Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Tác giả: Anmai

Home / Anmai
04Tháng Chín
2023

 Cơn khát nơi chúng ta và tình yêu làm dịu cơn khát

04/09/2023
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

 Cơn khát nơi chúng ta và tình yêu làm dịu cơn khát

 

Vào buổi chiều Chúa Nhật 3/9, lúc 4 giờ giờ địa phương, Đức Thánh Cha đã dâng Thánh Lễ Chúa Nhật thứ XXII thường niên với các tín hữu Mông Cổ và tín hữu hành hương từ nhiều nước khác, trong đó có nhiều tín hữu Việt Nam. 

cq5dam thumbnail cropped 500 281 2
TÔNG DU MÔNG CỔ
BÀI GIẢNG CỦA ĐỨC THÁNH CHA
Thánh lễ Chúa nhật 22 Thường Niên năm A
Steppe Arena, Ulaanbaatar, ngày 3 tháng 9 năm 2023
“Với những lời của Thánh Vịnh, chúng ta đã cầu nguyện: “Lạy Thiên Chúa,[…] Linh hồn con đã khát khao Ngài, tấm thân này mòn mỏi đợi trông, như mảnh đất hoang khô cằn, không giọt nước” (Tv 63:2). Lời kêu cầu tuyệt vời này đồng hành trên hành trình cuộc đời của chúng ta, giữa những sa mạc mà chúng ta được mời gọi băng qua. Và chính tại miền đất khô hạn này, Tin Mừng đã đến với chúng ta: chúng ta không đơn độc trên hành trình của mình; sự khô hạn của chúng ta không có khả năng làm cằn cỗi mãi mãi cuộc sống của chúng ta; tiếng kêu khát của chúng ta không cứ mãi bị làm ngơ. Thiên Chúa Cha đã sai Con của Người đến ban nước hằng sống để làm dịu tâm hồn chúng ta (x. Ga 4,10). Và Chúa Giêsu – như chúng ta vừa nghe Người trong Tin Mừng – chỉ cho chúng ta con đường làm dịu cơn khát của chúng ta: đó là con đường tình yêu, mà Người đã đi đến tận cùng, đến tận thập giá, và trên đó Người mời gọi chúng ta đi theo Người “liều mất mạng sống mình để có lại nó” mới (x. Mt 16:24-25).

Chúng ta hãy cùng nhau dừng lại ở hai khía cạnh này: cơn khát nơi chúng ta và tình yêu làm dịu cơn khát của chúng ta.

Trên hết, chúng ta được mời gọi nhận ra cơn khát nơi chúng ta. Tác giả Thánh vịnh kêu cầu Chúa giải thoát khỏi cơn khát vì sự sống của tác giả giống như sa mạc. Những lời của tác giả Thánh vịnh cộng hưởng cách đặc biệt ở một vùng đất như Mông Cổ: một lãnh thổ rộng lớn, giàu lịch sử và văn hóa, nhưng cũng được đánh dấu bởi sự hiu quạnh của thảo nguyên và khô hạn của sa mạc. Nhiều người trong số anh chị em đã quen với vẻ đẹp và sự mệt nhọc của việc bước đi, một hành động gợi lại một khía cạnh thiết yếu của linh đạo Kinh thánh, được thể hiện qua hình ảnh Abraham và, nói chung hơn, đặc trưng của dân Israel và của mọi môn đệ của Chúa: thật sự, tất cả chúng ta đều là những “kẻ du mục của Chúa”, những kẻ hành hương đi tìm hạnh phúc, những kẻ lữ hành khao khát tình yêu. Vì thế, sa mạc được tác giả Thánh vịnh nói đến gợi lên cuộc sống của chúng ta: chúng ta là mảnh đất khô hạn đó vốn đang khát dòng nước trong, một thứ nước làm dịu cơn khát ở tận cõi thâm sâu; chính con tim chúng ta mong muốn khám phá bí mật của niềm vui đích thực, bí mật có thể đồng hành và nâng đỡ chúng ta ngay cả giữa sự khô cằn hiện sinh. Đúng vậy, chúng ta mang trong mình một khao khát hạnh phúc không thể nguôi ngoai; chúng ta đang tìm kiếm ý nghĩa và phương hướng cho cuộc sống của mình, tìm kiếm động lực cho những hoạt động mà chúng ta thực hiện hàng ngày; và trên hết chúng ta khao khát tình yêu, bởi vì chỉ có tình yêu mới thực sự làm chúng ta thỏa mãn, làm cho chúng ta cảm thấy dễ chịu, mở ra cho chúng ta niềm tin, và cho phép chúng ta tận hưởng vẻ đẹp của cuộc sống. Anh chị em thân mến, đức tin Kitô giáo đáp lại cơn khát này; hãy suy xét nó cách nghiêm túc; đừng loại bỏ nó, đừng cố gắng xoa dịu nó bằng những hình thức giảm nhẹ hoặc thay thế. Bởi vì mầu nhiệm cao cả của chúng ta nằm ở niềm khao khát này: nó mở ra cho chúng ta một cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa hằng sống, Thiên Chúa Tình Yêu, Đấng đến gặp chúng ta để làm cho chúng ta thành con cái của Người và anh chị em của của nhau.

Giờ đây chúng ta đi đến khía cạnh thứ hai: tình yêu làm dịu cơn khát của chúng ta. Đây là nội dung của đức tin Kitô giáo: Thiên Chúa, Đấng là tình yêu, nơi Chúa Giêsu Con của Người, đã trở nên gần gũi bạn, muốn chia sẻ cuộc sống của bạn, những vất vả, những ước mơ, cơn khát hạnh phúc của bạn. Đúng là đôi khi chúng ta cảm thấy mình như một vùng đất sa mạc, khô không giọt nước, nhưng cũng đúng là Thiên Chúa chăm sóc chúng ta và ban cho chúng ta dòng nước trong lành và làm dịu cơn khát, dòng nước chảy tuôn tràn nơi chúng ta, đổi mới chúng ta, giải phóng chúng ta khỏi nguy cơ cháy khát. Chúa Giêsu ban cho chúng ta nước này, như Thánh Augustinô khẳng định: “nếu chúng ta nhận ra mình bị khát, thì chúng ta cũng sẽ nhận ra mình được giải khát” (về Tv 62, 3). Thật vậy, nếu rất nhiều lần trong đời chúng ta trải qua sa mạc, cô đơn, mệt mỏi, cằn cỗi, chúng ta không được quên điều này: “Để chúng ta không ngất xỉu trong sa mạc này – thánh Augustinô nói thêm – Thiên Chúa rảy trên chúng ta sương Lời Người [ … ]. Thật vậy, Người làm chúng ta cảm thấy khát nhưng sau đó Người lại làm dịu nó đi. […] Thiên Chúa đã thương xót chúng ta và mở đường cho chúng ta trong sa mạc: Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Và Người đã ban cho chúng ta niềm an ủi trong sa mạc: những người rao giảng Lời Người. Người đã ban cho chúng ta nước trong sa mạc, đổ đầy Thánh Thần trên những người rao giảng để tạo nên nơi họ một nguồn nước dâng lên đến sự sống đời đời” (ibid., 3.8). Anh chị em thân mến, những lời này nhắc lại lịch sử của anh chị em: nơi sa mạc cuộc sống và nơi khó khăn của một cộng đoàn nhỏ bé, Chúa không để anh chị em thiếu nước Lời Người, nhất là qua những người rao giảng và những nhà truyền giáo, những người được Chúa Thánh Thần xức dầu, những người gieo vẻ đẹp. Và Lời Chúa luôn đưa chúng ta trở lại với những điều thiết yếu của đức tin: hãy để cho mình được Thiên Chúa yêu thương hầu cho cuộc sống của chúng ta trở thành một lễ vật yêu thương. Bởi vì chỉ có tình yêu mới thực sự làm dịu cơn khát của chúng ta.

Đó là điều Chúa Giêsu, trong bài Tin Mừng hôm nay, đã mạnh mẽ nói với tông đồ Phêrô. Ông không chấp nhận sự thật rằng Chúa Giêsu phải chịu đau khổ, bị các nhà lãnh đạo dân chúng vu cáo, chịu khổ hình rồi chết trên thập giá. Phêrô phản ứng, phản kháng, ông muốn thuyết phục Chúa Giêsu rằng Người sai, bởi vì theo ông – và chúng ta cũng đã nghĩ như vậy – rằng Đấng Messia không thể có kết cục thất bại, và Người tuyệt đối không thể bị đóng đinh vào thập giá, như một tội phạm bị Thiên Chúa bỏ rơi. Nhưng Chúa đã khiển trách Phêrô, vì lối suy nghĩ này là “theo kiểu thế gian” chứ không theo Thiên Chúa (x. Mt 16:21-23). Nếu chúng ta cho rằng thành công, quyền lực, của cải vật chất là đủ để thỏa mãn cơn khát trong cuộc sống thì đây là não trạng thế gian, không dẫn đến điều gì tốt đẹp, trái lại còn khiến chúng ta khô cằn hơn trước. Ngược lại, Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta con đường: “Ai muốn đi theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất ; còn ai mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy” (Mt 16:24-25).
Anh chị em thân mến, con đường tốt nhất là: hãy ôm lấy Thánh giá của Chúa Kitô. Nơi tâm điểm Kitô giáo, có tin sốc và lạ thường này: khi bạn mất đi sự sống mình, khi bạn dâng hiến nó cách quảng đại, khi bạn mạo hiểm nó qua sự dấn thân trong tình yêu, khi bạn biến nó thành quà tặng miễn phí cho người khác, thì sự sống đó sẽ quay trở lại với bạn cách dồi dào, và nó mang lại cho bạn một niềm vui không mất, một sự bình an trong tâm hồn, một sức mạnh nội tâm nâng đỡ bạn.

Đây là sự thật mà Chúa Giêsu mời gọi chúng ta khám phá, mà Chúa Giêsu muốn mặc khải cho tất cả anh chị em, cho vùng đất Mông Cổ này: anh chị em không cần phải lớn lao, giàu có hay quyền lực mới có được hạnh phúc. Chỉ có tình yêu mới làm thoả cơn khát trái tim chúng ta, chỉ có tình yêu mới chữa lành vết thương của chúng ta, chỉ có tình yêu mới mang lại cho chúng ta niềm vui đích thực. Và đây là con đường Chúa Giêsu đã dạy và mở ra cho chúng ta.

Vậy chúng ta cũng hãy lắng nghe lời Chúa nói với Phêrô: “Hãy lui lại đàng sau Thầy” (Mt 16:23), nghĩa là: hãy trở thành môn đệ của Thầy, hãy bước đi trên con đường Thầy đi và đừng suy nghĩ theo kiểu thế gian nữa. Khi đó, với ân sủng của Chúa Kitô và Chúa Thánh Thần, chúng ta sẽ có thể bước đi trên con đường tình yêu. Thậm chí, yêu thương có nghĩa là từ bỏ chính mình, đấu tranh chống lại sự ích kỷ cá nhân và thế gian, chấp chận mạo hiểm để sống tình huynh đệ. Bởi vì nếu đúng là tất cả những điều này đều đòi hỏi phải trả giá bằng vất vả, hy sinh, và đôi khi phải leo lên thập giá, và càng đúng hơn khi chúng ta mất mạng sống vì Tin Mừng, thì Chúa lại ban cho chúng ta tràn đầy tình yêu và niềm vui một cách tràn đầy và mãi mãi.

Vào cuối Thánh Lễ, Đức Thánh Cha đã cảm ơn chính quyền và Giáo hội Mông Cổ, đặc biệt là những người đã chuẩn bị cho chuyến tông du được diễn ra tốt đẹp. Cuối cùng, Đức Thánh Cha nói: “Anh chị em ở trong trái tim tôi và anh chị em sẽ ở lại trong tim tôi mãi. Xin hãy nhớ đến tôi trong lời cầu nguyện và trong tâm tưởng của anh chị em.”

Kết thúc Thánh Lễ, Đức Thánh Cha trở lại Toà Sứ Thần để nghỉ đem, kết thúc ngày thứ 3 của chuyến tông du.

Nguồn tin: vaticannews.va/vi

Read More
04Tháng Chín
2023

Diễn văn của ĐTC trong buổi gặp các GM, LM, tu sĩ…

04/09/2023
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Diễn văn của ĐTC trong buổi gặp các GM, LM, tu sĩ…

 

Trong buổi gặp gỡ các giám mục, linh mục, tu sĩ, và các nhân viên mục vụ tại Nhà thờ Chính toà hai Thánh Phêrô và Phaolô, trích lời Thánh vịnh 34 “Hãy nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy”, Đức Thánh Cha khẳng định chính vì cảm nghiệm được tình yêu Chúa mà các nhà truyền giáo đã cống hiến cuộc đời loan báo Tin Mừng. Ngài mời gọi mọi người tiếp tục dấn thân, hiệp thông với giám mục và Giáo hội, và tin rằng Đức Mẹ luôn đồng hành.

dien van dtc gap gm linh muc

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Cám ơn Đức cha vì những lời tốt đẹp. Cám ơn sơ Salvia, cha Peter Sanjaa và Rufina vì những chứng từ của anh chị em. Cám ơn tất cả anh chị em vì sự hiện diện và đức tin của anh chị em! Tôi rất vui được gặp anh chị em. Niềm vui Tin Mừng là lý do thôi thúc anh chị em, những người nam nữ thánh hiến trong đời sống tu trì và thừa tác vụ linh mục hiện diện nơi đây, và cùng với anh chị em giáo dân hiến mình cho Chúa và cho người khác. Tôi chúc tụng Chúa vì điều đó. Tôi dâng lời chúc tụng qua lời nguyện ngợi khen tuyệt vời, Thánh vịnh 34, truyền cảm hứng cho tôi chia sẻ một số suy nghĩ với anh chị em. Thánh vịnh mời gọi: “Hãy nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy” (c. 9).

Hãy nghiệm xem, hãy nếm thử và hãy nhìn xem, bởi vì niềm vui và sự tốt lành của Chúa không phải là điều gì chóng qua, nhưng ở lại bên trong, mang lại hương vị cho cuộc sống và làm cho chúng ta nhìn mọi thứ theo một cách mới; như Rufina đã nói với chúng ta qua chứng tá tốt đẹp. Vì thế, tôi muốn hưởng nếm hương vị đức tin ở mảnh đất này bằng cách trước hết gợi lên trong tâm trí hết mọi khuôn mặt, những câu chuyện và cuộc đời dành cho Tin Mừng. Dành cuộc đời mình cho Tin Mừng. Đó là một cách hay để xác định ơn gọi truyền giáo của các Kitô hữu, và đặc biệt ơn gọi đó đang được các Kitô hữu ở đây sống như thế nào.

Tôi bắt đầu bằng việc tưởng nhớ đến Đức cha Wenceslao Selga Padilla, Phủ doãn Tông tòa đầu tiên, người tiên phong trong lịch sử đương đại của Giáo hội ở Mông Cổ và là người đã xây dựng Nhà thờ Chính Tòa này. Tuy nhiên, ở vùng đất này, đức tin không chỉ có từ những năm 90 của thế kỷ trước, nhưng đã có nguồn gốc rất xa xưa. Những kinh nghiệm của thiên niên kỷ thứ nhất, được đánh dấu bằng phong trào loan báo Tin Mừng theo truyền thống Syriac lan rộng dọc theo con đường tơ lụa, được theo sau bởi một sự dấn thân truyền giáo đáng kể. Làm sao chúng ta có thể quên được các sứ mạng ngoại giao của thế kỷ XIII, cũng như việc chăm sóc tông toà được thể hiện bởi việc bổ nhiệm Đức cha Giovanni da Montecorvino làm Giám mục đầu tiên của Khān Bālīq vào khoảng năm 1310, và do đó ngài chịu trách nhiệm coi sóc toàn bộ khu vực rộng lớn này trên thế giới dưới triều đại Nguyên Mông? Chính ngài là người đã cung cấp bản dịch tiếng Mông Cổ đầu tiên của sách Thánh Vịnh và Tân Ước. Câu chuyện vĩ đại về niềm say mê Tin Mừng này đã được hồi sinh một cách đặc biệt vào năm 1992 với sự xuất hiện của các nhà truyền giáo đầu tiên của Hội dòng Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria, cùng với sự tham gia của các hội dòng khác, các giáo sĩ và giáo dân tình nguyện. Trong số đó tôi muốn nhắc đến cha Stephano Kim Seong-hyeon năng động và nhiệt thành. Và chúng ta hãy nhớ đến nhiều tôi tớ trung thành của Tin Mừng ở Mông Cổ hiện đang ở đây với chúng ta và là những người, sau khi cống hiến cả cuộc đời cho Chúa Kitô, đã thấy và nếm trải những điều kỳ diệu mà lòng nhân lành của Chúa tiếp tục hành động nơi anh chị em và qua anh chị em.

Nhưng tại sao lại dành cuộc đời cho Tin Mừng? Như Rufina đã nói, đời sống Kitô hữu không ngừng đặt ra những câu hỏi, như các trẻ em luôn đòi hỏi những điều mới mẻ. Và đời sống Kitô hữu đến gần Chúa và luôn đặt câu hỏi, để hiểu Chúa và  sứ điệp của Người hơn. Hãy cống hiến cuộc đời cho Tin Mừng (Tv 34). Thiên Chúa, Đấng đã tỏ mình ra, có thể chạm đến, gặp gỡ trong Chúa Giêsu. Vâng, Chúa Giêsu là Tin Mừng dành cho mọi dân tộc, lời loan báo mà Giáo hội không ngừng công bố, thể hiện trong cuộc sống và nói thỏ thẻ vào tâm hồn mọi người và mọi văn hóa. Trải nghiệm tình yêu Thiên Chúa nơi Chúa Kitô là ánh sáng thuần khiết biến đổi khuôn mặt và làm cho nó sáng ngời. Anh chị em thân mến, đời sống Kitô hữu nảy sinh từ việc chiêm ngưỡng dung nhan này, đó là vấn đề tình yêu, gặp gỡ hàng ngày với Chúa trong Lời và trong Bánh sự sống, và trong khuôn mặt người khác, nơi những người nghèo khổ, nơi họ Chúa Giêsu hiện diện.

Trong 31 năm hiện diện ở Mông Cổ này, anh chị em, linh mục, tu sĩ nam nữ và các nhân viên mục vụ rất thân mến, anh chị em đã thực hiện nhiều sáng kiến ​​bác ái đa dạng, thu hút phần lớn năng lượng của anh chị em và phản ánh khuôn mặt thương xót của Chúa Kitô, Người Samari nhân hậu. Theo một cách nào đó, đây là tấm danh thiếp của anh chị em, làm cho anh chị em được tôn trọng và quý mến vì những lợi ích đã mang lại cho nhiều người trong nhiều lĩnh vực khác nhau: từ hỗ trợ xã hội đến giáo dục, chăm sóc sức khỏe và quảng bá văn hóa. Tôi khuyến khích anh chị em tiếp tục con đường hiệu quả và thiện ích này cho người dân Mông Cổ thân yêu.

Đồng thời, tôi mời gọi anh chị em nếm thử và nhìn xem Thiên Chúa, hãy luôn quay trở lại với cái nhìn nguyên thủy mà từ đó mọi sự đã được sinh ra. Thực vậy, nếu không, sức mạnh của chúng ta sẽ thất bại và dấn thân mục vụ có nguy cơ trở thành việc cung cấp các dịch vụ vô ích, một danh sách các nhiệm vụ nhưng cuối cùng chỉ mang lại sự mệt mỏi và thất vọng. Thay vào đó, bằng cách tiếp xúc với khuôn mặt Chúa Kitô, tìm hiểu Người trong Kinh Thánh và chiêm ngưỡng Người trong sự thinh lặng tôn thờ trước Nhà tạm, anh chị em sẽ nhận ra Người trên khuôn mặt của những người mình phục vụ và anh chị em sẽ cảm thấy được đánh động bởi một niềm vui sâu sắc, niềm vui đó để lại bình an trong tâm hồn ngay cả trong lúc khó khăn. Điều chúng ta cần, không phải những người bận bịu và phân tâm để lo cho các dự án, đôi khi có nguy cơ tỏ ra chán nản bực bội vì một cuộc sống chắc chắn không hề dễ dàng. Kitô hữu là người có khả năng tôn thờ, tôn thờ trong thinh lặng. Và sau đó, từ sự thờ phượng này đưa đến hoạt động. Nhưng đừng quên việc tôn thờ. Chúng ta đã phần nào đánh mất cảm thức tôn thờ trong thế kỷ thực dụng này. Đừng quên tôn thờ. Chúng ta cần trở về nguồn, về với dung nhan Chúa Giêsu, về với sự hiện diện của Người để được hưởng nếm: Người là kho báu của chúng ta (Mt 13,44), viên ngọc quý đáng phải tiêu tốn mọi thứ để có được (Mt 13,45). Những anh chị em Mông Cổ, những người có ý thức rõ ràng về sự thánh liêng và, – như là sự điển hình của lục địa châu Á – một lịch sử tôn giáo rộng lớn và nề nếp, đang chờ đợi chứng từ này của anh chị em và họ biết cách nhận ra tính chân thực của những chứng từ này. Đó là một chứng tá mà anh chị em phải đưa ra, bởi vì Tin Mừng không phát triển qua việc chiêu dụ, Tin Mừng phát triển qua chứng tá.

Khi sai các môn đệ vào thế giới, Chúa Giêsu đã không sai họ đi truyền bá tư tưởng chính trị, nhưng làm chứng bằng cuộc sống của họ cho sự mới mẻ của mối tương quan với Chúa Cha, Đấng đã trở thành “Cha của chúng ta” (Ga 20,17), là nguồn của tình huynh đệ cụ thể với mọi người. Giáo hội ra đời từ lệnh truyền này là một Giáo hội nghèo, chỉ dựa vào đức tin đích thực, vào quyền năng loại trừ vũ khí của Đấng Phục Sinh, có khả năng xoa dịu nỗi đau khổ của nhân loại bị tổn thương. Đây là lý do vì sao các chính phủ và các tổ chức thế tục không có gì phải lo sợ trước hoạt động loan báo Tin Mừng của Giáo hội, bởi vì Giáo hội không có một chương trình nghị sự chính trị nào để theo đuổi, nhưng chỉ biết đến sức mạnh khiêm tốn của ân sủng Thiên Chúa và Lời của lòng thương xót và sự thật, có khả năng thúc đẩy điều tốt đẹp cho mọi người.

Để hoàn thành sứ vụ này, Chúa Kitô đã ban cho Giáo hội của Người một cơ cấu gợi lại sự hòa hợp tồn tại giữa các chi thể khác nhau của thân thể con người: Người là Đầu, tức là Đấng tiếp tục hướng dẫn Giáo hội, tuôn đổ vào Thân thể, tức là trong chúng ta, cùng một Thánh Thần của Người, hoạt động trước hết trong những dấu hiệu của sự sống mới là các Bí tích. Để bảo đảm tính chân thực và hiệu quả của Giáo hội, Người đã thiết lập chức tư tế, được đánh dấu bằng sự kết hợp mật thiết với Người, vị Mục Tử nhân lành, Đấng đã hy sinh mạng sống vì đoàn chiên. Cả cha Phêrô nữa, cha cũng đã được kêu gọi thực hiện sứ vụ này, cám ơn cha đã chia sẻ kinh nghiệm này. Như vậy, dân thánh Chúa ở Mông Cổ cũng được hưởng đầy đủ các ân sủng thiêng liêng. Và trong quan điểm này, tôi mời gọi anh chị em hãy nhìn nơi vị Giám mục không phải là một người quản lý, nhưng là hình ảnh sống động của Chúa Kitô Mục Tử Nhân Lành, Đấng quy tụ và hướng dẫn dân Người; một người môn đệ tràn đầy đặc sủng tông đồ để xây dựng tình huynh đệ của anh chị em trong Chúa Kitô và luôn đâm rễ sâu hơn nữa vào quốc gia có bản sắc văn hóa cao quý này. Do đó, việc Giám mục của anh chị em là Hồng Y có nghĩa là một biểu hiện sâu sắc hơn của sự gần gũi: tất cả anh chị em, chỉ xa cách về mặt thể lý, nhưng rất gần gũi với trái tim của Thánh Phêrô và toàn thể Giáo hội Công giáo gần gũi với anh chị em, với cộng đoàn anh chị em, vốn là Công giáo thực sự, nghĩa là phổ quát và thu hút sự đồng cảm của tất cả anh chị em rải rác khắp thế giới hướng về Mông Cổ, trong sự hiệp thông lớn lao của Giáo hội.

Tôi nhấn mạnh cụm từ này: hiệp thông. Giáo hội không được hiểu dựa trên một tiêu chuẩn thuần túy chức năng. Giáo hội là sự hiệp thông. Cụm từ “hiệp thông” giải thích cho chúng ta rõ ràng Giáo hội là gì. Trong thân mình Giáo hội này Giám mục không phải là người điều khiển các thành phần khác nhau, thậm chí có thể dựa trên nguyên tắc đa số, nhưng dựa trên một nguyên tắc thiêng liêng, qua đó chính Chúa Giêsu hiện diện nơi con người của Giám Mục, bảo đảm sự hiệp thông trong Nhiệm Thể của Người. Nói cách khác, sự hiệp nhất trong Giáo hội không phải là vấn đề trật tự và tôn trọng, cũng không phải là một chiến lược tốt để “làm việc nhóm”; đó là vấn đề đức tin và tình yêu đối với Chúa, là lòng trung thành với Người. Do đó, điều quan trọng là tất cả các thành phần trong Giáo hội phải hiệp nhất xung quanh Giám mục, người đại diện Chúa Kitô hằng sống ở giữa dân Người, bằng cách xây dựng sự hiệp thông vốn đã được loan báo và giúp ích rất nhiều cho việc hội nhập đức tin.

Các nhà Truyền giáo thân mến, hãy nếm thử và nhìn xem món quà là chính anh chị em, vẻ đẹp của việc hiến thân hoàn toàn cho Chúa Kitô, Đấng đã kêu gọi anh chị em làm chứng cho tình yêu Người ngay tại Mông Cổ này. Hãy tiếp tục làm như vậy bằng cách vun trồng sự hiệp thông. Hãy thực hiện nó trong sự đơn sơ của một cuộc sống thanh đạm, noi gương Chúa, Đấng đã vào Giêrusalem trên lưng lừa và thậm chí còn bị lột trần trên Thánh giá. Hãy luôn gần gũi với mọi người, đó là thái độ của Thiên Chúa: Thiên Chúa gần gũi, nhân hậu và dịu dàng. Anh chị em hãy sống như vậy với mọi người, quan tâm đến họ, học ngôn ngữ của họ, tôn trọng và yêu mến nền văn hóa của họ, không để mình bị cám dỗ bởi sự an toàn trần thế, nhưng kiên vững với Tin Mừng qua một gương mẫu chính trực về đời sống thiêng liêng và luân lý. Và đó là sự đơn sơ và gần gũi, không mệt mỏi mang đến cho Chúa Giêsu những khuôn mặt và những câu chuyện mà anh chị em gặp, những vấn đề và mối quan tâm, khi dành thời gian cầu nguyện hàng ngày để giúp anh chị em đứng vững trong công việc phục vụ và kín múc từ “Thiên Chúa của mọi niềm an ủi” ( 2Cr 1, 3), niềm hy vọng mang lấy những người khổ đau vào trong trái tim mình.

Thật vậy, gần gũi với Chúa, một niềm xác tín được củng cố trong chúng ta, như Thánh vịnh 34 luôn tỏ cho chúng ta: “Ai kính sợ Ngài chẳng thiếu thốn chi. […] Ai tìm kiếm Chúa chẳng thiếu thốn gì” (c. 10-11). Tất nhiên, những sự mất cân bằng và mâu thuẫn trong cuộc sống cũng liên hệ đến các tín hữu, và những người rao giảng Tin Mừng không thoát khỏi gánh nặng bất an vốn thuộc về thân phận con người. Tác giả Thánh Vịnh không ngại nói về sự ác và những kẻ làm điều ác, nhưng nhắc nhớ rằng, trước tiếng kêu của những người khiêm nhường, Thiên Chúa “giải thoát họ khỏi mọi cơn nguy khốn”, bởi vì “Người ở gần những tấm lòng tan vỡ” và “cứu những tâm hồn thất vọng ê chề” (c. 18-19). Vì lý do này, Giáo hội thể hiện mình trước thế giới như một tiếng nói liên đới với tất cả những người nghèo khổ và thiếu thốn, không im lặng trước những bất công và với sự hiền lành, dấn thân thăng tiến phẩm giá của mỗi người.

Anh chị em rất thân mến, trong hành trình môn đệ truyền giáo này, anh chị em có một sự hỗ trợ vững chắc: Mẹ Thiên quốc của chúng ta – và tối rất thích khám phá điều này – mong muốn mang đến cho anh chị em một dấu hiệu hữu hình về sự diện diện kín đáo và ân cần của Mẹ, bằng cách để ảnh tượng của mình được tìm thấy ở một bãi rác. Trong đống rác, bức tượng Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội xinh đẹp xuất hiện. Mẹ không tì vết, không tội lỗi muốn đến gần chúng ta đến mức đi xuống tận cặn bã của xã hội, để từ đống rác rưởi bẩn thỉu mà sự thanh khiết của Mẹ Thiên Chúa thánh thiện có thể tỏa sáng. Tôi cũng được biết về truyền thống thú vị của người Mông Cổ về suun dalai ijii, người mẹ có trái tim rộng lớn như đại dương sữa. Nếu trong chuyện kể Lịch sử huyền bí của người Mông Cổ, việc mang thai của nữ hoàng huyền thoại Alungoo là ánh sáng xuyên qua từ lỗ trên của ger, thì anh chị em có thể chiêm ngưỡng nơi Đức Trinh Nữ Maria ánh sáng từ mẫu từ trên cao đồng hành mỗi ngày với những bước đi của Giáo hội anh chị em.

Vì thế, khi ngước mắt nhìn lên Đức Maria, anh chị em có thể tìm được sự bình yên, khi thấy rằng sự nhỏ bé không phải là một vấn đề mà là một tài nguyên. Đúng vậy, Thiên Chúa yêu thích sự nhỏ bé và ưu thích thực hiện những điều vĩ đại qua sự nhỏ bé, như Đức Maria đã làm chứng (Lc 1, 48-49). Anh chị em thân mến, đừng lo lắng về những con số nhỏ bé, những thành công muộn màng, những điều to lớn không xuất hiện. Đây không phải là đường lối của Thiên Chúa. Chúng ta hãy nhìn lên Đức Maria, Đấng cao cả hơn cả trời trong sự bé nhỏ của mình, vì Mẹ đã đón nhận nơi mình Đấng mà các tầng trời không thể chứa được (1V 8,27). Chúng ta hãy phó mình cho Mẹ, cầu xin Mẹ một lòng nhiệt thành mới, một tình yêu nồng nàn không bao giờ mệt mỏi làm chứng cho Tin Mừng với niềm vui. Hãy tiếp tục, can đảm, không mệt mỏi tiến bước. Cám ơn vì chứng tá của anh chị em. Thiên Chúa, Đấng đã chọn và tin tưởng anh chị em; tôi ở với anh chị em và với tất cả tâm hồn tôi nói với anh chị em: cám ơn vì chứng tá của anh chị em, cám ơn vì cuộc đời anh chị em đã dành cho Tin Mừng. Hãy tiếp tục như thế, kiên trì cầu nguyện và sáng tạo trong bác ái, kiên trì hiệp thông, vui tươi và hiền lành trong mọi sự và với mọi người. Tôi chúc lành và nhớ đến anh chị em. Và xin anh chị em đừng quên cầu nguyện cho tôi. Cám ơn anh chị em!

Nguồn tin: vaticannews.va/vi

Read More
02Tháng Chín
2023

5 lời khuyên dành cho các cặp đã đính hôn

02/09/2023
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

5 lời khuyên dành cho các cặp đã đính hôn

Đính hôn là giai đoạn quan trọng để chuẩn bị cho đời sống hôn nhân.
Dưới đây là một số lời khuyên để đảm bảo thời gian đính hôn của bạn được may lành và tươi đẹp.
1. CÙNG NHAU CẦU NGUYỆN
Điều này nghe có vẻ kỳ lạ, nhưng những cặp vợ chồng biết vun trồng mối quan hệ với Thiên Chúa được đảm bảo rằng lời cầu nguyện của họ sẽ làm hài lòng Chúa và Ngài sẽ lắng nghe họ, bởi vì “ở đâu có hai hoặc ba người tụ họp nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đó, giữa họ” (Mt 18,20)
2. NÓI VỀ CÁC CHỦ ĐỀ QUAN TRỌNG
Chúng ta chỉ có thể hiểu biết về mọi người qua việc giao tiếp cởi mở và những câu hỏi quan trọng đối với cuộc sống của chúng ta, chẳng hạn như những ước mơ, mục tiêu, quan điểm về tôn giáo, tài chính, con cái, sự trung thực, những điều họ không thích nơi người bạn đời và điều gì có thể dẫn đến các vấn đề trong cuộc sống tương lai. Đây là cách duy nhất để tránh những bất ngờ đáng tiếc xảy ra.
 
3. TÔN TRỌNG NHAU
Điểm này cực kỳ quan trọng. Khi cả hai bắt đầu nói chuyện thiếu tôn trọng nhau thì mối quan hệ của họ bắt đầu rạn nứt. Có những giới hạn không được vượt qua, đó là điều đặc biệt quan trọng.
Hơn nữa, đừng đặt ra những biệt danh gây xúc phạm nhau. Sẽ tốt hơn nhiều nếu hai người bạn đời gọi nhau bằng tên thật, vì cha mẹ của họ rất có thể đã cân nhắc lựa chọn cái tên cho họ.
4. GIỮ KHIẾT TỊNH
Tình dục trước hôn nhân làm giảm giá trị tình yêu; chúng chỉ dẫn đến sự bóc lột lẫn nhau để thỏa mãn nhu cầu, điều này sẽ khiến bạn rơi vào khoảng trống tinh thần to lớn.
Mặt khác, khi bạn kết hôn, tất cả sự dịu dàng bạn chia sẻ sẽ làm đẹp lòng Chúa và Ngài sẽ giúp bạn đạt được sự cứu rỗi, như vậy “bạn không còn là hai nữa, mà là một xương một thịt” ( Mt 19,6 ).
5. CHĂM SÓC TÌNH BẠN
Đính hôn không có nghĩa là chỉ dành thời gian cho nửa kia của bạn. Ngược lại, mối quan hệ của bạn sẽ giúp bạn phát triển như một con người và mở rộng tầm nhìn của mình ngay cả với sự giúp đỡ của bạn bè.
Hãy tìm những người thực sự hạnh phúc khi ở với bạn và tránh những người nói xấu người bạn đời của mình hoặc bóng gió về những tình huống có thể gây nguy hiểm cho mối quan hệ và tình bạn của bạn với Chúa. Chúng ta có thể rơi vào tình trạng bạn bè tồi ở mọi lứa tuổi.
G. Võ Tá Hoàng
Nguồn: 5 nasvetov za vse zaročence
Read More
02Tháng Chín
2023

Tìm hiểu Cựu Ước

02/09/2023
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Tìm hiểu Cựu Ước

 1. Danh từ Thiên Chúa có nghĩa là gì ?

  • Thiên : trời, Chúa: chủ.

–          Thiên Chúa: Đấng làm chủ trời đất này.

2.     Danh từ  Kinh Thánh có nghĩa là gì ?

  • Kinh: sách; thánh: thuộc về Thiên Chúa.

–          Kinh Thánh có nghĩa là cuốn sách ghi Lời của Thiên Chúa.

3.     Danh từ mạc khải hay mặc khải có nghĩa là gì ?

  • Mạc: màn
  • Mặc: kín nhiệm
  • Khải: mở

–          Mạc Khải hay Mặc Khải: Thiên Chúa vén màn hé mở cho ta được biết các mầu nhiệm của Ngài.

4.     Lịch sử Cựu Ước diễn ra trong vùng đất nào ?

Lịch sử Cựu Ước diễn ra trong vùng tiếp cận giữa Châu Á, Châu Âu và Châu Phi, ngày nay quen gọi là Trung Đông hay Cận Đông.

Ở phía tây của vùng Trung Đông là Ai Cập. Ở phía đông là miền Lưỡng Hà. Gọi là “Lưỡng Hà” vì có hai con sông lớn là Ti-gơ-ra và Êu-phơ-rát.

5.     Nơi các chi tộc Israel sinh sống trong thời Cựu Ước có tên là gì ?

Xứ Palestine là nơi các chi tộc Israel sinh sống trong thời Cựu Ước, nằm ở phía nam của vùng bờ biển Phê-ni-ki nối liền Ai Cập và miền Lưỡng Hà.

6.     Bạn cho biết tổng quát về xứ Palestine ?

Xứ Palestine có chiều dài 240km, chiều rộng từ 40 đến 150km, diện tích chừng 25.000km2; phía bắc là núi Li băng; phía đông và nam giáp sa mạc, phía tây giáp Địa Trung Hải.

7.     Xứ Palestine có mấy miền chính ?

Từ tây sang đông có 4 miền chính:

Miền duyên hải.

‚Miền núi.

ƒMiền thung lũng sông Gio-đan.

„Miền cao nguyên phía đông sông Gio-đan, xưa có rừng rậm và đồng cỏ.

8.     Nơi ở chính của dân Israel xưa là miền nào ?

Nơi ở chính của dân Israel xưa là Miền núi: cao trung bình 500m-900m.

9.     Từ bắc xuống nam, Miền Núi chia thành mấy phần ?

Từ bắc xuống nam, Miền Núi chia thành ba phần:

–      Xứ Ga-li-lê: có Na-za-rét, núi Tabo.

–      Xứ Sa-ma-ri: Có hai ngọn núi cao nhất là Gơ-ri-dim (881m) và Ê-ban (940m), giữa hai ngọn là thung lũng Si-khem.

–      Xứ Giu-đa: có núi Ô-liu (814m) ở phía đông thành Giêrusalem (750m); về phía nam có Bê-lem và Khép-rôn.

10. Sông Giođan chảy qua những vùng nào ?

Sông này bắt nguồn từ sườn phía nam núi Li-băng, rồi chảy vào hồ Ti-bê-ri-a (cũng gọi là hồ Ghê-nê-xa-nét hay Biển Ga-li-lê). Ra khỏi hồ Ti-bê-ri-a, sông Gio-đan chảy qua một thung lũng sâu (trong thung lũng này có Giê-ri-khô, một thành cổ bậc nhất thế giới) rồi đổ vào Biển Chết.

11. Vì sao có tên gọi Biển Chết ?

Vì tại đây nuớc có muối và khoáng chất đậm đặc gấp 6 lần nước biển thường, không có sinh vật nào sống được, do đó mà gọi là Biển Chết.

12. Căn bản nền kinh tế của Dân Do Thái là gì ?

Nền kinh tế căn bản là nông nghiệp (lúa mì, nho, ô-liu, vả) và chăn nuôi (cừu, dê, bò , lừa).

13. Dân Do Thái thời Cựu Ước có dân số là bao nhiêu?

Dân số thời thịnh nhất (thế kỷ 8 tcn) ước chừng một triệu. Riêng tại Giêrusalem có khoảng 30.000 dân.

14. Ơn linh hứng là gì ?

  • Linh: thuộc về Thánh Thần
  • Hứng: được cảm xúc đánh động.

–          Linh Hứng: Ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần ban cho những người viết ra Kinh Thánh.

Những vị viết Kinh Thánh đã được  Chúa Thánh Thần soi sáng hướng dẫn để biết cách dùng tài năng riêng mà viết những điều Thiên Chúa muốn và chỉ viết những điều Thiên Chúa muốn. Nhờ đó, Kinh Thánh chứa đựng sự thật cứu độ, dạy ta những gì cần biết để sống đầy đủ ý nghĩa làm người và đạt tới hạnh phúc tuyệt đối.

15. Ta trưng dẫn Kinh Thánh bằng cách nào ?

Khi trưng dẫn Kinh Thánh, ta nêu số chương (cũng gọi là đoạn) và số câu.

16. Danh từ ngôn sứ có nghĩa là gì ?

  • Ngôn : Lời nói.
  • Sứ: người được sai đến.

v      Ngôn Sứ: người được Thiên Chúa sai đến để nói lời của Ngài.

17. Danh từ sáng tạo có nghĩa là gì ?

  • Sáng : bắt đầu, dựng lên;
  • Tạo : dựng ra lần đầu.

v       Sáng tạo : do không mà làm ra có.

18. Thế kỷ và kỷ nguyên là gì ?

  • Thế kỷ : 100 năm
  • Kỷ nguyên : 1.000 năm.

19. Công nguyên là gì ?

  • Công nguyên : Cái mốc chung, cả thế giới ngày nay hiện dùng để tính năm, đánh dấu từ việc Chúa Giêsu giáng sinh.

20. Bản dịch bảy mươi là bản dịch nào ?

Là bản dịch Kinh Thánh đầu tiên từ tiếng Híp-ri sang tiếng Hy Lạp, công việc kéo dài 100 năm (250 -150 trước công nguyên) do 70 người thực hiện.

21. Bản dịch phổ thông là bản dịch nào ?

Là bản dịch Kinh Thánh sang tiếng La Tinh nhằm phổ biến rộng trong Hội Thánh Công Giáo, do thánh Giê-rô-ni-mô (347-419) thực hiện.

22. Sách Sáng Thế có bao nhiêu chương ?

Sách Sáng Thế gồm 50 chương, chia làm 2 phần không đều nhau: 1-11 và 12-50.

23. 11 chương đầu của sách Sáng Thế muốn nói gì ?

11 chương đầu trình bày về những nguồn gốc khởi đầu (nên gọi là Khởi nguyên). Có thể coi đây là phần nhập đề dẫn vào lịch sử  cứu chuộc sẽ được kể trong toàn bộ Kinh Thánh. Lịch sử  ấy lên đến tận nguồn gốc vũ trụ và bao gồm toàn thể loài người.

Nội dung 11 chương đầu sách sáng thế kể lại việc tạo dựng vũ trụ và con người, sự sa ngã buổi đầu với những hậu quả của nó, cuối cùng đặt trọng tâm nơi Abraham, là cha của dân tộc được tuyển chọn.

24. Tổ phụ Abraham có gì đặc biệt ?

Abraham là người của lòng tin, của vâng phục. Thiên Chúa hứa ban cho cụ một dòng dõi đông đảo và cho con cháu cụ một lãnh thổ.

25. Tổ phụ Giacóp có gì đặc biệt ?

Ông Gia-cóp là con của ông Isaac, cháu của ông Abraham. Ông Giacóp là một người mánh lới, qua mặt cả cha, anh và cậu. Không phải vì sự khôn lanh ấy mà ông được lưu danh đến nay, nhưng chỉ vì ông đã được Thiên Chúa thương từ trước và Ngài đã lặp lại với ông lời hứa giao ước đã ban cho Abraham.

26. Tổ phụ Giuse là ai ?

Ông Giuse là một trong mười hai người con của Giacóp, được đầy khôn ngoan và là nhân vật chính của hơn 10 chương ở phần cuối của sách Sáng Thế.

27. Cuộc đời ông Giuse để lại bài học nào ?

Bài học đạo đức được rút ra là: Người khôn ngoan nhân đức sẽ được trọng thưởng và Thiên Chúa quan phòng sẽ có thể biến cả những lỗi lầm của người đời thành điều hay, điều tốt.

28. Thủ Bản Kinh Thánh Biển Chết là gì ?

Người Do Thái xưa chép Kinh Thánh trên những cuộn giấy da. Họ sao chép từng bản, hết sức tỉ mỉ, không để sai chạy một nét nào. Vào năm 1947, tại Qumran (Cum-ran) gần Biển Chết, giữa tàn tích của một tu viện Ét-xê-nô, người ta tìm thấy một thư viện chôn giấu từ thế kỷ I sau công nguyên. Trong đó, có những miếng da sao chép Kinh Thánh của tất cả các sách trong bộ Cựu Ước (trừ  Ét-te). Lắm bản còn nguyên vẹn. Sách I-sai-a đầy đủ từ đầu đến cuối. Những tài liệu này có từ thế kỷ 2 hoặc 1 trước công nguyên, nhưng đem đối chiếu các bản văn tiếng Híp-ri thế kỷ 9, ta thấy một sự trùng khít đáng kinh ngạc.

29. Sabát hay Hưu Lễ có nghĩa là gì ?

Sa-bát nghĩa là nghỉ ngơi; Hưu cũng là nghỉ ngơi.

Ngày Sa-bát hay Hưu lễ là ngày nghỉ hằng tuần của người Do Thái, nhằm vào ngày thứ bảy của ta.

30. Tên 12 chi tộc Israel là gì ?

Các chi tộc Israel mang tên 12 người con của ông Giacóp (Giacóp được Thiên Chúa đổi tên thành Israel)

ü      Các con của bà Lê-a: Ru-ben, Si-mê-on, Lê-vi, Giu-đa, I-xa-kha, Dơ-vu-lon.

ü      Các con của bà Bin-ha: Đan, Náp-ta-li.

ü      Các con của bà Din-pa: Gát, A-se.

ü      Các con của bà Ra-khen: Giu-se và Ben-gia-min.

Giu-se có hai người con sẽ được hưởng danh dự ngang với các chú bác : Ép-ra-im và Mơ-na-sê.

31. Nội dung Sách Xuất Hành là gì ?

Sách Xuất hành bàn tới hai vấn đề chính: việc giải phóng khỏi Ai Cập (chương 1 đến chương 15, 21) và giao ước tại Xi-nai (chương 19-40). Hai đề tài ấy được nối với nhau bằng một đề tài phụ: cuộc hành trình trong sa mạc (15,22-18,27).

32. Nội dung Sách Lêvi là gì ?

Sách này quy định các nghi thức phụng vụ: các lễ tế, việc phong chức tư tế, những luật về sự thanh sạch và uế tạp …

33. Nội dung Sách Dân Số là gì ?

Sách này thuật tiếp cuộc hành trình trong sa mạc: sau giao ước Xi-nai, người ta kiểm tra dân số để chuẩn bị lên đường. Sau khi cử hành lễ Vượt Qua lần thứ hai, họ rời Núi Thánh, và đi từng chặng tới Ca-đét. Họ cố tiến vào đất Ca-na-an bằng phía nam, nhưng thất bại.

Sau ít lâu, họ chuyển hướng đi về vùng Mô-áp, đối diện với Giê-ri-khô. Họ chiến thắng dân Ma-đi-an, chiếm lấy vùng bên kia sông Gio-đan để chia cho các chi tộc Gát, Ruben và một nửa chi tộc Mơnasê.

34. Nội dung Sách Đệ Nhị Luật là gì ?

Đây là bản luật thứ hai, hay Thứ Luật, gồm cả luật dân sự và luật tôn giáo. Sách này lấy lại một phần các lề luật đã được ban trong sa mạc. Sách cũng ghi lại 4 bài diễn từ lớn của Mô-sê, sứ vụ của Giô-suê, bài ca, di chúc và cái chết của Mô-sê.

35. Nội dung sách Giô-Suê là gì ?

Sách này trình bày việc chiếm xứ Palestine, dưới sự lãnh đạo của ông Giô-suê, người kế vị Mô-sê, và việc chia lãnh thổ cho 12 chi tộc Israel.

36. Sách Thủ Lãnh (Thẩm Phán) nói về thời kỳ nào?

Sách Thủ lãnh kể về thời kỳ 200 năm đầu ở vùng đất mới chiếm. Dân Israel còn sống theo quy chế bộ lạc, chưa lập thành quốc gia.

37. Hãy kể tên các vị thủ lãnh ?

Dân Israel bị quyến rũ tôn thờ các ngẫu tượng và bị các dân địa phương hoặc láng giềng áp bức. Thiên Chúa đã cho nhiều người đứng lên bênh vực họ, cứu họ khỏi kẻ thù: Ốt-ni-en, Ê-hút, Sam-ga, Đê-bô-ra và Ba-rắc, Ghê-đê-ôn (Ghít-ôn) và A-bi-mê-lết, Tô-la, Giai-a, Giép-tê (Gíp-tác), Íp-san, Ay-lon, Áp-đôn, Sam-son.

38. Vì sao các thủ lãnh còn được gọi là thẩm phán ?

Những người này được gọi là thẩm phán không phải vì họ lo cho xử kiện, nhưng vì họ đã thi hành các phán quyết của Thiên Chúa, tức là những lần Thiên Chúa can thiệp để bênh vực dân Ngài.

39. Nội dung Sách Rút là gì ?

Sách này kể chuyện về bà Rút. Bà là một phụ nữ gốc Mô-áp, tức là một người ngoại bang, đã lấy chồng là một người Israel, nhưng ông này chết sớm. Trung thành với người chống đã khuất, bà Rút quyết định theo mẹ chồng về Palestine. Sau đó bà lập gia đình với ông Bô-a và sinh ra Ô-vét, là ông nội vua Đa-vít. Tuy là một phụ nữ ngoại bang nhưng bà Rút được chọn vào hàng các bậc tổ tiên của Đấng Cứu Thế.

40. Nội dung sách Sa-mu-en 1 và 2 là gì ?

Hai sách Sa-mu-en lúc đầu chỉ là một, về sau người ta mới chia ra cho tiện. Sách này tường thuật giai đoạn đầu của vương quốc Israel, về Sa-mu-en là vị thẩm phán cuối cùng và là ngôn sứ, về vị vua thứ nhất là Sa-un, và về những diễn tiến đưa Đa-vít lên ngôi vua.

41. Nội dung Sách Các Vua 1 và 2 là gì ?

Hai sách này đánh giá các vua tùy theo họ có trung thành với luật Thiên Chúa hay không.

Dựa theo chuẩn mực ấy, sách các Vua đã phân tích từ triều đại vua Sa-lô-môn băng hà (năm -933), vương quốc chia làm hai. Tại phía bắc, tức là nước Israel, các vị vua thay nhau bị lật đổ, các triều đại ngày càng suy đồi, cho đến khi thủ đô Sa-ma-ri sụp đổ vào năm -722. Tại phía nam, tức là nước Giu-đa, vương quyền vẫn còn ở trong tay các con cháu của vua Đa-vít, cho tới khi thủ đô Giêrusalem sụp đổ vào năm -587.

Sách này cũng có những đoạn tường thuật về đời sống và công việc của các ngôn sứ như Ê-li-a hoặc Ê-li-sa.

 

42. Nội dung Sách Sử Biên Niên (Ký Sự) 1 và 2 là gì?

Sách này ghi chép sự việc theo thời gian (nên được gọi là ký sự hoặc là sử chép theo từng năm). Các tác giả hai sách này muốn chứng tỏ rằng khi dân Israel trung thành với giao ước thì Thiên Chúa bênh vực họ, và Ngài đánh phạt họ khi họ lìa bỏ giao ước.

43. Các Sách Sử Biên Niên được biên soạn vào lúc nào ?

Được biên sọan vào thế kỷ thứ 4 trước công nguyên, sau sách Sa-mu-en và sách Các Vua, nên các sách Sử Biên Niên bổ túc nhiều điều cho các sách ấy.

44. Nội dung Sách Ét-ra và Sách Nơ-khe-mi-a là gì?

Hai sách này làm thành một khối, trình bày phần tiếp theo hai sách Sử Biên Niên. Hai sách này ghi lại bút tích của Ông Ét-ra và ông Nơ-khe-mi-a cùng với những văn kiện của nhà nước đế quốc thời ấy, để nói về cuộc hồi hương vào năm -538 của những người lưu đày, họ trở về xây dựng lại đền thờ và khôi phục lại việc thờ phượng tại Giêrusalem (Ét-ra) đồng thời tái thiết lại các tường lũy của thành thánh (Nơ-khe-mi-a).

45. Nội dung sách Tô-bi-a là gì ?

Sách Tô-bi-a là một truyện bình dân, thấm nhuần lý tưởng đạo đức Do Thái giáo. Sách kể lại những chuyện không may của ông Tô-bít và con ông là Tô-bi-a trong cánh sống lưu đầy của người Do Thái giữa đế quốc Ba Tư rộng lớn. Câu chuyện thật tươi mát, nêu bật giá trị của lý tưởng về hôn nhân, về gia đình, của các bổn phận đạo đức như cầu nguyện, bố thí, ăn chay, và bổn phận đối với người chết. Mỗi trang sách đều sáng lên lòng tin cậy vào Thiên Chúa. Cuối cùng, người công chính đã được Thiên Chúa ban thưởng.

46. Nội dung sách Giu-đi-tha là gì ?

Sách kể lại cuộc giải cứu thành Bê-tu-li bị bao vây dưới thời Na-bu-co-đô-nô-xô. Là một quả phụ trẻ đẹp, bà Giu-đi-tha đã một thân một mình tiến vào doanh trại của quân thù. Tướng Hô-lô-phe-nơ mê sắc đẹp của bà, đem bà vào lều và bị bà cắt đầu. Đây là một tiểu thuyết lịch sử ca ngợi lòng tin vào Thiên Chúa và lòng yêu nước.

47. Nội dung Sách Ét-te là gì ?

Sách kể lại chuyện bà Ét-te, một phụ nữ Do Thái trẻ đẹp trong cảnh lưu đầy, được chọn làm hoàng hậu nước Ba Tư, và nhờ đó mà phá vỡ được âm mưu tiêu diệt dân Do Thái.

48. Nội dung sách Ma-ca-bê 1 và 2 là gì ?

Hai sách Ma-ca-bê không tiếp nối nhau nhưng cũng thuật lại những hồi quan trọng trong lịch sử dân Israel từ nửa đầu thế kỷ 2 trước công nguyên. Dưới quyền vua Ba Tư và Hy lạp, xứ Palestine vẫn được tự do tôn giáo cho đến năm -167. Vào năm này, vị vua thuộc triều Sơ-lu-cô là An-ti-ô-cô IV Ê-pi-pha-nô quyết định dùng vũ lực bắt ép ngưới Do Thái phải thờ phụng và tin tưởng như người Hy Lạp. Ông đã đặt tượng thần Giu-pi-te cả trong đền thờ Giêrusalem. Nhiều người Do Thái đã thà chết chứ không bỏ đạo.

Tư tế Ma-ta-thi-a đã cùng với 5 người con trốn vào bưng. Một trong 5 người ấy là Giu-đa, biệt danh là Ma-ca-bê nổi bật với những cú đấm ngàn cân. Cuối cùng các vua triều Sơ-lu-cô phải bó tay trước đám du kích và quốc gia Do Thái được tái lập.

49. Nội dung sách Gióp là gì ?

Tác giả sách Gióp đã vẽ nên một nhân vật tiêu biểu để giúp ta suy nghĩ về sự đau khổ. Ông Gióp là một người tốt lành, phúc hậu. Bỗng dưng trong phút chốc ông mất hết của cải, con cái và sức khỏe. Bạn hữu nhắc nhở ông rằng ông có phạm tội gì đó mới bị phạt như thế. Nhưng cuối cùng, ông được minh oan và được an ủi: ông được bù đắp cả về sức khoẻ, tài sản, gia đình và danh dự.

50. Nội dung Sách Thánh Vịnh là gì ?

Đây là sưu tập các bài thơ dùng để hát trong việc thờ phượng của người Do Thái.

51. Ai là tác giả sách Thánh Vịnh ?

Vua Đa-vít được coi là ông tổ của ngành Thánh Vịnh, bởi đó nhiều Thánh Vịnh được quy cho ông, nhưng rất khó xác định được Thánh Vịnh nào thực sự do ông làm ra. Rất nhiều bài được viết trong thời lưu đầy và sau lưu đầy.

52. Hội Thánh Công Giáo đã dùng các Thánh Vịnh làm gì ?

Hội Thánh Công Giáo đã dùng các Thánh Vịnh làm lời cầu nguyện chính thức của mình, không sửa đổi, bởi vì những lời ấy diễn tả thái độ mà mọi người phải có trước mặt Thiên Chúa. Nhờ Đức Kitô, các Thánh Vịnh còn mang thêm những ý nghĩa mới mẻ và phong phú.

53. Nội dung sách Châm Ngôn là gì ?

Sách này thu góp nhiều châm ngôn nhằm dạy lẽ khôn ngoan, nghĩa là nghệ thuật ăn ở sao cho phù hợp với thánh ý Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh ở đời.

54. Nội dung Sách Giảng Viên là gì ?

Sách Giảng Viên còn được gọi là sách Qohelet (Cô-hê-lét). Tiếng này có nghĩa là “Người lên tiếng trong cộng đoàn”. Sách xuất hiện vào thế kỷ 5 trước công nguyên. Nó trình bày một suy tư khác thường về ý nghĩa của đời người: tất cả đều mong manh, hão huyền.

55. Nội dung Sách Diễm Ca (hay Diệu Ca) là gì ?

Tựa đề sách có nghĩa là ca khúc đẹp nhất. Nó là một sưu tập thơ tình yêu, ca ngợi phẩm giá tình yêu nhân loại, đã được dùng làm hình ảnh diễn tả quan hệ yêu thương mà nhờ giao ước, Thiên Chúa đã thiết lập giữa Ngài với dân Ngài, giữa Ngài và người tín hữu, giữa Đức Kitô và Hội Thánh.

56. Cuốn sách nào ra đời muộn nhất trong các sách Cựu Ước?

Sách Khôn Ngoan ra đời muộn nhất trong các sách Cựu Ước, được soạn bằng tiếng Hy Lạp, vào thế kỷ 1 trước công nguyên.

57. Nội dung Sách Khôn Ngoan là gì ?

Theo tác giả, sự khôn ngoan đích thật chỉ đến từ Thiên Chúa, ai được nó thì có hạnh phúc, nhưng muốn có, phải cầu nguyện. Ông nhắc đến những kỳ diệu của công trình sáng tạo và của lịch sử để ca ngợi sự quan phòng của Thiên Chúa, ông cũng quả quyết rằng sau khi chết, người lành sẽ được hưởng hạnh phúc vĩnh viễn với Thiên Chúa.

58. Nội dung Sách Huấn Ca là gì ?

Đây là công trình của một hiền nhân thế kỷ thứ 2 trước công nguyên, tên là “Giê-su con của Si-rắc”. Theo ông, sự khôn ngoan chính là Sách Luật Giao Ước, người khôn ngoan đích thật chính là người trung thành phụng sự luật Thiên Chúa.

59. HA-LÊ-LUI-A / A-LÊ-LUI-A có nghĩa là gì ?

Trong tiếng Hip-ri, Hallel có nghĩa là ngợi khen, Ya là “Gia-vê” (yawh). Hallêluia nghĩa là “Ngợi khen Gia-vê”; “Ngợi khen Thiên Chúa”.

60. A-MEN có nghĩa là gì ?

Trong tiếng Hip-ri có nghĩa là: “Quả thật, đúng như vậy”, cũng có thể dịch là: “Được, hoan hô, đồng ý, tán thành” và “ước được như vậy”.

61. Ngôn sứ I-sai-a có nhiệm gì ?

Một thi sĩ là I-sai-a được Chúa ban nhiệm vụ ngôn sứ vào năm -740, lúc 25 tuổi. Nhiệm vụ của ông là loan báo sự sụp đổ của Israel và của Giu-đa, loan báo những hình phạt dành cho sự bất trung của dân. Ông thi hành sứ vụ trong 40 năm, vào thời nước Át-xi-ri đang chiếm ưu thế và thường xuyên đe dọa Israel và Giu-đa.

Isaia là vị ngôn sứ của lòng tin. Trong những cuộc khủng hoảng của dân tộc, ông đòi hỏi mọi người chỉ tin tưởng vào một mình Thiên Chúa .

62. Vì sao các chương 40-50 của Isaia được gọi là sách Isaia thứ hai ?

Vì các chương 40-50 của sách Isaia do một tác giả khác (gọi là Isaia thứ 2) viết trong thời lưu đầy ở Ba-bi-lon, nhằm an ủi dân chúng và hướng lòng họ mong chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc. Phần này cũng nhấn mạnh Thiên Chúa là Thiên Chúa duy nhất, khôn ngoan và quan phòng. Trong phần này có 4 bài ca về Người Tôi Tớ Thiên Chúa, báo trước về Đức Kitô.

63. Các chương 56-66 sách Isaia là của ai viết ?

Các chương 56-66 của sách Isaia được coi là công trình của một ngôn sứ khác nữa (gọi là Isaia thứ ba).

64. Giêrêmia là ai ?

Giê-rê-mi-a là một ngôn sứ ở Giêrusalem sau I-sai-a khoảng một thế kỷ (năm-650). Ông đầy lòng yêu dân, nhưng ông lại là người cô độc, không được cảm thông, thường bị ngược đãi.

65. Giêrêmia rao giảng những gì ?

Ông đã rao giảng, đe dọa báo trước sự sụp đổ, cảnh báo nhưng vô hiệu. Các vua bất tài kế tiếp nhau trên ngai vàng Đa-vit. Ông bị giới quân sự tố cáo là chủ bại, rồi bị bỏ tù.

66. Vì sao Giêrêmia lại chết ở Aicập ?

Năm -597, vua Na-bu-cô-đô-nô-xô chinh phục Giêrusalem và bắt dân đi đầy. Năm -587, dân Giêrusalem nổi loạn, quân Can-đê lại kéo đến chiếm thành, đốt đền thờ và lại bắt thêm dân đi lưu đày. Sau khi Giêrusalem mất, Giê-rê-mi-a quyết ở lại quê nhà, nhưng sau đó, một nhóm người Do Thái chạy trốn sang Ai Cập đã lôi ông đi theo, và có lẽ ông đã chết ở Ai Cập.

 

67. Nội dung Sách Ai Ca là gì ?

Sách Ai Ca được soạn ở Palestine sau khi Giêrusalem sụp đổ năm -587. Sách gồm 5 bài thơ buồn dâng lên Thiên Chúa lời thương tiếc thành Giêrusalem sụp đổ. Tuy nhiên, từ những lời ai oán ấy, lại toát ra một niềm tin không lay chuyển nơi Thiên Chúa và một tâm tình thống hối sâu xa.

68. Nội dung sách Ba-rúc là gì ?

Theo lời mở đầu thì sách này do ông Ba-rúc là thư ký của Giê-rê-mi-a viết tại cảnh lưu đày ở Ba-bi-lon và gửi về Giêrusalem để đọc trong các buổi nhóm phụng vụ. Sách cũng an ủi những người lưu đày bằng cách nhắc lại niềm tin vào thời cứu thoát.

69. Êdêkien là ai ?

Trong đám người bị lưu đầy đợt 2, năm -587, có một vị ngôn sứ đi theo để an ủi khích lệ dân chúng. Đó là Ê-dê-ki-en. Thiên Chúa đã cho ông nhận thấy và tả lại cảnh vinh quang Thiên Chúa rời bỏ đền thờ Giêrusalem để đến với những người bị lưu đày ở Ba-bi-lon.

70. Êdêkien kêu gọi điều gì ?

Ông kêu gọi đồng bào thật lòng hoán cải. Ông mạnh mẽ đòi hỏi họ phải ý thức về trách nhiệm cá nhân, và ông mở cho họ thấy viễn tượng một giao ước mới trong Thánh Thần. Ông cũng báo trước rằng một ngày kia họ sẽ được trở về trong một Đất Thánh đã đổi mới, trong một Giêrusalem mới hoàn toàn trung thành với Thiên Chúa, mà tên mới của thành ấy sẽ là “Thiên Chúa ở đó”.

71. Sách Đanien được viết vào khoảng năm nào ?

Sách Đa-ni-en được viết vào khoảng năm 165 trước công nguyên, trong thời kỳ có cuộc bách hại của vua An-ti-ô-cô Ê-pi-pha-nô và cuộc chiến tranh giải phóng. Mục đích là nâng đỡ ý chí kháng chiến của người Do Thái.

72. Sáu chương đầu của sách Đanien kể chuyện gì ?

6 chương đầu kể chuyện một thiếu niên tên là Đa-ni-en, phục vụ trong triều đình Ba-bi-lon và Ba-tư, mà vẫn luôn luôn trung thành với luật Chúa, bất chấp những khổ hình: bị ném vào lò lửa hay vào hang sư tử. Đa-ni-en còn giải thích các giấc mơ, tỏ rõ ý muốn của Thiên Chúa và báo trước về các đế quốc sẽ nối tiếp nhau trong tương lai cho tới ngày chiến thắng dứt khoát của Thiên Chúa và của những kẻ lành mà Thiên Chúa sẽ cho sống lại.

73. Sáu chương sau của sách Đanien kể chuyện gì ?

6 chương sau ghi lại các thị kiến về Nước Thiên Chúa sẽ đến trong tương lai. Đó là một quốc gia bao quát mọi dân nước, và không bao giờ chấm đứt. Đó là nước của dân thánh, của Thiên Chúa, của Đấng Con Người đã được trao mọi quyền bính.

 

74. Vì sao lại gọi là ngôn sứ nhỏ ?

Sau 4 ngôn sứ lớn là 12 ngôn sứ nhỏ. Gọi là “nhỏ” không phải vì vai trò, sứ mạng hoặc ảùnh hưởng của những vị này không đáng kể, ngược lại, đôi khi lại rất quan trọng, nhưng gọi là nhỏ, chỉ vì các sách đều ngắn. Theo thứ tự trong Kinh Thánh, danh sách 12 vị này là: Hô-sê, Gio-en, A-mốt, Ô-va-đi-a, Gio-na, Mi-kha, Na-khum, Kha-ba-cúc, Xô-phô-ni-a, Khác-gai, Da-ca-ri-a và Ma-la-khi.

75. Hôsê là ai ?

Ngôn sứ Hô-sê quê ở vương quốc phía bắc. Ông khởi sự rao giảng vào khoảng năm -750 dưới triều vua Giê-rô-bô-am II và kéo dài dưới các triều vua kế tiếp, có lẽ cho đến trước khi thủ đô Sa-ma-ri sụp đổ (-721). Đây là một gian đoạn đen tối đối với Israel: Trong nước hỗn loạn, tôn giáo và luân lý sa đọa, lại thường bị ngoại xâm.

76. Ngôn sứ Hôsê rao giảng điều gì ?

Hô-sê là người đầu tiên đã diễn tả quan hệ giữa Thiên Chúa và Israel trong ngôn ngữ một cuộc hôn nhân. Ông đã cưới một người làm vợ và người vợ này đã bỏ ông, nhưng ông vẫn tiếp tục yêu qúy và đón nhận nàng về lại sau khi đã thử luyện. Kinh  nghiệm đau thương ấy của ông được Chúa dùng làm hình ảnh diễn tả cách cư xử của Ngài đối với dân Ngài. Dân Israel đã được Thiên Chúa cưới lấy, nhưng họ đã ăn ở bất trung khiến Thiên Chúa phải nổi giận, nhưng Thiên Chúa vẫn còn thương mến, Ngài sẽ sửa trị để đưa Israel về lại với Ngài và ban lại niềm vui thuở ban đầu. Cách diễn tả của Hô-sê đã được các ngôn sứ Giê-rê-mi-a, Ê-dê-ki-en và I-sai-a 40-50 cũng như các sách Tân Ước lấy lại.

77. Sách Gio-en tiên báo điều gì ?

Sách này có lẽ được soạn vào khỏang năm 400 trước công nguyên. Sách tiên báo ngày của Chúa sắp đến và kêu gọi độc giả ăn chay, sám hối để nhận lấy Thánh Thần.

78. A-mốt là ai ?

A-mốt là một người chăn cừu quê ở vương quốc Giu-da. Sau một thời gian ngắn thi hành sứ vụ tại Israel, ông bị trục xuất về Giu-đa.

Ông rao giảng cùng thời với Hô-sê, dưới triều vua Giê-rô-bô-am. Thời này, vương quốc có thịnh hành về kinh tế, nhưng sự chênh lệch giữa người giàu và người nghèo cũng gia tăng. Các lễ nghi có vẻ huy hoàng nhưng lại thiếu lòng đạo đích thực.

79. Ngôn sứ Amốt nói gì ?

A-mốt lên án cuộc sống bất công của thành thị, sự an tâm giả tạo mà người ta đặt ở nghi lễ không hồn. Ông loan báo sẽ đến ngày Thiên Chúa đoán phạt Israel bất trung, tuy nhiên Ngài vẫn sẽ chừa lại cho một số ít ỏi.

80. Sách nào ngắn nhất trong Cựu Ước ?

Sách Ô-va-đia ngắn nhất, chỉ có 21 câu, không rõ được biên soạn vào thời nào. Tác giả tiên báo dân Ê-đôm sẽ bị trừng phạt vì đã can thiệp để chống Giêrusalem năm -587.

81. Sách Giona thuộc về loại nào ?

Sách này thuộc về một loại khác hẳn. Sách kể lại một ngôn sứ bất tuân. Thiên Chúa sai ông đi Ni-ni-vê, thủ đô đế quốc Át-sua để kêu gọi dân chúng ăn năn sám hối. Thoạt đầu, ông trốn tránh sứ vụ, nhưng rồi lại kêu trách Thiên Chúa về những thành công bất ngờ của việc rao giảng của mình.

82. Sách Giona được biên soạn với mục đích nào ?

Sách được biên soạn sau thời lưu đầy, không có tính cách lịch sử, nhưng nhằm mục đích giáo huấn. Theo đó, những đe dọa là biểu hiện lòng thương xót của Thiên Chúa. Thiên Chúa chỉ chờ một dấu hối cải để tha thứ. Sách rao giảng một tinh thần đại đồng hết sức cởi mở: mọi người, mọi vật đều dễ thương. Thiên Chúa không chỉ là Thiên Chúa của người Do Thái mà còn là của dân ngoại.

83. Mikha là ai ?

Mi-kha là người Giu-đa, rao giảng dưới thời vua A-cáp và Ê-dê-ki-a, từ trước khi Sa-ma-ri sụp đổ (-721) cho tới khoảng năm -700 (đồng thời với Hô-sê và I-sai-a).

84. Ngôn sứ Mikha nói những gì ?

Ông tố cáo bất công xã hội và loan báo sự xét xử của Thiên Chúa. Tuy nhiên, ông vẫn trông cậy rằng Thiên Chúa sẽ dành lại một số sót cho nhân loại. Ông loan báo vị vua hòa bình sẽ sinh tại Bê-lem.

85. Nakhum loan báo điều gì ?

Sách viết vào thế kỷ -7. Tác giả hớn hở loan báo sự sụp đổ của Ni-ni-vê, thủ đô của đế quốc Át-sua, tượng trưng cho những sức mạnh của sự dữ đang thao túng trên thế giới.

86. Nội dung sách Kha-ba-cúc là gì ?

Sách viết vào thế kỷ -7 hoặc đầu thế kỷ -6 . Đây là một sách được soạn thảo công phu: mở đầu là một cuộc đối thoại căng thẳng giữa vị ngôn sứ và Thiên Chúa về việc người Can-đê áp bức dân Chúa. Sách và kết thúc bằng lời ca ngợi sự toàn thắng cuối cùng của Thiên Chúa.

87. Ngôn sứ Xô-phô-ni-a rao giảng vào thời nào ?

Ngôn sứ Xô-phô-ni-a rao giảng dưới triều vua Giô-đi-a (-640 đến -609) ở Giu-đa, trước thời ngôn sứ Giê-rê-mi-a ít lâu. Lúc ấy Giu-đa bị đế quốc Át-xi-ri đô hộ, lại thêm các vị vua vô đạo càng làm gia tăng thêm sự hỗn loạn về tôn giáo. Nay Át-xi-ri bắt đầu suy yếu, người ta tin rằng sẽ khôi phục được quốc gia kèm theo một cuộc cải cách về tôn giáo. Tác giả loan báo sự phán xét của Thiên Chúa trên các dân tộc, để kêu gọi dân chúng hoán cải. Ông cũng gợi lên niềm hy vọng cho dân nghèo.

88. Nội dung sách Khác-gai là gì ?

Sách này viết năm -520. Lúc ấy những người Do Thái đầu tiên từ Ba-bi-lon về tái thiết đền thờ, đã sớm rơi vào tuyệt vọng. Ngôn sứ Khác-gai và Da-ca-ri-a đã lay tỉnh mọi người, đã thúc giục thống đốc Giô-rô-ba-ben và thượng tế Giô-suê tiếp tục công việc tái thiết đền thờ. Ngôn sứ  Khác-gai đã báo trước vinh quang tương lai để an ủi mọi người.

89. Sách Da-ca-ri-a gồm mấy phần ?

Sách Da-ca-ri-a gồm hai phần rõ rệt.

90. Phần đầu sách Giacaria nói gì ?

Phần đầu gồm các chương 1-8: với 8 thị kiến, viết vào cuối năm -520, chú trọng đến việc tái thiết đền thờ, đồng thời cũng nói về sự xây dựng lại quốc gia, với những đòi hỏi phải tinh sạch về luân lý và phải thức tỉnh về tôn giáo.

91. Phần 2 sách Giacaria nói gì ?

Phần 2 gồm các chương 9-14, do những tác giả khác viết vào khoảng năm -300, loan báo về thời cứu chuộc: Đấng Cứu Thế sẽ đến và thiết lập vương quốc của Thiên Chúa.

92. Ngôn sứ Malakhi kêu gọi những gì ?

“Ma-la-khi” có nghĩa là “Thần sứ của tôi” (theo ý Ml 3,1). Sách được viết vào nửa đầu thế kỷ -5, trước khi ông Nơ-khe-mi-a về nước (-445). Lúc ấy, sự hứng khởi do Khác-gai và Da-ca-ri-a gây nên đã sớm tàn lụi, dân chúng bắt đầu chán nản và thờ ơ: Ma-la-khi chống lại tình trạng ấy, và mời gọi phải kính trọng những đòi hỏi của lề luật. Ông cũng báo trước về vị sứ giả dọn đường cho Đấng Cứu Thế, tức là Gio-an Tẩy Giả.

93. Luật Do Thái ấn định mấy ngày lễ lớn ?

Luật Do Thái ấn định 5 ngày lễ lớn: 3 lễ vui, cũng là dịp hành hương (Lễ Vượt Qua; Lễ Ngũ Tuần; Lễ Lều) và 2 ngày lễ hoán cải ( Lễ Đầu Năm và Lễ Đền Tội).

94. Lễ Vượt Qua là lễ gì ?

–          Lễ Vượt Qua: là lễ mừng mùa xuân và kỷ niệm ngày Israel được giải phóng khỏi ách nô lệ Ai cập. Nghi thức chính là bữa ăn lễ Vượt Qua tại gia đình với thịt chiên nướng, bánh không men, rau diếp đắng và 4 tuần rượu.

95. Lễ Ngũ Tuần là lễ gì ?

–          Lễ Ngũ Tuần: 50 ngày sau lễ Vượt Qua, mừng hoa quả đầu mùa và tạ ơn Thiên Chúa đã ban giao ước Xi-nai.

96. Lễ Lều là gì ?

–          Lễ Lều: mừng vụ thu họach mùa thu, và ôn lại hành trình trong sa mạc xưa, khi dân Israel sống dưới những mái lều và chỉ có một nguồn cứu trợ duy nhất là Thiên Chúa.

97. Lễ Đầu Năm là lễ gì ?

–          Lễ Đầu Năm: là tết của người Do Thái, ca ngợi việc sáng tạo và hoán cải quay về với Thiên Chúa. Lễ này mở ra 10 ngày thống hối, sẽ kết thúc bằng Lễ Đền Tội.

98. Lễ Đền Tội là lễ gì ?

–          Lễ Đền Tội: nhịn ăn 25 giờ liền, thú nhận tội lỗi của cá nhân và cộng đoàn để xin ơn Chúa tha thứ.

99. Lễ Cung Hiến Đền Thờ là lễ gì ?

–          Lễ Cung Hiến Đền Thờ: giữa tháng 12, kéo dài 8 ngày, kỷ niệm việc Cung Hiến Đền Thờ thời Ma-ca-bê.

100.            Lễ Số Mệnh là lễ gì ?

–          Lễ Số Mệnh: vào tháng 2 hoặc tháng 3, kỷ niệm việc giải phóng dân Do Thái thời hoàng hậu Ét-te.

Ban Giáo Lý Giáo Phận Đàlạt

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 303
  • Page 304
  • Page 305
  • …
  • Page 2.049
  • Next page
Bài viết mới nhất
BẮT ĐẦU CUỘC GẶP GỠ GIỚI TRẺ TAIZÉ CHÂU Á TẠI HỒNG KÔNG
04/05/2026
ĐỨC THÁNH CHA TIẾP BAN QUẢN TRỊ VÀ THÀNH VIÊN CỦA "QUỸ GIÁO HOÀNG"
04/05/2026
Chương trình MỤC VỤ HUẤN GIÁO  
04/05/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.