2020
ĐHY Turkson đại diện Đức Thánh Cha đến thăm bệnh viện Gemelli
Chiều thứ Sáu 03/04, Đức Hồng y Peter Turkson, Tổng trưởng Bộ Phục vụ và Phát triển con người toàn diện đã đến thăm bệnh viện Gemelli ở Roma, để bày tỏ sự gần gũi của Đức Thánh Cha đối với những người bị nhiễm virus corona và các nhân viên y tế.
Đi cùng với Đức Hồng y Tổng trưởng có Đức ông Segundo Tejado Muño, Phó Tổng Thư ký của Bộ và cha Nicola Riccardi. Phái đoàn đã gặp các nhân viên y tế, những người đã tận tụy chăm sóc cho các bệnh nhân nhiễm virus corona. Phái đoàn cũng gửi lời chào thăm của Đức Thánh Cha đến tất cả những người bị nhiễm virus corona, gia đình của họ và các linh mục đang thi hành thừa tác vụ mục vụ trong bệnh viện.
Trước khi ra về, Đức Hồng y Turkson đã tặng các chuỗi Mân Côi được Đức Thánh Cha làm phép và bảo đảm với họ rằng Giáo hội cầu nguyện và nâng đỡ họ trong thời điểm khó khăn chiến đấu chống đại dịch, cũng như những khó khăn về thể lý cũng như tinh thần.
Các nhân viên y tế đang làm công việc của các vị tử đạo
Trong cuộc phỏng vấn sau cuộc viếng thăm, Đức Hồng y khen ngợi các nhân viên và ban quản trị của bệnh viện. Trích lời của thánh Carlo Boromeo, người đã sống trong một trận đại dịch, ngài nhận định rằng các nhân viên chăm sóc sức khỏe đang làm công việc của các vị tử đạo. Đức Hồng y cho biết Đức Thánh Cha đang chuẩn bị tặng 30 đến 50 máy thở để giúp bệnh viện Gemelli thi hành công việc quan trọng là cứu sự sống.
Tình liên đới chia sẻ của gia đình nhân loại trong đại dịch
Đức Hồng y Tổng trưởng Bộ phục vụ và Phát triển con người toàn diện cho biết ngài thấy hy vọng khi thế giới “học sống tình huynh đệ và liên đới.” Ngài cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục, chia sẻ kiến thức, hoạt động liên đới với nhau, cùng nhau làm việc và xem toàn thế giới trong hoàn cảnh đại dịch hiện tại như một gia đình, trong đó tất cả chúng ta là các thành viên và là anh chị em, và học cách giúp đỡ nhau từ các nguồn kiến thức của chúng ta.
Hồng Thủy – Vatican
2020
Ý nghĩa Chúa Nhật Lễ Lá
Với Lễ Lá, chúng ta bắt đầu tuần lễ quan trọng nhất của Năm Phụng Vụ gọi là Tuần Thánh.
Trong Tuần Thánh, chúng ta cử hành cuộc khổ nạn, sự chết và nhất là sự Phục Sinh của Chúa Giêsu, Ðấng Cứu Thế. Dầu cho với cái nhìn chính trị, xã hội của con mắt người đời, việc Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem để mừng lễ Vượt Qua, là một việc có tính cách gây rối chính trị, vì đế quốc Rôma đang cai trị và Hêrôđê đang làm vua. Nhưng Chúa Giêsu, Người biết rõ việc Người làm. Trước mặt Philatô, Người tuyên bố rõ ràng: “Tôi là Vua nhưng nước tôi không thuộc về thế gian này”.
Vậy Phụng vụ Lễ Lá có thể gợi lên cho chúng ta ba ý nghĩa
– Trước tiên Chúa Nhật Lễ Lá là việc tưởng niệm cuộc vào thành Giêrusalem long trọng của Chúa Giêsu trước khi Người chịu khổ hình và chết. Biến cố đó cho chúng ta thấy Chúa Giêsu biết rằng giờ của Người đã đến, biết rằng Người phải làm gì và Người đã tự nguyện bước vào cái chết sinh ơn cứu độ, như hạt lúa miến đã chết đi để sinh sự sống mới. Người tự hiến mình để chu toàn thánh ý của Chúa Cha. Vì thế trước đó nhiều lần, những người Do Thái chống đối lập mưu để giết Người, như ném đá Người hoặc xô Người xuống vực thẳm, nhưng họ không làm được việc gì, vì giờ của Người chưa đến. Và cũng đã nhiều lần dân chúng hợp lại định tôn phong Người lên làm vua, nhưng Người đã lẩn trốn sang nơi khác cũng chỉ vì giờ của Người chưa đến.
– Ý hướng thứ hai của Lễ Lá là ngày lễ để tôn kính Chúa Kitô là Vua. Ðây là lần đầu tiên trong suốt cuộc đời trần thế của Người, Chúa Giêsu đồng ý để cho dân chúng tung hô vạn tuế Người là Vua: “Hoan hô chúc tụng Ðấng nhân danh Chúa mà đến. Hoan hô trên các tầng trời.” Người vào Giêrusalem, thành của vua cả trong phong cách đế vương, và chính vì phong cách đế vương này mà Người đã bị kết án tử hình. Bản án của Người được viết bằng ba thứ tiếng, Do Thái, La Tinh và Hy Lạp, “Giêsu Nagiarét Vua dân Do Thái.” Vì thế, dầu cho Người bị kết án tử hình bằng một hình khổ dã man và nhục nhã, đóng đinh chân tay căng thây trần truồng trên Thập Giá, nhưng các sách Phúc Âm đều ghi đậm nét vẻ vương giả của Người để khai mào một vương quốc mới. Vương quốc của sự thật và sự sống, vương quốc của yêu thương và an bình như Người đã nói trước mặt Philatô: “Tôi sinh ra và đến trong thế gian này là để làm chứng cho sự thật. Ai tôn trọng sự thật thì nghe tiếng Tôi.” Vậy Chúa Nhật Lễ Lá cho chúng ta một cơ hội nữa để tuyên xưng niềm tin của chúng ta vào Vua các vua, Vua cả trời đất, nhất là Vua của mọi cõi lòng.
– Với ý nghĩa thứ ba, Chúa Nhật Lễ Lá nhắc cho chúng ta biết sống trên đời là đối đầu với đau khổ, vì lễ Lá dẫn đưa chúng ta vào cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, chuẩn bị chúng ta chiêm ngắm cái chết đau thương của Người trên đồi Canvê. Khi chấp nhận bằng lòng vác thập giá mình mà theo chân Chúa Giêsu, đó là chúng ta cũng chia sẻ gánh nặng của Người, noi gương Người để vác thập giá, nhưng điều quan trọng là không phải vác đi trong than khóc mà trong hy vọng. Vì với Chúa Giêsu, đau khổ và chết chóc không dồn con người vào ngõ bí, mà là dẫn đưa đến vinh quang của ngày sống lại.
Hôm nay trong cái nghịch lý của Lễ Lá, vị Vua của chúng ta tiến lên, vị Vua đã bênh vực nhân vị của con người, đã xoa dịu mọi đau khổ thể xác như tinh thần của những ai đến cùng Người. Vị Vua đó đã thu, đã hút tất cả những đau khổ của thể xác và tinh thần của con người vào chính bản thân mình, để chết đi một lần cho tất cả và đã mở ra cánh cửa vào chốn trường sinh. Ðó là niềm hy vọng của chúng ta.
Ðể có việc làm cụ thể trong tuần này, chúng ta sẽ tìm cách tế nhị giúp cho một người đang gặp khó khăn vật chất hoặc đau buồn tinh thần, để họ lấy lại được niềm hy vọng. Và noi gương Chúa Giêsu nơi vườn cây Dầu, khi Người cầu nguyện: “Lạy Cha nếu có thể được, xin cất chén đắng này xa Con, nhưng xin đừng theo ý Con một theo ý Cha mà thôi,” chúng ta cũng xin Chúa cho chúng ta biết vui lòng vâng phục thánh ý Chúa, dầu lắm khi chúng ta không hiểu được tại sao.
2020
Tại sao gọi là Tuần Thương Khó?
Chúa nhật lễ lá, bắt đầu Tuần thánh. Lịch Phụng vụ cũng ghi là Chúa nhật tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa. Trước đây, mùa thương khó bắt đầu hai tuần trước lễ Chúa Phục sinh, tại sao bây giờ rút còn một tuần?
Trước cuộc cải tổ lịch phụng vụ năm 1969, thì mùa thương khó bắt đầu từ Chúa nhật thứ năm mùa chay, và như vậy kéo dài hai tuần. Mùa thương khó gây một ấn tượng khá lớn cho các tín hữu. Tất cả các tượng ảnh trong nhà thờ đều bị phủ bởi màn tím cho đến lễ Vọng Phục sinh. Nhiều nhà thờ còn căng một bức màn lớn che khuất tất cả gian thánh. Có người giải thích là Chúa Giêsu đi trốn, bởi vì dựa trên bài Phúc âm thuật lại việc Chúa lánh mình khi dân chúng mưu toan ném đá Người. Thế nhưng với cuộc canh tân sau công đồng Vaticanô II, thì lịch phụng vụ không còn nói đến mùa thương khó nữa, mà chỉ còn Mùa Chay kéo dài cho tới lễ Phục sinh. Tuần lễ trước Phục sinh không phải là tuần Thương khó, nhưng từ ngữ “tưởng niệm cuộc Thương khó của Chúa” chỉ còn được gắn cho hai ngày: Chúa nhật lễ lá (Dominica in Palmis de Passione Domini) và thứ sáu tuần thánh (Feria VI in passione Domini). Vào hai dịp đó, phụng vụ đọc bài Thương khó: ngày Chúa nhật thì dựa theo Phúc âm nhất lãm thay đổi tùy theo chu kỳ ABC; còn ngày thứ Sáu thì luôn luôn đọc Phúc âm theo thánh Gioan.
Tại sao cuộc cải tổ phụng vụ lại bỏ mùa Thương khó?
Thực ra thì không phải là bỏ, nhưng mà muốn trở lại với truyền thống cổ xưa thôi. Từ thời xưa, các Kitô hữu dành 40 ngày để chuẩn bị mừng Lễ Chúa Phục sinh. Vì thế thời gian đó được gọi là Mùa 40 (trong tiếng La-tinh là Quadragesima), chứ không phải là mùa thương khó. Trong thời gian này, các dự tòng được chuẩn bị qua chương trình huấn giáo sâu đậm để lãnh các bí tích khai tâm. Còn những người đã được rửa tội rồi thì được mời gọi xét mình về cuộc sống đức tin, xem mình đã trung thành thế nào đối với lời cam kết. Dĩ nhiên, đây cũng là thời gian để thực hành công cuộc cải hoán, qua việc cầu nguyện, hãm mình, bác ái. Vào thời Trung cổ, khi mà con số dự tòng không còn đáng kể nữa, thì công cuộc huấn giáo cũng bớt phần quan trọng. Từ đó, người ta chuyển sang việc suy gẫm cuộc Thương khó của Chúa.
Thương khó là gì?
Chúng ta có thể khảo sát ý nghĩa của từ này theo tiếng Hán Việt cũng như theo nguyên gốc La-tinh. “Thương” ở đây không có nghĩa là “yêu”, nhưng có nghĩa là “đau xót, đau đớn xót xa”, chẳng hạn như khi nói “thương tâm, đau thương, thảm thương, sầu thương”. Còn “khó” không phải trái nghịch với dễ; nhưng “khó” ở đây có nghĩa là “khổ”, chẳng hạn như “khốn khó, khốn khổ”. Nói tóm lại “thương khó” cũng tương tự như là “đau khổ”. Trên thực tế, nhiều bản dịch Việt ngữ dùng những từ “Tử nạn, Khổ nạn, Chịu nạn, Chịu khổ hình”. Đó là nói đến từ ngữ Hán Việt. Đến khi bước sang nguyên bản La-tinh, ta sẽ còn thấy nhiều ý nghĩa khác nữa. Từ “thương khó” dùng để dịch từ “passio” trong tiếng La-tinh (sang tiếng Pháp và tiếng Anh thì thêm chữ “n”: passion). Thế nhưng từ passio có tới ít là bốn nghĩa.
1/ Thường thì người ta giải thích rằng passio bởi động từ “patior, pati” (có nghĩa: chịu đau khổ).
2/ Một ý kiến khác hiểu tiếng passio theo nghĩa triết học, tức là “thụ động” (bị động), nhận hành động từ một chủ động khác. Như vậy “passio” đối ngược với “actio”.
3/ Một ý kiến thứ ba cho rằng passio bắt nguồn từ pathos trong tiếng Hy-lạp, và như vậy có nghĩa là cảm xúc, xúc động. Cũng theo chiều hướng đó, mà trong tâm lý học, passio thường được dịch là “đam mê, say mê, mê man”.
4/ Sau cùng, có người tán giải passio (passus) theo nghĩa là đi ngang qua, để nói đến cuộc vượt qua của Đức Giêsu: người trải qua sự khổ và cái chết để tiến vào vinh quang Phục sinh.
Trong 4 nghĩa vừa nói, nghĩa nào đúng hơn cả?
Trong bối cảnh của phụng vụ, thì nghĩa thứ nhất sát hơn nữa: passio có nghĩa là chịu đau khổ. Nói một cách cụ thể hơn, trong buổi cử hành phụng vụ, Hội thánh đọc lại các bài trình thuật Phúc âm thuật lại cuộc “khổ nạn” của Chúa Giêsu, từ lúc dùng bữa tiệc Vượt qua với các môn đệ (hoặc là từ khi vào Vườn Cây dầu, theo thánh Gioan), rồi bị bắt, bị xử án, bị đánh đòn, vác thánh giá lên núi Calvariô, nơi chịu tử hình. Chúng ta có thể đọc trình thuật này trong Phúc âm theo thánh Marcô chương.14-15; thánh Mattêu chương 26-27; thánh Luca chương 22-23; thánh Gioan chương 18-19. Cũng nên biết, là trong tiếng La-tinh, từ “passio” cũng được áp dụng cho trình thuật kể lại cuộc tử đạo của các Kitô hữu cổ thời.
Phụng vụ chỉ tưởng niệm cuộc Thương khó của Chúa Giêsu qua việc đọc bài Phúc âm nói về cuộc Thương khó của Chúa mà thôi hay sao?
Không chỉ có vậy mà thôi. Lòng đạo đức của các tín hữu còn tìm những hình thức khác để tưởng niệm cuộc Thương khó của Chúa qua các việc đạo đức cũng như qua cuộc sống. Xét về các hình thức đạo đức, thì các sử gia thường trưng dẫn những chứng tích bắt đầu từ thế kỷ IV (khoảng năm 380) bên Thánh địa, do một thiếu nữ tên là Egeria kể lại. Vào Chúa nhật lễ Lá, các tín hữu tại Giêrusalem tụ họp ở núi Cây dầu, rồi từ đó rước lá tiến vào thành thánh. Nhưng nhất là kể từ tối thứ năm tuần thánh trở đi, các tín hữu họp nhau tại một nhà thờ tên là Eleona trên núi Cây dầu để tham dự buổi canh thức đầu tiên, từ 7 giờ tối cho đến 11 giờ. Đến nửa đêm, bắt đầu buổi canh thức thứ hai, tại một nhà thờ gần đó, và nghe đọc bài Sách thánh về cuộc hấp hối của Chúa. Đến sáng thứ 6, thì đám rước di chuyển lên núi Calvariô, để nghe đọc bài tường thuật về cuộc Thương khó và cử hành việc suy tôn Thánh Giá. Và suốt ngày thứ sáu, nhiều cuộc suy gẫm lời Chúa được tổ chức bên cạnh nhà thờ kính nhớ mộ Chúa. Có thể nói được là từ đó trở đi, các tín hữu tìm cách diễn lại cảnh thương khó của Chúa theo gương các tín hữu Giêrusalem, không những là vào ngày thứ năm thứ sáu tuần thánh, mà còn kéo dài quanh năm nữa. Một hình thức khá quen thuộc đối với các tín hữu Việt Nam là ngắm 14 chặng đường thánh giá, đi theo Chúa Giêsu từ lúc bị xử án, rồi vác thập giá lên núi Calvariô, nơi Người chịu đóng đinh, chịu chết và mai táng. Nên biết là hình thức 14 chặng như hiện thời chỉ mới thành cố định từ thế kỷ XVII, chứ trước đây nó linh động hơn, chẳng hạn có nơi tính đến 7 lần ngã xuống đất, hoặc bắt đầu từ vườn Cây dầu, rồi bị bắt, bị điệu qua toà Anna, Caipha, vv.
Ở Việt Nam còn có hình thức ngắm 15 sự thương khó Chúa Giêsu nữa, phải Không?
Có nhiều hình thức để suy gẫm sự thương khó của Chúa. Một hình thức đơn giản hơn cả là suy gẫm 5 dấu thánh: hai dấu nơi bàn tay; hai dấu nơi bàn chân, và một dấu nơi cạnh sườn. Một hình thức nữa là suy gẫm 7 lời của Chúa Giêsu trên thập giá. Hình thức ngắm 15 sự thương khó của Chúa thì dựa trên một căn bản khác. Tại sao lại có 15 ngắm? Tại vì nó hoạ theo giờ kinh Phụng vụ. Trong ba ngày cuối Tuần thánh, tại các đan viện hay nhà thờ chánh toà, người ta cử hành phụng vụ giờ kinh cách long trọng. Ở chính giữa nhà thờ người ta thắp một giá đèn hình tam giác, với 15 ngọn nến. Tại sao 15 ngọn nến? Có người gỉai thích là tượng trưng cho Chúa Giêsu với 12 tông đồ và 2 môn đệ. Sự thực thì 15 ngọn nến tương đương với 9 thánh vịnh giờ kinh Đêm (nay gọi là kinh Sách) và 5 thánh vịnh giờ Kinh sáng, cộng với thánh ca Tin mừng Benedictus. Cứ sau mỗi thánh vịnh thì người ta tắt đi một ngọn đèn. Tại sao vậy? Có người giải thích là nó tượng trưng cho các tông đồ và môn đệ lần lượt rút lui, bỏ Chúa một mình. Nhưng cũng có người giải thích cách đơn giản là đời xưa khi chưa có đèn điện thì tất nhiên là phải thắp nhiều đèn để đọc sách. Tuy nhiên, trời càng lúc càng về sáng tỏ, cho nên có thể tắt bớt dần dần các ngọn nến đi. Cho dù giải thích nguồn gốc lịch sử như thế nào đi nữa, chúng ta cũng phải khâm phục các vị thừa sai trước đây đã tìm cách để giáo dân tham gia vào phụng vụ Giờ kinh của Giáo hội, dĩ nhiên không phải bằng việc hát các thánh vịnh La-tinh (mà họ chẳng hiểu gì) nhưng qua việc suy gẫm các sự thương khó của Chúa.
Việc tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa chỉ dừng lại ở việc suy gẫm mà thôi hay sao?
Còn nhiều hình thức khác nữa. Một hình thức khá phổ thông bên Âu châu trước đây là diễn tuồng Thương khó, mà Đức Cha Nguyễn bá Tòng cũng đã thích ứng sang tiếng Việt. Nên biết là tuồng Thương khó không phải chỉ diễn ra trên sân khấu, nhưng còn trở thành hoạt cảnh, nhiều khi biến thành một cuộc rước kiệu. Dù là suy niệm bài thương khó dựa theo Phúc âm, dù là đi đàng Thánh giá hay ngắm các sự thương khó, hoặc tham dự tuồng Thương khó, người tín hữu muốn nhớ đến Chúa Giêsu đã chịu đau khổ vì tội chúng ta; từ đó ta muốn tỏ lòng biết ơn bằng cách thông dự vào sứ mạng cứu độ của Người. Thánh Phaolô đã viết rằng tôi muốn chịu đóng đinh vào thập giá với Đức Kitô, muốn hoàn toàn sống cho Đấng đã yêu mến và hiến mạng vì ta (Gal 2,19-20). Thánh Phaolô cũng muốn lãnh nhận mọi đau khổ để góp phần vào cuộc khổ nạn của Chúa hầu giúp ích cho Hội thánh (Col 1,24). Thánh Phêrô tông đồ, trong bài thánh thi đọc vào kinh chiều Chúa nhật mùa Chay, cũng nhắc cho các tín hữu hãy coi cuộc thương khó của Chúa như một gương mẫu để dõi bước theo Người: “bị nguyền rủa, Người không nguyền rủa, chịu đau khổ mà chẳng ngăm đe, nhưng một bề phó thác cho Đấng xét xử công bình” (1Pr 2,23). Thiết tưởng đó là ý nghĩa chính của các việc cử hành cuộc Thương khó của Chúa từ những thế kỷ đầu tiên tại Giêrusalem cho đến chặng đường thánh giá ngày nay: đó là chúng ta muốn đi theo Chúa.
Lm. Giuse Phan Tấn Thành
2020
15 bí quyết của Mẹ Têrêsa giúp bạn trở nên khiêm nhường hơn

Lòng tự trọng cao là sự tự tin trong giá trị hoặc khả năng của một người. Hãy nghĩ đến Mẹ Teresa. Người nữ tu nhỏ bé đó có lòng tự trọng rất cao. Mẹ thậm chí đã dám lên tiếng chống lại nạn phá thai tại National Prayer Breakfast năm 1993 trước những cử tọa được mời là Tổng thống Bill Clinton, và Phó Tổng thống Al Gore, và hai người phu nhân của họ. Đó là sự can đảm. Đó là sự tự tin. Và đó là sự khiêm nhường.
Tất cả các thánh nhân hiểu rằng lòng khiêm nhường là con đường để xây dựng một lòng tự trọng cao qua cách đặt mình lệ thuộc vào Thiên Chúa chứ không phải bản thân mình. Đó là việc hiểu được rằng mọi sự đều đến từ Thiên Chúa và Thiên Chúa là tất cả.
Mẹ Teresa gọi đức khiêm nhường là mẹ của mọi nhân đức. Mẹ nói: “Nếu bạn khiêm nhường thì chẳng có điều gì chạm đến bạn, chẳng phải khen cũng chẳng phải chê, vì bạn biết mình là ai. Nếu bạn có bị chê thì cũng đừng ngã lòng. Nếu người ta gọi bạn là thánh thì cũng đừng đặt mình lên một bệ thờ.”
3 cách hiểu sai về lòng khiêm nhường
Tuy nhiên, lòng khiêm nhường thường bị hiểu sai. Một số người nghĩ rằng nó đồng nghĩa với sự tự hạ thấp bản thân. Trong một bài giảng Lễ Chúa nhật gần đây, Cha Jared Johnson, cha phó của Nhà thờ Chính tòa Chúa Thánh Linh ở Bismarck chỉ ra ba cách hiểu sai về lòng khiêm nhường.
Cách hiểu sai #1. Tâm hồn khiêm nhường thiếu sự tự tin. “Những người khiêm nhường nhất ngoài kia nằm trong số những người tự tin nhất và đôi khi những người kiêu hãnh nhất lại là những người thiếu chắc chắn nhất,” cha nói. “Những tâm hồn khiêm nhường biết rằng cuộc sống của họ lệ thuộc vào Thiên Chúa và biết đâu là những điều giá trị nhất — là những điều trường tồn chứ không phải chóng qua. Họ chọn Thiên Chúa là quý giá nhất trên hết mọi sự.
Cách hiểu sai #2. Lòng khiêm nhường thì không lôi cuốn. Cha giải thích, “Lòng khiêm nhường thật sự luôn luôn cuốn hút. Chính người khiêm nhường là người biết lắng nghe và quan tâm đến người khác, đối nghịch lại với người chỉ chú ý đến bản thân mình và cố làm ra vẻ giỏi giang.”
Cách hiểu sai #3. Người khiêm nhường muốn được người khác công nhận là khiêm nhường. Cha Johnson giải thích rằng ý muốn thể hiện sự khiêm nhường để mọi người thấy là lòng khiêm nhường giả tạo. Thật ra, cha nói rằng họ muốn làm điều gì đó vì nó là điều đúng đắn, và họ không tìm kiếm lời khen.
Cha Johnson nói, “Cản trở lớn nhất không cho chúng ta đến gần hơn với Thiên Chúa là khi chúng ta tin tưởng vào bản thân chúng ta hơn là tin cậy vào Ngài.” Bằng cách đề cao nhân đức khiêm nhường, cha giải thích rằng chúng ta trở nên tự tin hơn và cho phép mình đến gần với Thiên Chúa hơn. “Khi chúng ta nhìn đến thánh giá, chúng ta nhìn thấy ai là người khiêm nhường và ai là không. Chúng ta nhìn thấy một con người hy sinh vì những người khác. Ước mong chúng ta bắt chước lòng khiêm nhường đó để chúng ta có thể có kinh nghiệm về Thiên Chúa trong sự toàn vẹn của Ngài.”
Những cách để trở nên khiêm nhường
Mẫu gương của Mẹ Teresa chứng minh tất cả ba điểm phân tích của Cha Johnson. Khi là người đứng đầu của Dòng Thừa sai Bác ái, Mẹ Teresa giữ một danh sách những cách để gieo trồng đức khiêm nhường cho các nữ tu dưới sự chăm sóc của m
- Nói về bản thân càng ít càng tốt.
- Luôn chú ý đến những việc của mình, không chú ý đến việc của người khác.
- Tránh tính tò mò (Mẹ ngụ ý nói đến tính tò mò muốn biết những điều không liên quan đến mình.)
- Không gây cản trở vào công việc của người khác.
- Đón nhận những bực dọc nho nhỏ bằng sự hóm hỉnh tốt lành.
- Đừng chăm chú vào những lỗi lầm của người khác.
- Đón nhận những lời phê bình ngay cả khi không đáng.
- Nhường nhịn trước ý cương quyết của người khác.
- Chấp nhận những xúc phạm và tổn thương.
- Chấp nhận sự khinh rẻ, bị lãng quên và thiếu quan tâm.
- Luôn nhã nhặn và dịu dàng ngay cả khi bị một người nào đó khiêu khích.
- Không tìm cách để được thán phục và được yêu mến.
- Không bảo vệ bản thân núp sau phẩm giá của riêng mình.
- Nhường nhịn trong những cuộc tranh luận, ngay cả khi bạn đúng.
- Luôn chọn công việc khó khăn hơn.
Sức mạnh của lòng khiêm nhường
“Chính sự kiêu ngạo đã biến thiên thần thành quỷ; chính sự khiêm nhường làm cho con người trở thành thiên thần.” — Thánh Augustine
Quỷ thích rời bỏ Thiên Đàng và sống đời đời trong Hỏa ngục hơn là trở nên khiêm nhường trước Đấng Tạo hóa. Và nếu có lòng khiêm nhường thì A-đam và Ê-va đã không nghĩ rằng họ có thể không vâng lời Thiên Chúa và trở nên giống như Ngài.
Nhưng qua lòng khiêm nhường của chúng ta và vâng phục Thiên Chúa thì quỷ bị đánh bại. Thánh Gioan Vianney, the Curé of Ars, ngài thường bị quỷ quấy nhiễu, đã thuật lại một cuộc đối thoại với hắn. Quỷ nó: “Ta có thể làm mọi việc mà ngươi làm, ta cũng có thể thực hiện việc ăn năn của ngươi, ta có thể bắt chước ngươi mọi việc. Nhưng chỉ có một điều ta không thể làm, ta không thể bắt chước sự khiêm nhường của ngươi.”
“Đó là lý do tại sao ta đánh bại ngươi,” Thánh Gioan Vianney trả lời.
Lòng khiêm nhường dường như là một nghịch lý, nhưng Chúa Giê-su thì nhân từ và khiêm nhường trong lòng (Mt 11:29). “Người đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế.” (Phl 2:7)
Thế gian không biết được giá trị hay hiểu được sức mạnh của lòng khiêm nhường nhưng chúng ta thì hiểu, vì đó là điều Chúa Giê-su đã dùng để giải thoát chúng ta. “Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người.” (Mt 20:28)
[Nguồn: ncregister]
Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN
