Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Tác giả: Anmai

Home / Anmai
23Tháng Tư
2020

Sẻ chia cho người khác

23/04/2020
Anmai
Phụng vụ, Suy niệm hàng ngày
0

SẺ CHIA CHO NGƯỜI KHÁC

            Giống như Môsê xưa đã được Đức Chúa ban man-na nuôi dân Ít-ra-en trong cuộc hành trình vượt qua sa mạc 40 năm về miền Đất Hứa, Tin Mừng hôm nay cũng cho thấy Chúa Giêsu nhân bánh ra nhiều, ám chỉ việc Người sẽ Manna Mới là bí tích Thánh Thể để nuôi dưỡng đức tin của Israel Mới là Hội Thánh trên bước đường vượt qua sa mạc trần gian để về Đất Hứa Nước Trời đời sau.

            Chắc chắn rằng, phép lạ “hóa bánh ra nhiều” là một sự kiện lịch sử. Bởi vì đây là sự kiện không chỉ được cả ba Tin Mừng Nhất Lãm ghi lại, mà Tin Mừng thứ IV cũng đã tường thuật một cách rất chi tiết về địa danh, thời gian và những nhân vật cụ thể trong phép lạ này. Câu chuyện được xảy ra trên núi, gần bờ biển hồ Galilêa, nơi Chúa Giêsu khởi đầu sứ vụ rao giảng và chọn gọi bốn môn đệ đầu tiên.

            Thời gian của sự kiện là gần dịp lễ vượt qua của người Do Thái, và đối tượng là dân chúng đi theo người rất đông chừng hơn năm ngàn người đàn ông. Hai môn đệ được nhắc đến trong sự kiện này là Philípphê và Anrê: một vị được Chúa Giêsu hỏi thử về việc lấy đâu đủ bánh cho dân ăn, một vị phát hiện ra một em bé mang mấy cái bánh và báo cáo với Chúa Giêsu.

            Hành động của Chúa Giêsu trong sự kiện hóa bánh ra nhiều hôm nay, bao gồm cùng lúc hai công việc của Đấng Cứu Thế, là chữa lành và nuôi dưỡng dân Người. Cả hai đều nói lên lòng thương xót vô bờ bến của Thiên Chúa đối với con người, nhất là những người đau khổ, vì họ vừa mang lấy bệnh tật thể lý vừa mang nặng bệnh tật tâm linh, vừa đói khát của ăn vật chất vừa đói khát của nuôi linh hồn. Hành động yêu thương của Chúa được cụ thể qua việc ra tay chữa lành các bệnh tật cho dân, và đặc biệt chạnh lòng thương hoá bánh ra nhiều để nuôi dưỡng họ.

            Chúa Giêsu ngước mắt lên và thấy đông đảo dân chúng đến với mình… Chúa Giêsu chạnh lòng thương (cái đói vật chất cũng như tinh thần của con người). Chúng ta cũng được mời gọi “ngước mắt lên” để nhìn thấy hoàn cảnh của mọi người mà cảm thông với họ, chứ không phải ru rú cho mình mà bất biết với mọi người xung quanh đang cần đến chúng ta.

            Chúa Giêsu không dùng quyền năng để hô biến đem của ăn từ đâu tới, nhưng Người muốn con người cộng tác dâng lên của ăn từ bàn tay lao động của con người (nghề trồng trọt – bánh; nghề đánh lưới – cá). Phép lạ xảy ra khi biết đem chia sẻ cho nhau và cùng ngồi xuống ăn chung với nhau, chứ phép lạ không thể xảy ra khi chúng ta giữ khư khư năm chiếc bánh và hai con cá để ăn một mình.

            Mỗi khi chúng ta tham dự Thánh Lễ, tất cả cùng chia nhau một Tấm Bánh là Mình Chúa Kitô để chúng ta trở nên một thân thể với Người. Tất cả cùng tuyên xưng chung một niềm tin vào Thiên Chúa là Cha, bởi chúng ta cùng chịu một Phép Rửa bằng nước và Thánh Thần. Tất cả cùng là con Thiên Chúa, cùng được đón nhận một Tình Yêu Thương, cùng được hướng dẫn bằng Lời Chúa và cùng được chung hưởng niềm vui, hạnh phúc từ một Giao ước vĩnh cửu mà Thiên Chúa là Cha đã hứa ban cho tất cả chúng ta. Muốn có được sự hiệp nhất trong Giáo xứ – Cộng đoàn, mỗi người phải ra sức chu toàn trách nhiệm mà Thiên Chúa đã trao phó: ra sức củng cố Đức Tin cho nhau.

            Đó là, chúng ta phải biết khuyến khích nhau học hỏi Lời Chúa, tìm hiểu về Chúa, để nhận ra Tình Thương của Ngài. Đồng thời, chúng ta cũng phải khuyên nhủ nhau làm theo Lời Chúa dạy: làm lành lánh dữ ; biết bảo ban nhau siêng năng lãnh nhận Ơn Chúa ban qua các Bí tích, nhất là Bí tích Thánh Thể, vì đó là Bí tích Tình Yêu, Bí tích qui tụ tất cả chúng ta trong Tình Yêu của Chúa, Bí tích củng cố Đức Tin cho mỗi chúng ta. Nếu mỗi người chúng ta cố gắng làm như vậy, chắc chắn Đức Tin của Giáo xứ-Cộng đoàn sẽ được củng cố, sẽ vững mạnh hơn.

            Ngày nay, chúng ta được chia sẻ từ một tấm bánh là Chúa Giêsu qua Bí tích Thánh Thể ; Chúa Giêsu nuôi dưỡng chúng ta không chỉ bằng Mình Người mà con bằng Lời Người, mỗi khi chúng ta tham dự Thánh Lễ. Đức Tin của chúng ta được củng cố nhờ của ăn mà Thiên Chúa ban cho là chính Con Một Ngài, để chúng ta sống xứng đáng là Con Thiên Chúa hơn. Điều này có nghĩa, chúng ta phải thể hiện Niềm Tin của mình bằng chính đời sống luôn hết sức làm theo Lời Chúa dạy, cố gắng chia sẻ, chăm lo cho những người khác.

            Phép lạ vẫn đang diễn ra hằng ngày, nhưng để phép lạ có thể xảy ra, Chúa cần chúng ta đóng góp vào đó tấm lòng quảng đại, sẵn sàng sẻ chia một miếng bánh nhỏ dù mình đang túng đói, hay một lời nói thứ tha dù cơn giận đang bùng lên. Bạn hãy sẻ chia một chút vật chất cho một người nghèo túng hơn bạn, vì “một miếng khi đói bằng một gói khi no.” Hãy chia sẻ một chút tha thứ, thì gia đình, cộng đoàn sẽ được hiệp nhất yêu thương bền lâu. Hãy sẻ chia tấm bánh cuộc đời bạn để muôn người được ấm no và đầy tình người.

            Nếu chúng ta làm như vậy, chúng ta cũng đang trở nên tấm bánh cho người khác. Vì chúng ta đã được chia sẻ từ một tấm bánh; vì chúng ta đã được chia sẻ từ một Đức Tin. Chính khi chúng ta biết chia sẻ cho nhau niềm Tin, chính khi chúng ta đến đón nhận sự chia sẻ từ một Tấm Bánh, Đức Tin của chúng ta lại càng vững mạnh, lòng yêu mến của chúng ta lại càng được mạnh mẽ hơn và chúng ta cũng được trở nên một với nhau.

Read More
23Tháng Tư
2020

Thứ Sáu Tuần II – Mùa Phục Sinh

23/04/2020
Anmai
Phụng vụ, Thánh lễ
0

Thứ Sáu Tuần II – Mùa Phục Sinh

Ca nhập lễ

Kh 5,9-10

Lạy Chúa,

Chúa đã lấy máu đào cứu chuộc chúng con,

thuộc mọi chi tộc và ngôn ngữ,

thuộc mọi nước mọi dân.

Chúa đã làm cho chúng con

thành một vương quốc, thành những tư tế

để phụng thờ Thiên Chúa. Ha-lê-lui-a.

Lời nguyện nhập lễ

Lạy Chúa, Chúa đã muốn cho Con Một Chúa là Ðức Giêsu chịu khổ hình thập giá và phục sinh vinh hiển để giải thoát chúng con khỏi quyền lực ác thần. Xin cho chúng con được hưởng nhờ mọi ơn phúc bởi mầu nhiệm Phục Sinh. Chúng con cầu xin …

 

 

Bài đọc 1

Cv 5,34-42

Các Tông Đồ ra khỏi Thượng Hội Đồng, lòng hân hoan bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Đức Giê-su.

Bài trích sách Công vụ Tông Đồ.

34 Bấy giờ có một người Pha-ri-sêu tên là Ga-ma-li-ên đứng lên giữa Thượng Hội Đồng ; ông là một kinh sư được toàn dân kính trọng. Ông truyền đưa các Tông Đồ ra ngoài một lát. 35 Rồi ông nói với Thượng Hội Đồng : “Thưa quý vị là người Ít-ra-en, xin quý vị coi chừng điều quý vị sắp làm cho những người này. 36 Thời gian trước đây, có Thêu-đa nổi lên, xưng mình là một nhân vật và kết nạp được khoảng bốn trăm người ; ông ta đã bị giết, và mọi kẻ theo ông cũng tan rã, không còn gì hết. 37 Sau ông, có Giu-đa người Ga-li-lê nổi lên vào thời kiểm tra dân số, và lôi cuốn dân đi với mình ; cả ông này cũng bị diệt, và tất cả những người theo ông ta đều bị tan tác. 38 Vậy giờ đây, tôi xin nói với quý vị : hãy để mặc những người này. Cứ cho họ về, vì nếu ý định hay công việc này là do người phàm, tất sẽ bị phá huỷ ; 39 còn nếu quả thật là do Thiên Chúa, thì quý vị không thể nào phá huỷ được ; không khéo quý vị lại thành những kẻ chống Thiên Chúa.” Họ tán thành ý kiến của ông.

40 Họ cho gọi các Tông Đồ lại mà đánh đòn và cấm các ông không được nói đến danh Đức Giê-su, rồi thả các ông ra. 41 Các Tông Đồ ra khỏi Thượng Hội Đồng, lòng hân hoan bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Đức Giê-su.

42 Mỗi ngày, trong Đền Thờ và tại tư gia, các ông không ngừng giảng dạy và loan báo Tin Mừng về Đức Ki-tô Giê-su.

Đáp ca

Tv 26,1.4.13-14 (Đ. c.4ab)

Đ.Một điều tôi kiếm tôi xin,
là luôn được ở trong đền Chúa tôi.

1Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi,
tôi còn sợ người nào ?
Chúa là thành luỹ bảo vệ đời tôi,
tôi khiếp gì ai nữa ?

Đ.Một điều tôi kiếm tôi xin,
là luôn được ở trong đền Chúa tôi.

4Một điều tôi kiếm tôi xin,
là luôn được ở trong đền Chúa tôi
mọi ngày trong suốt cuộc đời,
để chiêm ngưỡng Chúa tuyệt vời cao sang,
ngắm xem thánh điện huy hoàng.

Đ.Một điều tôi kiếm tôi xin,
là luôn được ở trong đền Chúa tôi.

13Tôi vững vàng tin tưởng
sẽ được thấy ân lộc Chúa ban trong cõi đất dành cho kẻ sống.14Hãy cậy trông vào Chúa, mạnh bạo lên, can đảm lên nào !
Hãy cậy trông vào Chúa.

Đ.Một điều tôi kiếm tôi xin,
là luôn được ở trong đền Chúa tôi.

Tung hô Tin Mừng

Mt 4,4b

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn phải nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra. Ha-lê-lui-a.

Tin Mừng

Ga 6,1-15

Đức Giê-su cầm lấy bánh, rồi phân phát cho những người hiện diện, ai muốn ăn bao nhiêu tuỳ ý.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.

1 Khi ấy, Đức Giê-su sang bên kia Biển Hồ Ga-li-lê, cũng gọi là Biển Hồ Ti-bê-ri-a. 2 Có đông đảo dân chúng đi theo Người, bởi họ từng được chứng kiến những dấu lạ Người đã làm cho những kẻ đau ốm. 3 Đức Giê-su lên núi và ngồi đó với các môn đệ. 4 Lúc ấy, sắp đến lễ Vượt Qua là đại lễ của người Do-thái.

5 Ngước mắt lên, Đức Giê-su nhìn thấy đông đảo dân chúng đến với mình. Người hỏi ông Phi-líp-phê : “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây ?” 6 Người nói thế là để thử ông, chứ Người đã biết mình sắp làm gì rồi. 7 Ông Phi-líp-phê đáp : “Thưa, có mua đến hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút.” 8 Một trong các môn đệ, là ông An-rê, anh ông Si-môn Phê-rô, thưa với Người : 9 “Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu !” 10 Đức Giê-su nói : “Anh em cứ bảo người ta ngồi xuống đi.” Chỗ ấy có nhiều cỏ. Người ta ngồi xuống, nguyên số đàn ông đã tới khoảng năm ngàn. 11 Vậy, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho những người ngồi đó. Cá nhỏ, Người cũng phân phát như vậy, ai muốn ăn bao nhiêu tuỳ ý. 12 Khi họ đã no nê rồi, Người bảo các môn đệ : “Anh em thu lại những miếng thừa kẻo phí đi.” 13 Họ liền đi thu những miếng thừa của năm chiếc bánh lúa mạch người ta ăn còn lại, và chất đầy được mười hai thúng. 14 Dân chúng thấy dấu lạ Đức Giê-su làm thì nói : “Hẳn ông này là vị ngôn sứ, Đấng phải đến thế gian !” 15 Nhưng Đức Giê-su biết họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, nên Người lại lánh mặt, đi lên núi một mình.

Lời nguyện tiến lễ

Lạy Chúa, xin đón nhận lễ vật của chúng con là con cái trong nhà, và thương tình bảo vệ chúng con luôn mãi. Ước gì chúng con không để mất những ơn đã lãnh nhận trong lễ Vượt Qua này và được hưởng phúc lộc muôn đời Chúa hứa ban. Chúng con cầu xin …

 

Lời tiền tụng Phục Sinh

Lạy Chúa chúng con tuyên xưng Chúa mọi lúc, nhất là trong đêm (ngày, mùa) cực thánh này chúng con càng hãnh diện tung hô Chúa khi Ðức Ki-tô đã được hiến tế làm Chiên Vượt Qua của chúng con, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.

Vì chính Người là Chiên thật đã xoá bỏ tội trần gian, Người đã chết để hủy diệt sự chết nơi chúng con, và sống lại để phục hồi sự sống cho chúng con.

Vì thế, với niềm hân hoan chứa chan trong lễ Phục Sinh, toàn thể nhân loại trên khắp địa cầu đều nhảy mừng. Cũng vậy, các Dũng thần và các Quyền thần không ngừng hát bài ca chúc tụng vinh quang Chúa rằng:

Thánh! Thánh! Thánh! …

 

 

Ca hiệp lễ

Rm 4,25

Đức Ki-tô, Chúa chúng ta,

đã bị trao nộp vì tội lỗi chúng ta,

và Người đã sống lại

để chúng ta được nên công chính. Ha-lê-lui-a.

 

Lời nguyện hiệp lễ

Lạy Chúa là Cha rất nhân từ, xin không ngừng bảo vệ chúng con. Chúa đã muốn cho Con Một Chúa chịu khổ hình để cứu chuộc chúng con, xin cho chúng con cũng được chia sẻ phần vinh quang phục sinh của Người. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.

 

Read More
23Tháng Tư
2020

Phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người ta

23/04/2020
Anmai
Phụng vụ, Suy niệm hàng ngày
0

Phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người ta

          Thiên Chúa và con người hoàn toàn khác nhau. Đơn giản nhất ta biết được đó là Thiên Chúa là Đấng Tạo Dựng và con người là vật được tạo thành. Và rồi ta thấy Lời của Thiên Chúa chắc chắn khác lời của con người. Để chứng minh cho Lời khác nhau này, ta dễ tìm thấy nơi Is 55,9 : Như trời cao hơn đất thế nào, thì đường lối Ta vượt trên đường lối các ngươi, và tư tưởng Ta cũng vượt trên tư tưởng các ngươi thế ấy.

          Đã từ lâu lắm rồi, từ tạo thiên lập địa, sau khi con người đánh mất tình nghĩa với Thiên Chúa thì Thiên Chúa vẫn giữ giao ước tình yêu với con người. Giao Ước Tình Yêu của Thiên Chúa được thực hiện nơi chính người Con chí ái của Cha.

          Thiên Chúa đã nói với cha ông tự ngàn xưa về tình yêu của Ngài dành cho con người. Cụ thể nhất tình yêu ấy được diễn tả : nhưng trong ngày sau hết, Thiên Chúa nói với nhân loại qua Người Con.

          Thật vậy, Người Con chính là dấu chỉ, là Lời mà Thiên Chúa trao ban cho con người. Chúa Giêsu đến thế gian cũng chỉ là muốn nói, muốn bày tỏ cho con người rằng Thiên Chúa mãi mãi yêu thế gian và cứu thế gian. Điều quan trọng nhất và cốt lõi nhất đó là con người phải nghe và giữ lời Thiên Chúa.

          Và điều này, ta lại thấy, lại khám phá nơi Đức Giêsu cách trọn hảo. Chúa Giêsu khi đến thế gian Ngài cũng làm theo những gì Cha nói chứ Ngài không làm theo ý của Ngài : “Lương thực của Ta là làm theo ý của Cha Ta”.

          Vâng lời Thiên Chúa phải chăng đó là điều quan trọng nhất của cuộc đời những người tin vào Thiên Chúa. Ai nói mình tin Chúa mà không nghe lời Chúa phải chăng là người nói dối ? Nghiệt một nỗi là con người dễ chiều theo xu hướng nghe lời của người phàm hơn là nghe lời của Thiên Chúa. Đơn giản và dễ hiểu rằng lời Thiên Chúa thì đắng đót, lời Thiên Chúa sắc bén tựa gươm đao và như dao xuyên thấu lòng người.

          Các tông đồ ngày xưa, ta nhìn vào cuộc đời của các ngài, ta thấy hơn một lần các ngài vấp ngã. Tông đồ trưởng Phêrô còn vấp ngã vì Thấy huống hồ chi là những con người nhỏ bé như chúng ta.

          Ta thấy sau khi tin vào Thầy phục sinh, các tông đồ mạnh mẽ : “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người phàm”(Cv 5, 32).

          Để nói lời này trước các quan chức thời đó không phải là điều đơn giản. Nói như vậy đồng nghĩa với chuyện rơi đầu là chẳng chơi. Thế nhưng vì tin vào Đức Kitô Phục Sinh nên các tông đồ đã mạnh dạn nói và sống.

          Thật vật, để mạnh dạn nói lời Chúa trước quan quyền, trước công chúng không phải là chuyện đơn giản. Đơn giản nhất là chuyện làm dấu Thánh Giá của người Kitô hữu làm hàng ngày. Có khi quên nhưng có khi lại ngại và có khi lại sợ. Có người không dám nhận mình là Kitô hữu để rồi không dám làm dấu.

          Ngày nay, ta thấy xã hội phát triển và rồi trên các trang mạng xã hội, ta thấy nhiều người nói mà không biết họ nói cái gì. Nhiều lần nhiều lúc ta thấy các phát ngôn viên, xướng ngôn viên nói những điều chả đâu ra đâu nhưng người ta lại hùa theo. Người ta thường thích cũng như tò mò những lời của người này người kia nói và hơn nữa là đi chia sẻ, phân phát cho nhiều người.

          Mỗi ngày trên các trang mạng, những lời nói chả đâu vào đâu thì người ta thích và người ta chia sẻ cho người khác nhanh như chớp. Trong khi đó, điều cần thiết nhất của người Kitô hữu đó chính là Lời Chúa nhưng rồi người ta không chịu đọc, không nghe và cũng không chia.

          Xét về chuyện này cũng không khó hiểu lắm vì lời Chúa thì đắng đót chứ không ngọt ngào như lời của con người. Lời của con người ngày hôm nay ta thấy đủ ngôn từ hoa mỹ và có cánh. Những lời này nghe bùi tai và đầy những ước hẹn. Thế nhưng sau những ngôn từ hoa mỹ của con người ta sẽ nhận được gì ?

          Lời của Chúa mãi mãi là Lời Hằng Sống, Lời của Chúa mãi mãi là lương thực nuôi sống đời người Kitô hữu. Ai nào đó hấp thụ Lời của Chúa thì đời của người đó được Lời Chúa sinh hoa kết quả và trước hết là dinh dưỡng cho con người đó. Ngược lại, ai nào đó sống theo lời của con người thì cứ quanh quẩn trong kiếp người.

          Chuyện quan trọng nhất trong đời sống Kitô hữu đó chính là lắng nghe để sau khi nghe là sống Lời Chúa. Để nghe được Lời Chúa, con người cần phải lắng đọng trong tâm hồn. Giữa cuộc sống ồn ào và náo nhiệt, người Kitô hữu cần phải có cõi lặng để dừng lại và trầm lắng thì mới nghe được Lời Chúa.

          Xin Chúa cho mỗi người chúng ta giữa bao nhiêu thăng trầm của cuộc đời và những ồn ào náo nhiệt luôn biết lắng nghe tiếng Chúa trong mọi khung cảnh của đời sống. Và hơn nữa, ta xin Chúa cho ta biết vâng nghe và sống theo Lời mời gọi của Chúa chứ đừng nghe và sống theo tiếng người đời.

Read More
23Tháng Tư
2020

Dịch corona và Kỳ nghỉ Sa-bát của Mẹ Thiên Nhiên

23/04/2020
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0
Dịch corona và Kỳ nghỉ Sa-bát của Mẹ Thiên Nhiên
 
Ngày 22/4 hằng năm được chọn là ngày trái đất để con người ý thức việc bảo vệ hành tinh. Mẹ Thiên Nhiên như đang tranh thủ được một ‘kỳ nghỉ Sa-bát’ lúc con người bất đắc dĩ phải đóng băng các hoạt động của họ.
 
Từ trên sân thượng của toà nhà, tôi nhìn bao quát xuống thành phố Roma. Nét đặc trưng lúc này chính là sự vắng lặng của hoạt động con người. Các đường phố hầu như yên ắng hoàn toàn, ngoại trừ lác đác một vài chuyến xe buýt, hay ở các ngõ ngách có mấy người vô gia cư đang chia sẻ đồ ăn cho nhau. Nhưng chính trong sự lặng lẽ đó, tôi thấy thiên nhiên nơi đây như đang hít một hơi thở thật sâu và dài để hồi sức và tự chữa lành các vết thương sau những tháng ngày mệt mỏi và bị tàn phá. Bầu khí đang mát lành trở lại vì bớt được hàng vạn ống khói xe cộ thải ra mỗi ngày. Những tiếng chim hót thánh thót hơn, hoà điệu hơn, khi không còn bị lấn át bởi âm lượng khổng lồ và hỗn tạp từ đủ thứ máy móc sinh hoạt của con người. Mẹ Thiên Nhiên như đang tranh thủ được một ‘kỳ nghỉ Sa-bát’ lúc con người bất đắc dĩ phải đóng băng các hoạt động của họ.
 
Trong Tiếng Do-thái, từ Sa-bát (שַׁבָּת‎) có nghĩa là ‘ngừng’, hay ‘nghỉ ngơi’. Một cách tương đối, có thể nói nó có nguồn gốc từ trình thuật Sáng Thế của Kinh Thánh, trong đó Thiên Chúa nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy sau khi hoàn tất công trình tạo dựng; và Ngài ra lệnh cho con người cũng phải nghỉ ngơi vào ngày này, để nó trở thành ngày phụng tự, tức ngày con người sống với Thiên Chúa cách trọn vẹn. Loại suy từ Ngày Sa-bát, Do-thái giáo có thêm luật định về Năm Sa-bát, là năm cuối cùng sau mỗi chu kỳ 7 năm. Trong Năm Sa-bát, con người tạm ngừng các hoạt động nông nghiệp để đất đai và súc vật được nghỉ ngơi (Lê-vi 25, 2-7). Rồi mở rộng hơn, sách Lê-vi có thêm quy định về Năm Thánh, vốn là năm cuối cùng của chu kỳ Năm Sa-bát (tức sau mỗi 49 năm). Trong Năm Thánh, con người không chỉ phải để cho đất đai và súc vật được nghỉ ngơi, mà còn phải tái lập tương quan công bình với tha nhân: xoá nợ nần, trả tự do cho tù nhân, giải thoát nô lệ và phá bỏ mọi hình thức áp bức bóc lột (Lê-vi 25, 8-54). Năm Sa-bát và Năm Thánh (chúng ta sẽ gọi chung là ‘Kỳ Sa-bát’) đã trở thành một phần trong cuộc sống của dân Do Thái ngày xưa.
 
Luật về các kỳ nghỉ Sa-bát mang lại những giá trị đặc biệt cho con người; và ngay cả khi không nhìn theo khía cạnh tôn giáo, chúng ta cũng có thể nói rằng đây là một phát kiến vĩ đại. Đầu tiên là giá trị của nghỉ ngơi. Mọi thụ tạo, dù là con người hay đất đai, đều cần sự nghỉ ngơi để hồi sức, để lấy lại tính quân bình và hài hoà cần có. Đối với con người, nghỉ ngơi không chỉ cần cho sức khoẻ thể lý, mà còn cho tương quan xã hội và đời sống tinh thần-thiêng liêng. Hơn nữa, chính nghỉ ngơi thúc đẩy và phát triển năng lực sáng tạo, vốn là thứ cần thiết để kiến tạo lối sống thích hợp và những hình thức lao động hiệu quả hơn.
 
Thứ hai, Kỳ Sa-bát tạo nên ý thức về thăng tiến công bình và bảo vệ phẩm giá con người, nhất là những người nghèo. Xét từ nhiều khía cạnh, các xã hội thường có sự bất bình đẳng mang tính cấu trúc, trong đó, triển vọng để một người nghèo thoát khỏi tình trạng của mình là rất thấp. Người giàu sẽ có điều kiện ngày càng giàu hơn; còn người nghèo và con cháu của họ có nguy cơ ở lại mãi trong tình trạng khốn quẫn, và bị đối xử như thành phần thứ cấp của xã hội. Lịch sử chỉ ra rằng chính những bất công mang tính cơ cấu như thế đã dẫn đến hầu hết những cuộc xung đột, chiến tranh và huỷ hoại của thế giới này. Kỳ Sa-bát có mục đích cắt đứt ‘chuỗi dây’ bất công như thế. Nó là mốc thời gian để đất đai được khôi phục lại chủ sở hữu ban đầu. Ví dụ, nếu một người bán trang trại của mình cho người khác, anh sẽ tự động nhận lại quyền sở hữu nó trong Năm Thánh. Nếu anh nghèo và bị bán làm nô lệ, thì vào Năm Thánh, anh được giải thoát. Nói cách khác, Kỳ Sa-bát cho phép mọi người, kể cả con nợ lẫn chủ nợ, một cơ hội để bắt đầu lại. Do đó, Kỳ Sa-bát có thể trở thành một yếu tố giúp giảm thiểu xung đột xã hội ở mức nền tảng.
 
Quan trọng hơn, phía sau điều luật Kỳ Sa-bát là một mối tương quan mang tính gắn bó, thấu hiểu và tôn trọng đặc biệt của con người đối với thiên nhiên. Trong tương quan đó, con người ý thức rằng đời sống của mình phụ thuộc và nối kết với thiên nhiên, đặc biệt là qua việc sản xuất nông nghiệp. Vì thế, dường như họ có thể hiểu rõ về thiên nhiên ở mức độ mang tính cảm quan và trực giác, vốn là mức hiểu biết sâu hơn so với tri thức thuần lý. Nhờ gắn bó chặt chẽ với môi trường, con người thời đó dường như nghe được nhịp đập, cảm nhận được ‘hơi thở’ của đất, và nhìn thấu được biến chuyển của đất trời. Vì vậy, họ hiểu rằng, thiên nhiên cũng cần được nghỉ ngơi để tái tạo năng lượng và sự cân bằng của nó.
 
Nhưng với thế giới hôm nay, Kỳ Sa-bát chỉ còn là một khái niệm của quá khứ, ngay cả với người Do-Thái. Tất nhiên, bây giờ chúng ta không thể trông chờ việc thực hành Kỳ Sa-bát theo đúng kiểu cổ điển. Tuy nhiên, điều đáng nói là ý thức của chúng ta về ‘tinh thần Kỳ Sa-bát’ đang mai một dần. Ví dụ, ngay cả những kỳ nghỉ rất ngắn dành cho đất đai nói riêng và cho thiên nhiên nói chung cũng đang bị cắt bớt hoặc bỏ hẳn đi. Đó là chưa nói đến sự thiếu vắng ở khía cạnh tương quan giữa con người với nhau mà Năm Thánh đề cập.
 
Tại sao tinh thần Kỳ Sa-bát bị biến mất? Hẳn có nhiều nguyên nhân, trong đó có vấn đề áp lực lương thực khi dân số tăng quá cao; tuy nhiên, thiết tưởng nguyên nhân nền tảng nhất chính là việc con người thay đổi ý thức về tương quan của mình với thiên nhiên. Có thể nói, Kỳ Sa-bát biến mất khi con người bắt đầu nghĩ rằng mình là trung tâm của vũ trụ; rằng mình là ông chủ và thế giới thiên nhiên là ‘tài sản sở hữu’ của mình. Ý thức đó đưa đến não trạng tự do ‘khai thác và sử dụng’ thiên nhiên. Sự thay đổi ý thức đó đã khiến con người tự trở nên xa lạ và chia cắt mình khỏi tự nhiên; và nghiêm trọng hơn, chúng ta bắt đầu làm biến đổi và tàn phá chính cái nôi nuôi sống bản thân mình.
 
Chính ý thức đổi vai đó khiến con người bị cuốn vào một lối sống mang tính nô lệ, rối loạn và vong thân. Như lời Dẫn Nhập trong phim The gods must be crazy – Đến thượng đế cũng phải cười’ (1990), “con người ‘văn minh’ đã không muốn thích nghi với môi trường sống, thay vào đó, họ biến đổi môi trường thích nghi với mình. Vì vậy, con người văn mình đã xây dựng phố xá, thành thị, xe cộ, máy móc, và đường dây điện để chạy các loại máy tiết kiệm sức lao động (nhưng lại không biết khi nào thì ngừng). Càng cải tạo môi trường để làm đời sống dễ dàng hơn, con người càng làm cho nó rắc rối thêm. Giờ đây, con người lại phải cho con cái đến trường, từ mười đến mười lăm năm để học, để biết cách sinh tồn trong hệ sinh thái phức tạp và nguy hiểm này. Và con người văn minh đã từng từ chối thích nghi với môi trường thiên nhiên giờ đây hiểu ra mình phải thích nghi, và thích nghi nhiều lần, từng giờ trong ngày, đối với chính môi trường mình đã tạo ra.” Quả là một đúc kết chân xác!
 
Chúng ta không chỉ bị cuốn vào tính phức tạp của thứ môi trường mình tạo ra, mà còn bị cuốn vào cuộc tranh đua mù quáng với tha nhân trong xã hội của môi trường đó. Thực thế, đa phần chúng ta không chỉ làm việc để hoàn thành những gì mình muốn, mà còn cảm thấy bắt buộc phải làm việc để có thể chạy đua theo những gì xã hội nói ta nên có. Chúng ta ‘đóng khuôn’ đời người dựa trên căn bản của thành công – thất bại; và căn bản này lại lấy tiền bạc – danh tiếng làm tiêu chuẩn. Mô thức này khiến cho toàn bộ cuộc sống xoay quanh mấy khái niệm: hiệu quả, nhanh chóng, đào thải. Cuộc sống hiện đại kéo con người vào vòng xoáy của riêng nó: người ta tìm mọi cách tăng nhanh tốc độ (sản xuất, bán hàng, thay đổi mẫu mã, học hành,…); mọi thứ lại thay đổi quá nhanh, khiến người ta lo sợ mình bị đào thải, và thế là lại lao vào tăng tốc cho chính mình. Vì vậy, điều lớn nhất chi phối tâm trí con người thời hiện đại chính là hai chữ ‘cạnh tranh’. Bởi thế, như đúc kết của linh mục Dòng Tên Gaël Giraud, vốn là một nhà kinh tế học nổi tiếng người Pháp, chúng ta đang chịu ảnh hưởng bởi một thứ chủ nghĩa “biết giá cả của mọi thứ nhưng không biết giá trị của bất cứ điều gì cả, vì nguồn gốc thật sự của giá trị chính là các tương quan giữa con người với nhau và giữa con người với môi trường sinh thái.”[1]
 
Kết quả, con người mơ hồ nhận ra là cuộc sống của mình đang trở nên xa lạ, vì nó đang thiếu hoặc mất dần những gì khác nên có trong cuộc đời. Con người đâu thể sống như một cái máy! Con người âm thầm tự vấn: đáng ra, đời sống đâu phải chỉ gói gọn với tiền bạc của cải, với danh tiếng! Cuộc sống lớn lao hơn những gì bị khuôn ép trong cái khung thành công – thất bại. Vì thế, có nhiều người bất chợt thấy nổi lên nhu cầu tìm lại một thực tại quen thuộc nào đó, mặc dù chính họ cũng chưa xác định rõ nó là gì. Nhu cầu này lớn tới nỗi khiến người ta có khi ‘nổi đoá’ với cuộc sống hiện tại, muốn làm những gì đó khác đời, vượt qua mọi ‘rào chắn’, mọi nguyên tắc của xã hội. Có người lại lao vào tìm kiếm những điều kỳ bí, những hiện tượng lạ, vv. Nhưng dường như họ càng tìm thì lại càng thấy mọi thứ rối tung và mất phương hướng.
 
Như vậy, việc tìm cách tách lìa khỏi tự nhiên chính là khởi đầu cho một tiến trình tự sát! Nó chẳng khác mấy việc em bé tự bứt dây rốn của mình khi còn ở trong bụng mẹ. Khi bị cắt đứt khỏi những yếu tố thuộc về cội nguồn nơi thiên nhiên, chúng ta cũng bị cắt đứt khỏi những căn bản vốn giúp xây dựng tương quan với tha nhân và với Thiên Chúa; và xét ở mức độ gần nhất, khi phá huỷ thế giới tự nhiên, làm cho nó mất cân bằng và bị bệnh tật, chúng ta không còn môi trường nuôi dưỡng và bảo vệ chính sức khoẻ thể lý của mình nữa. Làm sao chúng ta có thể chờ mong sẽ được khoẻ mạnh khi bản thân mình lại đang sống trong một ngôi nhà bị bệnh được! Đó cũng là lời nhắc của Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô[2]; và do vậy, như tài liệu Laudato si khẳng định, “tội ác chống lại thế giới tự nhiên là một tội chống lại chính bản thân chúng ta và chống lại chính Thiên Chúa” (số 7).
 
Vì thế, hy vọng việc ngắm nhìn tự nhiên đang được nghỉ ngơi lúc này có thể giúp chúng ta nghiệm lại phần nào tầm quan trọng của tinh thần Sa-bát nơi người xưa. Tinh thần đó giúp chúng ta nhìn về đời sống như một món quà được ban tặng, thay vì một điều gì đó mà mình cần tạo lập. Ta không nhìn mọi thứ xung quanh như những gì phải chiếm hữu, mà tất cả đều là ân sủng được trao ban. Trong tinh thần Sa-bát, ta cũng không nhìn tha nhân như những đối thủ cạnh tranh, nhưng như những người anh chị em đích thật. Trong viễn tượng đó, đời sống của chúng ta được mở ra trong tất cả sự phong phú của nó.
 
Đó là lối sống của lòng biết ơn. Khi ý thức về mọi thứ của đời sống như những quà tặng, con người luôn thấy mình được dư đầy, và mong muốn sống xứng đáng với ân huệ đó. Vì thế, thay vì sống kiểu đua đòi và cạnh tranh, chúng ta sống tinh thần hài lòng với những gì đang có, đồng thời có trách nhiệm với tha nhân: biết vượt ra khỏi chính mình, nhìn thấy những thiếu thốn, những nhu cầu của tha nhân, khát khao dấn thân cho họ. Nếu cái khung ‘thành công – thất bại’ khiến con người đánh mất những niềm vui lớn, như niềm vui của việc chia sẻ (vì mọi việc đã trở thành ‘trao đổi, mua bán’), hay niềm vui phục vụ, vv., thì tinh thần Sa-bát sẽ trả lại cho ta tất cả những điều này, bởi chưng chúng ta được kêu gọi xây dựng đời mình qua việc xây dựng đời tha nhân, lấy niềm vui của tha nhân làm niềm vui của chính mình. Nếu quan niệm ‘làm chủ’ khiến đời sống ta bị đóng khung trong những ‘bức tường’ của các chỉ số và định lượng toán học, đến mức đánh mất khả năng mở ra với nhiều điều khác, tinh thần Sa-bát khiến ta có được tâm trí đủ rộng mở để đón nhận mọi khả thể, mọi khía cạnh trong ơn gọi con người, từ những gì thuộc ý thức về sự siêu việt, niềm hy vọng về đời sống siêu nhiên, vv. Đặc biệt, nó giúp ta sống thái độ tín thác và bình an.
 
Câu hỏi lúc này: liệu chúng ta có thể tìm kiếm những hình thức Kỳ Sa-bát nào đó mang tính thực tiễn trong đời sống ngày nay hay không? Có lẽ ngày nay chúng ta không thể thực hiện được bất cứ hình thức cụ thể nào của Kỳ Sa-bát xưa kia. Tuy nhiên, tinh thần Sa-bát có thể cung cấp cho ta những yếu tố cần thiết trong việc hình thành các câu hỏi quan trọng về đời sống xã hội hiện tại. Tinh thần đó khiến ta thấy cần phải thay đổi cuộc sống và định vị lại các định chế nhằm hướng tới những hình thức vận hành cuộc sống trong sự tiết độ, tôn trọng tính hữu hạn và hoà hợp với nhịp sống của thiên nhiên.
 
Những hình thức đó phải chứa ít nhất hai yếu tố: thời gian nghỉ ngơi và khả thể bắt đầu lại dành cho mọi người. Ví dụ, đối với các ngành nghề nông nghiệp, chúng ta phải ra luật định về chu kỳ canh tác sao cho đảm bảo thời gian nghỉ của đất trong mỗi năm. Đối với các ngành nghề công thương nghiệp, cần có cơ chế đảm bảo khả năng tái cơ cấu, tái phân bổ và phân phối, sao cho các nguồn lực, nhất là nguồn lực tự nhiên, được chia sẻ và sử dụng hợp lý. Hệ thống sản xuất phải hướng đến nhu cầu sử dụng thiết thực thay vì nhu cầu giả tạo; và phải nhắm đến thiện ích chung của cộng đồng thay vì lợi nhuận cá nhân.
 
Nhưng để đi đến một viễn tượng như thế, điều quan trọng trước nhất là con người phải hoán cải quan niệm của mình về cuộc sống và về tương quan với thiên nhiên. Chúng ta không được sinh ra để trở thành ông chủ của ai khác; chúng ta cũng không được trao quyền để thành kẻ thống trị thiên nhiên. Chúng ta bén rễ sự hiện hữu của mình ngay trong môi trường sống, và là một phần của thiên nhiên; hay nói cách khác, chúng ta gắn chặt với tự nhiên và cùng tự nhiên hướng về cùng đích thánh thiêng mà mình được tạo dựng. Do đó, thay vì thái độ tách mình ra và cai trị, chúng ta phải xem tự nhiên như người bạn, như người mẹ, hay chí ít như một quà tặng cung cấp môi trường và nguồn sống để nuôi dưỡng mình và cộng đồng xã hội.
 
Nguồn: vaticannews.va/vi
Khắc Bá, SJ
_______________
 
[1] https://www.nouvelobs.com
 
[2] X. Bài Giảng trong trong buổi ban phép lành Urbi et Orbi, ngày 27/03/2020.
Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 1.889
  • Page 1.890
  • Page 1.891
  • …
  • Page 2.045
  • Next page
Bài viết mới nhất
[TÔNG DU GUINEA XÍCH ĐẠO] ĐỨC THÁNH CHA CHÀO TỪ BIỆT CHÂU PHI
26/04/2026
AD LIMINA 2026 - NGÀY V: VIẾNG MỘ THÁNH PHÊRÔ VÀ YẾT KIẾN ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV
26/04/2026
CÁC GIÁM MỤC VIỆT NAM NÓI VỚI ĐỨC LÊÔ XIV RẰNG GIÁO HỘI CỦA HỌ LÀ MỘT GIA ĐÌNH
26/04/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.