2020
Bài giáo lý nhân dịp kỷ niệm 50 năm Ngày Trái Đất.
Bài giáo lý của Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhân dịp kỷ niệm 50 năm Ngày Trái Đất

Anh chị em thân mến!
Hôm nay chúng ta kỷ niệm lần thứ 50 Ngày Trái Đất. Đó là cơ hội để canh tân bổn phận yêu thương ngôi nhà chung của chúng ta, chăm sóc nó và các thành viên yếu đuối nhất của gia đình chúng ta. Giống như đại dịch Coronavirus đang tỏ cho chúng ta thấy rằng, chỉ khi cùng nhau gánh vác trách nhiệm đối với những người mong manh nhất chúng ta mới có thể chiến thắng được những thử thách toàn cầu. Tông Huấn Laudato Sì có phụ đề là : “về việc chăm sóc ngôi nhà chung”. Hôm nay chúng ta cùng nhau suy tư một chút về trách nhiệm này, tiêu biểu cho “sự qua đi của chúng ta trên trái đất này” (LS, 160). Chúng ta cần phải gia tăng ý thức về việc chăm sóc ngôi nhà chung.
Chúng ta được tạo ra từ chất liệu của trái đất này và những thành quả của trái đất hỗ trợ cuộc sống của chúng ta. Nhưng như sách Sáng thế nhắc nhở chúng ta rằng, chúng ta không chỉ “thuộc về trần gian”: chúng ta còn mang hơi thở sự sống từ Thiên Chúa nữa (x. St 2,3-7). Vì vậy, chúng ta sống trong ngôi nhà chung như một gia đình nhân loại duy nhất và trong sự đa dạng sinh học với các thụ tạo khác của Thiên Chúa. Giống như Imago Dei, hình ảnh của Thiên Chúa, chúng ta được kêu mời chăm sóc và tôn trọng tất cả các loài thụ tạo, được kêu gọi nuôi dưỡng tình yêu và lòng trắc ẩn đối với anh chị em của mình, đặc biệt những người yếu đuối nhất, noi theo tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta, được biểu lộ nơi người Con của Ngài là Chúa Giêsu, Đấng đã làm người để chia sẻ với chúng ta hoàn cảnh này và để cứu rỗi chúng ta.
Vì lòng ích kỷ chúng ta đã đánh mất trách nhiệm bảo vệ và quản lý trái đất của chúng ta. “Chỉ cần nhìn thực tại cách thành thật để thấy ngôi nhà chung của chúng ta đang bị hủy hoại” (LS, 61). Chúng ta đã làm ô nhiễm nó, bóc lột nó, đặt nó vào tình trạng nguy hiểm của chính cuộc sống chúng ta. Vì vậy, cần phải thành lập các phong trào quốc tế và địa phương khác nhau để thức tỉnh lương tâm. Quả thực, tôi đánh giá cao những sáng kiến này, và sẽ còn cần thiết cho con cái của chúng ta xuống đường để dạy cho chúng ta biết cái gì là hiển nhiên, có nghĩa là sẽ không có tương lai cho chúng ta nếu chúng ta phá hủy môi trường đang hỗ trợ chúng ta.
Chúng ta đã thiếu sót trong việc bảo vệ trái đất, ngôi nhà-vườn của chúng ta, cũng như bảo vệ anh chị em của mình. Chúng ta đã phạm tội chống lại trái đất, chống lại tha nhân, và theo nghĩa nào đó chúng ta chống lại Đấng Tạo Hóa, người Cha nhân hậu luôn tiếp tế cho mọi người và muốn chúng ta cùng sống trong sự hiệp thông và thịnh đạt. Và trái đất đã phản ứng thế nào? Có một câu nói rất nổi tiếng của người Tây Ban Nha nói thế này: “Thiên Chúa thì luôn tha thứ; con người chúng ta có vài lần tha thứ và nhiều lần khác thì không; trái đất thì không bao giờ tha thứ”. Trái đất không bao giờ tha thứ: nếu chúng ta hủy hoại trái đất, câu trả lời sẽ rất tồi tệ.
Làm thế nào chúng ta có thể khôi phục lại được mối tương quan hài hòa với trái đất và phần còn lại của loài người? Một mối tương quan hài hòa… Nhiều lần chúng ta mất cái nhìn về sự hài hòa: hòa hợp là công trình của Chúa Thánh Thần. Ngay cả trong ngôi nhà chung, ở trái đất, cũng như trong mối tương quan của chúng ta với con người, với tha nhân, với người nghèo, làm sao chúng ta có thể khôi phục lại được sự hòa hợp này? Chúng ta cần một cách thức mới để chăm sóc ngôi nhà chung của mình. Chúng ta hãy lưu ý rằng: trái đất không phải là kho tài nguyên để khai thác. Đối với người tín hữu, thế giới tự nhiên là “Tin mừng Sáng tạo”, nó diễn tả quyền năng sáng tạo của Thiên Chúa trong việc nặn đúc ra cuộc sống nhân loại và làm cho thế giới tồn tại cùng với những gì chứa đựng trong nó để nâng đỡ nhân loại. Trình thuật Kinh thánh về tạo dựng kết thúc như sau: “Thiên Chúa thấy mọi sự Ngài đã làm nên đều rất tốt đẹp” (St 1,31). Khi chúng ta thấy những thảm kịch tự nhiên xảy ra, đó là phản ứng của trái đất đối với những bạc đãi của chúng ta. Tôi nghĩ : “Nếu bây giờ tôi hỏi Chúa, Ngài nghĩ gì về trái đất, tôi không tin rằng Ngài sẽ nói với tôi là nó rất tốt”. Chính chúng ta đã hủy hoại công trình của Thiên Chúa!
Kỷ niệm Ngày Trái Đất hôm nay, chúng ta được kêu gọi tái khám phá ý thức tôn trọng thiêng liêng đối với trái đất, bởi vì nó không chỉ là ngôi nhà của chúng ta mà còn là nhà của Thiên Chúa. Từ đó phát sinh trong chúng ta nhận thức về việc trú ngụ trên vùng đất linh thiêng.
Anh chị em thấn mến, “chúng ta hãy đánh thức tinh thần thẩm mỹ và chiêm ngắm điều Thiên Chúa đã đặt để trong chúng ta” (Tông thư về Querida Amazonia, 56). Lời tiên tri về việc chiêm ngắm là những gì chúng ta học biết được từ các dân tộc nguyên thủy, họ dạy cho chúng ta biết rằng chúng ta không thể chăm sóc trái đất nếu chúng ta không yêu mến và không tôn trọng nó. Họ có sự khôn ngoan để “sống tốt”, không theo nghĩa là trải qua cách tốt đẹp, nhưng là sống trong sự hòa hợp với trái đất. Họ gọi sự hòa hợp này là “sống tốt”.
Đồng thời chúng ta cần một sự chuyển đổi sinh thái được thể hiện qua những hành động cụ thể. Như một gia đình duy nhất và phụ thuộc lẫn nhau, chúng ta cần một kế hoạch chung để tránh các mối đe dọa chống lại ngôi nhà chung của chúng ta. “Sự phụ thuộc lẫn nhau buộc chúng ta phải nghĩ đến một thế giới duy nhất, một chương trình chung với nhau” (LS 164). Chúng ta nhận thức được tầm quan trọng của việc cộng tác như một cộng đồng quốc tế để bảo vệ ngôi nhà chung của mình. Tôi kêu gọi những ai có thẩm quyền hướng dẫn tiến trình thực hiện hai Hội nghị quốc tế quan trọng : COP15 bàn về sự Đa dạng sinh học ở Côn Minh (Trung Quốc) và COP26 về Biến đổi khí hậu ở Glasgow (Vương quốc Anh). Hai cuộc họp này rất quan trọng.
Tôi muốn khuyến khích tổ chức những hoạt động được phối hợp ở cấp quốc gia và cả địa phương. Thật tuyệt vời khi qui tụ với nhau từ mọi điều kiện xã hội để đem lại sức sống cho một phong trào bình dân “từ bên dưới”. Chính ngày Quốc tế về Trái đất mà chúng ta kỷ niệm hôm nay đã phát sinh cái đặc thù như vậy. Nhiều người trong chúng ta có thể cống hiến đóng góp nhỏ bé của riêng mình: “Đừng nghĩ rằng những cố gắng này sẽ làm thay đổi thế giới. Những hành động này gieo rắc trong xã hội một điều thiện hảo, sẽ luôn luôn mang lại nhiều hoa trái vượt lên trên điều người ta nhận ra được, bởi vì chúng gây trên trái đất này một điều thiện hảo, thường có khuynh hướng lây lan, đôi khi không nhận ra” (LS, 212).
Trong mùa Phục sinh đổi mới này, chúng ta hãy cố gắng yêu thương và trân trọng món quà tuyệt vời của trái đất, ngôi nhà của chúng ta, và chúng ta hãy chăm sóc các thành viên trong gia đình nhân loại. Như là anh chị em của chúng ta, chúng cùng nhau khấn xin Cha trên trời: sai Thánh Thần của Ngài đến và canh tân bộ mặt trái đất” (x. Tv 104,30) .
Tác giả bài viết: G. Võ Tá Hoàng chuyển ngữ
2020
ĐTC Phanxicô: Các mục tử hãy gần gũi với dân Chúa
Đức Thánh Cha nói rõ: “Quyền bính của mục tử là phục vụ, và khi quyền này không được thực hiện thì ơn gọi có vấn đề. Lúc đó mục tử trở thành các nhà quản lý các doanh nghiệp. Cơ cấu không làm nên mục tử. Tâm hồn mục tử làm nên người mục tử.
Cầu nguyện cho giáo viên và học sinh
Sáng thứ Sáu 24/4, tại Nhà nguyện Thánh Marta, Đức Thánh Cha dâng Thánh lễ cầu nguyện cho các giáo viên và học sinh. “Hôm nay, chúng ta cầu nguyện cho các giáo viên. Vì đại dịch, các giáo viên phải làm việc nhiều hơn, để truyền tải các bài học đến với các học sinh qua Internet và các phương tiện truyền thông. Và chúng ta cũng cầu nguyện cho học sinh đang chuẩn bị thi. Các học sinh phải làm các bài thi theo cách mà họ chưa quen làm. Chúng ta đồng hành với tất cả bằng lời cầu nguyện”.
Tin Mừng phụng vụ thứ Sáu tuần II Mùa Phục sinh nói về phép lạ hóa bánh và cá ra nhiều. Chúa Giêsu giảng dạy dân chúng và sau đó Chúa bảo các môn đệ hãy cho dân chúng ăn.
Đức Thánh Cha lưu ý rằng Chúa Giêsu hay trắc nghiệm các môn đệ, như trong trường hợp hóa bánh và cá ra nhiều. Trong Tin Mừng, có nhiều cử chỉ của Chúa Giêsu như thế để cho các môn đệ được lớn lên và trở thành các mục tử của dân Chúa.
Chúa ưu thích ở với dân chúng
Đức Thánh Cha đặt câu hỏi: “Tại sao Chúa Giêsu lại làm như vậy? Bởi vì Chúa Giêsu ưu thích ở với dân chúng, nhưng các môn đệ thì lại không thích điều này vì các ông thích ở gần bên Chúa hơn. Cho nên các ông thất vọng vì một ngày nghỉ ngơi với Chúa bị phá hỏng do sự hiện diện của đám đông”.
Đức Thánh Cha tiếp tục: “Chúa tìm cách ở với dân chúng, tìm cách huấn luyện tâm hồn các mục tử gần gũi với dân Chúa. Mặt khác, các môn đệ cảm thấy mình thuộc về một thành phần được ưu tuyển, thuộc tầng lớp quý tộc, gần bên Chúa, và nhiều lần Chúa đã sửa dạy họ về điều này”. Đức Thánh Cha đưa ra vài ví dụ về việc Chúa dạy các ông về điều này: Khi các trẻ nhỏ đến với Chúa, các môn đệ không muốn nhưng Chúa thì lại yêu cầu để các em đến với Chúa. Rồi khi Chúa và các ông đang đi trên đường đến Giêrusalem có một người mù thành Giêricô kêu lớn tiếng xin được Chúa chữa, Chúa cũng đã dừng lại để chữa lành ông”.
Dân chúng làm mục tử mệt mỏi
Đức Thánh Cha khẳng định: “Đúng là dân Chúa làm cho các vị mục tử mệt mỏi. Khi mục tử làm nhiều điều tốt cho dân chúng thì dân chúng đến với mục tử. Một lần kia, một linh mục coi sóc một giáo xứ trong một vùng đơn sơ khiêm tốn nói với tôi là cha ấy có cám dỗ xây bít cổng lại. Linh mục đó có một nhà xứ như một căn nhà bình thường và cứ mỗi giờ lại có người tới gõ cửa nhà xứ”.
Đức Thánh Cha nhắc lại một lần nữa: “Chúa Giêsu dạy các tông đồ thái độ mục vụ gần gũi với dân Chúa và dân Chúa làm các mục tử mệt mỏi, có lẽ họ sai, nhưng mục tử phải chăm lo điều này”.
Anh em hãy cho dân chúng ăn
Tiếp tục bài giảng Đức Thánh Cha tập trung vào lệnh truyền của Chúa Giêsu với các môn đệ: “Anh em hãy cho dân chúng ăn”. Đức Thánh Cha nhấn mạnh: “Đây là điều các môn đệ phải thực hiện cho dân chúng, phải cho họ ăn, cho họ một con đường thoát ra khỏi những sai lầm, cho họ những giải pháp cho các vấn đề của họ. Người tông đồ sống khó nghèo là người phải trao ban những gì mình đã lãnh nhận, nhưng cũng phải phân định vì nhiều lần dân chúng lầm lẫn, như trong trường hợp này, sau khi Chúa làm phép lạ, dân chúng muốn tôn Chúa làm vua, và có lẽ một vài môn đệ nói với Chúa là hãy nhân cơ hội này nắm lấy quyền, nhưng Chúa hiểu rằng đây không phải là con đường của Ngài và Chúa lánh mặt đi lên núi một mình”.
Ngọc Yến
2020
Đừng đi ngủ mà không có một lời cám ơn Chúa và người thân
Ngay cả những ngày tồi tệ nhất thì cũng không bao giờ hoàn toàn là ảm đạm.
Dù bất cứ điều gì xảy ra trong cuộc sống, đừng bao giờ để cho một ngày trôi qua mà chẳng có một lời cảm ơn Chúa và những người thân yêu của bạn. Nhưng không phải bằng vài lời “cảm ơn” hời hợt — mà là một lời cảm ơn thực sự cho một cái gì đó cụ thể. Một lời cảm ơn từ tận đáy lòng.
Luôn có lý do để nói lời cảm ơn
Tập cho trẻ em biết cám ơn Chúa là dạy cho chúng biết nhìn nhận tất cả những điều tốt đẹp trong ngày: cả những gì chúng đã nhận được và đã cho đi. Dĩ nhiên, chúng ta cũng cần phải dạy chúng bày tỏ lòng biết ơn, và cầu xin sự tha thứ vì những lầm lỗi của chúng, nhưng chúng ta không được quên khía cạnh khác của việc “xét mình”, trong đó có cả việc phải thừa nhận sự tích cực.
Nói lời cảm ơn là một hành động của sự khiêm nhường. Nói lời cảm ơn là bày tỏ tấm lòng với tất cả tình yêu mà chúng ta đã nhận được suốt cả ngày. Tạ ơn Chúa là nhận ra rằng không có Ngài chúng ta không thể làm được gì. Đức Trinh Nữ Maria chưa bao giờ ngần ngại ca ngợi Thiên Chúa vì những điều kỳ diệu mà Chúa đã thực hiện trong và qua Mẹ: “Chúa đã làm cho tôi biết bao điều cao cả và danh Người là thánh!”
Chúng ta càng nói cảm ơn thì càng nhận thấy có nhiều lý do để làm điều đó. Hãy thử xem: Vào một đêm khi mà bạn thực sự cảm thấy nản lòng, bị đè nặng bởi nhiều vấn đề, khi bạn thực sự không cảm thấy thiết tha với việc thờ phượng Chúa, hãy cố gắng tìm một điều gì đó nhỏ bé để nói lời cảm ơn. Sau lần đầu tiên, lần khác sẽ xuất hiện, và tiếp tục với những lần sau đó nữa,… Điều này gần giống như lúc bạn bắt đầu ngắm những ngôi sao trong một đêm mà bầu trời tưởng chừng như đã bị che khuất một cách vô vọng bởi những đám mây. Nếu bạn quan sát kỹ lưỡng thì cuối cùng bạn sẽ phát hiện ra vệt sáng của một ngôi sao tí hon, rồi thêm một ngôi sao khác nữa, rồi ba, mười… và đột nhiên bạn nhận ra bầu trời dường như không đến nỗi quá tối.
Việc cầu nguyện cho những người thân cũng giống như gửi đến họ chút lời cám ơn
Tạ ơn Chúa cho những người thân yêu của chúng ta, vì tất cả những điều tốt đẹp mà họ làm cho chúng ta, giải thoát chúng ta khỏi cay đắng và ganh ghét. Thật tuyệt vời vì những lời cầu nguyện của gia đình kể cả khoảnh khắc cầu nguyện mà trong đó mọi người đều tạ ơn Chúa cho nhau. Nếu điều đó quan trọng để một đứa trẻ học cách nhìn nhận tất cả những gì tốt đẹp trải qua trong ngày của chúng, thì điều không kém phần quan trọng là chúng cần phải nhận thấy được tất cả những gì tốt đẹp nơi anh chị và cha mẹ của chúng.
Tại sao không tận dụng thời điểm như vậy để nói lời cảm ơn? Cảm ơn mẹ vì giúp con làm bài tập; cảm ơn bố vì bữa ăn; cảm ơn con đã chuẩn bị bàn ăn bữa tối; cảm ơn người bạn đời của tôi đã chăm sóc bọn trẻ khi tắm rửa.
Nói lời cảm ơn là hướng mắt tới sự Phục sinh
Khi trẻ em hoặc người lớn phải đương đầu với đau khổ – của chính họ hoặc của người thân – nghĩ đến việc ngợi khen Thiên Chúa có thể khiến họ cảm thấy bị sốc. Họ không thể cảm ơn một cách thiện chí trừ khi họ hiểu rằng “lời cảm ơn” không phải để từ chối hay bám víu sự đau khổ. Giống như Chúa Kitô trên thập giá, đó là hành động của tạ ơn. Chúa Cha, qua Chúa Giêsu trên thập giá, đã muốn được trải nghiệm mọi nỗi thống khổ của nhân loại khi ở trong nanh vuốt xấu xa của sự dữ. Chúng ta không thể thực sự khen ngợi cho đến khi chúng ta học cách vượt qua thung lũng bóng đêm và khám phá ra rằng Thiên Chúa đã bước qua khỏi nó trước chúng ta.
Ngợi khen Kitô giáo là thực tại rất sâu xa. Nó không tự bằng lòng với chính diện mạo của nó nhưng nhạy cảm với thực tại vô hình của Nước Trời vốn dĩ đã hiện diện ở giữa chúng ta. Bạn hãy hình dung bạn đang sống giữa một mùa hè bị giam chặt trong một không gian kín mít. Quang cảnh này có thể khiến bạn nghĩ rằng đó là ban đêm. Nhưng nếu bạn thực sự chú ý đến tia sáng nhỏ bên dưới khe cửa, bạn có thể cảm nhận được ánh nắng rực rỡ từ bên ngoài. Điều đó cũng tương tự với “những lời cảm ơn” của bạn, nghĩa là khi hướng sự chú ý của bạn đến những tia sáng nhỏ bé kia, nó báo trước cho bạn về một Nguồn sáng vĩnh cửu.
Christine Ponsard/Aleteia
Nguyễn Sao Băng chuyển ngữ
2020
Giải Mã Mầu Nhiệm
Chúa Nhật 3 PS (A) Giải Mã Mầu Nhiệm
Không dễ để hiểu và chấp nhận sự chết và phục sinh của Đức Giêsu; không dễ để tin và dựa vào những chứng cứ xác thực để chứng minh về sự Hiện diện của Đấng Phục sinh đang sống và trở nên chứng nhân cho Người.
Đức Giêsu, Đấng Kitô đã chết. Không gì có thể đảo ngược lại tình thế, vì chết là hết. Thấy hay không thấy xác Đức Giêsu trong mồ, hoặc đã bị lấy đi, điều đó không còn quan trọng, vì chẳng có chuyện người chết sống lại, mà sống lại để không – làm – gì, cũng thế mà thôi. Không còn gì quan trọng có thể níu họ ở lại, họ lê gót trở về trong nỗi thất vọng, cay đắng trên từng bước chân của mình.
Bám víu lấy những kí ức để sống là phi lý khi những hoài bão đã vỡ tan. Những góc nhìn phiến diện, những lý do chủ quan đưa ra, đã gây nên một cuộc tranh luận gay gắt giữa hai môn đệ trên đường đi Emmau đến nỗi, họ không biết có sự hiện diện của một khách bộ hành cùng đi với họ. Mắt họ còn bị ngăn cản không biết đó là Đức Giêsu.
Điều gì khiến mắt họ bị ngăn cản không nhận ra Đức Giêsu? Vì nhãn giới trần tục của họ bị ám bởi những khát vọng đầy mùi vị thế gian; vì trí lòng họ còn chứa đầy những logic của con người, chưa hiểu được lời các ngôn sứ trong Kinh thánh, chưa biết được kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, chưa được khai sáng bởi đức tin. Vì đức tin là ân ban, không phải thành tựu của khôn ngoan con người; mầu nhiệm là sự nhận lãnh, chứ chẳng bởi do kiểm nghiệm bằng các giác quan.
Họ theo Chúa không phải vì Chúa, mà vì mục đích riêng; họ chỉ nuôi dưỡng những khát khao, chỉ thích nghe theo sự thôi thúc của những vọng tưởng, thế nên, tất cả tan tành trước cái chết của Đức Giêsu, Đấng mà họ coi như một ngôn sứ có quyền năng của Thiên Chúa. Sự thất vọng bao phủ họ như nấm mồ u ám.
Nhưng Đức Giêsu đã đồng hành với họ, nhẫn nại lắng nghe tâm tư tình cảm, để họ trút ra những gì làm mắt họ bị ngăn cản, trí não họ như bùn đất và tâm hồn như bị đóng băng. Rồi Người mới bóc tách những suy nghĩ phàm trần của họ qua việc kiên trì giải thích Kinh thánh, giúp họ lần ra “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt Kinh thánh, là lời các ngôn sứ báo trước về ơn cứu độ của Thiên Chúa, về sự cứu chuộc của Đức Kitô qua cái chết và sự phục sinh của Người.
Mắt họ được sáng, không phải đôi mắt trần, mà là con mắt đức tin, đã khiến lòng họ bừng cháy, không phải là những khát vọng trần tục, mà là niềm hy vọng của cuộc sống mới. Niềm vui khám phá và sự an bình nội tâm mà vị khách lạ đem đến khiến họ háo hức, khẩn khoản nài xin Người ở lại với họ vì trời đã tối, hay nói khác đi, vì ánh sáng đức tin mà vị khách đồng hành đã thắp lên, đã rọi sáng vào tâm hồn tăm tối của họ, khiến họ muốn ở mãi với Người.
Trong bữa ăn tối, Đức Giêsu chủ động cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho họ. Mắt họ được bừng mở và họ nhận ra Người. Cử chỉ ấy chỉ có nơi vị Thầy mới đây đã làm trong phòng Tiệc ly. Không thể nhầm được. Họ biết rằng, người ta không thể nhìn thấy Đức Giêsu Phục Sinh bằng cặp mắt nhân loại, mà chỉ nhận ra Người hiện diện với cặp mắt đức tin được Chúa ban tặng.
Từ đây, với kinh nghiệm quý giá này, họ biết chắc Người luôn ở với họ, với nhân loại trong Kinh thánh, qua việc Bẻ Bánh trong cộng đoàn những người tin, chứ không còn qua hình dạng theo kiểu loài người nữa. Như thế, Bữa Tiệc Ly với tất cả ý nghĩa của nó, trở nên sống động trong tâm khảm của cộng đoàn của Đức Giêsu phục sinh, Đấng đang sống, đang hiện diện và đang cử hành.
Trở lại Giêrusalem, họ gặp các tông đồ để chia sẻ niềm vui, để làm chứng cho Đấng Phục Sinh hiện ra với họ, và chính họ cũng được các tông đồ củng cố chứng tá ấy, khi thuật lại việc Đấng Phục Sinh hiên ra cho ông Simon Phêrô.
Như thế đức tin chính là ơn huệ của sự Phục sinh, và người ta chỉ có thể hiểu Kinh Thánh khởi đi từ cuộc Phục Sinh của Đức Giêsu, và cũng chỉ có thể hiểu về mầu nhiệm phục sinh nhờ Kinh thánh và cử hành lễ Bẻ Bánh.
