2020
ĐTC Phanxicô với các linh mục: Hãy để Chúa Giêsu rửa chân cho anh em
Chiều Thứ Năm Tuần Thánh, do tình hình đại dịch, Đức Thánh Cha cử hành Lễ Tiệc Ly không có nghi thức rửa chân như mọi năm. Trong bài giảng Thánh lễ, Đức Thánh Cha nói với các linh mục: “Hãy để cho chân mình được Chúa rửa, Chúa là người phục vụ anh em, Ngài gần gũi anh em, để ban cho anh em sức mạnh, để rửa chân cho anh em. Và với ý thức mình cần được rửa, anh em hãy trở thành những người luôn tha thứ, tha thứ với tâm hồn quảng đại”
Hiện diện trong Thánh lễ tại Đền thờ Thánh Phêrô có khoảng 30 người. Trong đó có Đức Hồng y Angelo Comastri, Giám quản Đền thờ thánh Phêrô, và vị phụ tá là Đức cha Vittorio Lanzani, Đức ông Guido Marini, Trưởng ban phụng vụ và năm Đức ông khác trong Ban nghi lễ phụng vụ của Đức Thánh cha, một phó tế, vài thầy giúp lễ, ca đoàn giảm xuống chỉ còn 8 ca viên và một vài nữ tu và các nhân viên thu hình.
Trong bài giảng ứng khẩu, trước hết, Đức Thánh Cha nhắc lại Bí tích Thánh Thể: “Chúa muốn ở lại với chúng ta trong Bí tích Thánh Thể. Và chúng ta trở thành những nhà Tạm của Chúa, chúng ta mang Chúa theo mình; đến mức chính Chúa nói với chúng ta rằng nếu chúng ta không ăn Thịt Ngài và uống Máu Ngài, chúng ta sẽ không được vào Nước Trời. Đây là mầu nhiệm Mình Máu Thánh Chúa: Chúa ở với chúng ta, và trong chúng ta”.
Tiếp theo Đức Thánh Cha nói đến việc phục vụ: “Điều kiện để vào Nước Trời là phục vụ tất cả mọi người và để cho Chúa phục vụ. Điều này thật khó hiểu, chính Thánh Phêrô cũng không hiểu được điều này. Nhưng chỉ khi chúng ta để cho Chúa rửa chân chúng ta, chúng ta mới có thể lớn lên, được tha thứ và được vào Nước Trời”.
Sau đó, Đức Thánh Cha nhắc đến 60 linh mục đã chết ở Ý vì phục vụ người bệnh. Theo Đức Thánh Cha các linh mục và các bác sĩ, nhân viên y tá là những “vị thánh ở bên cạnh”.
Đức Thánh Cha nhắc đến đời sống chứng tá của các linh mục: “Hôm nay, tôi nhận được thư của một linh mục tuyên úy một nhà tù, ở xa, một cha dòng Phanxicô, kể lại việc cha ấy sống Tuần thánh này thế nào với các tù nhân. Có nhiều linh mục thừa sai đi xa rao giảng Tin Mừng và chết ở đó”. Đức Thánh Cha nói thêm về các linh mục bị vu khống. Có nhiều linh mục không thể ra đường, và nếu có ra cũng không dám mặc áo linh mục, vì bị người ta chửi rủa, lăng mạ.
Đức Thánh Cha nói: “Tất cả các linh mục, giám mục và Giáo hoàng đều là tội nhân, vì thế phải luôn cầu xin tha thứ, và học cách thứ tha”. Với các linh mục, Đức Thánh Cha nói thêm: “Hôm nay anh em ở với tôi trên bàn thờ. Tôi chỉ nói với anh em rằng: đừng cứng đầu như thánh Phêrô. Hãy để cho chân mình được Chúa rửa, Chúa là người phục vụ anh em, Ngài gần gũi anh em, để ban cho anh em sức mạnh, để rửa chân cho anh em. Và với ý thức mình cần được rửa, anh em hãy trở thành những người luôn tha thứ, tha thứ với tâm hồn quảng đại”.
Ngọc Yến – Vatican
2020
Đức Thánh Cha cử hành lễ Vọng Phục Sinh
Vào lúc 9 giờ tối thứ Bảy Tuần Thánh 11/4/2020, Đức Thánh Cha đã chủ sự lễ vọng Phục Sinh trong Đền Thờ Thánh Phêrô. Trong bài giảng, Đức Thánh Cha khuyến khích các tín hữu: “Đêm nay, chúng ta chinh phục một quyền cơ bản, quyền sẽ không bị tước khỏi chúng ta: quyền hy vọng”.
Cũng như các cử hành phụng vụ trong những ngày vừa qua, do đại dịch, Thánh lễ không có giáo dân tham dự và không có ban bí tích Rửa tội.
Thinh lặng vĩ đại của Thứ Bảy Thánh
Trong bài giảng thánh lễ, trước hết Đức Thánh Cha nhắc mọi người nhớ rằng, hôm nay, ngày thứ Bảy, ngày của Tam Nhật Thánh, nhưng thường chúng ta lơ là với ngày này, do tâm trạng sốt ruột chờ đợi từ ngày Thứ Sáu Thánh đến Alleluia của Chúa Nhật. Nhưng, liên hệ đến thời điểm hiện nay, Đức Thánh Cha nhấn mạnh: “Tuy nhiên, năm nay, hơn bao giờ hết chúng ta cảm nhận Thứ Bảy Thánh là một ngày thinh lặng vĩ đại. Chúng ta có thể nhìn vào chính mình cùng với những cảm xúc của các phụ nữ. Như chúng ta, họ đã chứng kiến thảm kịch của đau khổ, một bi kịch xảy ra bất ngờ. Họ đã thấy cái chết và sự chết cũng đã hiện diện trong tâm hồn họ. Nỗi đau cùng với nỗi sợ hãi, các phụ nữ tự hỏi ‘người ta sẽ hành xử với chúng ta như đã đối xử với Thầy?’ Và rồi những nỗi sợ hãi cho tương lại, tất cả cần phải xây dựng lại. Ký ức bị tổn thương, niềm hy vọng bị bóp nghẹt. Đối với họ đó là giờ đen tối nhất”.
Không chạy trốn thực tế
Tiếp đến, Đức Thánh Cha ca ngợi thái độ của các phụ nữ khi đứng trước đau khổ, thất vọng và sợ hãi: “Nhưng trong hoàn cảnh này, các phụ nữ không để mình bị tê liệt. Họ không nhượng bộ trước sức mạnh đen tối của những lời than thở và thương tiếc, không khép mình trong bi quan, không chạy trốn thực tế. Vào ngày thứ Bảy, các phụ nữ đã làm một việc đơn giản nhưng phi thường: trong nhà, họ chuẩn bị thuốc thơm để xức xác Chúa. Họ không từ bỏ tình yêu: trong bóng tối tâm hồn, họ thắp sáng lòng thương xót. Trong lúc chuẩn bị những điều này, các phụ nữ không biết họ đang chuẩn bị cho ‘bình minh của ngày thứ Nhất trong tuần’, ngày sẽ thay đổi lịch sử. Chúa Giêsu như hạt giống đang ở trong lòng đất, chuẩn bị nảy sinh một sự sống mới, và các phụ nữ, với lời cầu nguyện và tình yêu giúp hy vọng nở hoa”.
Quyền hy vọng
Từ những cử chỉ hy vọng của các phụ nữ, Đức Thánh Cha khuyến khích các tín hữu: “Đêm nay, chúng ta chinh phục một quyền cơ bản, quyền sẽ không bị tước khỏi chúng ta: quyền hy vọng. Đây không chỉ là một sự lạc quan, một sự khích lệ. Đây là một hồng ân từ Trời cao, chúng ta không thể tự mình tạo ra. Mọi thứ sẽ ổn. Chúng ta nói điều này một cách kiên trì trong những tuần này, chúng ta bám vào vẻ đẹp của nhân loại chúng ta và làm cho con tim trỗi dậy những lời khích lệ. Nhưng thời gian trôi qua và nỗi sợ hãi tăng lên, ngay cả niềm hy vọng táo bạo cũng có thể tan biến. Niềm hy vọng của Chúa Giêsu thì khác xa. Chúa đặt vào tâm hồn sự tin chắc rằng Chúa biết cách biến mọi sự trở nên tốt đẹp, bởi vì ngay cả từ ngôi mộ, Chúa cũng đã làm phát sinh sự sống”.
Tiếp tục bài giảng Đức Thánh Cha nói về lòng can đảm của các phụ nữ và giải thích rằng can đảm là một thứ người ta không thể cho đi: “Anh chị em không thể cho người khác sự can đảm nhưng anh chị em có thể lãnh nhận nó như một ân ban. Chỉ cần chúng ta mở rộng con tim trong cầu nguyện, chỉ cần cố gắng nhấc ra một chút hòn đá đặt ở lối vào của con tim để có chỗ cho ánh sáng Chúa đi vào là chúng ta sẽ lãnh nhận được hồng ân can đảm”.
Loan báo Phục Sinh, loan báo niềm hy vọng
Sau khi đã lãnh nhận hồng ân can đảm, Chúa Giêsu trao sứ vụ cho các phụ nữ. Về điểm này, Đức Thánh Cha nói: “Đây là việc loan báo Phục Sinh, loan báo niềm hy vọng. Chúa nói: ‘Về báo cho anh em của Thầy để họ đến Galilê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó’ (Mt 28,10), thiên thần nói ‘Người đi Galilê trước các ông’ (c. 7). Thật vui khi chúng ta biết Chúa đi trước chúng ta. Đối với các môn đệ, Galilê cũng là nơi của những ký ức, đặc biệt là nơi của lời kêu gọi đầu tiên. Trở về Galilê nhắc nhở chúng ta, chúng ta được Thiên Chúa yêu thương và kêu gọi. Chúng ta cần tiếp tục cuộc hành trình, nhớ rằng chúng ta được sinh ra và được tái sinh từ một tiếng gọi yêu thương nhưng không. Đây là một điểm để chúng ta luôn bắt đầu lại, đặc biệt trong cuộc khủng hoảng, trong thời gian thử thách”.
Đức Thánh Cha mở rộng ý nghĩa vùng đất Galilê để nói về sứ vụ của người môn đệ: “Nhưng Galilê có nhiều điều để nói. Đó là một nơi không chỉ xa Giêrusalem về mặt địa lý, mà còn về chiều kích thánh thiêng. Galilê là một vùng đất, nơi có nhiều tôn giáo hiện diện. Chúa Giêsu sai các môn đệ đến đó, yêu cầu các ông bắt đầu từ đó. Điều này có nghĩa là gì? Trong việc loan báo niềm hy vọng, không được giới hạn trong hàng rào thánh thiêng của chúng ta, nhưng loan báo cho tất cả. Bởi vì tất cả đều cần được khích lệ, và nếu chúng ta không làm điều này, không chạm đến ‘Lời sự sống’ (1Ga 1,1), thì ai sẽ làm?”
loan báo sự sống trong thời điểm cái chết
Đức Thánh Cha khích lệ các tín hữu hãy trở thành các Kitô hữu, những người mang lấy gánh nặng của người khác, những người đem niềm ủi an. “An chị em hãy trở thành những người loan báo sự sống trong thời điểm cái chết! Tại mỗi Galilê, mỗi nơi của nhân loại, nơi chúng ta thuộc về, chúng ta hãy mang đến bài ca sự sống! Chúng ta hãy làm cho tiếng kêu của sự chết phải im lặng, đã quá đủ chiến tranh rồi.” Hãy ngừng sản xuất và buôn bán vũ khí, bởi vì chúng ta cần bánh chứ không cần súng đạn. Hãy ngừng phá thai, giết hại thai nhi vô tội. Hãy mở rộng con tim để lấp đầy những bàn tay trống rỗng thiếu những điều cần thiết”.
Đức Thánh Cha kết thúc bài giảng với việc mô tả hành động của các phụ nữ: “Các bà tiến lại gần Người, ôm lấy chân” (Mt 28, 9). Đức Thánh Cha giải thích: “Để đến gặp chúng ta, đôi chân Chúa phải đi một hành trình dài, đi đến tận cùng của ngôi mộ và bước ra từ đó. Các phụ nữ ôm lấy đôi chân đã giẫm lên cái chết và mở ra con đường hy vọng. Chúng ta, những người lữ hành đang tìm kiếm niềm hy vọng, hôm nay chúng ta níu kéo, ôm lấy Chúa, Đấng Phục Sinh. Chúng ta quay lưng lại với cái chết và chúng ta mở lòng ra với Chúa, Đấng là Sự sống”.
Ngọc Yến – Vatican
2020
Phép lạ Phục Sinh
13.4
Mt 28, 8-15
PHÉP LẠ PHỤC SINH
Với trang Tin Mừng hôm nay, Thánh Mátthêu là tác giả duy nhất đã so sánh thái độ của hai dạng chứng nhân về việc Chúa phục sinh: một bên là những phụ nữ đã từng theo Chúa Giêsu, và một bên là những lính canh mồ do các thượng tế và biệt phái sắp đặt. Cả hai bên đều nhận lãnh một sứ điệp: những phụ nữ được các thiên thần cổ võ đã lên đường loan báo sứ điệp Phục Sinh cho các tông đồ; những lính canh mồ thoạt tiên cũng nhận lãnh các sứ điệp như thế: họ đã chứng kiến một phép lạ, nhưng thay vì tuân phục với đức tin, họ đã bóp méo và chối bỏ sự thật.
Một sự kiện nhưng hai phản ứng: với sự tuân phục của đức tin, các phụ nữ đã đón nhận phép lạ và trở thành sứ giả của Tin Mừng Phục Sinh; trong khi đó, với thái độ mù quáng và khước từ, những lính canh mồ đem biến sự kiện thành một bôi nhọ phỉ báng.
Các phụ nữ bị coi là thua kém trong xã hội Do Thái lại đóng vai trò quan trọng trong việc loan báo Chúa Giêsu sống lại. Họ được chính Đấng Phục Sinh hiện ra và trao sứ mệnh loan Tin Vui phục sinh cho các tông đồ; họ trở thành tông đồ của các tông đồ. Trong khi những người đàn ông như lính canh mồ, giới lãnh đạo ra sức đánh tráo dư luận, các môn đệ thân tín tỏ ra bị động, nghi ngờ thì các ba lại lên tiếng.
Việc Đấng Phục Sinh ưu ái hiện ra và trao sứ vụ cho các bà là phần thưởng Ngài dành cho những tâm hồn yêu mến Ngài. Tin Mừng Phục Sinh không là của riêng ai mà là của mọi người, nam lẫn nữ, biết thao thức tìm kiếm, tin tưởng và sống niềm tin này.
Số phụ nữ được diễm phúc Chúa hiện ra này là những người trước đây đã từng theo giúp Chúa, đã từng chứng kiến việc mai táng Chúa (Mt 2, 61). Nhờ biết rõ địa điểm chôn táng nên họ ra đi gặp Chúa Phục sinh hiện đến. Theo truyền thống, họ đến mộ để khóc thương và để xức dầu trên xác Ngài (Mc 16,1; Lc 23, 56 – 24, 1). Nhưng khi tới mộ, thì chỉ còn là nấm mộ trống trơn và chỉ có thiên thần ở đó. Thiên thần báo tin Chúa sống lại (c. 5) và mời các bà vào trong mộ để kiểm chứng sự kiện đó (c. 6).
Các phụ nữ đây vừa hốt hoảng vừa hân hoan vui mừng. Nỗi sợ hãi đã xâm chiếm lính canh, cũng làm các bà lo lắng. Nhưng lời thiên sứ trấn an họ yên trí bình an vui mừng như các đạo sĩ nhìn thấy ngôi sao (Mt 2, 10), như các mục đồng gặp Đấng Hài Nhi (Lc 2, 10).
Cùng một sự kiện sống lại đã làm cho lính sợ hãi ngã dập dụi, nhưng lại trở thành niềm tin can đảm vui mừng cho các bà. Lúc nhận ra Chúa các bà sụp lạy và ôm chân Người. Cử chỉ sụp lạy thường thấy trong Kinh Thánh (Mt 8, 2.9, 18.14, 33). Đó là thái độ trang trọng dành riêng cho Thiên Chúa. Các bà đã được diễm phúc thấy Chúa và kiểm chứng bằng ôm chân Chúa (c.9).
Việc này diễn tả lòng yêu thương tột bực kèm thêm niềm vui kính phục, được tái ngộ với Thầy mình đã chết nay sống lại. Gặp họ, Chúa Giêsu trấn an ngay: “đừng sợ, hãy đi báo tin cho anh em ta…” (c.8). Mệnh lệnh “Hãy đi” hối thúc các bà đừng quyến luyến bên Chúa cho riêng mình. Chúa dùng chữ “anh em” thay vì “môn đệ” là dấu sẵn lòng tha thứ mọi yếu đuối lầm lỡ mà trước đây các tông đồ đã lỡ phạm vào giờ Chúa tử nạn.
Cuộc phục sinh được loan báo cho các bà đầu tiên hẳn cũng có một ý nghĩa là trong suốt cuộc khổ nạn, các bà đã gần gũi Chúa nhất. Một thiếu phụ phung phí dầu thơm ở Bêtania (Mt 26, 7-13), vợ của Philatô can ngăn (27, 19), các phụ nữ đứng bên thập giá (27, 55-56) và bên nấm mộ (27, 61). Họ là những người có công và đã được thưởng bằng việc Chúa hiện ra. Đây cũng là một bài học cho thấy các bà đóng một vai trò quan trọng trong việc truyền giáo cũng như họ đã từng làm việc đó là báo tin Chúa sống lại cho các tông đồ. Nếu như các bà ích kỷ chỉ đòi ở bên Chúa mà không chịu đi đưa tin thì hẳn là các môn đệ vẫn cứ ở trong căn phòng kín cửa then cài.
Và điều này muốn nói với chúng ta rằng: nếu chúng ta là những người đã nhận được đức tin của Chúa, nhận được sự sống mới của Chúa, chúng ta không có quyền sống ích kỷ, như con rùa thụt lui sau lớp vỏ của mình. Chúng ta phải phân phát, phải đi như những phụ nữ hôm nay để “loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại…” (1C 11, 26).
Sau khi củng cố niềm tin, Chúa đã sai các bà ra đi loan báo tin cho các tông đồ ”những anh em của Thầy”, và tiếp theo, Chúa cũng sai các tông đồ đi rao giảng Tin Mừng cho khắp thế giới. Ngày nay, chúng ta cũng là những người đối diện với Tin Mừng Phục Sinh, nên chúng ta cũng sẽ là những người được sai đi làm nhiệm vụ loan báo. Vì thế mà mọi cử chỉ, lời nói và việc làm của chúng ta luôn mang giá trị của một chứng từ.
Hai ngàn năm qua và mãi mãi về sau, sứ điệp Phục Sinh vẫn tiếp tục được loan báo. Phép lạ Phục Sinh vẫn mãi mãi tiếp diễn. Các Tông Ðồ và những phụ nữ được Chúa hiện ra có lẽ diễm phúc hơn chúng ta. Thế nhưng, các ngài cũng không được trang bị hơn chúng ta khi đứng trước việc Chúa sống lại và hiện ra. Những lính canh mồ cũng chứng kiến các điều lạ lùng, nhưng với họ, những điều đó chưa phải là phép lạ.
Phép lạ thiết yếu không phải là một việc phi thường, nhưng trước tiên là một gặp gỡ trong đức tin. Chỉ trong đức tin, con người mới tin nhận phép lạ. Có phép lạ khi con người thực thi thánh ý Chúa. Thiên Chúa vẫn tiếp tục thể hiện tình yêu của Ngài. Thiên Chúa vẫn tiếp tục hiện diện và tác động trong lịch sử nhân loại. Nhưng chỉ khi nào con người tin nhận và sống theo thánh ý Thiên Chúa, con người mới nhận ra sự hiện diện và tình yêu của Ngài. Chúa Giêsu đã tuyên bố: “Phúc cho những ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa”. Có tâm hồn trong sạch chính là để cho Chúa ngự, chính là chiều theo tư tưởng và ý muốn của Ngài.
Và rồi người Kitô hữu trong mọi thời, việc loan báo Tin Mừng vẫn là một tiếng gọi tồn tại trong sâu thẳm của con người hay chính nội tâm mỗi người là một ơn gọi riêng cho từng người, từ đó mỗi người mạnh dạn ra đi phục vụ và hãy cho đi nhưng không đến với biết bao hoàn cảnh cơ nhỡ, khốn cùng, họ đang cần biết bao tấm lòng từ tâm nâng đỡ từ vật chất tới tinh thần.
Bổn phận người tín hữu là chúng ta đi tìm cuộc sống vĩnh hằng, đồng thời cùng với mọi người cùng nhau tìm cuộc sống đời đời mai sau. Cuộc sống hàng ngày diễn ra, với mọi biến cố vui buồn, sầu khổ v.v… nếu mỗi người luôn có niềm tin tuyệt đối vào Chúa Phục Sinh, chắc chắn sẽ gặp Chúa đồng hành, quan phòng chúng ta trên muôn nẻo đường dù hiểm nguy, gian nan, trắc trở, thì Chúa gìn giữ chúng ta tới bến bờ hạnh phúc.
2020
Thứ Hai Trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh
13/04/2020
Thứ Hai Trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh
Ðọc kinh Vinh Danh
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa, Chúa dùng bí tích thánh tẩy để ban cho Giáo Hội sinh thêm nhiều con cái là các anh chị em tân tòng. Xin cho đời sống của họ luôn biểu lộ ý nghĩa nhiệm mầu của bí tích thánh tẩy họ vừa lãnh nhận với tất cả lòng tin. Chúng con cầu xin …
BÀI ĐỌC I: Cv 2, 14. 22-32
“Thiên Chúa đã cho Đức Kitô phục sinh, và tất cả chúng tôi làm chứng về Người”.
Trích sách Tông đồ Công vụ.
Trong ngày lễ Ngũ Tuần, Phêrô cùng với mười một Tông đồ đứng ra, lên tiếng nói rằng: “Hỡi các người Do-thái và tất cả những ai ở Giêrusalem, xin hãy biết điều này và lắng nghe lời tôi! Hỡi những người Israel, xin hãy nghe những lời này:
“Đức Giêsu Nadarét là người đã được Thiên Chúa chứng nhận giữa anh em bằng những việc vĩ đại, những điều kỳ diệu và những phép lạ, mà Thiên Chúa đã dùng Người để thực hiện giữa anh em, như chính anh em đã biết. Theo như Thiên Chúa đã định và biết trước, Người đã bị nộp, và anh em đã dùng tay kẻ độc ác mà hành hạ rồi giết đi. Nhưng Thiên Chúa đã giải thoát Người khỏi những đau khổ của cõi chết mà cho Người phục sinh, vì không thể nào để cho Người bị cầm giữ trong đó. Vì chưng, Đavít đã nói về Người rằng:
‘Tôi hằng chiêm ngưỡng Chúa trước mặt tôi, vì Người ở bên hữu tôi, để tôi không nao núng. Vì thế, lòng tôi hân hoan, miệng lưỡi tôi hát mừng, và xác tôi yên nghỉ trong niềm cậy trông; vì Chúa không để linh hồn tôi trong cõi chết, và không để Đấng Thánh của Chúa thấy sự hư nát. Chúa đã cho tôi biết con đường sự sống và cho tôi tràn đầy hân hoan tận hưởng nhan thánh Chúa’.
“Hỡi anh em, xin cho phép tôi được bạo dạn nói với anh em về tổ phụ Đavít rằng: ngài đã băng hà, đã được an táng và lăng tẩm của ngài còn nằm giữa chúng ta cho đến ngày nay. Nhưng vì ngài là tiên tri, và biết Thiên Chúa đã thề hứa với ngài sẽ cho một người trong dòng dõi ngài ngồi trên ngai vàng của ngài, nên thấy trước, ngài đã nói về việc Chúa Kitô phục sinh, vì Người không phải bị bỏ rơi trong cõi chết, và xác Người không bị huỷ diệt. Đức Giêsu đó, Thiên Chúa đã cho sống lại; chúng tôi hết thảy xin làm chứng về điều ấy”.
Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 15, 1-2a và 5. 7-8. 9-10. 11
Đáp: Xin bảo toàn con, lạy Chúa, vì con tìm nương tựa Chúa (c. 1).
Hoặc đọc: Alleluia.
Xướng: 1) Xin bảo toàn con, lạy Chúa, vì con tìm nương tựa Chúa; con thưa cùng Chúa: “Ngài là chúa tể con. Chúa là phần gia nghiệp và phần chén của con, chính Ngài nắm giữ vận mạng của con”. – Đáp.
2) Con chúc tụng Chúa vì đã ban cho con lời khuyên bảo, đó là điều lòng con tự nhủ, cả những lúc đêm khuya. Con luôn luôn đặt Chúa ở trước mặt con, vì Chúa ngự bên hữu con, con sẽ không nao núng. – Đáp.
3) Bởi thế lòng con vui mừng và linh hồn con hoan hỉ: ngay cả đến xác thịt của con cũng nằm nghỉ an toàn, vì Chúa chẳng bỏ rơi linh hồn con trong Âm phủ, cũng không để thánh nhân của Ngài thấy sự hư nát. – Đáp.
4) Chúa sẽ chỉ cho con biết đường lối trường sinh, sự no đầy hoan hỉ ở trước thiên nhan, sự khoái lạc bên tay hữu Chúa tới muôn muôn đời! – Đáp.
ALLELUIA: Tv 117, 24
Alleluia, alleluia! – Đây là ngày Chúa đã thực hiện, chúng ta hãy mừng rỡ hân hoan về ngày đó. – Alleluia.
PHÚC ÂM: Mt 28, 8-15
“Hãy đi nói với anh em đến Galilêa mà gặp Ta ở đó”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, các bà vội ra khỏi mồ vừa sợ lại vừa hớn hở vui mừng, chạy báo tin cho các môn đệ Chúa. Và này Chúa Giêsu đón gặp các bà, Người nói: “Chào các bà”. Các bà liền lại gần ôm chân Người và phục lạy. Bấy giờ Chúa Giêsu bảo: “Các bà đừng sợ. Hãy đi báo tin cho các anh em Ta phải trở về Galilêa, rồi ở đó họ sẽ gặp Ta”.
Đang khi các bà lên đường, thì mấy người lính canh vào thành báo tin cho các thượng tế biết tất cả những gì đã xảy ra. Các thượng tế liền họp với các kỳ lão, và sau khi đã bàn định, họ cho lính một số tiền lớn và bảo rằng: “Các anh hãy nói rằng: Ban đêm khi chúng tôi đang ngủ, thì môn đệ ông đến lấy trộm xác ông. Nếu việc này đến tai tổng trấn, chúng tôi sẽ thương lượng với ông, không để các anh phải phiền hà đâu”. Bọn lính canh nhận tiền và đã làm y như họ căn dặn chúng. Bởi thế, lời đó được phao truyền nơi người Do-thái cho đến ngày nay.
Đó là lời Chúa.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin vui lòng chấp nhận lễ vật của toàn thể dân Chúa khắp trần gian; Chúa đã kêu gọi chúng con tin theo Chúa và cho được tái sinh trong bí tích thánh tẩy, xin cũng dẫn dắt chúng con về cõi phúc muôn đời. Chúng con cầu xin …
Lời tiền tụng Phục Sinh I
Lạy Chúa chúng con tuyên xưng Chúa mọi lúc, nhất là trong đêm (ngày, mùa) cực thánh này chúng con càng hãnh diện tung hô Chúa khi Ðức Ki-tô đã được hiến tế làm Chiên Vượt Qua của chúng con, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Vì chính Người là Chiên thật đã xoá bỏ tội trần gian, Người đã chết để hủy diệt sự chết nơi chúng con, và sống lại để phục hồi sự sống cho chúng con.
Vì thế, với niềm hân hoan chứa chan trong lễ Phục Sinh, toàn thể nhân loại trên khắp địa cầu đều nhảy mừng. Cũng vậy, các Dũng thần và các Quyền thần không ngừng hát bài ca chúc tụng vinh quang Chúa rằng:
Thánh! Thánh! Thánh! …
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, xin tuôn đổ xuống lòng tín hữu ơn dồi dào của mầu nhiệm Vượt Qua. Chúa đã đưa chúng con vào đạo thánh Chúa là con đường dẫn tới ơn cứu độ muôn đời, xin giúp chúng con biết đáp đền cho cân xứng. Chúng con cầu xin …
