2024
Gương Sáng Của Các Thánh Tử Đạo Việt Nam
Gương Sáng Của Các Thánh Tử Đạo Việt Nam
Hôm nay, chúng ta tụ họp nơi đây để cùng nhau suy niệm và tôn vinh gương sáng của các thánh tử đạo Việt Nam. Những người đã sống và chết vì đức tin, họ là những nhân chứng vĩ đại cho lòng kiên định, can đảm và sự hy sinh vì Tin Mừng. Qua cuộc đời và cái chết của họ, chúng ta được mời gọi để suy nghĩ về đức tin của chính mình và những gì chúng ta sẵn sàng làm cho Chúa.
Chúng ta cùng nhau nhìn lại lịch sử vẻ vang của các thánh tử đạo Việt Nam, những người đã dũng cảm đứng vững trong đức tin trong những giai đoạn khó khăn nhất của đất nước. Từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19, đất nước ta chứng kiến nhiều cuộc bách hại tôn giáo, đặc biệt là đối với các Kitô hữu. Trong bối cảnh đó, các thánh tử đạo đã để lại cho chúng ta những gương sáng chói lòa về lòng kiên trung và sự hy sinh.
Cuối thế kỷ 16, khi các nhà truyền giáo phương Tây bắt đầu đặt chân đến Việt Nam, họ mang theo ánh sáng của Tin Mừng. Tuy nhiên, sự hiện diện của họ đã dẫn đến sự phản kháng từ chính quyền và những người không chấp nhận đức tin mới. Từ đó, nhiều cuộc bách hại diễn ra, nhắm vào các Kitô hữu, đặc biệt là những người lãnh đạo cộng đoàn.
Trong bối cảnh đó, các thánh tử đạo đã không chỉ là những người tín hữu bình thường, mà còn là những nhân chứng sống cho sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời sống xã hội. Họ đã phải đối mặt với sự trừng phạt, tra tấn, và thậm chí cái chết, nhưng vẫn kiên định giữ vững đức tin của mình.
Trong số hàng trăm ngàn Kitô hữu đã hy sinh, một số vị thánh đã nổi bật như những hình mẫu cho sự kiên trì và lòng dũng cảm. Thánh Anrê Dũng, một trong những vị thánh tiêu biểu, đã bị bắt giam và tra tấn tàn bạo vì từ chối từ bỏ đức tin. Ngài đã trở thành một hình mẫu cho những ai sẵn sàng hy sinh vì Chúa.
Thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh, một người sống trong thế kỷ 19, cũng là một thánh tử đạo tiêu biểu. Khi bị bắt, thay vì chối bỏ đức tin, Ngài đã dũng cảm tuyên bố mình là Kitô hữu và sẵn sàng đối diện với cái chết. Câu nói cuối cùng của Ngài, “Tôi sẽ không từ bỏ Chúa”, đã trở thành một di sản tinh thần vô giá cho các thế hệ sau.
Lịch sử của các thánh tử đạo Việt Nam không chỉ là một chuỗi các sự kiện đau thương, mà còn là một bài học quý giá về đức tin. Họ đã sống và chết vì một lý tưởng cao đẹp, không chỉ cho bản thân mà còn cho toàn thể dân tộc. Những gương sáng này nhắc nhở chúng ta rằng đức tin không chỉ là một phần của đời sống cá nhân mà còn là một trách nhiệm với cộng đồng.
Thời gian bách hại không chỉ thử thách sức mạnh của đức tin, mà còn là cơ hội để những tín hữu khẳng định niềm tin của mình trước những thử thách. Những người đã hy sinh cho đức tin là những tấm gương để chúng ta noi theo, để sống đức tin một cách trọn vẹn trong cuộc sống hàng ngày
Đức tin kiên định không chỉ đơn thuần là một cảm xúc hoặc một niềm tin thoáng qua. Nó là một quyết tâm mạnh mẽ, một sự xác tín sâu sắc rằng Thiên Chúa luôn hiện diện và hành động trong cuộc đời của chúng ta. Khi đối diện với những thử thách, nỗi đau hay sự khổ sở, đức tin kiên định giúp chúng ta đứng vững, giữ được lòng trung thành với Chúa.
Nhiều khi, cuộc sống không dễ dàng và chúng ta phải đối mặt với những hoàn cảnh khó khăn. Tuy nhiên, nếu chúng ta có đức tin kiên định, chúng ta sẽ tìm thấy sức mạnh để vượt qua mọi gian nan. Đó là khi chúng ta tin tưởng vào tình yêu và sự quan tâm của Thiên Chúa, ngay cả khi mọi thứ xung quanh dường như đang sụp đổ.
Chúng ta không thể không nhắc đến những gương sáng của các thánh tử đạo, những người đã sống và chết vì đức tin của mình. Họ là những người đã đối mặt với cái chết một cách kiên cường, không hề nao núng, dù phải trải qua những thử thách khắc nghiệt nhất.
Thánh Anrê Dũng, một trong những thánh tử đạo nổi tiếng, đã phải chịu đựng sự tra tấn tàn bạo. Dù bị giam cầm, đánh đập, và đứng trước nguy cơ mất mạng, Ngài vẫn kiên định tuyên xưng đức tin. Trước khi chịu chết, Ngài đã kêu gọi những người chứng kiến hãy giữ vững đức tin, nhắc nhở họ rằng sự trung thành với Chúa là điều quan trọng nhất trong cuộc đời. Câu chuyện của Ngài không chỉ là một câu chuyện bi thảm, mà còn là một lời mời gọi mạnh mẽ cho tất cả chúng ta.
Những gương mặt khác như Thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh cũng đã thể hiện đức tin kiên định của mình. Khi bị bắt và đứng trước sự lựa chọn giữa việc từ bỏ đức tin hoặc phải chịu chết, Ngài đã chọn cái chết. Sự kiên cường và lòng trung thành của Ngài không chỉ để lại cho chúng ta một di sản đức tin mà còn là một động lực để chúng ta sống xứng đáng hơn với ơn gọi Kitô hữu.
Đức tin kiên định không chỉ là việc chúng ta đứng vững trong những lúc khó khăn mà còn là một thái độ sống tích cực trong mọi hoàn cảnh. Khi chúng ta có đức tin kiên định, chúng ta sẽ thấy được sự hiện diện của Thiên Chúa trong từng khoảnh khắc của cuộc sống, ngay cả khi mọi thứ xung quanh có vẻ tăm tối.
Hãy nhớ rằng, đức tin kiên định cũng mang đến cho chúng ta sự an bình trong tâm hồn. Khi đối diện với thử thách, chúng ta sẽ không còn cảm thấy cô đơn, mà sẽ cảm nhận được sự đồng hành của Chúa. Chính điều này giúp chúng ta có đủ can đảm để vượt qua mọi trở ngại.
Khi đối diện với thử thách, các thánh tử đạo đã không chỉ thể hiện lòng kiên định mà còn là lòng can đảm phi thường. Họ đã vượt qua nỗi sợ hãi của cái chết để khẳng định đức tin của mình. Điều này không chỉ là một hành động cá nhân mà còn là một tuyên ngôn mạnh mẽ về niềm tin vào Chúa Kitô.
Lòng can đảm của họ đã trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều tín hữu. Thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh, khi bị bắt giữ, đã nói với những người bắt giam mình rằng: “Tôi không sợ chết, vì tôi biết mình sẽ được gặp Chúa”. Đây là một thái độ của một người tin tưởng vào ơn cứu độ, một người không chỉ sống cho bản thân mà còn sống cho cộng đoàn.
Các thánh tử đạo không chỉ là những người đã hy sinh mạng sống vì đức tin, mà họ còn là những tấm gương sống động cho chúng ta trong cuộc sống hàng ngày. Họ đã phải đối mặt với bách hại, tra tấn, và sự từ chối của xã hội, nhưng họ vẫn kiên định trong đức tin. Chính sự can đảm và lòng trung thành của họ đã trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều thế hệ tín hữu.
Trong cuộc sống hiện đại, có thể chúng ta không phải đối mặt với những bách hại nghiêm trọng như các thánh tử đạo, nhưng chúng ta vẫn phải đối diện với nhiều thử thách khác trong việc giữ vững đức tin. Những cám dỗ từ cuộc sống hàng ngày, sự ích kỷ, và những giá trị sai lệch của xã hội có thể khiến chúng ta chao đảo.
Làm thế nào chúng ta có thể sống đức tin giữa những cám dỗ này? Trước tiên, chúng ta cần phải sống can đảm. Điều này không có nghĩa là không bao giờ cảm thấy sợ hãi hay nghi ngờ, mà là sẵn sàng đứng vững trong niềm tin của mình bất chấp những khó khăn. Các thánh tử đạo đã cho chúng ta thấy rằng đức tin không chỉ là một niềm tin tôn giáo, mà còn là một cam kết sâu sắc để sống theo những giá trị mà Chúa Giêsu đã truyền dạy.
Hãy nhớ rằng, can đảm không phải lúc nào cũng thể hiện qua những hành động lớn lao. Đôi khi, nó chỉ đơn giản là việc đứng vững trong những điều nhỏ nhặt, như là từ chối tham gia vào những hành vi không đúng đắn, hoặc sẵn sàng giúp đỡ người khác khi họ cần.
Sống đức tin còn có nghĩa là sẵn sàng hy sinh cho người khác. Các thánh tử đạo không chỉ sống cho chính mình mà còn vì những người xung quanh. Họ đã đặt lợi ích của người khác lên trên bản thân, ngay cả khi điều đó có thể dẫn đến cái chết. Đây là một bài học sâu sắc cho chúng ta trong thế giới hôm nay, nơi mà sự ích kỷ và tham lam thường chi phối hành động của con người.
Hãy đặt câu hỏi cho chính mình: “Tôi đã làm gì để giúp đỡ người khác trong cuộc sống hàng ngày?” Hay “Tôi có sẵn sàng hy sinh thời gian và công sức để phục vụ cộng đồng hay không?” Sống đức tin không chỉ là việc tham gia các hoạt động tôn giáo mà còn là việc thể hiện tình yêu thương qua hành động thực tế.
Cuối cùng, sống đức tin là kiên định trong niềm tin của mình. Đức tin của chúng ta cần phải được nuôi dưỡng và củng cố qua cầu nguyện, tham dự thánh lễ, và học hỏi Lời Chúa. Khi chúng ta có một mối quan hệ sâu sắc với Thiên Chúa, chúng ta sẽ dễ dàng vượt qua những thử thách mà cuộc sống mang lại.
Thánh Phaolô đã viết: “Tôi có thể làm mọi sự nhờ Đấng ban sức mạnh cho tôi” (Philíp 4,13). Chỉ khi chúng ta đặt niềm tin nơi Chúa, chúng ta mới có thể tìm thấy sức mạnh để vượt qua mọi khó khăn. Chính đức tin kiên định sẽ là nền tảng giúp chúng ta đứng vững trong mọi hoàn cảnh.
Hôm nay, khi chúng ta tưởng nhớ đến các thánh tử đạo Việt Nam, hãy để cho gương sáng của họ thắp sáng tâm hồn chúng ta. Hãy để đức tin và lòng can đảm của họ thúc đẩy chúng ta sống một cuộc đời tràn đầy ý nghĩa, không chỉ cho bản thân mà còn cho những người xung quanh.
Xin Chúa ban cho chúng ta sức mạnh và can đảm để sống theo đức tin mà các thánh đã truyền lại. Hãy nhớ rằng, như lời Chúa Giêsu đã nói: “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Ta.” Chúng ta được mời gọi để sống đức tin một cách cụ thể trong cuộc sống hàng ngày, như các thánh tử đạo đã làm.
2024
Thánh An-rê Trần An Dũng Lạc và các bạn, tử đạo
Thánh An-rê Trần An Dũng Lạc và các bạn, tử đạo
Ca nhập lễ
Tv 125,5
Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống,
mùa gặt mai sau khấp khởi mừng.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa, Chúa đã ban cho Hội Thánh Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại: luôn can đảm làm chứng cho Chúa và trung kiên mãi đến cùng. Chúng con cầu xin…
Bà mẹ là người đáng khâm phục, vì bà can đảm chịu đựng nhờ niềm trông cậy bà đặt nơi Đức Chúa.
Bài trích sách Ma-ca-bê quyển thứ hai.
1 Hồi ấy, có bảy anh em bị bắt cùng với bà mẹ. Vua An-ti-ô-khô cho lấy roi và gân bò mà đánh họ, để bắt họ ăn thịt heo là thức ăn luật Mô-sê cấm.
20 Bà mẹ là người rất mực xứng đáng cho ta khâm phục và kính cẩn ghi nhớ. Bà thấy bảy người con trai phải chết nội trong có một ngày, thế mà bà vẫn can đảm chịu đựng nhờ niềm trông cậy bà đặt nơi Đức Chúa. 21 Bà dùng tiếng mẹ đẻ mà khuyến khích từng người một, lòng bà đầy tâm tình cao thượng ; lời lẽ của bà tuy là của một người phụ nữ, nhưng lại sôi sục một chí khí nam nhi ; bà nói với các con : 22 “Mẹ không rõ các con đã thành hình trong lòng mẹ thế nào. Không phải mẹ ban cho các con thần khí và sự sống. Cũng không phải mẹ sắp đặt các phần cơ thể cho mỗi người trong các con. 23 Chính Đấng Tạo Hoá càn khôn đã nắn đúc nên loài người, và đã sáng tạo nguồn gốc muôn loài. Chính Người do lòng thương xót, cũng sẽ trả lại cho các con thần khí và sự sống, bởi vì bây giờ các con trọng Luật Lệ của Người hơn bản thân mình.”
27b Bà nói với người con út : “Con ơi, con hãy thương mẹ : chín tháng cưu mang, ba năm bú mớm, mẹ đã nuôi nấng dạy dỗ con đến ngần này tuổi đầu. 28 Mẹ xin con hãy nhìn xem trời đất và muôn loài trong đó, mà nhận biết rằng Thiên Chúa đã làm nên tất cả từ hư vô, và loài người cũng được tạo thành như vậy. 29 Con đừng sợ tên đao phủ này ; nhưng hãy tỏ ra xứng đáng với các anh con, mà chấp nhận cái chết, để đến ngày Chúa thương xót, Người sẽ trả con và các anh con cho mẹ.”
Đáp ca
Tv 125,1-2ab.2cd-3.4-5.6 (Đ. c.5)
Đ.Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống,
mùa gặt mai sau khấp khởi mừng.
1Khi Chúa dẫn tù nhân Xi-on trở về,
ta tưởng mình như giữa giấc mơ.2abVang vang ngoài miệng câu cười nói,
rộn rã trên môi khúc nhạc mừng.
Đ.Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống,
mùa gặt mai sau khấp khởi mừng.
2cdBấy giờ trong dân ngoại, người ta bàn tán :
“Việc Chúa làm cho họ, vĩ đại thay !”3Việc Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại !
Ta thấy mình chan chứa một niềm vui.
Đ.Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống,
mùa gặt mai sau khấp khởi mừng.
4Lạy Chúa, xin dẫn tù nhân chúng con về,
như mưa dẫn nước về suối cạn miền Nam.5Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống,
mùa gặt mai sau khấp khởi mừng.
Đ.Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống,
mùa gặt mai sau khấp khởi mừng.
6Họ ra đi, đi mà nức nở,
mang hạt giống vãi gieo ;
lúc trở về, về reo hớn hở,
vai nặng gánh lúa vàng.
Đ.Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống,
mùa gặt mai sau khấp khởi mừng.
Bài đọc 2
Rm 8,31b-39
Dù sự chết hay sự sống cũng không tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa.
Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Rô-ma.
31b Thưa anh em, có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta ? 32 Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tiếc, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta. Một khi đã ban Người Con đó, lẽ nào Thiên Chúa lại chẳng rộng ban tất cả cho chúng ta ? 33 Ai sẽ buộc tội những người Thiên Chúa đã chọn ? Chẳng lẽ Thiên Chúa, Đấng làm cho nên công chính ? 34 Ai sẽ kết án họ ? Chẳng lẽ Đức Giê-su Ki-tô, Đấng đã chết, hơn nữa, đã sống lại, và đang ngự bên hữu Thiên Chúa mà chuyển cầu cho chúng ta ?
35 Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Ki-tô ? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo ? 36 Như có lời chép : Chính vì Ngài mà mỗi ngày chúng con bị giết, bị coi như bầy cừu để sát sinh.
37 Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta.
38 Đúng thế, tôi tin chắc rằng : cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, 39 trời cao hay vực thẳm, hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta.
Tung hô Tin Mừng
Mt 5,10
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a.
Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính,
vì Nước Trời là của họ. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng
Lc 9,23-26
Ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
23 Khi ấy, Đức Giê-su nói với mọi người rằng : “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo. 24 Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất ; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy. 25 Vì người nào được cả thế giới mà phải đánh mất chính mình hay là thiệt thân, thì nào có lợi gì ? 26 Ai xấu hổ vì tôi và những lời của tôi, thì Con Người cũng sẽ xấu hổ vì kẻ ấy, khi Người ngự đến trong vinh quang của mình, của Chúa Cha và các thánh thiên thần.”
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, Chúa đã vui lòng chấp nhận lễ hy sinh của cha ông chúng con, xin cũng thương chấp nhận của lễ tiến dâng đây và làm cho chúng con trở nên của lễ đẹp lòng Chúa. Chúng con cầu xin…
Lời tiền tụng
Lạy Cha chí thánh là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Cha mọi nơi mọi lúc, thật là chính đáng, phải đạo và sinh ơn cứu độ cho chúng con.
Cha đã kêu gọi các bậc tiền bối của chúng con bước theo Chúa Kitô trên con đường thập giá để làm chứng cho Cha ngay từ lúc Tin Mừng mới được loan báo trên quê hương đất nước chúng con. Nhờ Cha ban ơn trợ giúp, những con người vốn mỏng dòn yếu đuối đã trở nên can đảm phi thường. Chính khi các ngài chịu trăm bề đau khổ, Cha biểu lộ cho mọi người thấy sức mạnh của tình thương.
Vì thế, cùng với triều thần thiên quốc, chúng con ở dưới trần gian luôn ca tụng Cha uy linh cao cả và không ngừng tung hô rằng:
Thánh! Thánh! Thánh!…
Ca hiệp lễ
- Rm 8,38-39
Dầu là sự sống hay sự chết.
Hoặc bất cứ một thọ sinh nào :
Không có gì tách được chúng ta
ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con vừa lãnh nhận Mình và Máu Ðức Kitô Con Chúa để mừng các thánh tử đạo tại Việt Nam. Xin cho chúng con vẫn một lòng tin tưởng giữa bao thử thách của cuộc đời, để mai sau cùng với các ngài chung hưởng phúc vinh quang. Chúng con cầu xin…
2024
VUA TÌNH YÊU – VUA SỰ THẬT
VUA TÌNH YÊU – VUA SỰ THẬT
Năm phụng vụ mở đầu bằng mầu nhiệm Nhập thể, tiếp nối qua hành trình rao giảng Tin mừng rồi cuộc Tử nạn, Phục sinh và kết thúc bằng vương quyền viên mãn của Đức Kitô. Như vậy, năm phụng vụ tượng trưng cho chu kỳ thời gian bắt đầu từ Đức Kitô và cuối cùng trở về với Ngài. Đức Kitô chính là khởi đầu và là cùng đích của vũ trụ và lịch sử nhân loại.
Đặt lễ Chúa Kitô Vua trong Chúa nhật cuối cùng năm phụng vụ, Giáo Hội nhắc nhở rằng, Đức Kitô chính là Vua của vũ trụ, Ngài là Chủ của thời gian, Chủ của lịch sử nhân loại và là Chủ của lịch sử mỗi người chúng ta. Chúa Kitô vượt trên thời gian để mãi mãi là vị Vua vĩnh cửu.
Đây là Chúa nhật cuối cùng của năm Phụng vụ. Sau diễn từ cuối cùng quan trọng trước công chúng trong đó Đức Giêsu loan báo rằng, giữa “thời tai họa”, Người sẽ đến quy tụ toàn thể loài người để hưởng “một mùa hè tươi đẹp” Đức Giêsu đề cập đến cái chết của người và Người bước vào cuộc thương khó: Đó là phần kết và là đỉnh cao của “Tin Mừng” theo Thánh Máccô, mà chúng ta đã đọc suốt năm nay.
Chúa nhật cuối cùng này, chúng ta thay đổi thánh sử. Đây là một trang Tin Mừng của Thánh Gioan, nhưng đúng ra chúng ta vẫn ở trong cùng một mạch văn cũ, là trong cùng một kết luận. Thánh Gioan chỉ đưa ra tước hiệu là Vua trong cuộc thương khó, vừa đau khổ vừa vinh quang. Bỗng nhiên, liên tiếp ông nói về “Vua”, “Vương quyền” (Ga 18,33.36.37.39; 19,3.12.14.15.19.21) nhưng đó là một ông Vua bị đóng đinh mà vương miện của Người là những gai nhọn. Vậy thì rõ ràng là “Vương quyền” của Đức Giêsu ở trên một bình diện hoàn toàn khác với bình diện chính trị.
Chúa Giêsu là Vua vũ trụ. Ngài đã được Chúa Cha ban cho mọi quyền năng trên trời dưới đất (Mt 28,18). Nhưng Ngài đã sống như một người tôi tớ phục vụ. Trong cuộc sống trần thế, Ngài vẫn luôn ý thức về vai trò quan trọng của mình trong việc cứu độ nhân loại. Ngài biết mình là Con Thiên Chúa. Thế nhưng cả cuộc đời Ngài là một sự phục vụ không ngừng. “Vua của các dân thì lấy quyền mà thống trị họ, và những ai cầm quyền thì tự xưng là ân nhân…
Bởi lẽ, giữa người ngồi ăn với kẻ hầu bàn, ai lớn hơn ai? Hẳn là người ngồi ăn chứ gì? Thế mà Thầy đây, Thầy sống giữa anh em như một người hầu bàn” (Lc 22,25-27). Chúa Giêsu tự nhận mình là người phục vụ như một kẻ hầu bàn, chỉ mong cho thực khách được ngon miệng. Kiểu làm vua của Chúa Giêsu là phục vụ, chứ không phải là được người ta phục vụ. Ngài làm vua bằng cách cúi xuống để làm cử chỉ hầu hạ của người nô lệ: “Nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Ga 13,14). Với Chúa Giêsu, cử chỉ đó là một việc làm bình thường gắn liền với quyền bính đích thực. Qua cung cách của Ngài, Chúa Giêsu đưa ra định nghĩa đúng đắn về quyền bính. Quyền bính đích thực đồng nghĩa với phục vụ và phục vụ cho đến hy sinh mạng sống.
Cử chỉ phục vụ cao cả nhất và khiêm hạ nhất của Chúa Giêsu là cái chết của Ngài trên thập giá. Cần chiêm ngưỡng vị vua bị đóng đinh thật lâu để hiểu được cách làm vua của Ngài. Trên đầu Ngài có gắn tấm bảng ghi dòng chữ: “Giêsu Nagiaret Vua dân Do Thái”, được viết bằng ba thứ tiếng: Do Thái, La Tinh, Hy Lạp, để ai cũng đọc được. Một vị vua lạ lùng! Không ngai vàng, chỉ có thập giá. Không vương miện, chỉ có vòng gai. Không cẩm bào, chỉ có trần trụi nhơ nhuốc. Không quan quân đứng hầu, chỉ có người qua kẻ lại nhiếc móc, chế nhiễu, lăng mạ. Một vị vua không có chút quyền lực, cũng chẳng áp bức ai.
Một vị vua của vâng phục và yêu thương tha thứ tất cả. Thập Giá vừa đưa Chúa Giêsu xuống vực thẳm, vừa nâng Người lên cao. Chúa Giêsu trở thành vua vũ trụ nhờ đi vào con đường thập giá, con đường tử bỏ mình để khiêm tốn phục vụ, con đường hẹp nhưng không phải là con đường cùng, mà là con đường dẫn đến vinh quang. “Khi nào Ta được đưa lên cao khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người lên với Ta” (Ga 12,3). Vua Giêsu hôm nay vẫn tiếp tục thu hút cả vũ trụ nhân loại với Ngài. Nước của Ngài đã được khai mạc và nước ấy vẫn lan rộng không ngừng nhờ có những người dám “đứng về phía sự thật” và “nghe được tiếng Ngài mời gọi” (Ga 18,37).
Nước của Vua Giêsu không có trên bản đồ, bởi lẽ Nước ấy “ở trong thế gian này” nhưng “không thuộc về thế gian này”. “Ở trong thế gian”, nghĩa là không xa cách, nhưng hòa quyện với thế gian như men trong bột, như muối ướp thức ăn. Nhưng “không thuộc về thế gian này”, nghĩa là không chạy theo những thần tượng của thế gian: quyền lực, tiền của, khoái lạc… Thế gian sa đọa là thế gian chống lại Nước Chúa và cũng chống lại quyền lực của con người. Thế nên, xây dựng Nước Chúa cũng là xây dựng một xã hội công bằng, bác ái, tôn trọng con người. Chúng ta cầu nguyện: “Xin cho Nước Cha trị đến”, được mọi người nhận biết. Nhưng Nước Cha chỉ thành tựu khi Chúa Giêsu Kitô được mọi người tuyên xưng là Chúa, là Đấng Cứu Độ là Vua cả hoàn vũ. Nước Cha và Nước Chúa Kitô là một. “Vào lúc tận thế, Chúa Kitô sẽ trao lại Nước cho Chúa Cha, sau khi Ngài đã hủy diệt và khuất phục quyền lực sự dữ, để cuối cùng, Thiên Chúa làm mọi sự cho mọi người” (x.1Cr 15,24-28).
Hôm nay, Giáo hội kêu mời chúng ta tôn vinh và nhìn nhận Chúa là Vua, Vua cá nhân, gia đình và xã hội. Giáo hội chọn ngày Chúa nhật sau hết của năm Phụng vụ, để tôn vinh Chúa, như chóp đỉnh của vũ trụ. Trong cả năm, chúng ta mừng các mầu nhiệm về Chúa, mừng sự toàn thắng của các thánh. Nhưng khi chúng ta ca ngợi sự toàn thắng của các Thánh là chúng ta ca ngợi sự toàn thắng của Chúa nơi các Thánh. Nên để kết thúc năm Phụng vụ, Giáo hội mời chúng ta hướng về Chúa Giêsu là trung tâm của vũ trụ, là Đấng Thánh, Đấng qui tụ vạn vật để trao lại cho Đức Chúa Cha: “Mọi sự đã nhờ Ngài mà có và không Ngài thì không gì đã thành sự” (Ga 1,3). Ngài là Vua vũ trụ.
Trước mặt Philatô, Chúa Giêsu đã xác định: “Ta là Vua”. Ngài là Vua vì Ngài là Con Thiên Chúa, Đấng tạo thành vạn vật. Ngài là Vua vì đã chiến thắng tội lỗi và ma quỉ, nhờ sự chết và sự sống lại vinh quang. Nhưng Ngài tuyên bố rõ ràng: Nước Ngài không phải ở trần gian này. Vương quyền của Ngài không dựa trên vũ khí thế lực. Vương quyền của Ngài dựa trên tình yêu. Bao nhiêu vua chúa, bao nhiêu triều đại vang bóng một thời, rồi đi vào quên lãng và điêu tàn sụp đổ. Còn Ngài, Ngài vẫn chiến thắng, vẫn hiển trị trên các tâm hồn. Không ai đòi hỏi như Ngài dám đòi hỏi, nhưng cũng không ai được yêu mến như Ngài được yêu mến. Chúa là Vua các Thánh Đồng Trinh, là Vua các Thánh Tử Đạo, là Vua mọi tâm hồn.
Đấng là Vua vinh hiển ấy, tiên tri Danien đã nhìn thấy “như Con Người đến trong đám mây trời… quyền năng vĩnh cửu” (Dan 7,13), và Gioan, cụ già trên đảo Patmos đã được thị kiến: “Đấng là Alpha và Ômêga là nguyên thủy, là cùng tận, Đấng đang có, đã có và sẽ đến. Đấng là Thiên Chúa” (Kh 1,8). “Ngài làm cho chúng ta thành một vương quốc tư tế, để phụng sự Đức Chúa Cha, là Thiên Chúa và Cha của Ngài”.
Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi
Vậy thì vương quyền của Chúa Kitô Vua hệ tại điều gì? Đó là quy tụ lại để cùng lắng nghe “một giọng nói” tất cả những ai thuộc về sự thật”. Người “trị vì” nhờ Đức tin mà chúng ta dâng cho Người, nhờ thái độ tín thác mà chúng ta đặt vào Lời của Người, nhờ nếp sống hằng ngày của chúng ta luôn phù hợp với “Tiếng nói của Người. Không ai có thể thoát khỏi “Vương quyền” này.
Là con người, chúng phải chọn lựa thái độ theo hay chống lại “Sự thật”. Làm vinh danh Chúa Kitô Vua, không phải là đốt hương trầm cho Người, không phải là tổ chức những lễ long trọng mừng Người, giống như những danh vọng hư ảo của các Vua Chúa trần gian. Nhưng chính là lắng nghe tiếng nói của Người, và làm sao cho cuộc sống cá nhân, gia đình, nghề nghiệp và xã hội hoàn toàn phù hợp với “Tiếng nói đó”
2024
LỄ CHÚA KI-TÔ VUA
LỄ CHÚA KI-TÔ VUA
lễ trọng
Ca nhập lễ
Kh 5,12 ; 1,6
Con Chiên đã bị giết
nay xứng đáng lãnh nhận
thần tính và uy quyền,
khôn ngoan cùng sức mạnh,
danh dự với vinh quang.
Kính dâng Người vinh dự và quyền năng
đến muôn thuở muôn đời.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã muốn quy tụ muôn loài dưới quyền lãnh đạo của Ðức Kitô là người Con Chúa hằng ưu ái, và là Vua toàn thể vũ trụ. Xin cho hết mọi loài thọ sinh đã được cứu khỏi vòng nô lệ tội lỗi biết phụng thờ Chúa là Ðấng cao cả uy linh và không ngớt lời ngợi khen chúc tụng. Chúng con cầu xin…
Bài đọc 1
Đn 7,13-14
Quyền thống trị của Người là quyền vĩnh cửu.
Bài trích sách ngôn sứ Đa-ni-en.
13Trong những thị kiến ban đêm, tôi mải nhìn thì kìa :
có ai như một Con Người đang ngự giá mây trời mà đến.
Người tiến lại gần bên Đấng Lão Thành
và được dẫn đưa tới trình diện.
14Đấng Lão Thành trao cho Người
quyền thống trị, vinh quang và vương vị ;
muôn người thuộc mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ
đều phải phụng sự Người.
Quyền thống trị của Người là quyền vĩnh cửu,
không bao giờ mai một ;
vương quốc của Người sẽ chẳng hề suy vong.
Đáp ca
Tv 92,1ab.1c-2.5 (Đ. c.1a)
Đ.Chúa là vua hiển trị,
Chúa mặc oai phong tựa cẩm bào.
1abChúa là Vua hiển trị,
Chúa mặc oai phong tựa cẩm bào,
Người lấy dũng lực làm cân đai.
Đ.Chúa là vua hiển trị,
Chúa mặc oai phong tựa cẩm bào.
1cChúa thiết lập địa cầu, địa cầu không lay chuyển.2Ngai vàng Chúa kiên cố tự ngàn xưa :
Ngài hiện hữu tự muôn ngàn đời.
Đ.Chúa là vua hiển trị,
Chúa mặc oai phong tựa cẩm bào.
5Lạy Chúa, thánh chỉ Ngài thật là bền vững,
nơi đền vàng rực lên toàn thánh thiện
triền miên qua mọi thời.
Đ.Chúa là vua hiển trị,
Chúa mặc oai phong tựa cẩm bào.
Bài đọc 2
Kh 1,5-8
Vị Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian đã làm cho chúng ta trở thành vương quốc và hàng tư tế để phụng sự Thiên Chúa.
Bài trích sách Khải huyền của thánh Gio-an tông đồ.
5 Đức Giê-su Ki-tô là vị Chứng Nhân trung thành, là Trưởng Tử trong số những người từ cõi chết trỗi dậy, là Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian. Người đã yêu mến chúng ta và lấy máu mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, 6 làm cho chúng ta trở thành vương quốc và hàng tư tế để phụng sự Thiên Chúa là Cha của Người : kính dâng Người vinh quang và uy quyền đến muôn thuở muôn đời. A-men ! 7 Kìa, Người ngự đến giữa đám mây. Ai nấy sẽ thấy Người, cả những kẻ đã đâm Người. Mọi dân trên mặt đất sẽ đấm ngực than khóc khi thấy Người. Đúng thế ! A-men !
8 Đức Chúa là Thiên Chúa phán : “Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là Đấng hiện có, đã có và đang đến, là Đấng Toàn Năng.”
Tung hô Tin Mừng
Mc 11,9.10
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa ! Chúc tụng triều đại đang tới, triều đại vua Đa-vít tổ phụ chúng ta. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng
Ga 18,33b-37
Chính ngài nói rằng tôi là vua.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
33b Khi ấy, quan Phi-la-tô nói với Đức Giê-su rằng : “Ông có phải là vua dân Do-thái không ?” 34 Đức Giê-su đáp : “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi ?” 35 Ông Phi-la-tô trả lời : “Tôi là người Do-thái sao ? Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì ?” 36 Đức Giê-su trả lời : “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do-thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này.” 37 Ông Phi-la-tô liền hỏi : “Vậy ông là vua sao ?” Đức Giê-su đáp : “Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này : làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.”
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, chúng con thành khẩn dâng lên Chúa lễ tế hoà giải của Ðức Kitô, và tha thiết van nài cho mọi dân, mọi nước, nhờ Người, được hiệp nhất và bình an. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.
Lời tiền tụng
Lạy Chúa là Cha chí thánh là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc thật là chính đáng phải đạo và sinh ơn cứu độ cho chúng con.
Chúa đã xức dầu hoan lạc tấn phong Con Một Chúa là Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng con làm linh mục đời đời và làm vua vũ trụ, để khi hiến thân trên bàn thờ thập giá làm lễ phẩm hoà giải và tinh tuyền, người hoàn tất mầu nhiệm cứu chuộc chúng con. Khi đã bắt mọi loài quy phục quyền bính mình, Người trao lại cho Chúa là Ðấng uy linh cao cả, một vương quốc vĩnh cữu và vô biên: vương quốc đầy tràn sự thật và sự sống, đầy tràn ân sủng và thánh thiện, đầy tràn tình thương, công lý và bình an.
Vì thế, cùng với toàn thể Thiên thần và các thánh, chúng con không ngừng hát bài ca chúc tụng Chúa vinh hiển và tung hô rằng:
Thánh! Thánh! Thánh!…
Ca hiệp lễ
Tv 28,10-11
Chúa là Vua ngự trị muôn đời
Người tuôn đổ phúc lành
cho dân hưởng bình an.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, chúng con được vinh dự sống theo lời giáo huấn của Ðức Kitô là Vua toàn thể vũ trụ, chúng con cũng vừa lãnh nhận thần lương ban sự sống muôn đời: xin cho chúng con được mãi mãi cùng Người hưởng vinh quang thiên quốc. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.
