2020
Vụ cáo gian Đức Hồng Y Pell: Công lý đã thắng – Alleuia, Alleluia
Với tỷ số tuyệt đối 7/7, Tối Cao Pháp Viện Úc Đại Lợi đã truyền rằng Đức Hồng Y George Pell hoàn toàn vô tội.
Ngài sẽ được trả tự do trong một vài giờ tới từ nhà tù Barwon gần Geelong, thuộc tiểu bang Victoria. Tạ ơn Chúa, Alleluia, Alleluia.
Chánh án Tòa án Tối cao Susan Kiefel đã đưa ra phán quyết tại Brisbane, nơi bà cư trú lúc 10 giờ sáng ngày thứ Ba, theo giờ địa phương.
Tòa án Tối cao truyền rằng có một khả năng quá đáng kể là một người vô tội đã bị kết án oan sai vì các bằng chứng đưa ra không xác định được các tội danh bị cáo buộc so với các tiêu chuẩn chứng minh cần thiết.
Bản tóm tắt phán quyết của Tối Cao Pháp Viện nói: “Tối Cao Pháp Viện thấy rằng bồi thẩm đoàn, nếu hành động một cách hợp lý dựa trên toàn bộ các bằng chứng, cần phải có sự nghi ngờ về lời tố cáo của của người nộp đơn liên quan đến từng tội trạng mà Đức Hồng Y đã bị kết án, và truyền rằng các phán quyết bị hủy bỏ và phán quyết sự tha bổng có hiệu lực tức khắc”. Quyết định đầy đủ gồm 26 trang đã được công bố trực tuyến tại đây.
Vì tình hình dịch bệnh, sáu thẩm phán khác vẫn ở nhà trong khi quyết định được tweet và công bố trực tuyến.
Đức Hồng Y George Pell vẫn ở trong nhà tù Barwon, nơi ngài dự kiến sẽ nhận được tin tức thông qua các luật sư của mình.
Tưởng cũng nên nhắc lại, trong hai ngày 11 và 12 tháng Ba, Tối Cao Pháp Viện Úc, đã nghe các lập luận của các luật sư biện hộ cho Đức Hồng Y Pell, và phía công tố là những người muốn duy trì bản án.
Hàng trăm người Công Giáo Việt Nam, và cả một nhà sư Phật Giáo, đã xếp hàng dọc theo lối vào Tối Cao Pháp Viện, cầu nguyện và hát thánh ca, nhằm bày tỏ sự ủng hộ của họ đối với Đức Hồng Y Pell.
Chúng ta hãy cùng tạ ơn Chúa và cám ơn nhau vì những lời cầu nguyện Đức Hồng Y Pell, cho công lý được hiển trị, cho sự thất bại của những mưu toan biến các giáo sĩ vô tội và các nhân viên mục vụ khác trở thành nạn nhân của các vụ bôi nhọ danh dự thông qua các cáo buộc sai trái – hoặc tệ hơn, trở thành các tội phạm bị kết án và giam cầm vì các tội ác thật tồi tệ, mà họ không bao giờ phạm.
Cho đến nay, Đức Hồng Y Pell là gương mặt đáng chú ý nhất của Công Giáo Úc trong thời gian cả một thế hệ trong cương vị là Tổng Giám Mục Melbourne, sau đó là Tổng Giám Mục Sydney, rồi là Hồng Y, và cuối cùng là người được Đức Thánh Cha Phanxicô chọn vào năm 2013 để chỉnh đốn nền tài chính của Vatican.
Ngài là một cây bút viết các bài chính luận thường xuyên trên báo chí, và là một bình luận viên truyền hình và đài phát thanh, một người rất thích tranh luận – với sự cứng rắn của một cựu cầu thủ bóng đá theo luật Úc – trước những người tấn Công Giáo Hội về phá thai, quyền của người đồng tính, phong chức cho phụ nữ, và vô số các vấn đề cấp tiến khác (và ngài thậm chí còn tham gia vào các cuộc tranh luận khoa học về các vấn đề như biến đổi khí hậu). Vì thế, ngài là tiêu điểm của trào lưu chống Công Giáo, chống giáo sĩ và chống chủ nghĩa bảo thủ ở một đất nước rất thế tục.
Từ một hiện tượng bất thường, trào lưu đồng tính trên thế giới ngày nay không chỉ dừng lại ở việc buộc xã hội phải chấp nhận đó là một chuyện bình thường mà các nhà hoạt động đồng tính còn muốn tiến xa hơn trong việc coi đó là một “chuẩn mực” của xã hội. Cáo gian hàng giáo sĩ, thay đổi sách giáo khoa, sa thải những người không chấp nhận “chuẩn mực” mới, tấn công các nhà thờ là các biểu hiện tiêu biểu của một ý thức độc tài muốn thay đổi tận gốc xã hội.
Hôm 17 tháng 11, 2014, Đức Thánh Cha Phanxicô cảnh giác rằng:
“Cuộc nổi loạn về phong tục và đạo đức này – như Đức Thánh Cha Phanxicô nhấn mạnh – thường vẫy những ‘lá cờ tự do’, nhưng thực tế, nó đã mang đến sự tàn phá về tinh thần và vật chất cho vô số con người, đặc biệt là những người nghèo nhất và dễ bị tổn thương nhất”
Đức Tổng Giám Mục Stanisław Gądecki, chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Ba Lan cảnh cáo ý thức hệ độc tài về đồng tính này trong lá thư ngày 8 tháng 8, 2019. Nó không chấp nhận một cuộc đối thoại thẳng thắn dựa trên sự thật nhưng tìm cách triệt hạ những người có suy nghĩ khác mình.
Trường hợp của Đức Hồng Y George Pell là một ví dụ điển hình. Cha Raymond J. de Souza, chủ bút tập san Convivium của Canada viết:
“Đức Hồng Y George Pell, một người quyết liệt chống đồng tính. Vì thế, người ta gán cho ngài vào chính cái tội khốn nạn mà ngài lên án gay gắt nhất.”
Nhận định về các diễn biến gần đây trên thế giới, Ông Jaroslaw Kaczynski, Chủ tịch Đảng Pháp luật và Công lý là đảng cầm quyền tại Ba Lan, nói rằng sau trào lưu cộng sản, trào lưu đồng tính là thách đố lớn nhất của Giáo Hội Công Giáo hiện nay. “Nhiều người trẻ đã rời bỏ Giáo Hội vì sức quyến rũ của các thông điệp đồng tính. Điều này đặt tương lai của xã hội chúng ta vào một tình thế rất nguy hiểm,” ông nói.
Những người Công Giáo cư ngụ tại Melbourne, đặc biệt là những người thường xuyên đến nhà thờ St. Patrick. Theo ý kiến của chúng tôi, bất cứ ai từng đến ngôi nhà thờ này và có thiện chí muốn nghiên cứu sự thật trong vụ án Đức Hồng Y Pell với một lòng trí công bằng sẽ, không chỉ nghi ngờ hợp lý rằng, ngài đã không làm những gì người ta buộc tội cho ngài, mà còn có thể chắc chắn về mặt đạo đức rằng ngài thực tế không thể làm như vậy.
Cáo buộc được đưa ra là vào ngày 15 hoặc 22 tháng 12 năm 1996, sau một trong hai Thánh lễ đầu tiên tại Nhà thờ St. Patrick của Melbourne mới được trùng tu, Đức Tổng Giám Mục Pell cao 6 feet 3 inches (190.5 cm) đã bỏ rơi vị trưởng ban nghi lễ, người mang mũ mão, người mang quyền trượng và tất những người khác, để rời khỏi đám rước kết lễ rất trang trọng và theo hai cậu bé 13 tuổi trong hợp xướng – là những người phải đi thẳng đến buổi diễn tập cho lễ Giáng sinh – vào phòng áo phía sau bàn thờ. Ở đó, sau khi la rầy các ca viên dám uống rượu lễ, ngài đã lạm dụng cả hai chàng trai này trong suốt sáu phút trong khi cánh cửa phòng áo vẫn mở toang.
Một trong những người được cho là nạn nhân đã chết vào năm 2014 trước khi ra tòa làm chứng, đã nói với mẹ anh ta trong hai dịp khác nhau rằng anh ta chưa bao giờ bị ai lạm dụng. Còn người tự xưng là nạn nhân kia nói rằng Đức Hồng Y Pell đã buộc anh ta thực hiện hành vi quan hệ tình dục trong khi vị tổng giám mục vẫn mặc áo quần đầy đủ, một chiếc áo chùng dài đến chân, một chiếc áo alba cũng dài đến chân, một giây các phép quấn chặt như một chiếc thắt lưng, một dây stola và một áo lễ (mặc dù bất kỳ linh mục nào cũng sẽ nói với bạn rằng nó cực kỳ khó khăn ngay cả khi phải đi vào nhà vệ sinh với các phẩm phục đầy đủ như vậy).
Tất cả những điều này xảy ra mà không có ai phát hiện, trong một giáo đường mà vào bất kỳ Chúa Nhật nào cũng rất bận rộn như Nhà Ga Trung ương. Nhưng theo lời khai, vào Chúa Nhật này, nó đặc biệt vắng vẻ như một thị trấn ma quái. Ông từ nhà thờ đột ngột biến mất. Những người đọc sách biến mất. Những linh mục đồng tế cũng biến mất. Những người phụ giúp trên bàn thờ cũng hô biến luôn.
Sau khi cái biến cố lạm dụng ấy xảy ra, hai chú bé trong dàn hợp xướng được cho là đã trở lại buổi tập hát mà không có ai từ ca trưởng của họ cho đến bất cứ ai trong vài chục ca viên đồng nghiệp của họ nhận ra rằng họ (hay giọng hát của họ) đã biến mất trong một khoảng thời gian – thực tế, người ca trưởng nói rằng họ đã không hề mất tích – và Đức Tổng Giám Mục thực ra với áo mão đầy đủ vẫn đứng trước lối vào Nhà thờ để chào đón những người đi lễ đang vui mừng được gặp gỡ vị tổng giám mục mới của họ và chắc là đã phải kiên nhẫn chờ đợi suốt thời gian để có thể bắt tay ngài.
Trong suốt phiên tòa, không có bất cứ ai về hùa với người tố cáo hết cả, kể cả các nhân chứng được công tố viện triệu tập, trong khi có đến 20 người xác nhận tình trạng ngoại phạm của Đức Hồng Y Pell. Hơn nữa, người tự xưng là nạn nhân không bao giờ nói với ai về vụ lạm dụng giả định này trong suốt hơn 20 năm. Nạn nhân cho rằng Đức Hồng Y Pell đã tách quần áo giám mục của mình xuống giữa để tạo điều kiện cho việc lạm dụng, mặc dù có một vài sự thật nổi bật: 1) Áo Alba không được thiết kế để có thể tách ra theo cách này, 2) chiếc áo chùng phải được mở từng nút một khi nằm bên dưới áo alba, và 3) quần và thắt lưng mà tổng giám mục đang mặc bên dưới những lớp quần áo cồng kềnh này làm sao mà có thể cởi ra (chỉ có Chúa mới biết). Mỗi bước này đều tốn nhiều thời gian, làm hết những công đoạn như thế chắc chắn sẽ mất nhiều hơn sáu phút được cho là thời gian xảy ra tội ác.
Hơn nữa, các nhân viên làm việc tại nhà thờ chính tòa St. Patrick đã làm chứng rằng những người trong phòng áo không thể nào lấy rượu lễ ra uống- tất cả rượu lễ bị khóa trong một hầm rượu – và rượu được sử dụng luôn có màu trắng, không phải màu đỏ như đã được báo cáo trong phiên tòa. Mô tả từ ký ức của nạn nhân trong những lời buộc tội được đưa ra về cách bài trí trong phòng áo cũng không đúng sự thật.
Ngoài ra, vào năm 1996, khi trở thành tổng giám mục của Melbourne, Đức Hồng Y Pell đã đưa Giáo Hội tại Úc lên vị trí tiên phong trong việc đối phó với cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục, bằng cách nhấn mạnh vào các yêu cầu môi trường an toàn là những điều chỉ được đặt ra ở Hoa Kỳ sáu năm sau đó.
Đức Hồng Y Pell hẳn đã biết một cách thấu đáo những tai tiếng nào có thể xảy ra khi ngang nhiên bỏ đám rước để đi theo các thiếu niên vào phòng áo một mình. Hơn nữa, nếu ai đó rất muốn phạm tội tình dục đối với trẻ vị thành niên, người ấy cũng sẽ không làm như vậy vào một trong những ngày Chúa Nhật đầu tiên của mình trong ngôi nhà thờ mới được trùng tu, ở một nơi công cộng, trong khi những người khác đang đợi mình. Một người dám phạm tội như vậy, hẳn phải có một chuỗi các nạn nhân bị lạm dụng trong những tình huống ít hiểm nghèo hơn? Nhưng tuyệt nhiên không có.
Chúng tôi xin kết thúc bài tường thuật này ở đây với ước nguyện rằng chúng ta hãy tiếp tục cầu nguyện và làm tất cả những gì có thể làm được để hàng giáo sĩ và những người tìm kiếm công lý dám lên tiếng mạnh mẽ như tiên tri trẻ Daniel khi bà Susanna bị hai tên thẩm phán băng hoại buộc tội vì bà đã dám từ chối những lời dụ dỗ của chúng (Daniel 13).
Source:Financial Review
2020
Một chuyến tham quan theo những bước chân của Chúa Giêsu
Từ Bê-lem đến Giêrusalem, sau đây là một số nơi Đức Kitô thường đến.
Nhấp vào đường dẫn này để xem loạt ảnh
Đối với hàng ngàn người hành hương, một chuyến hành hương đến Đất Thánh thường là ước mơ cả đời. Đi theo những bước chân của Đức Kitô, cảm nhận không khí Ngài đã hít thở, chạm đến những nơi Ngài thường đến bằng chính bàn tay của mình … Đến đó giống như là đến gần với con người của Đức Kitô, để nhận biết rằng Thiên Chúa đã trở thành người phàm và sống giữa chúng ta.
Từ khởi đầu kỷ nguyên Kitô giáo, các tín hữu đã tập trung tại những địa điểm đặt biệt mà Đức Kitô đã từng đến thăm. Cho dù vị trí chính xác không phải tất cả đều được chứng minh là đúng, nhưng điều đó không quan trọng, vì truyền thống có sức mạnh lớn hơn. Điều quan trọng là có thể trải nghiệm cụ thể những nơi chính Đức Kitô đã từng bước qua, thực hiện những phép lạ, hoặc thậm chí nằm nghỉ ngơi.
Qua các thế kỷ, các đền thờ mọc lên để đánh dấu những địa điểm thánh thiêng này: từ căn nhà của Mẹ Maria Đồng trinh nơi Sứ thần Gabriel đến loan báo cho Mẹ tin vui và hang Giáng sinh nơi Mẹ sinh Hài nhi Giê-su, đến những địa điểm gần Hồ Ti-bê-ri-a, nơi Đức Kitô thực hiện các phép lạ. Ở Giêrusalem, một địa điểm thánh thiêng được xác định, với lòng nhiệt thành và cảm xúc người ta đến ngôi mộ nơi xác của Đức Kitô được đặt vào. Qua những hành trình của Ngài, Đức Kitô đã biến miền đất đơn sơ này thành một miền Đất Thánh và thường được đến viếng thăm bởi hàng ngàn tín hữu từ khắp nơi trên thế giới.
Để khám phá những gì còn lại của những địa điểm mà Đức Kitô đã từng đi qua và các đền thờ được xây dựng gần đó, xin hãy xem loạt ảnh dưới:

Nhà thờ Mộ Thánh
Không một chuyến hành hương trọn vẹn nào thiếu được cuộc viếng ngôi mộ nơi xác Chúa Giêsu được đặt vào sau khi Ngài bị đóng đinh. Mỗi ngày có hàng ngàn du khách đến viếng, bên trong thánh địa cũng tìm thấy một khu vực tưởng niệm đồi Gôngôtha. Người địa phương nói đến địa điểm cực thánh là Nhà thờ Phục sinh.

Vương cung Thánh đường Truyền tin, Nadarét
Vị trí của Vương cung Thánh đường ở Nadarét là nơi theo truyền thống cho rằng biến cố Truyền tin đã xảy ra. Vào ngày đó, Sứ thần Gabriel đến thăm Trinh nữ Maria và loan báo rằng trinh nữ sẽ cưu mang Con Thiên Chúa. Vương cung Thánh đường này tưởng nhớ chương then chốt của Kinh thánh được xây dựng trong thế kỷ XX. Trong nhà thờ khách hành hương có thể khám phá ra một phần căn nhà của Mẹ Maria được khoét sâu vào trong đá. Có thể tìm thấy một nhà nguyện nhỏ bên trong và khách hành hương có thể tập họp tại đó.

Vương cung Thánh đường Giáng sinh
Được xây dựng vào thế kỷ thứ IV bởi Hoàng đế Constantine của La Mã, Vương cung Thánh đường Giáng sinh là một trong những nhà thờ quan trọng nhất của Đất Thánh. Nó là nơi có Hang Giáng sinh, nơi Đức Maria Trinh nữ hạ sinh Hài nhi. Hàng năm, 2 triệu người hành hương đến viếng hang, nằm trong hầm nhà thờ, được đánh dấu bằng ngôi sao bạc 14 cánh. Một cái lỗ cho phép người hành hương quỳ xuống hôn tảng đá ban đầu. Cạnh đó là máng cỏ nơi Chúa Giê-su được đặt nằm, bây giờ là một bàn thờ.

Vườn Ghếtsimani
Khách hành hương có thể đến thăm vườn trên núi Ô-liu là vị trí được cho là nơi Chúa Giêsu trải qua cơn thống khổ trong vườn, và là nơi Ngài bị bắt trong đêm trước khi bị đóng đinh. Mặc dù địa điểm chính xác không được nói đến trong các Tin mừng, Luca cho biết biến cố xảy ra gần núi này. Những cây ô-liu mọc trong vườn ngày nay là một sự nhắc nhớ về sự thống khổ của Chúa Giêsu trong đêm hôm đó.

Nhà thờ tiệc cưới Cana
Gần Nadarét, theo truyền thống thị trấn Kafr Kanna là nơi tiệc cưới diễn ra khi Chúa Giêsu thực hiện phép lạ hóa nước thành rượu. Địa điểm này có hai nhà thờ, một thuộc Dòng Phanxicô và một thuộc Chính Thống giáo. Nhà thờ Chính Thống giáo rất đẹp có một số bình sành đặt trong hang, chúng là sự nhắc nhớ đến phép lạ. Ngày nay các đôi uyên ương vẫn có thể làm lễ kết hôn tại đây.

Tu viện Cám dỗ
Trên vách đá dốc đứng ở Giêrikhô bạn có thể tìm thấy tu viện Cám dỗ ngoạn mục, được xây dựng vào thế kỷ XIX bởi Chính Thống giáo Hy Lạp. Nó là nơi các nhà tu hành từ những thế kỷ đầu tập trung trong các hang đánh dấu 40 ngày Chúa Giêsu trải qua trong sa mạc, nơi Ngài bị thử thách bởi cơn đói và cám dỗ của quỷ.

Hồ Bếtxaiđa
Ở Giêrusalem, gần Cổng Sư tử, bạn có thể bắt gặp khu phức hợp của các Cha Dòng trắng với hồ Bếtxaiđa ở bên trong, nơi Chúa Giêsu chữa lành một người đàn ông bị bại liệt. Người ta đến đó để được chữa lành, cho phép họ có thể đi vào Đền thờ Giêrusalem là nơi trước đây bị từ chối không được vào. Trong hang đá của nhà thờ hiện nay có nơi sinh của Đức Maria Trinh nữ.

Nhà thờ Quyền tối thượng của Thánh Phêrô
Trên bờ Hồ Tibêria khách hành hương có thể đến địa điểm nơi Chúa Giêsu tuyên bố với Si-mon Phêrô: “Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy.” Một nhà thờ được xây dựng năm 1933 để tưởng nhớ biến cố này, kết hợp các yếu tố của một nhà thờ có niên đại thế kỷ thứ IV.

Nhà thờ Bát phúc
Gần Tabgha, trên đỉnh đồi nhìn ra Hồ Tibêria, khách hành hương có thể đến viếng địa điểm rất đẹp nơi được tin là Chúa Giêsu đã công bố Tám Mối Phúc. Một nhà thờ được xây dựng trên vị trí này năm 1937 có một mối phúc trên mỗi vách tường.

Nhà Tiệc ly
Được tường thuật là Phòng lớn Trên lầu trong sách Tông đồ Công vụ, nó là nhà thờ Kitô giáo đầu tiên tọa lạc ở phía nam Giê-ru-sa-lem. Đó là địa điểm của Tiệc Ly, rửa chân cho các Tông đồ, và Lễ Ngũ tuần. Các cha Dòng Phanxicô đã xây dựng nhà thờ hiện tại trong thế kỷ XIV bên trên những di tích của nhà thờ Byzantine cổ.

Nhà thờ Biến hình
Trên Núi Tabo, địa điểm nơi các môn đệ chứng kiến Chúa Giêsu biến hình và đàm đạo với Môisê và Êlia trong toàn bộ vinh quang của Ngài, tọa lạc một nhà thờ được xây dựng hoàn tất năm 1924 bởi các cha Dòng Phanxicô. Khách hành hương có thể tiến đến nhà thờ dọc theo một lối đi uốn lượn dẫn đến tu viện được xây dựng bên trên các phế tích của một nhà thờ Byxantine cổ.

Via Dolorosa
Với những khách hành hương muốn đi theo những bước chân cuối cùng của Đức Kitô, con đường cổ bắt đầu gần Cổng Sư tử dẫn đến đồi Gôngôtha, nơi Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Dọc theo đường đi là các Chặng đàng Thánh giá, với năm chặng cuối ở trong Nhà thờ Mộ Thánh, nơi có mộ của Chúa Giêsu.
[Nguồn: aleteia]
[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 6/4/2020]
2020
Chúc thư tình
Tâm tình Thứ Năm Tuần Thánh
Yêu là gì mà khiến người ta muốn ở bên nhau mãi mãi? Yêu là gì mà khi không thể ở với nhau người ta lại muốn để lại một dấu ấn khiến đối phương nghĩ về nhau luôn mãi? Yêu là gì mà khiến người ta cứ yêu dù biết yêu là đau khổ, là hy sinh là hiến dâng? Yêu là gì mà khiến cho người ta dám sống và chết vì người mình yêu?
Với tôi, tình yêu là tự do. Tự do để cho đi và tự do để nhận lãnh. Tôi cho người khác cái mình có và tôi nhận lại thì không hẳn là nhận được từ sự đáp trả của người khác nhưng là từ chính bản thân tôi. Tôi cho người khác một nụ cười thì chính tôi lại nhận được niềm vui và sự bình an trong tôi. Tôi trao cho người khác một cái nhìn cảm thông thì chính tôi lại nhận được sự cảm thông với chính bản thân mình.
Tình yêu thì không biên giới nên vì yêu các môn đệ mà Thầy Giêsu đã để lại cho các ông một “Chúc thư tình”, để các ông biết vị Thầy yêu dấu của các ông ở cùng các ông luôn mãi.
Trên đường chập chững bước theo Thầy Giêsu, tôi được đọc “Chúc thư tình” của Người. “Chúc thư tình” ấy được Người viết vào chiều thứ Năm trong bữa tiệc ly năm xưa. Trong “Chúc thư tình” ấy, Người cho tôi biết tôi “là người được yêu”, và tôi đã cảm nhận được điều này khi tiếng lòng tôi vang lên: Ta đã yêu con bằng tình yêu muôn thuở; con là con gái yêu quý nhất của Ta. Cảm nếm trong tiếng lòng vang lên ấy, thật sự tôi thấy mình “là người được yêu”. Nếu tôi không phải là người được yêu thì tôi đã chẳng hiện diện trên cõi đời này. Tôi đã chẳng được tạo dựng từ hư vô, để trở thành một bào thai trong dạ mẹ đó sao. Tôi được chăm sóc, được quan tâm, dạy dỗ và nhất là một Đấng đã luôn ở bên tôi. Đấng ấy biết rõ tôi làm gì, nói gì, suy nghĩ gì. Đấng ấy đã cho tôi được hiện diện từ sự hư vô, Người là Cha trên trời. nếu tôi không phải là người được yêu thì tại sao Đấng quyền năng lại trở nên người phàm trong lòng một người nữ để đến bày tỏ tình yêu với tôi. Người đã đến với tôi, chịu đau khổ vì tôi, hy sinh vì tôi, chết cho tôi. Người là Đức Giêsu mà tôi hằng khao khát được thuộc về.
“Là người được yêu”, có lẽ tôi chỉ mới dừng lại ở chiều lãnh nhận. Bạn có nhận thấy mình “là người được yêu” không? Khi bạn được hiện diện và đón nhận tình yêu từ sự quan tâm, dù khác tôi ở hoàn cảnh hay thời điểm. Tôi tin rằng bạn và tôi, chúng ta “là người được yêu”. Nhưng mỗi người chúng ta sẽ cảm nhận mình là người được yêu một cách rất riêng.
“Chúc thư tình” ấy đã khơi dậy và giúp tôi bước thêm một bước trong tình yêu: đó là khi tôi “được yêu người”. Khi tôi được yêu người thì cũng là lúc tôi nhận ra tôi được chọn và tách riêng ra. Điều này không có nghĩa là tôi bị loại trừ. Trong cảm nghiệm của Thánh Linh: “Ta sẽ quyến rũ nàng, đưa nàng vào sa mạc để cùng thổ lộ tâm tình” (Hs 2, 16), sa mạc hay đồi núi là nơi Thiên Chúa thổ lộ tâm tình, vì sự vắng vẻ và tĩnh mịch sẽ giúp tôi nghe rõ được tiếng Người. Ở đây, nơi ngọn đồi của Đam bri, và trong sa mạc của tâm hồn này, tôi lần dở “Chúc thư tình”, chúc thư cũng đã nói với tôi: khi “được yêu Người” tôi trở nên một người luôn biết bước ra, đi tới, bẻ ra và trao ban.
Người được yêu không ở lại trong con người của mình mà bước ra khỏi mình, khỏi cái tôi của riêng mình, bước ra khỏi vị trí của mình. Đức Giêsu đã bước ra khỏi vị trí của Thiên Chúa để đến với con người. Trong bữa tiệc ly, Đức Giêsu rời bàn ăn để đến rửa chân cho các môn đệ trong sự khiêm tốn và phục vụ. Khi ở nơi đồi núi và trong sa mạc tình yêu, khi được yêu người, tôi được sống sự bước ra: bước ra từ một con người kiêu căng, để trở nên một người khiêm tốn và quảng đại dâng hiến; bước ra từ những vết thương để được tình yêu của Đức Giêsu chữa lành và lấp đầy bằng tình yêu của Người; bước ra từ những con sóng ồn ào trong cõi lòng thẳm sâu, để có một sự tĩnh lặng và bình an trong tâm hồn; bước ra từ một sự đổ vỡ trong tương quan của cuộc sống để hàn gắn, làm mới lại bằng một tương quan trong Đức Giêsu; bước ra từ một con người tội lỗi để trở nên con người biết ăn năn sám hối, sống tốt lành, thánh thiện.
Là người được yêu, bạn có muốn khám phá sự tròn đầy trong tình yêu không? Trái tim tôi đang mách bảo rằng: Đức Giêsu đã bước ra và đang chờ bạn, chờ tôi bước ra khỏi tất cả những gì cần bước ra từ chính con người và cuộc sống của mình. Bước ra để đi đến với người khác như Chúa Giêsu. “Chúc thư tình” đã cho tôi nhận thấy Chúa Giêsu đi đến với những người bên cạnh là các môn đệ, với tất cả mọi người, đi đến cùng Chúa Cha. “ Đi đến” không chỉ ở những người xa cách tôi về khoảng cách địa lí, mà có thể một người nào đó ở ngay bên cạnh tôi, trong cùng một mái nhà, người tôi luôn cảm thấy họ “thật xa”, người mà tôi ít nói chuyện với hoặc không nói chuyện bao giờ. Tôi muốn bước tới tương quan với họ.
Khi yêu Người, tôi sẽ chủ động đến với những người sống ngay bên cạnh tôi, đi đến với những người mà tôi không ưa, người làm tôi tổn thương, với những người khó khăn, thử thách, đau khổ. Khi yêu Người, tôi sẵn sàng đi đến tất cả những nơi cần phải đến, theo lời mời gọi của Thầy Giêsu dành cho tôi. Khi yêu Người, tôi được lớn lên trong tình yêu, tôi chấp nhận bẻ ra tấm bánh cuộc đời của mình cho người khác. Ngôn ngữ của từ “bẻ ra” trong tình yêu đó chính là sự hiến mình trong tình yêu. Hiến mình trong tình yêu là khi tôi nhận lấy sự thua thiệt về mình, để người khác được bảo đảm. Khi tôi chấp nhận một sự hiểu lầm, đau khổ do người khác gây ra; khi tôi chấp nhận lùi lại một bước để biển lặng sóng yên, khi tôi chấp nhận tha thứ để người khác có được sự thứ tha mặc dù họ là người có lỗi; tôi chấp nhận vất vả mệt nhọc hy sinh để người khác được an vui. Khi tôi hiến mình thì không có nghĩa là chịu sự mất mát, nhưng chính là lúc tôi cho đi là tôi được nhận lãnh; chính lúc chết đi là khi được sống (trích trong ca khúc Quảng đại Hiến dâng). Đó chính là lễ vật dâng Chúa và là món quà cho người khác.
Đã bước ra, đã đi đến, đã bẻ ra thì sao lại không “ trao ban”. Tôi chẳng tài giỏi, cũng chẳng làm được việc gì lớn lao. Tình yêu trong sự trao ban nhiều khi chẳng đòi hỏi tôi như thế. Trong cuộc sống, tôi trao ban một nụ cười với tình yêu dành cho người khác; một thái độ lắng nghe và sẻ chia với chị em; một sự quan tâm bằng những việc nhỏ bé như lấy một ly nước, quét một cái nhà, lau một cái bàn học giúp người khác. Tất cả được đặt trong tình yêu và trao ban bằng tình yêu. Tôi khám phá ra giá trị của sự trao ban không hệ tại ở những gì làm cho người khác, mà là tôi đã cho đi bao nhiêu ở trong đó.
Bà goá nghèo đã bỏ hai đồng xu vào thùng dâng cúng trong Đền thờ, và còn những người khác thì dâng rất nhiều tiền. Thế nhưng, Thầy Giêsu đã nói: bà goá này đã dâng nhiều hơn tất cả. Những gì bà dâng là cả cuộc sống, sự nghèo túng của bà. Thầy Giêsu cũng muốn cho các môn đệ của mình trở thành những người nghèo của Tin Mừng. Ngài nêu gương cho họ về tình yêu phục vụ. Ngài đã cúi xuống rửa chân cho các môn đệ trong Bữa tiệc ly và tha thứ cho người học trò phản bội. Tình yêu là thế đó. Những gì bạn có, tôi có là do Cha trên trời luôn yêu thương và ban cho chúng ta một cách nhưng không, chẳng đòi hỏi và cũng không mong được đáp đền.
Tự sức ta không thể yêu như Chúa muốn. Hãy ở với Giêsu, hãy học với Giêsu, hãy yêu như Giêsu, bạn sẽ hiểu được yêu là gì.
2020
Vatican công bố các bài suy niệm Đàng Thánh giá do ĐTC chủ sự vào thứ Sáu Tuần Thánh
Ngày 06/04 vừa qua, Vatican đã công bố các bài suy niệm được soạn cho buổi ngắm Đàng Thánh giá sẽ được Đức Thánh Cha chủ sự vào lúc 9 giờ tối tại thềm đền thờ thánh Phêrô.
Những nhân chứng muốn nói thay cho những người cùng hoàn cảnh như họ
Các bài suy niệm Đàng Thánh giá năm nay được Đức Thánh Cha ủy thác cho văn phòng Tuyên úy của nhà tù “Due Palazzi” ở thành phố Padova của Ý. Các tác giả các bài suy niệm bao gồm 5 tù nhân, một gia đình nạn nhân của một vụ giết người, con gái của một tù nhân chung thân, một nữ giáo viên nhà tù, một giám thị, một bà mẹ của tù nhân, một giáo lý viên, một linh mục bị kết án bất công, một tu huynh tình nguyện viên, một cảnh sát. Họ là những nhân chứng và muốn nói thay cho những người trên thế giới sống cùng hoàn cảnh như họ.
Không đầu hàng sự ác; tìm lại niềm tin; mang niềm vui cho tha nhân;…
Một tù nhân nhận án chung thân nhận ra Chúa Giêsu, Con Người vô tội bị kết án như anh, đã đến tìm anh trong nhà tù và dạy anh về sự sống. Một đôi vợ chồng có con gái bị sát hại, khi tuyệt vọng dường như hoàn toàn lấn ất, thì bằng nhiều cách, đã gặp được Chúa Giêsu. Họ tiếp tục sống đề làm điều tốt cho tha nhân, họ không muốn đầu hàng sự ác. Họ cảm nghiệm tình yêu Chúa có khả năng tái sinh sự sống. Một tội phạm tuyệt vọng vì tội lỗi và muốn tự tử, nhưng đã tìm thấy ánh sáng nhờ gặp gỡ những người giúp anh hiểu trong thế giới vẫn tồn tại điều thiện hảo và giúp anh tìm lại niềm tin đã bị đánh mất. Những Simon thành Xirênê trong nhà tù, dù thánh giá để họ vác đã nặng, nhưng họ vẫn giúp bạn tù vác thánh giá. Họ mong muốn là Simon mang niềm vui cho ai đó….
Ngay một người phạm tội ác nặng nề cũng có khả năng được hồi sinh nếu được nâng dậy
Những bài suy niệm cho thấy cuộc tranh đấu giữa Sự Sống và Sự Chết, sự thiện xen lẫn sự ác và cuộc sống có thể được quyết định chỉ trong khoảnh khắc. Đối với Thiên Chúa không có gì là không thể được. Ngay cả một tội nhân phạm tội khủng khiếp nếu có ai đó nắm tay họ, thì họ cũng có thể trở thành người được tái sinh bất ngờ nhất.
Các bài suy niệm bằng tiếng Việt được đăng trên website của Vatican News Tiếng Việt (https://www.vaticannews.va/vi/vatican-city/news/2020-04/duong-thanh-gia-dct-chu-su-thu-sau-10-04.html). (REI 06/04/2020)
Hồng Thủy – Vatican
