2023
Giáo lý loan báo Tin Mừng 22 – Mọi người đều đóng vai chính trong sứ vụ loan báo Tin Mừng
Trong bài giáo lý tại buổi tiếp kiến chung sáng thứ Tư 20/9/2023, Đức Thánh Cha nhận xét rằng Thánh Daniel Comboni đã đi trước thời đại khi nhận ra sự cần thiết của việc loan báo Tin Mừng với sự tham gia của các giáo sĩ, giáo lý viên và lãnh đạo giáo dân địa phương. Ngài nói rằng chứng tá của thánh nhân cho thấy rằng mọi người đều tham gia và giữ vai chính trong sứ vụ loan báo Tin Mừng.
Trong bài giáo lý tại buổi tiếp kiến chung sáng thứ Tư 20/9, Đức Thánh Cha tiếp tục trình bày với các tín hữu về chứng tá của lòng say mê loan báo Tin Mừng, cụ thể là chứng tá của Thánh Daniel Comboni, vị tông đồ cho Châu Phi, với tầm nhìn truyền giáo mang tính ngôn sứ và tập trung vào sức mạnh giải phóng của Tin Mừng.
Trong bối cảnh xã hội đánh dấu bởi sự ác độc của chế độ nô lệ, Thánh Daniel Comboni đã rao giảng Chúa Kitô chịu đóng đinh và sống lại như nguồn tự do đích thực, không chỉ giải thoát khỏi tội lỗi mà còn khỏi mọi hình thức nô lệ làm hạ thấp phẩm giá con người của chúng ta.
Đức Thánh Cha nhận xét rằng thánh nhân đã đi trước thời đại khi nhận ra sự cần thiết của việc loan báo Tin Mừng với sự tham gia của các giáo sĩ, giáo lý viên và lãnh đạo giáo dân địa phương, dựa trên sứ điệp Tin Mừng và lời kêu gọi xây dựng một trật tự xã hội công bằng, liên đới và nhân đạo. Ngài cũng nhấn mạnh rằng đối với Thánh Daniel Comboni, lòng bác ái Kitô giáo, được thể hiện trong tình liên đới của chúng ta với những người đau khổ, là nguồn cảm hứng và động lực tối thượng đằng sau mọi hoạt động truyền giáo. Ngài cầu xin tình yêu của thánh nhân đối với Giáo hội, sự dấn thân của thánh nhân đối với sứ mạng phổ quát của Giáo hội và mối quan tâm mục vụ của thánh nhân đối với tương lai của các dân tộc Châu Phi tiếp tục truyền cảm hứng cho những nỗ lực truyền giáo của Giáo hội trong thời đại chúng ta.
Bài giáo lý của Đức Thánh Cha
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Trong loạt bài giáo lý về lòng say mê loan báo Tin Mừng, hôm nay chúng ta tập trung vào chứng tá của Thánh Daniel Comboni. Ngài là một tông đồ nhiệt thành cho Châu Phi. Về những dân tộc đó, ngài đã viết: “Họ đã chiếm lấy trái tim chỉ sống vì họ của tôi” (Scritti, 941), “Tôi sẽ chết với Châu Phi trên môi miệng” (Scritti, 1441). Và ngài đã nói với họ như thế này: “ngày hạnh phúc nhất trong những ngày của tôi sẽ là ngày mà tôi có thể cống hiến cả cuộc đời mình cho anh chị em” (Scritti, 3159). Đây là cách diễn tả của một người yêu mến Thiên Chúa và những người anh em mà họ phục vụ trong sứ mạng, những người mà họ không bao giờ mệt mỏi nhớ rằng “Chúa Giêsu Kitô cũng đã chịu đau khổ và chết vì họ” (Scritti, 2499; 4801).
Hãy ngừng bóp nghẹt Châu Phi!
Ngài tuyên bố điều này trong bối cảnh đặc trưng bởi sự kinh hoàng của chế độ nô lệ mà ngài đã chứng kiến. Chế độ nô lệ “đồ vật hóa” con người, giá trị của họ bị giảm xuống chỉ còn hữu ích cho ai đó hoặc thứ gì đó. Nhưng Chúa Giêsu, Thiên Chúa làm người, đã nâng cao phẩm giá của mỗi con người và vạch trần sự giả dối của chế độ nô lệ ngày nay. Thánh Comboni, dưới ánh sáng của Chúa Kitô, đã nhận thức được tội ác của chế độ nô lệ; ngài cũng hiểu rằng tình trạng nô lệ xã hội bắt nguồn từ tình trạng nô lệ sâu xa hơn, tình trạng nô lệ của trái tim, tình trạng nô lệ tội lỗi mà Chúa đã giải thoát chúng ta. Vì vậy, là Kitô hữu, chúng ta được kêu gọi đấu tranh chống lại mọi hình thức nô lệ. Tuy nhiên, thật không may, chế độ nô lệ, giống như chủ nghĩa thực dân, không phải là chuyện của quá khứ. Ở Châu Phi được thánh Comboni yêu quý, ngày nay bị xâu xé bởi nhiều cuộc xung đột, “cuộc xung đột chính trị đã nhường chỗ cho một ‘chủ nghĩa thực dân kinh tế’ cũng tương đương với chủ nghĩa nô lệ (…). Đó là một bi kịch mà thế giới kinh tế tiên tiến nhất thường nhắm mắt, bịt tai và bịt miệng”. Do đó, tôi nhắc lại lời kêu gọi của mình: “Hãy ngừng bóp nghẹt Châu Phi: đây không phải là một mỏ để khai thác hay một vùng đất để bị cướp bóc” (Cuộc gặp gỡ các cấp chính quyền, Kinshasa, ngày 31 tháng 1 năm 2023).
“Hãy cứu Châu Phi bằng Châu Phi”
Chúng ta hãy quay trở lại câu chuyện của Thánh Daniel. Sau thời gian đầu ở Châu Phi, ngài phải rời nhiệm sở vì lý do sức khỏe. Quá nhiều nhà truyền giáo đã chết sau khi mắc bệnh sốt rét, căn bệnh trở nên phức tạp hơn do sự nhận thức chưa đầy đủ về tình hình địa phương. Tuy nhiên, nếu những người khác bỏ rơi châu Phi thì Thánh Comboni lại không như vậy. Sau một thời gian phân định, ngài cảm thấy Chúa đang truyền cảm hứng cho ngài bằng một cách truyền giáo mới, mà ngài tóm tắt bằng những lời này: “Hãy cứu Châu Phi bằng Châu Phi” (Scritti, 2741f).
Tất cả Kitô hữu là những nhân vật chính trong hoạt động truyền giáo
Đó là một trực giác mạnh mẽ, góp phần canh tân sự dấn thân truyền giáo: những người được rao giảng Tin Mừng không chỉ là “đối tượng”, mà còn là “chủ thể” của sứ mạng truyền giáo. Thánh Daniel muốn biến tất cả các Kitô hữu thành những nhân vật chính trong hoạt động truyền giáo. Với tinh thần này, ngài đã suy nghĩ và hành động một cách toàn diện, thu hút sự tham gia của các giáo sĩ địa phương và cổ vũ các giáo dân làm giáo lý viên. Các giáo lý viên là một gia sản của Giáo hội: là những người tiến bước trong việc loan báo Tin Mừng. Ngài cũng quan niệm sự phát triển con người theo cách này, quan tâm đến nghệ thuật và nghề nghiệp, phát huy vai trò của gia đình và phụ nữ trong việc biến đổi văn hóa và xã hội. Điều rất quan trọng, ngay cả ngày nay, là thăng tiến đức tin và sự phát triển con người từ bên trong bối cảnh truyền giáo, thay vì cấy ghép các mô hình bên ngoài hoặc giới hạn chúng vào “chủ nghĩa phúc lợi” không sinh kết quả! Dùng văn hóa làm con đường loan báo Tin Mừng. Loan báo Tin Mừng văn hóa và hội nhập Tin Mừng vào văn hóa: hai việc này đi đôi với nhau.
Nguồn mạch của khả năng truyền giáo là lòng bác ái
Tuy nhiên, niềm đam mê truyền giáo vĩ đại của Thánh Comboni không chủ yếu là kết quả của sự dấn thân của con người: ngài không được thúc đẩy bởi lòng can đảm của mình hay chỉ được thúc đẩy bởi những giá trị quan trọng, ví dụ như tự do, công lý và hòa bình; lòng nhiệt thành của ngài phát sinh từ niềm vui Tin Mừng, xuất phát từ tình yêu Chúa Kitô và dẫn đến tình yêu dành cho Chúa Kitô! Thánh Daniel đã viết: “Một sứ mạng gian khổ và đòi nhiều nỗ lực như sứ mạng của chúng ta thì không thể tồn tại bằng vẻ hời hợt bề ngoài, hay bởi những người có vẻ đạo đức nhưng lại ích kỷ và chỉ biết có chính mình, những người không quan tâm đến sức khỏe và sự hoán cải của các linh hồn như lẽ ra họ phải làm.” Và ngài nói thêm: “chúng ta phải khơi dậy lòng bác ái của họ, điều bắt nguồn từ Thiên Chúa và từ tình yêu của Chúa Kitô; và khi bạn thực sự yêu mến Chúa Kitô, thì những thiếu thốn, đau khổ và tử đạo đều ngọt ngào” (Scritti, 6656). Ước muốn của ngài là được nhìn thấy những nhà truyền giáo nhiệt thành, vui vẻ, tận tâm: những nhà truyền giáo – ngài viết – “thánh thiện và có khả năng”. […] Trước hết, họ là những vị thánh, nghĩa là xa lánh tội lỗi, và khiêm nhường. Nhưng như vậy vẫn chưa đủ, còn cần có lòng bác ái, là điều làm cho họ có khả năng truyền giáo” (Scritti, 6655). Vì vậy, đối với Thánh Comboni, nguồn mạch của khả năng truyền giáo là lòng bác ái, đặc biệt là lòng nhiệt thành nhận lấy nỗi đau của người khác như nỗi đau của mình.
Luôn hiệp thông với Giáo hội
Hơn nữa, lòng say mê loan báo Tin Mừng của ngài không bao giờ khiến ngài hoạt động như một nghệ sĩ độc tấu, mà luôn hiệp thông với Giáo hội. “Tôi chỉ có một cuộc sống để thánh hiến cho sức khỏe của những linh hồn đó – ngài viết – tôi muốn có một ngàn cuộc sống để tiêu hao vì mục đích này” (Scritti, 2271).
Anh chị em thân mến, Thánh Daniel làm chứng cho tình yêu của vị Mục Tử Nhân Lành, Đấng tìm kiếm những kẻ lạc lối và hiến mạng sống vì đoàn chiên. Lòng nhiệt thành của ngài rất mạnh mẽ và có tính ngôn sứ trong việc chống lại sự thờ ơ và loại trừ. Trong những lá thư của mình, ngài chân thành nhắc nhở Giáo hội thân yêu của mình, Giáo hội đã quên mất Châu Phi quá lâu. Ước mơ của Thánh Comboni là một Giáo hội chịu án chung với những người bị đóng đinh bởi lịch sử, để trải nghiệm sự phục sinh với họ.
Đừng quên người nghèo
Tôi đề nghị với anh chị em: Hãy nghĩ đến những người chịu đóng đinh trong lịch sử ngày nay: những người nam, người nữ, trẻ em, người già, tất cả, những người bị đóng đinh vì sự bất công và thống trị. Chúng ta hãy nghĩa đến họ và cầu nguyện cho họ. Chứng tá của ngài dường như lặp lại với tất cả chúng ta, những người nam nữ của Giáo hội: “Đừng quên người nghèo, hãy yêu thương họ, vì Chúa Giêsu chịu đóng đinh đang hiện diện nơi họ, đang chờ đợi để được phục sinh”.
Đức Thánh Cha lặp lại: Đừng quên người nghèo: trước khi đến đây, tôi đã gặp các nhà lập pháp Brazil, những người làm việc vì người nghèo, những người cố gắng thăng tiến người nghèo bằng phúc lợi và công bằng xã hội. Và họ không quên người nghèo: họ làm việc vì người nghèo. Tôi nói với anh chị em: đừng quên người nghèo, vì họ sẽ là người mở cửa Thiên đàng cho anh chị em. Cảm ơn anh chị em.
Buổi tiếp kiến kết thúc với kinh Lạy Cha và phép lành Đức Thánh Cha ban cho mọi người.
Theo Vatican News (20/9/2023)
2023
Đức Thánh Cha: 60 năm sau “Pacem in terris- Hoà bình dưới thế”, sở hữu vũ khí hạt nhân là vô đạo đức
|
Đức Thánh Cha gửi sứ điệp đến Đức Hồng Y Peter Turkson, Viện trưởng Hàn Lâm viện Toà Thánh về Khoa học Xã hội và các tham dự viên hội nghị quốc tế, kỷ niệm 60 năm thông điệp “Pacem in terris- Hoà bình dưới thế”. Ngài khẳng định rằng “một thế giới không có vũ khí hạt nhân là có thể và cần thiết”, và “sử dụng năng lượng hạt nguyên tử cho mục đích chiến tranh là vô đạo đức”. Trong sứ điệp gửi tới hội nghị kỷ niệm ngày ban hành thông điệp của Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII có tựa đề “Chiến tranh và những trở ngại khác cho hoà bình” được tổ chức trong hai ngày 19 và 20/9 ở Vatican, Đức Thánh Cha so sánh thời điểm hiện nay đáng lo ngại giống như thời điểm thông điệp được ban hành, với cuộc khủng hoảng tên lửa của Cuba vào tháng 10/1962 đã đưa thế giới đến bờ vực “huỷ diệt hạt nhân trên diện rộng”. Hiện nay vũ khí hạt nhân ngày càng phát triển về số lượng và sức mạnh, đồng thời các công nghệ chiến tranh khác cũng gia tăng, sự đồng thuận về việc cấm vũ khí hoá học và sinh học đang gặp nguy hiểm. Vì thế việc Liên Hiệp Quốc và các tổ chức tương tự làm việc để nâng cao nhận thức cộng đồng và thúc đẩy các biện pháp quản lý phù hợp vẫn là vấn đề cơ bản. Nhắc lại tuyên bố tại Đài tưởng niệm Hoà bình Hiroshima vào năm 2019, Đức Thánh Cha tái khẳng định “sử dụng năng lượng hạt nguyên tử cho mục đích chiến tranh, và sở hữu vũ khí hạt nhân là vô đạo đức”, và “một thế giới không có vũ khí hạt nhân là có thể và cần thiết”. Bên cạnh đó, theo Đức Thánh Cha sự quan tâm về đạo đức của chiến tranh hạt nhân không được bỏ qua. Các vấn đề đạo đức ngày càng cấp bách do việc sử dụng cái gọi là “vũ khí thường” trong những cuộc chiến hiện nay, vốn chỉ được sử dụng trong mục đích bảo vệ chứ không nhằm các mục tiêu dân sự. Và ngài kết luận với hy vọng rằng hội nghị thảo luận về thông điệp Hoà bình dưới thế, ngoài việc phân tích các mối đe doạ quân sự và công nghệ đối với hoà bình, còn bao gồm một suy tư đạo đức có kỷ luật về những rủi ro nghiêm trọng liên quan đến việc tiếp tục sở hữu vũ khí hạt nhân, về nhu cầu cấp bách đổi mới tiến bộ trong việc giải trừ quân bị và về sự phát triển các sáng kiến xây dựng hoà bình. |
|
Ngọc Yến Nguồn: https://www.vaticannews.va/vi/ |
2023
Toà Thánh: Phát triển bền vững đặt con người ở trung tâm
|
Đức Tổng Giám Mục Paul Richard Gallagher, Ngoại trưởng Toà Thánh tuyên bố tại Diễn đàn Chính trị Cấp cao về Phát triển Bền vững của Liên Hiệp Quốc, diễn ra trong hai ngày 18 và 19/9 rằng: “Hội nghị không được dùng để làm nền tảng cho những tuyên bố trừu tượng, đơn giản chỉ để xoa dịu lương tâm, ngược lại, chúng ta phải sử dụng nó để tăng cường nỗ lực và đẩy nhanh tiến độ nhằm làm cho thế giới hướng đến con đường bền vững”. Nhắc lại bài phát biểu của Đức Thánh Cha trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ngày 25/9/2015, Đức Tổng Giám Mục nói: “Đức Thánh Cha Phanxicô đã mô tả việc thông qua Chương trình nghị sự 2030 về Phát triển Bền vững là một dấu hiệu quan trọng của hy vọng. Đồng thời, ngài cảnh báo về mối nguy hiểm khi dừng lại bằng lòng với việc lập danh sách dài các đề xuất, mục tiêu, và số liệu thống kê. Nửa chặng đường đến năm 2030, loại hy vọng mà cộng đồng quốc tế được mời gọi tiếp tục sống động và hoạt động là hy vọng mọi việc xảy ra và thay đổi cuộc sống”. Với chủ đề “Huy động tài chính, đầu tư và phương tiện để đạt được Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDG)”, Ngoại trưởng Toà Thánh cho rằng Hội nghị không được dùng để làm nền tảng cho những tuyên bố trừu tượng, đơn giản chỉ để xoa dịu lương tâm của chúng ta, ngược lại, chúng ta phải sử dụng nó để tăng cường nỗ lực và đẩy nhanh tiến độ nhằm làm cho thế giới hướng đến con đường bền vững. Điều này có nghĩa, trước hết là thực hiện những hành động cụ thể để giải quyết những thách đố lớn của thời đại, đặc biệt là chiến tranh và xung đột, nghèo đói, bạo lực, loại trừ xã hội, biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường, cũng như văn hóa vứt bỏ lan tràn khi con người không còn được coi là giá trị tối thượng cần được chăm sóc và tôn trọng, đặc biệt là khi nghèo khổ hoặc khuyết tật, và bị loại bỏ vì chưa hữu ích – như thai nhi, hoặc không còn cần thiết – như người già. Theo Đức Tổng Giám Mục, tiến triển trên con đường bền vững mà thế giới đã thực hiện vào năm 2015 cũng đòi hỏi các biện pháp hướng tới tương lai, vượt xa những lợi ích trước mắt và tập trung vào loại thế giới mà chúng ta đang để lại cho các thế hệ tương lai, phương hướng chung, ý nghĩa và giá trị. Về vấn đề này, việc thực hiện Chương trình nghị sự 2030 không chỉ đơn giản là huy động thêm nguồn lực và thiết kế các công cụ hiệu quả hơn để vượt qua nhiều thách đố kỹ thuật mà việc đạt được các Mục tiêu Phát triển Bền vững đặt ra. Thay vào đó, vấn đề chủ yếu là cam kết và thực hiện một mô hình phát triển mới lấy con người làm trung tâm, hướng tới công ích và đặt nền tảng trên các nguyên tắc đạo đức về công bằng, liên đới và chia sẻ trách nhiệm. Trong phần kết luận, nói về sự thành công của Hội nghị, Đức Tổng Giám Mục khẳng định: “Tòa Thánh cho rằng sự thành công của Hội nghị thượng đỉnh này là hành trình của chúng ta hướng tới một tương lai trong đó phẩm giá mỗi người được tôn trọng, nhu cầu của người nghèo và những người có hoàn cảnh dễ bị tổn thương được đáp ứng, và tương quan hài hòa với môi trường được khôi phục, tùy thuộc vào cam kết thực sự của chúng ta đối với chủ nghĩa đa phương như một biểu hiện của một ý thức đổi mới về đồng trách nhiệm toàn cầu, một tình liên đới đặt trên nền tảng trên công lý và đạt được hòa bình và hiệp nhất trong gia đình nhân loại”. |
|
Vatican News |
2023
Tư duy phản biện trong tiến trình hiệp hành
Có người hỏi tôi: “Tư duy phản biện trong cộng đoàn Công giáo tốt hay xấu?” Thoạt nghe chắc ai cũng đồng ý với tôi rằng tư duy phản biện rất cần thiết trong thời đại hôm nay. Nhà trường cũng đang cố gắng đồng hành với học sinh trong lãnh vực này. Một trong những mục tiêu của giáo dục là giúp cho học sinh có cơ hội tập và có khả năng tư duy phản biện. Thiết tưởng điều này cũng cần trong đời sống Giáo hội hiện nay. Nhất là trong bối cảnh hiệp hành mà mọi người đều có quyền và nghĩa vụ đóng góp công việc này, thì tư duy phản biện dường như quan trọng cho mỗi người.
Trong bài này tôi muốn “mổ xẻ” một chút về thuật ngữ này dựa trên những chỉ dẫn của Giáo hội về hiệp hành.
1. Tư duy phản biện theo nghĩa người đời
Theo định nghĩa của Oxford Dictionary: “Tư duy phản biện (Critical Thinking) là quá trình phân tích thông tin để đưa ra quyết định hợp lý ở mức độ bạn tin điều gì đó là đúng hoặc sai.” Hoặc “là khả năng suy nghĩ rõ ràng và hợp lý, nhận biết được mối liên hệ logic giữa các ý tưởng với nhau.”[1] Gọi là quá trình vì người tư duy cần thời gian và dữ liệu để tổng hợp và đưa ra phán đoán hợp với logic của mình. Trong tiến trình này, người tư duy có thể tham khảo nhiều nguồn khác nhau. Càng tham khảo, mức độ phán đoán đúng càng cao. Lập luận phản biện càng rõ ràng, logic, đầy đủ bằng chứng, tỉ mỉ, khách quan và công tâm, người ấy càng chiếm phần ưu thế. Để làm được điều này rõ ràng chúng ta cần tập luyện và tập luyện. Bước đầu tiên rất đáng trân quý đó là tôi muốn tập luyện khả năng tư duy phản biện này.
Lý do xã hội đang mong chờ nhiều người có tư duy này vì những đặc điểm thú vị sau[2]:
Người tư duy phản biện dễ dàng giao lưu với những ai có quan điểm khác mình. Điều này phá vỡ quan niệm của nhiều người cho rằng “kẻ tư duy phản biện thì ít bạn bè.” Không! Càng học hỏi, hy vọng chúng ta càng có khả năng khiêm nhường để tôn trọng những quan niệm phong phú của người khác. Rồi với tâm thế này, người tư duy phản biện có thể tham khảo những tư liệu đa chiều và khách quan trước khi đưa ra phán đoán của riêng mình. Nghĩa là phán đoán của tôi không phụ thuộc vào cảm xúc, nhưng đến từ một tư duy chín chắn.
Người này hẳn nhiên thường có những câu hỏi để chất vấn chủ đề họ đang quan tâm. Một khi thấy hợp lý, họ không ngại thay đổi để phù hợp với những gì là khách quan và giúp ích cho tiến trình xử lý các vấn đề. Tôi cũng từng lầm lẫn điều này: “Người tư duy phản biện ngại thay đổi”. Không! Một khi bị thu hút bởi những cách thức mới, họ dễ thay đổi hơn so với những người hành động theo cảm tính.
Vì suy nghĩ sâu sắc nên người tư duy phản biện có những ý tưởng rất độc đáo. Phải chăng vì điều này mà xã hội đang cần những người trẻ biết cách tư duy theo kiểu này. Tuy tự tin vào những lập luận của mình, nhưng họ cũng biết lắng nghe người khác. Họ tự tin nhưng không đồng nghĩa rằng họ tự kiêu và ngạo mạn.
2. Giáo hội nói gì về tư duy phản biện?
Trước giờ Giáo hội luôn theo hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Nếu có tư duy phản biện, chúng ta cũng được mời gọi đi theo con đường này. Vì chỉ có như thế Giáo hội mới vươn đến được sự thật. Và chỉ có tác động của Chúa Thánh Thần, chúng ta, những thành viên của Giáo hội mới có thể hiệp nhất. Vì lý do này mà ngay lời phát biểu đầu tiên, Đức Thánh Cha nhắn với mỗi chúng ta: “Lời Chúa hướng dẫn Thượng Hội Đồng, ngăn không cho nó trở thành một hội nghị của Giáo hội, một cuộc nghiên cứu học hỏi hay một hội nghị chính trị, một quốc hội, nhưng đúng hơn là một sự kiện đầy ân sủng, một tiến trình chữa lành được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần.”[3]
Với lời hướng dẫn trên, chúng ta có thể nói tư duy phản biện trong Giáo hội có một nội dung sâu sắc hơn. Ngoài khả năng suy nghĩ (thinking), mỗi người cần dành giờ để cầu nguyện và lắng nghe tiếng Chúa nói với mình có thể đóng góp gì cho Giáo hội lúc này. Cần lưu ý rằng Giáo hội chưa bao giờ xem nhẹ khả năng hiểu biết của con người. Lý do là “đức tin luôn tìm kiếm sự hiểu biết” (Fides quaerens intellectum). Hơn nữa, nhà toán học Công giáo nổi tiếng đã đúc kết: “Cogito, ergo sum – Tôi tư duy, nên tôi tồn tại” (René Descartes). “Vô tri bất mộ” luôn đúng kể cả trong lãnh vực đức tin.
Hơn nữa, “Con đường hiệp hành này chính là con đường Thiên Chúa mong đợi nơi Giáo hội của thiên niên kỷ thứ ba”. Để cùng đi trên con đường này với nhiều tình yêu, Giáo hội mời gọi mỗi người “tư duy phản biện”, nhưng dựa trên Lời Chúa và tác động của Chúa Thánh Thần. Điều này thách đố chúng ta, nhất là những người trẻ. Làm sao để nhận ra Tiếng nói của Chúa? Vì chỉ như thế, chúng ta mới có khả năng làm chứng cho sự thật và có thể dựng xây cộng đoàn một cách vững mạnh. Để làm được điều này, Giáo hội chỉ cho chúng ta vài hướng dẫn nhằm: “có thể mang lại những ý tưởng cụ thể cho những khoảnh khắc cầu nguyện, huấn luyện, suy tư và trao đổi.”
– “Giáo hội của chúng ta”. Tôi thích khẳng định này, vì Giáo hội như thế nào đi nữa, chúng ta cũng có nghĩa vụ và quyền lợi để dựng xây cộng đoàn Giáo hội.
– Vì khẳng định trên, nên lắng nghe luôn được đề cao trong tiến trình hiệp hành này. Trước là lắng nghe tiếng Chúa, sau là lắng nghe những chia sẻ của nhau. Đây là yếu tố rất giống với cách hiểu về tư duy phản biện mà ngoài xã hội đang theo đuổi: “Lắng nghe là bước đầu tiên, đòi hỏi khối óc và con tim rộng mở, không thành kiến.” Giáo hội tin rằng càng lắng nghe nhau, chúng ta càng biết mình nên làm gì và cần phản biện ra sao!
– Nếu như tư duy phản biện cho chúng ta tự tin, thì ở đây, Giáo hội mời gọi mỗi người can đảm và mạnh dạn (parrhesia) lên tiếng; nghĩa là, phải bao gồm cả sự tự do, chân lý và bác ái.
– Để tư duy phản biện tốt trong Giáo hội, một hình ảnh rất đẹp khi cộng đoàn lắng nghe Lời Chúa và cử hành Thánh Thể. Nếu bạn xa nguồn ân sủng, không ai dám chắc bạn sẽ phản biện đúng với tinh thần của Chúa! Ước gì con tim và khối óc của tôi gần Thiên Chúa, lúc ấy tư duy phản biện của tôi càng ngời sáng trước cộng đoàn.
– Ở trên, tư duy phản biện đòi người ta dấn thân, thì ở đây, tư duy trong tiến trình hiệp hành cũng thôi thúc chúng ta dấn bước. Nghĩa là tư duy phản biện trong: hiệp thông, tham gia và sứ vụ.
– Sau cùng, có lẽ từ gần với tư duy phản biện nhất đang được Giáo hội theo đuổi đó là phân định. “Sự phân định thiêng liêng (Discernment) là việc phán đoán dựa trên đức khôn ngoan và sự hướng dẫn của Thần Khí để nhận ra ý Chúa và làm theo sự thúc đẩy của Ngài.”[4] Theo định nghĩa này, chúng ta thấy trong đó có tư duy phản biện (phán đoán khôn ngoan), cộng với ơn Chúa (sức mạnh của Thánh Thần). Nếu tự dựa vào khả năng của riêng mình, chúng ta không khác người đời. Là con Chúa, là thành phần trong cộng đoàn, chúng ta muốn cùng nhau góp ý, kiến tạo Giáo hội, giúp nhau tiến lên trong sự thánh thiện.
- Tư duy phản biện tốt hay xấu?
Trong Giáo hội, lối tư duy này sẽ gây hại nếu chúng ta chỉ dựa vào khả năng của riêng mình. Có rất nhiều phương pháp giúp tư duy phản biện tốt. Tôi muốn áp dụng chúng khi xây dựng cộng đoàn, nhưng tôi không cầu nguyện. Nghĩa là tôi chẳng để ý đến Thiên Chúa, hoặc những rung động nội tâm mình. Tôi cũng không đủ bác ái để đón nhận những giới hạn của anh em mình. Điều này rất dễ dẫn chúng ta đến thói kiêu ngạo, cho mình là hơn người và xem thường những ai không có khả năng tư duy phản biện. Ước gì chúng ta không đi vào con đường này!
Ngược lại, tư duy phản biện sẽ rất tốt nếu chúng ta sử dụng tài năng của mình cộng với ơn của Chúa. Nói cách khác, Giáo hội mời chúng ta sẵn sàng hoán cải và thay đổi. “Thông thường, chúng ta có thể kháng cự những gì Chúa Thánh Thần đang cố gắng thôi thúc chúng ta đón nhận. Chúng ta được kêu gọi từ bỏ những thái độ tự mãn và an phận khiến chúng ta đưa ra những quyết định chỉ dựa vào những cách thức hoạt động xưa cũ.”[5]
Giáo hội đang khuyến khích chúng ta tư duy phản biện trong bối cảnh thiêng liêng. Hoặc nói như Đức Thánh Cha Phanxicô: “Phân định (tư duy phản biện?) phải dựa trên niềm xác tín rằng Thiên Chúa vẫn đang hoạt động trong thế giới và chúng ta được kêu gọi để lắng nghe điều Thần Khí khơi gợi nơi chúng ta”[6].
Để có được tinh thần trên, đúng là thách đố không chỉ cho giáo dân, nhưng cả với hàng giáo phẩm. Làm sao chúng ta, mọi thành phần của Giáo hội, ngồi xuống, gặp gỡ và chia sẻ chân thành mọi vấn đề liên quan? Giáo hội đã chỉ dẫn rất rõ trong Cẩm nang cho Thượng Hội đồng về tính hiệp hành[7]. Ở đây tôi liệt kê vài điểm có thể giúp chúng ta mạnh dạn tư duy phản biện với rất nhiều tình yêu: Loại bỏ các thành kiến và khuôn mẫu sẵn; Vượt khỏi tai họa giáo sĩ trị; Chữa trị virus tự mãn; Nâng cao niềm hy vọng; Quan điểm mới mẻ; Tinh thần cởi mở; Lắng nghe mọi người và mỗi người; Hiểu biết về việc “cùng nhau cất bước hành trình”, v.v. Khi đó, chúng ta có thể tự tin rằng: “Ôi! Giáo hội vẫn mời gọi tôi tư duy phản biện, mời tôi tham gia đóng góp tài năng của mình để dựng xây cộng đoàn, xây dựng Nước Chúa.”
Cầu chúc mỗi chúng ta can đảm tập lối tư duy phản biện theo nghĩa phân định. Thách đố nhưng cần cho mỗi chúng ta. Đừng quên đây là một tiến trình, nên đòi kiên nhẫn tập tư duy phản biện với Thiên Chúa và với anh chị em trong cộng đoàn.
Lm. Giuse Phạm Đình Ngọc SJ
[2] Đọc thêm: https://www.pace.edu.vn/tin-kho-tri-thuc/tu-duy-phan-bien
[3] https://tgpsaigon.net/bai-viet/hiep-hanh-la-loi-song-cua-hoi-thanh-64898
[4] Từ điển Công Giáo, Mục từ Phân Định Thiêng Liêng.
[5] X. Cẩm nang cho Thượng Hội đồng về tính hiệp hành, mục 2.3, https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/cam-nang-cho-thuong-hoi-dong-giam-muc-ve-tinh-hiep-hanh-42941
[6] Như trên
[7] https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/cam-nang-cho-thuong-hoi-dong-giam-muc-ve-tinh-hiep-hanh-42941
