đồng thuận của mọi tín hữu có thể tạo nên được một chứng từ cho đức tin tông truyền. Văn kiện nhắc lại nhiều bằng chứng lịch sử cho thấy cảm thức của người tín hữu đã góp quan trọng cho việc xác định nền tảng tín lý trong đời sống Giáo hội.
Dĩ nhiên, văn kiện cũng nêu lên một số tiêu chuẩn cần thiết để xác nhận cảm thức đức Tin của người tín hữu, nhưng trong đường nét chung, ta có thể thấy một sự chân nhận hợp pháp về tầm quan trọng của “mặt bằng”.
Một cách nền tảng hơn, cùng với Đức Gioan Phaolô II, chúng ta có thể phân biệt hai chiều kích căn bản trong chiều sâu bản chất của Giáo hội, “chiều kích tông đồ và Phêrô” và “chiều kích đức Maria”.
“… Chúng ta có thể nói Hội Thánh vừa mang đặc tính “Thánh mẫu” vừa có đặc tính “tông đồ” và đặc tính “thuộc về Phêrô”[6].
Trong lời chú thích của đoạn văn trên đây, Đức Gioan Phaolô II ghi lại lời của nhà thần học Von Balthasar, trong diễn văn đọc trước các hồng y và các giám chức tại giáo triều Roma ngày 22.12.1997 như sau:
“Khía cạnh Thánh mẫu, nếu không hơn thì cũng là nét nền tảng và đặc trưng của Giáo hội như khía cạnh mang tính cách “tông đồ” và tính cách “Phêrô”. Khía cạnh Thánh mẫu cũng liên kết mật thiết với hai khía cạnh đó (…). Chiều kích Thánh mẫu của Giáo hội trổi vượt hơn chiều kích Phêrô, đồng thời liên kết và bổ sung cho chiều kích đó. Đức Maria, Đấng Vô nhiễm Nguyên tội, trổi vượt hơn mọi người khác và dĩ nhiên, hơn cả Phêrô và các tông đồ; không chỉ vì Phêrô và các tông đồ thuộc về nhân loại, sinh ra trong tội lỗi, là thành phần của Giáo hội ‘thánh thiện và bao gồm các tội nhân’, nhưng còn vì ba nhiệm vụ của các ngài không nhằm điều gì khác hơn là thành lập Giáo hội trong lý tưởng đạt đến sự thánh thiện này, lý tưởng đó đã được hình thành trước và biểu hiện trước nơi đức Maria. Như một nhà thần học hiện này đã nói: ‘Đức Maria là Nữ vương các Tông đồ’, mà không cần đến quyền bính tông đồ. Đức Maria có vai trò khác lớn hơn nhiều”[7].
Chiều kích Phêrô vẫn luôn được nói đến nhiều, ngay trong Kinh Thánh, trong suốt lịch sử Giáo hội, và trong bầu khí Giáo hội hiện nay. Giáo hội cần những người lãnh đạo, cần những người tiếp nối vai trò của Đức Kitô như “Hôn phu”. “Bộ mặt” hữu hình của Giáo hội trần thế vẫn luôn là giáo triều, là các đấng bậc trong Giáo hội. Tuy nhiên, Giáo hội không phải chỉ là những đấng bậc. Giáo hội là Dân Thiên Chúa mà mọi người Kitô hữu đều là những thành phần trọn vẹn và tích cực. Trong mầu nhiệm Giáo hội hiệp thông, chúng ta hiểu rằng, đằng sau những hào quang luôn có những giọt mồ hôi và nước mắt; đằng sau những thành công lớn lao và những công trình vĩ đại luôn có những hy sinh âm thầm, những sự chết đi để có được một mùa gặt tốt đẹp. Đó là đóng góp của vai trò “nữ tính”[8].
Nếu vận hành của sự sống trong Giáo hội chỉ diễn tiến một chiều, các mục tử sẽ trở thành những người công chức. Nhưng mục tử đích thực phải có “mùi chiên”, phải là những người lắng nghe được “tiếng nói” của đoàn chiên, phản ảnh lên các nhà thần học và huấn quyền để mỗi thành phần đều thực sự góp phần một cách tích cực vào sự sống Kitô giáo…
Tạm kết
Chắc chắn còn nhiều yếu tố khác đã tạo nên tình trạng người giáo dân vẫn ở bên lề Giáo hội, chẳng hạn thái độ bỏ quên phẩm giá căn bản và bình đẳng của mọi người Kitô hữu trong Bí tích Rửa Tội, hoặc một ý thức về sứ mạng Giáo hội của người nghèo… chính những yếu tố ấy làm nên dung môi của sự sống đức Tin và phải được cứu xét một cách rốt ráo hơn để đi vào hiệp hành và tránh tình trạng “giáo dân vẫn ở bên lề…”.
Lm Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.
1. Xc. Hugues Cousin, Jean Pierre Lémonon, Jean Massonnet, Le Monde où vivait Jesus, Les Éditions du Cerf, Paris 1998, Bản dịch của Học Viện Đa Minh, Trên Quê Hương Đức Giêsu, 2003, trang 134.
2. Jean Mouroux, Sens chrétien de l’homme, Tủ sách Luân lý, bản dịch của Trần Thái Đỉnh và Nguyễn Bình Tĩnh, Đại Chủng Viện Huế, 1997, trang 15-17.
3. Chương I của Hiến chế Tín lý về Giáo hội có tiêu đề là “Mầu nhiệm Giáo hội”.
4. X. GH 2.
5. X. Hồng y Albert Vanhoye S.J, “Chúng ta hãy Tin tưởng đón nhận đức Kitô, Vị Thượng Tế của chúng ta”, Các bài giảng mùa Chay tại Giáo triều Rôma từ 10 -16, tháng 2 năm 2008. Bài 10 “Đức Kitô, Đấng Trung gian của Giao ước mới trong bữa Tiệc ly”.
6. X. Tông thư Phẩm Giá Phụ Nữ, s.27.
7. Von Balthasar, Obs. Rom. 23-12-1987.
8. X. Nguyễn Trọng Viễn O.P, Thách đố của phẩm tính đức Tin, Thách đố của “nữ tính”.
2023
Lòng nhân ái bao dung
Lòng nhân ái bao dung
CHÚA NHẬT XVI THƯỜNG NIÊN- NĂM A
Bài đọc 1: Kn 12,13.16-19; Bài đọc 2: Rm 8,26-27; Tin Mừng: Mt 13,24-43.
Một lần nữa, hình ảnh thửa ruộng lại được Chúa Giêsu sử dụng để chuyển tải giáo huấn của Người. Thửa ruộng vừa có lúa vừa có cỏ lùng, phản ánh cuộc sống thực tế của chúng ta. Quả thực, trên đời này luôn hiện hữu những người tốt và những người chưa tốt. Hơn nữa, trong chính mỗi con người cũng có những hành vi tốt và hành vi xấu. Vì thế, Lời Chúa hôm nay vừa diễn tả lòng nhân ái của Thiên Chúa, vừa kêu gọi lòng bao dung của con người. Bởi lẽ, nhờ lòng nhân ái của Chúa mà chúng ta không bị trừng phạt khi lỗi lầm; nhờ lòng bao dung của con người mà bớt đi thành kiến xung đột với cuộc sống xung quanh.
Thiên Chúa là Đấng nhân ái. Tác giả sách Khôn ngoan đã khẳng định như thế. Ngài cũng là Đấng Độc tôn, tức là không có thần linh nào ngang hàng hay sánh bằng (Bài đọc I). Lòng nhân ái của Thiên Chúa được minh chứng suốt bề dày của lịch sử Cựu Ước, cũng là lịch sử nhân loại. Đã nhiều lần người Do Thái phạm tội, nhưng Thiên Chúa thương và tha thứ. Nếu Thiên Chúa là Đấng nhân ái, Ngài cũng muốn chúng ta có lòng bao dung đối với nhau. Tác giả sách Khôn ngoan đã chuyển tải lời Chúa phán: “Chúa đã dạy dân rằng: người công chính phải có lòng nhân ái. Ngài đã cho con cái niềm hy vọng tràn trề, là người có tội được Ngài ban ơn sám hối”. Mỗi người sống trên trần gian là một “tiểu vũ trụ”, có nghĩa là một thế giới riêng, có nhiều điều dị biệt với người khác. “Tiểu vũ trụ” này có nhiều điều cần khám phá và phải tôn trọng. Một tác giả nào đó đã viết: “Đối với vũ trụ bao la, bạn chỉ là một người nhỏ bé. Nhưng đối với một người khác, bạn lại là cả vũ trụ”.
Vì khác biệt về sở thích, tính tình hay quan điểm, nên mỗi người cần phải kiên nhẫn, như người chủ ruộng trong Tin Mừng. Chúa Giêsu cho thấy rõ sự khác biệt giữa cách hành xử của Thiên Chúa và cách hành xử của con người: con người muốn gạt bỏ và tru diệt hết những ai mình không hợp không thích; Thiên Chúa lại nhân ái chờ đợi và mong họ sám hối nên hoàn thiện. Trong thế giới của chúng ta, nếu ông chủ vườn không thể làm cho một cây cỏ lùng đổi thay biến thành cây lúa, thì đối với Thiên Chúa, Ngài lại luôn ban cho các tội nhân một cơ hội để họ sám hối trở về. Đó là câu trả lời cho những thắc mắc thường thấy: tại sao trên thế giới này vẫn tồn tại những người thất đức, đôi khi họ lại còn may mắn hơn người sống tốt lành? Thiên Chúa cũng là nguyên lý của mọi sự tốt lành. Ngài chỉ gieo lúa vào cuộc đời. Sự xuất hiện của cỏ lùng là do âm mưu của ma quỷ và của chính con người.
Lời Chúa hôm nay giúp mỗi người tự vấn lương tâm: tôi là cây lúa hay cây cỏ lùng trong “vườn đời” này? Đừng chủ quan nhận mình là hoàn thiện, nhưng hãy can đảm nhận ra tình trạng thực của mình. Có những lúc chúng ta giống như cỏ lùng, làm mất đi sự hài hòa trong mối tương quan với những người trong một gia đình hoặc trong một cộng đoàn. Có những khi chúng ta đang vô tình gieo vào lòng những người đơn sơ hay trẻ nhỏ những gương xấu, giống như kẻ gieo cỏ lùng lẫn vào ruộng lúa ban đêm.
Thiên Chúa là Đấng nhân ái và thương xót, nhưng Ngài cũng là vị thẩm phán công minh. Có những người cố tình khước từ lòng thương xót của Chúa, mặc dù họ được nghe nói về Ngài. Họ phải lãnh trách nhiệm về sự chọn lựa của mình. Cho đến mùa gặt, tức là vào lúc sau hết của cuộc đời, có những cây cỏ lùng vẫn cố tình là cỏ lùng mà không chịu biến đổi, lúc đó sẽ bị đốt trong lửa. Cùng mọc lên trên một thửa ruộng, nhưng đáp số cuối cùng của cây lúa và cây cỏ lại khác nhau: lúa nuôi sống người được thu vào lẫm; cỏ vô dụng bị bó lại đốt đi. Đó là hình ảnh diễn tả người công chính và các tội nhân mà chúng ta thường gọi là thiên đàng hay hỏa ngục. Hỏa ngục là nơi vắng bóng Thiên Chúa, không có tình thương. Nơi ấy, chỉ có hận thù khôn nguôi và đau khổ vĩnh viễn.
Trong vườn đời có nhiều lúa và cỏ cùng hiện hữu, người tin Chúa cũng được mời gọi đóng góp phần mình làm cho những người còn lạc xa đường chân lý được tỉnh ngộ và trở về. Hãy giúp họ nhận ra lòng nhân ái của Chúa, qua sự bao dung của mỗi chúng ta. Ngài là Cha yêu thương, luôn chờ đợi các tội nhân trở về, để tha thứ và ban cho họ nghị lực mới. Như thế, thay vì buồn sầu bi quan vì cộng đoàn tín hữu là thiểu số trong một xã hội mênh mông, thì hãy ngẩng cao đầu vì có Chúa ở với chúng ta. Chúng ta cũng vui mừng tự hào, vì Chúa trao cho sứ mạng trở thành muối và ánh sáng cho đời. Thiên Chúa là Đấng kiên nhẫn và bao dung. Hãy kiên nhẫn và bao dung như Ngài trong cách đối xử với anh chị em mình.
Xin ơn Chúa Thánh Thần nâng đỡ để chúng ta được ơn trung thành với Chúa và nhất là biết sống theo thánh ý của Ngài. Vâng, đời sống gia đình, những sinh hoạt trong giáo xứ, những mối tương quan nghề nghiệp bạn bè trong cuộc sống đời thường đang là những môi trường để chúng ta thực thi sứ mạng làm men làm muối cho đời. Kể cả lời cầu nguyện của chúng ta cũng rất cần có Chúa Thánh Thần soi sáng, vì Ngài hiểu nỗi lòng và những ước nguyện chính đáng của từng người trong chúng ta (Bài đọc II).
TGM Giuse Vũ Văn Thiên – TGP Hà Nội
2023
Vài nét về kinh Cầu Các Thánh
Vài nét về kinh Cầu Các Thánh
Trong Hội Thánh, có tới khoảng 190 Kinh Cầu khác nhau. Tuy vậy, chỉ có 5 Kinh Cầu được sử dụng phổ biến hơn cả. Đó là: Kinh Cầu Loreta (còn gọi là Kinh Cầu Đức Bà); Kinh Cầu Thánh Danh; Kinh Cầu Trái Tim Đức Chúa Giêsu; Kinh Cầu Ông Thánh Giuse; Kinh Cầu Các Thánh. Trong số này, Kinh Cầu Các Thánh được xem là lời kinh cổ xưa nhất, long trọng nhất và là kiểu mẫu cho các kinh cầu khác.
Gọi là “Kinh Cầu Các Thánh” bởi vì kinh nguyện này gồm những lời khẩn cầu một số các thánh cũng như Đức Mẹ Maria – Nữ vương các thánh. Thật ra, chúng ta không cầu xin các thánh. Chúng ta chỉ xin các thánh chuyển cầu cho chúng ta trước mặt Chúa. Điều này diễn tả lòng tin cậy của Giáo hội vào sự chuyển cầu của các thánh. Đây là sự hiệp thông vốn kết hợp Giáo hội của Giêrusalem trên trời với Giáo hội lữ hành dưới thế.1
I. LỊCH SỬ
Chúng ta không rõ Kinh Cầu Các Thánh được ai soạn ra và soạn ra khi nào. Chỉ biết rằng, bên Đông phương, Kinh Cầu Các Thánh đã được hát lên ngay từ thế kỷ III (năm 270). Bên Tây phương, năm 590, Đức Giáo Hoàng Grêgôriô Cả (540-604) yêu cầu hát kinh này trong cuộc rước công khai để xin Thiên Chúa chấm dứt cơn dịch tàn phá Rôma. Ngài cũng quy định hát Kinh Cầu Các Thánh vào ngày 25 tháng Tư trong nghi thức Cầu mùa. Quãng đầu thế kỷ VII, bản văn Kinh Cầu Các Thánh rất ngắn: chỉ vỏn vẹn kêu cầu Đức Kitô, Đức Trinh nữ Maria, 4 Thánh tông đồ (Phêrô, Phaolô, Anrê, Giacôbê) và 2 Thánh tử đạo (Stêphanô và Lôrensô).
Thời gian trước Công đồng Vatican II, theo sách Nghi thức Rôma và Sách lễ Rôma, Kinh Cầu Các Thánh được sử dụng khi đi rước và trong một số nghi lễ.2
Hiện nay, như được quy định trong Lịch Phụng vụ Rôma (21-03-1969), Bộ Phụng tự duy trì hai phiên bản Kinh Cầu Các Thánh để sử dụng cho những trường hợp khác nhau:
1) Phiên bản dài: sử dụng trong trường hợp cầu khẩn trọng thể và đi rước như hát trong dịp Cầu mùa; cuộc rước kiệu trong mùa Chay; hay khi di chuyển thi thể người quá cố từ nhà tư đến thánh đường.
2) Phiên bản ngắn: sử dụng trong các trường hợp làm phép trọng thể và thánh hiến diễn ra trong thánh lễ: nghi thức làm phép nước Thánh Tẩy trong đêm Vọng Phục Sinh; nghi thức phong chức giám mục, linh mục và phó tế;3 nghi thức chúc phong viện phụ hay viện mẫu;4 nghi thức khấn dòng, thánh hiến trinh nữ;5
Ngoài ra, chúng ta còn có phiên bản cực ngắn, nghĩa là bản văn được bỏ đi nhiều phần cho thật đơn giản nhằm mục đích sử dụng khi: cử hành Bí tích Thánh Tẩy cho trẻ em;6 phó linh hồn cho người mới qua đời;7
Kinh Cầu Các Thánh còn được hát đang khi đoàn rước các ĐHY tiến vào nhà nguyện Sistine tham dự mật nghị Hồng y bầu Đức Giáo Hoàng; trong nghi lễ phong thánh; khi nhập lễ mừng kính Các Thánh Nam Nữ (01 tháng 11). Vào ngày 20 tháng Hai năm 1988, Bộ Phụng tự Thánh đề nghị sử dụng Kinh Cầu Các Thánh khi bắt đầu thánh lễ Chúa nhật thứ I mùa Chay nhằm tạo thêm một dấu khác biệt cho mùa này.8
II. CẤU TRÚC
Cấu trúc của Kinh Cầu Các Thánh như sau (theo bản Kinh Cầu Các Thánh mới):
1) Khẩn cầu Thiên Chúa Ba Ngôi (cộng đoàn đáp: Xin Chúa thương xót chúng con)
2) Khẩn cầu các Thánh (cộng đoàn đáp: Xin cầu cho chúng con)
3) Kêu cầu Đức Kitô. Phần này chia thành hai nhóm: i] Nhóm I: cầu xin được giải thoát khỏi những điều tiêu cực như: sự dữ; tội lỗi; án chết đời đời (cộng đoàn đáp: “Xin Chúa cứu chữa chúng con”), ii] Nhóm II: nài xin được giải thoát nhờ những biến cố trong cuộc đời cứu độ của Chúa Giêsu: giáng sinh, chịu chết và sống lại; đổ ơn Chúa Thánh Thần xuống (cộng đoàn đáp: “Xin Chúa cứu chữa chúng con” hoặc là “Xin Chúa giải thoát chúng con”)
4) Những lời chuyển cầu cho những nhu cầu khác nhau (cộng đoàn đáp: “Xin Chúa nghe lời chúng con” hoặc “Xin Chúa nghe cho chúng con”)
5) Những lời nguyện kết thúc.
III. THÊM BỚT – THAY ĐỔI TRONG KINH CẦU CÁC THÁNH?
1. Lý do và nguyên tắc
Không những chúng ta được phép thêm bớt số các thánh mà còn là việc hết sức nên làm bởi những lý do sau: i] Thứ nhất, các tài liệu phụng vụ của Giáo hội đều nhắc nhở và đề nghị thêm bớt danh sách các thánh vào chỗ thích hợp cũng như cho phép thêm một vài lời thỉnh nguyện nữa thích hợp hơn với từng hoàn cảnh;9 ii] Thứ hai, Sổ bộ các thánh hiện nay (năm 2005) gồm đến 7000 vị thánh và chân phước.10
Với số lượng đông đảo các thánh và chân phước ở khắp hoàn vũ như vậy, cho nên trong những hoàn cảnh riêng biệt khi cử hành, chúng ta nên uyển chuyển thêm bớt danh sách các thánh cho phù hợp với thực tế.
Điều quan trọng khi thêm bớt con số các thánh, chúng ta phải tuân thủ một số nguyên tắc:
1) Thứ nhất, chỉ thêm các thánh và chân phước được liệt kê trong Sổ bộ các thánh của Giáo hội;11
2) Thứ hai, tên của vị thánh được thêm vào phải nằm đúng hàng ngũ của ngài. Hàng ngũ các thánh được chia làm 7 nhóm và được xếp theo thứ tự sau: i] Đức Mẹ và thánh thiên thần; ii] Các thánh tổ phụ cùng các thánh tiên tri; iii] Các thánh tông đồ cùng các thánh môn đệ Đức Giêsu; iv] Các thánh tử đạo; v] Các thánh giám mục cùng các thánh tiến sĩ; vi] Các thánh linh mục và tu sĩ; vii] Các thánh giáo dân. Như vậy, chiếu theo nguyên tắc này, đúng ra các Thánh Tử đạo Việt Nam phải được xếp vào hàng ngũ các thánh tử đạo hơn là ở cuối sổ.12
3) Thứ ba, ngay trong một hàng ngũ, cần tuân thủ tập tục này: i] thánh nam được xếp trước thánh nữ; ii] thánh nào được Chúa gọi về trước thì xếp trước. Ví dụ, Thánh Faustina (qua đời năm 1938) phải được xếp sau Thánh Rosa Lima (ly trần năm 1617); Thánh Bernadette Soubirous (qua đời năm 1879) phải được xếp sau Thánh Rosa Lima (qua đời năm 1617) nhưng trước Thánh Têrêsa Hài đồng Giêsu (ly trần năm 1897). Tuy nhiên, đôi khi tập tục này cũng có thay đổi. Chẳng hạn, trong hàng ngũ các thánh linh mục và tu sĩ, mặc dầu Thánh Ignatiô ( – 1556) chết sau Thánh Phanxicô Xaviê (-1552) tới 4 năm, nhưng vẫn được xếp trước vì tôn trọng ngài là vị sáng lập Dòng Tên trong khi vị thánh quan thầy truyền giáo chỉ là thành viên của hội dòng này.
4) Thứ bốn, tên của vị thánh được thêm vào không quá xa lạ đối với cộng đoàn cử hành.
2. Áp dụng cụ thể 13
a) Con số các thánh
– Trong thánh lễ an táng Đức Giáo Hoàng, thêm vào Kinh Cầu Các Thánh các thánh giáo hoàng và các thánh của giáo phận Roma.
– Trong nghi thức tấn phong giám mục, nêu danh tánh tất cả các thánh tông đồ theo thứ tự: Phêrô, Phaolô, Anrê, Giacôbê, Tôma, Giacôbê, Philipphê, Bartôlômêô, Simon, Tađêô, Matthia.
Trong lễ phong chức linh mục, không thêm vị nào khác;
Trong lễ phong chức phó tế, thêm hai Thánh Vincentê [-304] (sau Thánh Lorensô [-258]) và Thánh Ephrem [-373] (trước Thánh Basiliô [-379]).
Trong lễ thánh hiến trinh nữ, thêm các Thánh trinh nữ Macrina (-340), Scholastica (-543), Clara (-1253), Rosa Lima (-1617), Louise Marillac (-1660), Margaret Maria Alacoque (-1690), Têrêsa Hài đồng Giêsu (-1897), Maria Goretti (-1902), Genoveva (-1956).
Trong lễ khấn trọn đời của các tu sĩ: Bỏ tên các Thánh Inhaxiô Antiôkia, Grêgôriô, Atanasiô, Martinô, Phanxicô Xaviê, Gioan Maria Vianney. Ngoài việc có thể thêm tên các thánh riêng của dòng thì đối với dòng nam, thêm các Thánh Bênađô (-1153), Ignaxiô Loyola (-1556), Vinh Sơn Phaolô (-1660), Gioan Boscô (-1888) và đối với dòng nữ, thêm các Thánh nữ Macrina (-340), Clara (-1253), Catarina Siena (-1380), Rosa Lima (-1617), Gioanna Francisca de Chantal (-1641), Louise Marillac (-1660).
Trong nghi lễ chúc phong viện phụ: bỏ tên Thánh Catarina Siena nhưng thêm các Thánh: Columbanô (-615), Bêđa (-735), Rômualđô (-1027), Brunô (-1101), Bênađô (-1153), hai Thánh nữ Scolastica (-543) và Clara (-1253).
b) Các lời khẩn nguyện cho các nhu cầu trong các dịp truyền chức, khấn dòng được thích nghi theo hoàn cảnh:
Trong lễ truyền chức, thêm ba lời khấn nguyện, mỗi lần tăng thêm một động từ: i] Xin Chúa đoái thương chúc lành cho vị thụ phong này; ii] Xin Chúa đoái thương chúc lành và thánh hóa vị thụ phong này; iii] Xin Chúa đoái thương chúc lành, thánh hóa và thánh hiến vị thụ phong này.
c) Nếu sử dụng Kinh Cầu Các Thánh trong nghi thức an táng một tín hữu đã qua đời, chúng ta có thể thay câu đáp “Xin cầu cho chúng con” bằng câu “Xin cầu cho tín hữu này”.
d) Nếu sử dụng Kinh Cầu Các Thánh khi đi viếng đất thánh vào ngày lễ cầu cho các tín hữu đã qua đời (2/11), chúng ta có thể thay câu đáp “Xin cầu cho chúng con” bằng câu “Xin cầu cho các tín hữu này”.
Lm. Giuse Phạm Đình Ái, Dòng Thánh Thể
_________________________________________________
1 Xc. Hội đồng Giám mục Việt Nam – Ủy ban Văn hóa, Hướng dẫn về Lòng Đạo đức Bình dân và Phụng vụ, số 235.
2 Cầu mùa; thời kỳ khó khăn; các dịp thống hối; các cuộc rước di tích các thánh; trừ quỷ long trọng; tôn thờ Thánh Thể 40 giờ; cung hiến thánh đường và bàn thờ; tấn phong giám mục; chúc phong viện phụ và viện mẫu; thánh hiến trinh nữ ; thánh lễ thứ Bảy Tuần Thánh và thánh lễ Vọng Chúa Thánh Thần Hiện xuống…
3 Nghi thức Phong chức, số 78. 127. 203. 231. 273; Lễ nghi Giám mục, số 507. 529. 580.
4 Nghi thức Chúc phong Viện phụ, số 21; Nghi thức Chúc phong Viện mẫu, số 16.
5 Nghi thức Khấn dòng cho nam tu, số 62; Nghi thức Khấn dòng cho nữ tu, số 67; Lễ nghi Giám mục, số 730. 746. 758. 779.
6 Nghi thức Rửa tội cho Trẻ em, số 48. 85.
7 Nghi thức Xức dầu và Chăm sóc Mục vụ cho Bệnh nhận, số 145.
8 Circular Letter Concerning the Preparation and Celebration of the Easter Feasts, số 23.
9 Xc. Hướng dẫn về Lòng Đạo đức Bình dân và Phụng vụ, số 235; Nghi thức Phong chức, số 78. 127. 203. 231. 273; Lễ nghi Giám mục, số 507. 529. 580; Nghi thức Chúc phong Viện phụ, số 21; Nghi thức Chúc phong Viện mẫu, số 16; Nghi thức Khấn dòng cho nam tu, số 62; Nghi thức Khấn dòng cho nữ tu, số 67.
10 Adoremus Bulletin (Online Edition) February 2005, Vol. X, No. 10.
11 Xc. Hướng dẫn về Lòng Đạo đức Bình dân và Phụng vụ, số 235.
12 Xc. Phan Tấn Thành, Nghi thức Phong chức Linh mục và Phó tế: Diễn giải (Học viện Đaminh, 2014), tr. 112.
13 Sđd, tr. 113-114.
2023
Xin lễ cầu nguyện cho linh hồn thai nhi?
Xin lễ cầu nguyện cho linh hồn thai nhi?
Các thai nhi bàn ở đây được hiểu là những bào thai [đã là người] bị chết trước khi được sinh ra do sẩy thai hay phá thai.1 Liệu có hợp lý không khi có rất nhiều giáo dân Việt Nam xin lễ cầu cho các thai nhi? Câu trả lời sau đây cho thấy đây là một thực hành cần phải xét lại vì nó không hợp lý xét theo đức tin, giáo lý và thần học của Giáo hội. Rất tiếc, nhẽ ra phải giải thích cho giáo dân thông hiểu vấn đề này, một số linh mục lại “tích cực hưởng ứng” bằng cách nhận lễ, đọc rõ ý lễ cầu cho linh hồn thai nhi trong thánh lễ, thậm chí còn đọc giữa Kinh nguyện Thánh Thể nữa, khiến cho thực hành không cần thiết này tiếp tục được phổ biến tại nhiều giáo xứ.
Nói đây là một thực hành không cần thiết vì căn bản chúng ta chỉ cầu nguyện cho các linh hồn nơi thanh luyện chứ không cho những người trong thiên đàng hay hỏa ngục.2 Hội Thánh có hoạt động tuyên thánh chứ chưa bao giờ kết án ai phải sa hỏa ngục. Bởi thế, chúng ta loại trừ đối tượng của cầu nguyện là những kẻ đã thuộc về Satan mà không ai biết cả. Đối với những thành phần ở trên thiên quốc, chắc chắn họ không cần đến những lời cầu nguyện của chúng ta. Đúng hơn, từ trời cao, họ còn cầu thay nguyện giúp cho chúng ta. Bởi vậy, vào ngày lễ các thánh (1.11), chúng ta không cầu nguyện thay mặt cho các thánh, nhưng xin các ngài chuyển cầu cho chúng ta.3
Phần trình bày dưới đây muốn chứng minh rằng các thai nhi chết đi, dù chưa được lãnh nhận bí tích thánh tẩy, nhưng vô tội [cá nhân] và chúng ta có quyền hy vọng rằng, với lòng thương xót bao la vô hạn của Thiên Chúa, các thai nhi này sẽ nằm trong vòng tay yêu thương của Người. Hậu nhiên, chúng ta không cần có bất kỳ lời nói hay việc làm nào để cầu nguyện cho bé. Trái lại, bé có thể cầu nguyện cho chúng ta trước tòa Chúa.
1] Xin lễ cầu cho người đã qua đời
Căn cứ vào bản tính loài người: yếu đuối, mỏng giòn và hay sa ngã, dầu đã đón nhận ân sủng của bí tích Thánh Tẩy, chúng ta có thể kết luận rằng dầu người chính trực cũng mấy phen yếu hèn, nghĩa là dường như không ai có đủ nghị lực và cảnh giác để tránh mọi tội lỗi.4 Vì thế những người quá cố thân yêu của chúng ta có lẽ thuộc về thành phần còn đang ở nơi chốn / tình trạng thanh luyện. Nơi / tình trạng thanh luyện được hiểu là một tiến trình mà tình yêu của Thiên Chúa sẽ thay đổi tình trạng của các tín hữu đã qua đời từ tình trạng bất toàn sang tình trạng hoàn hảo, hầu chuẩn bị cho họ sớm được hưởng ánh sáng và bình an của Chúa Kitô. Chính trong quá trình này, họ cần đến lời cầu nguyện, những hy sinh và thánh lễ chúng ta cử hành. Bởi vậy, chúng ta nên xin lễ cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời.5
![]() |
2] Xin lễ cầu cho trẻ em đã qua đời?
Áp dụng vào trường hợp các thai nhi, hoàn toàn khác với những gì vừa kể trên, chúng ta không thể xin lễ cầu nguyện vì dù chết do sẩy thai hay phá thai, đây đều là những sinh linh hoàn toàn vô tội (tội riêng). Có tác giả suy đoán chủ quan cho rằng các thai nhi [trong trường hợp bị phá thai] cũng phạm tội vì “em có thể nhận biết rằng cha mẹ và những người khác đang muốn loại trừ em, tiêu diệt em và em bất lực trước hành động tàn ác của họ. Em đau buồn, sợ hãi và có thể oán hận họ”. Do đó cần xin lễ cầu nguyện. Thực chất, em chưa được sinh ra, lớn lên và đến tuổi khôn để có thể phạm tội riêng được. Kẻ có tội là những ai đã phá thai hay giúp người khác phá thai có kết quả.6 Bởi thế, chắc chắn thai nhi không thể ở nơi / tình trạng thanh luyện. Hậu nhiên, trong thánh lễ, đối tượng chúng ta cần cầu nguyện cho không phải là thai nhi mà là hai thành phần sau: 1] Cha mẹ, gia đình và những người thân yêu của thai nhi; 2] Những người trực tiếp phá thai hay những người cộng tác vào đó. Trong một thánh lễ, Đức Tổng Giám mục José H. Gomez nói rằng chúng ta vinh danh sự sống thai nhi bằng lời cầu nguyện của chúng ta để xin Chúa chữa lành và hoán cải tất cả những ai dính líu đến tội ác và thảm hoạ này: đó là những người cha và người mẹ trực tiếp liên quan đến phá thai; cùng tất cả những người chịu trách nhiệm cổ võ cho nền văn hóa phá thai.7
a.Trẻ em đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy
Đối với một đứa trẻ đã được rửa tội, vấn đề không cần phải bàn cãi. Bởi vì chắc chắn nếu chết đi, bé sẽ được lên thiên đàng: “Nhờ bí tích Thánh Tẩy, mọi tội lỗi đều được tha: nguyên tội, mọi tội riêng cũng như mọi hình phạt do tội (x. DS 1316). Những người đã được tái sinh sẽ được vào Nước Thiên Chúa và không còn gì ngăn cản họ, dù là tội Adam, tội riêng của họ, những hậu quả của tội, kể cả hậu quả trầm trọng nhất là xa lìa Thiên Chúa”.8 Thánh Tôma Aquinô quả quyết rằng: “Những ai chết ngay lập tức sau khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, họ sẽ được nhận vào vinh quang Thiên Chúa không trì hoãn”. Một đứa trẻ chưa tới tuổi khôn được coi là không thể phạm bất cứ tội lỗi cá nhân nào. Do đó, nếu được rửa tội và chết đi trước tuổi khôn, trẻ chắc chắn được đón nhận vào thiên đường ngay lập tức. Các bài lễ an táng của Giáo hội trong Sách lễ Rôma hiện nay (trang 1031-1033) cho thấy: Hội Thánh hoàn toàn không nhắm cầu nguyện cho đứa trẻ được rửa tội và đã qua đời, thay vào đó:
Thứ nhất, Giáo hội khẳng định rằng “đứa trẻ đang được ở trên trời” (Lời nguyện nhập lễ – mẫu A); “Chúa đã đưa cháu về trời sống với Chúa” (Lời nguyện nhập lễ – mẫu B); và “chính Chúa đã đón nhận cháu T. vào bàn tiệc thiên quốc” (Lời nguyện hiệp lễ – Mẫu B);
Thứ hai, Hội Thánh cầu xin Chúa “an ủi gia đình cháu T. trong những giờ phút đau thương này” (Lời nguyện hiệp lễ – mẫu A) và khuyến dụ họ “hằng tin tưởng vâng theo ý Chúa” (Lời nguyện tiến lễ – mẫu B) trước biến cố đứa trẻ được Chúa gọi về.
Hơn nữa, theo một truyền thống cổ xưa, Giáo hội luôn luôn sử dụng lễ phục màu trắng khi cử hành phụng vụ tang lễ những đứa trẻ đã được rửa tội nhằm ám chỉ rằng trẻ này như được liệt vào số những vị thánh. Bởi vậy, đối với những đứa trẻ đã thuộc về nước trời như thế, hoàn toàn không cần đến lời cầu nguyện của chúng ta nữa.
![]() |
b. Trường hợp các thai nhi
Tuy nhiên, đối với các trẻ em (thai nhi) chưa được rửa tội, sẽ không thoát khỏi hậu quả của tội nguyên tổ do Adam và Eva để lại (Tv 51, 5; Ga 3, 5).9 Bởi vậy, qua nhiều thế kỷ, dân chúng vẫn tự hỏi về số phận của trẻ em qua đời trước khi được lãnh nhận bí tích rửa tội. Kinh Thánh không minh nhiên phát biểu bé sẽ được vào thiên đàng. Nhưng Kinh Thánh lại nhấn mạnh đến lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa (Tv 136; 145, 8-9; Ep 2, 4-5); đề cập đến niềm tin của vua Đavit rằng ông sẽ được ở với đứa con thơ bé đã chết của mình lần nữa dù nó không về lại với ông (2Sm 12, 14-31); còn trong Tin Mừng, Chúa Giêsu ưu ái mời gọi tất cả trẻ em đến với Người (x. Mt 19, 14; Mc 10, 14; Lc 18, 16). Vì không dám quả quyết các trẻ em đã chết mà chưa được rửa tội thì thuộc về thiên đàng nhưng lại chắc chắn bé chẳng có tội tình [cá nhân] gì nghiêm trọng để ở nơi / tình trạng thanh luyện, cho nên một số thần học gia, kể cả thánh Tôma Aquinô, đã đưa ra lý thuyết về lâm bô như là một nơi chốn / tình trạng cho những trẻ em đó: nằm giữa vương quốc của Thiên Chúa và kiếp bị luận phạt (Denzinger-H, các số 184, 219; 780). Cần nhớ rằng dù đã được sử dụng nhiều thế kỷ trong Giáo hội, nhưng ý kiến thần học này chỉ là một suy đoán và giả thuyết thần học (theological hypothesis). Nó chưa bao giờ là chân lý đức tin được Hội Thánh xác nhận, nghĩa là chưa bao giờ thuộc về đạo lý chính thức của Hội Thánh. Hiện nay, giả thuyết này đã bị coi là không phù hợp vì theo Ủy ban Thần học Quốc tế, nó không có nền tảng rõ ràng trong mạc khải và phản ánh một “quan niệm hạn chế quá mức ơn cứu độ của Thiên Chúa”.10
Chúng ta tin từ đức tin của Hội Thánh, từ những thực hành và sinh hoạt phụng vụ của Hội Thánh như câu châm ngôn ngàn đời của Giáo hội “lex orandi, lex credendi – luật cầu nguyện là luật đức tin”. Thế mà, lâm bô chưa bao giờ được đề cập đến trong phụng vụ. Tiếp nữa, từ sau Công đồng Vatican II, trẻ em chết mà chưa được rửa tội không còn phải chôn cất bên ngoài đất thánh và có cả thánh lễ an táng dành cho trẻ nữa. Qua bài lễ an táng cho “Trẻ em chưa lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy” trong Sách lễ Rôma [hiện nay] (trang 1033-1034), chúng ta thấy rõ hai điều:
Thứ nhất, Hội Thánh tín thác chúng cho tình yêu và lòng thương xót của Chúa như sau:11 “Chúa biết rõ niềm tin của gia đình cháu T., xin cho họ cảm thấy con mình đã được Chúa nhân từ đón nhận” (Lời nguyện nhập lễ);
Thứ hai, Hội Thánh không cầu nguyện cho linh hồn của đứa trẻ, nhưng tập trung vào đối tượng là những người thân yêu của bé: “xin cho họ được trông cậy vững vàng sẽ được Chúa nhân từ nâng đỡ ủi an” (Lời nguyện nhập lễ); xin cho họ “hằng tin tưởng vâng theo thánh ý để được Chúa nhân từ nâng đỡ ủi an” (Lời nguyện tiến lễ); “xin Chúa thương chấp nhận lời chúng con tin tưởng nài van mà can ủi gia đình cháu T… trong những giờ phút đau thương này” (Lời nguyện hiệp lễ)
Như vậy, con trẻ chết trong tình trạng thai nhi vẫn có thể được cứu rỗi nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô. Máu của Người đã đổ ra một lần đủ để cứu chuộc tội lỗi của toàn thế giới (1Ga 2, 2).12 Bởi thế, chúng ta hy vọng rằng linh hồn của các trẻ em sẽ được ở cùng của Chúa khi sự sống của chúng bị cắt đứt bởi sự sẩy thai hay hành động phá thai. Nếu như chúng ta cử hành lễ kính các thánh anh hài (28/12) xét như là những vị tử đạo vì đức tin, mặc dầu các thánh anh hài chưa hề được rửa tội và cũng không biết Chúa Kitô, thì các thai nhi – nạn nhân của phá thai – có thể được coi là “những vị tử đạo trong thời hiện đại”, đã bị giết chết chỉ vì được Thiên Chúa tác tạo nên nhưng đã bị hủy diệt bởi bàn tay con người. Khi ngỏ lời với những phụ nữ trót phạm tội phá thai giết hại con mình, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã viết trong Thông điệp “Tin Mừng Sự sống” (Evangelium Vitae) thế này: “… Chị em biết rằng chẳng có chi là hư mất cả và chị em có thể xin lỗi đứa con của mình mà từ nay chúng đang được sống trong Thiên Chúa” (số 99).13
Kết luận
Như vậy, không cần phải lo cho phần rỗi của các thai nhi, nghĩa là không cần phải xin lễ để cầu cho trẻ vì xin lễ chỉ có giá trị tha thứ các hình phạt hữu hạn cho các linh hồn đang còn được thanh lọc nơi thanh luyện, chứ không có giá trị tha nguyên tội và các tội cá nhân cho người còn sống hay đã qua đời. Đối với các thai nhi mất đi thì đương nhiên không mắc những tội cá nhân. Còn về nguyên tội, dựa trên những nền tảng thần học và phụng vụ xác đáng, Hội Thánh vẫn không ngừng khuyến khích con cái mình hãy đặt niềm hy vọng vào Chúa: các thai nhi đã được Chúa nhân từ đón nhận và đang nằm trong vòng tay yêu thương của Thiên Chúa rồi.
Để kết thúc bài viết, xin trích lại lời dạy chính thức của Giáo hội: “Về phần các trẻ em chết mà chưa được rửa tội, Hội Thánh chỉ còn biết trao phó các em cho lòng thương xót của Thiên Chúa từ bi, như Hội Thánh đã làm trong nghi lễ an táng dành cho các em. Thực vậy, Thiên Chúa giàu lòng thương xót muốn mọi người được cứu rỗi (x. 1Tm 2,4) và Chúa Giêsu đã trìu mến các em nên đã nói: “Hãy để trẻ em đến cùng Ta, đừng ngăn cản chúng” (Mc 10,14). Vì thế, chúng ta hy vọng có một con đường cứu độ dành cho những trẻ em chết mà chưa được rửa tội”.14
Lm. Giuse Phạm Đình Ái, SSS
___________________________________________
1 Xc. Bộ Giáo lý Đức tin, Donum vitae, I, 1: AAS 80 (1988), 79; Dignitas Personae, 1 (08/09/ 2008).
2 Xc. The International Theological Commission, “The Hope of Salvation for Infants Who Die Without Being Baptised” (được ĐGH Bênêdictô XVI phê chuẩn ngày 19.1.2007), số 5.
3 Giáo lý Hội Thánh Công giáo (= GLCG), số 828.
4 GLCG 978-979; 1863.
5 GLCG 1030-1031; 958; 1371; 1689.
6 GLCG 1853-1876.
7 Tổng Giám mục José H. Gomez, “This Culture of Death Will One Day Pass Away” trích từ L’Osservatore Romano [bản tiếng Anh] (01/02/2012), tr. 15.
8 GLCG 978; 985; 1263; 1279.
9 GLCG 402-406;1250. 1257.
10 Xc. The International Theological Commission, “The Hope of Salvation for Infants Who Die Without Being Baptised”.
11 GLCG 1261.
12 Xc. The International Theological Commission, “The Hope of Salvation for Infants Who Die Without Being Baptised”, các số 88-95.
13 Gioan Phao lô II, Tông Thư Evangelium vitae (25/03/1995): AAS 87 (1995), 401-522.
14 GLCG 1261.




