2020
Người trẻ trong kỷ nguyên 4.0
Người trẻ trong kỷ nguyên 4.0
Người trẻ là hiện tại và tương lai của Giáo Hội và thế giới.[[1]] Với một con tim tràn đầy năng lượng, một tinh thần nhiệt thành và một sức trẻ năng động, người trẻ không ngừng dấn thân trong các hoạt động của Giáo Hội và xã hội. Nhận thức được sự ảnh hưởng và vai trò quan trọng của giới trẻ, cũng như tình yêu mến và sự quan tâm đối với giới trẻ, các Đức Giáo Hoàng đã đưa ra những chương trình mục vụ đặc biệt cho giới trẻ như một cách thế để nuôi dưỡng đức tin và lòng nhiệt thành của họ. Hơn nữa, Giáo Hội nhận ra những khó khăn và thách đố mà người trẻ đang phải đối diện khi sống trong kỷ nguyên của khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại. Họ dễ dàng bị lôi kéo vào các trào lưu thế tục, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa dửng dưng, chủ nghĩa hưởng thụ, và văn hóa loại bỏ. Những nét đẹp văn hóa, truyền thống đức tin và đời sống luân lý đang bị thay thế bởi những tư tưởng hiện đại, những cách sống phóng khoáng và dễ dãi. Đại Hội thường kỳ thứ XV của Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới 2018 đã lấy chủ đề “Giới trẻ, Đức tin và việc Phân định Ơn gọi” với mục tiêu Giáo Hội đồng hành cùng người trẻ trong hành trình đức tin và biện phân ơn gọi. Để đạt được điều đó, Giáo Hội cần đi vào thế giới của người trẻ, hiểu được tâm lý, văn hóa và tình trạng đức tin của họ, nhờ đó sẽ đưa ra chương trình mục vụ phù hợp với bối cảnh mà người trẻ đang sống.
Tâm lý của người trẻ
Không có một định nghĩa phổ quát hay mang tính chất toàn cầu cho việc định nghĩa về giới trẻ, hay còn gọi là “tuổi trẻ”, “người trẻ”, “thanh niên”. Định nghĩa và quy định độ tuổi của giới trẻ sẽ tùy thuộc vào mỗi vùng miền, quốc gia dựa theo văn hóa và truyền thống của họ. Trong Tài liệu chuẩn bị của Thượng Hội Đồng Giám Mục 2018, “giới trẻ” là những người thuộc nhóm tuổi từ 16 đến 29, nhưng chữ này được thích nghi đối với các hoàn cảnh địa phương. Theo các nhà tâm lý như Carl Jung và Erik Erikson,[[2]] giới trẻ là những người ở trong giai đoạn từ lúc dậy thì cho đến tuổi trưởng thành, họ muốn sống độc lập, xây dựng các mối quan hệ, tạo một chỗ đứng trong xã hội, và khẳng định cái tôi của mình. Đây là giai đoạn phát triển về thể lý, tâm lý, trí tuệ, khả năng tư duy, sáng tạo và khám phá những cái mới. Trong giai đoạn này, ý chí, nghị lực, tinh thần trách nhiệm của người trẻ khá cao. Đồng thời, theo Erikson, tuổi trẻ là tuổi của những sự chọn lựa, của tình cảm và lao động, của học hành và nghề nghiệp. Họ cố gắng đi tìm bản thân qua những câu hỏi như tôi là ai, đâu là những điều tôi tin, tôi thuộc về đâu, đâu là ước mơ của tôi. Họ nhận ra sức mạnh, giá trị, nhân phẩm và tự do của mình. Họ không muốn lệ thuộc vào cha mẹ hay người lớn, họ muốn tự mình quyết định sự nghiệp, tương lai cho mình. Họ bắt đầu lựa chọn nghề nghiệp theo khả năng và đi tìm lý tưởng sống. Một khi đã tìm ra lý tưởng sống, họ sẽ trung thành với lý tưởng đó. Họ chọn cho mình những thần tượng, người mẫu lý tưởng và bắt chước họ từ lối sống đến suy nghĩ và hành động.
Giai đoạn tuổi trẻ cũng là gia đoạn gặp nhiều khó khăn và khủng hoảng. Sự thay đổi về thể lý, tâm lý và tình cảm khiến họ dễ rơi vào bối rối, nghi ngờ, và mơ hồ. Họ ở giai đoạn giữa trẻ con và người lớn, nên tính cách trẻ con vẫn còn ở trong họ, trong khi họ chưa đủ lớn để quyết đoán mọi sự. Họ muốn hành động như một người trưởng thành nhưng các nhân cách và phẩm chất của một người trưởng thành chưa hoàn thiện trong họ. Hơn nữa, trong mắt người lớn họ vẫn còn là một đứa trẻ, trong khi đối với trẻ con thì họ đã là người lớn. Sự giằng co trong giai đoạn này khiến người trẻ dễ rơi vào sự khủng hoảng tâm lý. Do đó, người trẻ cần có những người đồng hành để được hướng dẫn và tham khảo, đó là những người gần gũi, đáng tin cậy, biết lắng nghe những chia sẻ của họ, đón nhận những giới hạn của họ với lòng vị tha, cảm thông, không kết án, nhưng khuyến khích và nâng đỡ họ, nhờ đó họ tìm được định hướng đúng đắn cho cuộc đời mình.[[3]]
Văn hóa của người trẻ
Sống trong thế giới hiện đại, người trẻ được thừa hưởng sự phát triển của kinh tế, khoa học kỹ thuật và công nghệ. Sự phát triển này đưa lại cho họ những cơ hội và cả những thách thức. Văn hóa và lối sống của họ rất khác so với thế hệ của cha mẹ và những nhà giáo dục của họ. Giới trẻ hôm nay được gọi bằng những cái tên rất “hot” như thế hệ “X”, “Y”, “Z”, thế hệ “Net”, thế hệ “Facebook”, thế hệ “Selfie”. Họ muốn trở nên nổi tiếng, tạo sự khác biệt, muốn làm giàu và tự chủ. Đồng thời họ cũng mang trong mình khát vọng cống hiến và phục vụ. Với một năng lượng tích cực tràn đầy, người trẻ muốn được đóng góp cho sự phát triển của xã hội và con người. Đối với người trẻ Công giáo, rất nhiều bạn đã hăng say trong các hoạt động tình nguyện, các công việc bác ái, giúp đỡ người nghèo, giảng dạy giáo lý và truyền giáo. Đây là cơ hội để họ để họ khám phá và đào sâu đức tin, cũng như biện phân ơn gọi của mình. Bên cạnh đó họ sử dụng phương tiện truyền thông, mạng xã hội như một không gian để nối kết, giao lưu, chia sẻ, và học hỏi lẫn nhau. Họ cởi mởi đón nhận sự sự đa văn hóa, tôn giáo, sắc tộc và quốc gia để kiến tạo hòa bình, hòa nhập và đối thoại.[[4]] Họ đã dùng kỹ thuật truyền thông hiện đại để trở nên một “thế hệ siêu nối kết”[[5]] trong sự hội nhập văn hóa và đối thoại liên tôn.
Nghệ thuật, âm nhạc, thể thao là một phần quan trọng trong đời sống văn hóa của người trẻ. Nơi đó họ được thể hiện niềm đam mê, sở thích và tài năng của mình. Thượng Hội Đồng Giám mục đã đánh giá rất cao tầm quan trọng của những người trẻ dành cho nghệ thuật dưới mọi hình thức. Ngôn ngữ của âm nhạc, thể thao, nghệ thuật đã đưa lại những phong cách và cảm xúc cho người trẻ. Vậy nên việc sử dụng nghệ thuật trong mục vụ giới trẻ là điều cần thiết, vì đó là cách thế hữu hiệu để gặp gỡ, lắng nghe và đi vào thế giới của người trẻ, đồng thời là phương tiện người trẻ dùng để truyền bá Tin Mừng và Phúc Âm hóa.
Bên cạnh những mặt tích cực của sự phát triển của thế giới hiện đại và phương tiện truyền thông, người trẻ còn gặp nhiều khó khăn khi đối diện với mặt tiêu cực của nó. Sống trong một xã hội thay đổi không ngừng đòi hỏi người trẻ luôn phải cố gắng để thích nghi và có đủ khả năng đáp ứng những đòi hỏi khắt khe của nó. Trong khi đó người trẻ là người dễ bị tổn thương và chịu nhiều áp lực. Sự kỳ vọng quá lớn của lớn của gia đình, sự thất bại của bản thân, sự kỳ thị của xã hội, thất nghiệp, sự bất công, bạo lực, loại trừ và bỏ rơi là những cú sốc tâm lý gây nên những thương tổn trong cuộc sống của người trẻ. Hơn nữa sống trong môi trường khắc khổ của chiến tranh, di cư, thất nghiệp, đã khiến nhiều người trẻ trở thành nạn nhân của nạn buôn người, các băng đảng tội phạm, bị lạm dụng tình dục, và bóc lột sức lao động. Họ trở nên nô lệ cho những hình thức bóc lột mới.
Công nghệ hiện đại cũng trở thành công cụ cám dỗ tinh vi đối với người trẻ. Họ bị lôi cuốn vào thế giới kỹ thuật số với các trào lưu và lối sống ảo. Mạng Internet là nơi nối kết, nhưng cũng là nơi làm cho người ta ra xa nhau nhất. Mỗi ngày người trẻ bỏ ra hàng giờ để lướt facebook, chơi game, trong khi đó họ lại không có giờ để gặp gỡ gia đình, bạn bè và cầu nguyện. Trong Christus Vivid số 90, Đức Giáo Hoàng Phanxico nhận định, “Việc chìm đắm trong thế giới ảo dễ dàng đưa tới một kiểu “di cư kỹ thuật số”, nghĩa là xa rời gia đình cũng như các giá trị văn hoá và tôn giáo. Thái độ này đẩy nhiều người vào một thế giới cô đơn và tự dò dẫm, đến mức họ cảm thấy mất gốc mặc dù trong thực tế họ vẫn ở chỗ đó”. Đồng thời lối sống ảo cũng làm cho người trẻ dễ bị mất phương hướng và rơi vào trạng thái nghi ngờ căn tính của mình; các giá trị đức tin, văn hóa truyền thống, đạo đức và luân lý cũng bị giảm sút nơi người trẻ. Tư tưởng hiện đại, phóng khoáng và thuyết tương đối tạo nên lối sống dễ dãi và thích hưởng thụ. Sống thử trước hôn nhân, phá thai, các loại nghiện ngập (ma túy, Internet game, cờ bạc) đang trở thành vấn nạn trong xã hội ngày nay. Trong bối cảnh này, Giáo Hội cần quan tâm đặc biệt đến người trẻ, bảo vệ cuộc sống và nhân phẩm của họ bằng những chương trình mục vụ cụ thể.
Đức tin nơi người trẻ
Hình ảnh hàng ngàn bạn trẻ quy tụ tham dự các kỳ Đại Hội Giới Trẻ cấp quốc tế, và cấp giáo phận được Giáo Hội Hoàn vũ cũng như Giáo Hội địa phương tổ chức như một dấu chỉ cho thấy người trẻ vẫn đang rất khát khao một đời sống đức tin và khát vọng tìm kiếm chân lý. Thực vậy, sống trong bầu khí sôi động của thế giới cùng với lòng hăng say của tuổi trẻ, các bạn muốn thể hiện đức tin của mình một cách sống động và cụ thể. Rất nhiều bạn tích cực tham gia vào các phong trào được tổ chức trong các giáo xứ, cộng đoàn. Họ là thành phần nòng cốt trong đội ngũ giáo lý viên, thiện nguyện viên. Các công tác bác ái xã hội, phục vụ và giúp đỡ người nghèo cũng được các bạn tích cực hưởng ứng. Rất nhiều bạn trẻ còn giữ được những việc đạo đức truyền thống và tham dự Thánh lễ, nhất là Thánh lễ Chúa Nhật. Họ đã thiết lập được tình bạn với Chúa Giêsu qua việc gặp gỡ Ngài trong các Bí tích và nơi những người họ được mời gọi để phục vụ. Tinh thần trẻ trung của Giáo Hội đã được thể hiện nơi họ.
Tuy nhiên, không phải tất cả các bạn trẻ giữ được ngọn lửa đức tin và lòng nhiệt thành tông đồ trong mình. Vì thế, một trong những vấn nạn mà Giáo Hội quan tâm hiện nay là vấn đề đức tin và luân lý của giới trẻ, đặc biệt tại các nước phát triển. “Đối với rất nhiều người trẻ, những từ “Thiên Chúa”, “tôn giáo” và “Giáo Hội” dường như không có ý nghĩa gì, nhưng họ lại bị đánh động bởi nhân vật Giêsu, khi họ được nghe giới thiệu cách hấp dẫn và thực tế về Người”.[6] Rất nhiều người tuyên bố họ có đời sống tâm linh, nhưng không thuộc về tôn giáo, hoặc tin vào Thiên Chúa nhưng không thuộc về Giáo Hội. Tư tưởng “đạo nào cũng là đạo nào”, hoặc “đạo tại tâm” làm cho họ “đánh đồng” niềm tin Kitô giáo, và cảm thức “thuộc về” một cộng đoàn đức tin hay Hội Thánh đã bị đánh mất nơi họ. Vậy nên, đời sống đức tin của nhiều người trẻ bị sa sút. Họ không còn cảm thấy cần thiết để tham dự các Thánh lễ, kể các Thánh lễ Chúa Nhật và Lễ Trọng, các Bí tích và các điều răn. Hậu quả của việc coi thường niềm tin là đời sống đạo đức, luân lý bị xuống cấp. Như đã đề cử bên trên, việc bỏ qua các chuẩn mực đạo đức đã dẫn dẫn đến lối sống dễ dãi và buông thả nơi nhiều người trẻ này nay.
“Này bạn trẻ, Ta bảo con: Hãy chỗi dậy” (cf. Lk 7:14) là câu chủ đề của sứ điệp cho ngày Giới trẻ thế giới 2020, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã dùng lời Chúa Giêsu thúc dục con trai bà góa thành Nain để nói với giới trẻ rằng Chúa Giêsu cũng đang thúc giục các bạn trỗi dậy từ “sự mất sức sống nội tâm, các giấc mơ, sự hào hứng, tính lạc quan và lòng quảng đại”. Vì thế, Mục vụ Giới trẻ cần đưa ra những chương trình cụ thể để đồng hành với người trẻ, nhằm giúp các bạn đáp lại lời thúc giục của Chúa Giêsu và mau mắn bước đi trên con đường mới. Nhưng việc đồng hành ở đây không chỉ là trách nhiệm của một mình Giáo Hội, hay các vị lãnh đạo trong Giáo Hội, mà cần có sự cộng tác của gia đình, nhà trường và xã hội, vì đây là những môi trường ảnh hưởng lớn đến sự hình thành nhân cách và lối sống của người trẻ. Ước mong người trẻ nhận được sự quan tâm và đồng hành nhiều hơn nữa, nhờ đó họ được lớn lên trong đức tin, trưởng thành trong nhân cách, và chọn lựa cho mình một ơn gọi phù hợp với lý tưởng sống
[[1]] Tông huấn hậu Thượng Hội Đồng – Christus Vivit. http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/TongHuan/ChristusVivit/03Christusvivit_LCD.htm
[[2]] Fiest, J., Fiest, G. J., & Roberts. Theories of personality (9th Ed.). MCGraw-Hill Education. 2018.
[[3]] Tài liệu chuẩn bị cho Thượng Hội Đồng Giám mục lần thứ XV về Giới trẻ. http://catechesis.net/tai-lieu-chuan-bi-cua-thuong-hoi-dong-giam-muc-lan-thu-xv-ve-gioi-tre-thang-10-2018/
[[4]] Tài liệu kết thúc Thượng Hội Đồng Giám mục về Giới trẻ 2018. http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/HoiNghi/GioiTre/09TaiLieuKetThuc.htm
[[5]] Tài liệu chuẩn bị cho Thượng Hội Đồng Giám mục lần thứ XV về Giới trẻ. Ibid.
[[6]] Christus Vivid, 39. Ibid.
Sr. Mary Bernadette
2020
Giới trẻ và Văn hóa khiêu dâm – tình dục qua mạng Internet
GIỚI TRẺ VÀ VĂN HÓA KHIÊU DÂM – TÌNH DỤC QUA MẠNG INTERNET: MỘT NHẬN ĐỊNH TRÊN PHƯƠNG DIỆN XÃ HỘI VÀ LUÂN LÝ CÔNG GIÁO
-
Ngày Truyền Thông Thế Giới đầu tiên được thực hiện cách nay nửa thế kỷ (07/05/1967), do Chân Phước Giáo Hoàng Phaolô VI khởi xướng, khi Ngài muốn Giáo hội quan tâm đến truyền thông với sức mạnh đáng kể của nó, cả tích cực lẫn tiêu cực, đối với sự biến đổi văn hóa và ảnh hưởng trên cuộc sống con người, và đến cả sứ mạng truyền giảng Tin Mừng của Giáo hội. [1]
Nhận định về chủ đề Ngày Truyền Thông Thế Giới năm 2018, Bộ Trưởng Truyền Thông Vatican đã cho biết rằng thông tin giả bóp méo dữ kiện, tác động trên những cá nhân và tập thể trên đường tìm kiếm chân lý và sống theo chân lý.[2] Trong bối cảnh này, bài viết gợi mở một khía cạnh quan trọng mà mạng lưới internet đã và đang tác động đến đời sống cá nhân và xã hội, cách riêng các bạn trẻ, đó là bóp méo sự thật về tính dục con người qua lan truyền văn hóa khiêu dâm và một trong các hậu quả trầm trọng là tình dục qua mạng, làm thoái hóa nhân cách của người sử dụng.
- VỀ PHƯƠNG DIỆN XÃ HỘI
- Hiện trạng vấn đề và cảnh báo nguy cơ
Kleponis, phụ tá giám đốc của Comprehensive Counseling Services, nhận định sự lan tràn của văn hóa khiêu dâm đã đến mức báo động nghiêm trọng. Các con số thống kê hiện nay thực ra chưa nói đủ được tình trạng ấy. Ông giải thích vì đây là điều thường diễn ra về đêm, trong cõi riêng tư của các gia đình. Nhưng điều rõ ràng đây là một kỹ nghệ trị giá tới 97 tỷ Mỹ Kim, riêng Mỹ chiếm 13 tỷ. [3] Tạp Chí Time có một bài viết cho thấy thế hệ thanh thiếu niên ngày nay truy cập phổ biến vào phim khiêu dâm “hạng nặng” trên mạng Internet. Thống kê về việc này gây lo lắng cho các nhà giáo dục và tất cả những ai thao thức xây dựng một xã hội và thế giới tốt đẹp. Phần lớn giới trẻ bắt đầu xem hình ảnh khiêu dâm ở tuổi 11; khoảng 107 triệu lượt truy cập hằng tháng vào các trang mạng dành cho người lớn ở Hoa Kỳ; 12 triệu giờ mỗi ngày trên toàn cầu được dành cho việc xem những hình ảnh khiêu dâm; 40% các trẻ nam ở Anh Quốc nói rằng, chúng thường xem phim ảnh khiêu dâm, và nhiều chuyện khác như thế. [4]
Theo UNICEF, trung bình mỗi ngày có khoảng 720.000 hình ảnh mang tính khiêu dâm, bạo lực… được đưa lên internet. Tại Việt Nam, từ 2011 đến 2015, có 9.920 trẻ em bị xâm hại bởi các chiêu thức dụ dỗ qua mạng xã hội, Internet, trong đó 65% là xâm hại tình dục. Các con số này báo động về nguy cơ xâm hại tình dục ở trẻ em phát sinh từ mạng internet. [5] Phó Giám đốc Ban Bảo vệ trẻ em của UNICEF, Cornelius William cho rằng: “Internet và điện thoại di động đã tạo ra một cuộc cách mạng và thay đổi việc tiếp cận thông tin của giới trẻ. Nhưng kết quả thăm dò cho thấy nguy cơ bị xâm hại trực tuyến đối với các trẻ em gái và trẻ em trai là có thật”. [6]
Đây là một vấn đề thời sự cần được quan tâm đúng mức, và thậm chí xảy ra cả trong giới tu trì: nghiện mạng, nghiện văn hóa khiêu dâm qua mạng và thậm chí tình dục qua mạng. Đã có cặp vợ chồng ly dị vì chồng nghiện mạng, không quan tâm gia đình. Đã có người phải rời bỏ đời tu vì có hành vi tình dục qua mạng. Giống như các thành quả khoa học kỹ thuật khác, sử dụng truyền thông mạng là con dao hai lưỡi, đòi hỏi người sử dụng phải đủ trưởng thành để làm chủ thời gian sử dụng mạng internet, phân biệt nội dung đúng sai, tốt xấu, tự chủ trước các cám dỗ tình dục qua mạng. Nhà cung cấp Internet, Chính phủ sẽ không bảo vệ bạn. Gia đình cũng khó bảo vệ bạn hiệu quả. Bạn trẻ phải tự bảo vệ chính mình khi sử dụng internet. [7]
- Sự khác biệt giới tính
Theo Kleponis hiện nay khoảng 83% người nghiện văn hóa khiêu dâm là nam giới, nữ giới chỉ chiếm 17%. Người nam và người nữ được kích thích một cách khác nhau. Người nam thường dễ bị kích thích bằng thị giác. Khi nhìn một hình ảnh khiêu dâm, một phản ứng hóa học lập tức diễn ra, chất dopamine được tiết ra, gây ra hiện tượng phấn khích (euphoria) mạnh, và khi phối hợp với việc kích dục và khoái ngất, nó dễ dẫn tới ghiền văn hóa khiêu dâm. Đối với phụ nữ, việc ghiền loại văn hóa này chủ yếu diễn ra dưới hình thức tán gẫu (chat rooms). Phụ nữ nghiêng về tương quan. Họ thường ưa thích vào các “phòng chat” nơi họ có thể tự tạo cho mình một nhân vật giả (false persona). Ở đấy, họ có thể giả dạng bất cứ người nào họ muốn, và dấn thân vào các liên hệ gợi dục với đàn ông trên mạng bằng lời. Như thể họ đang cùng người đàn ông này viết ra câu truyện tiểu thuyết đầy lãng mạn giữa họ. Đó chính là điều làm họ ghiền! Nhất là đối với phụ nữ không hạnh phúc trong đời sống vợ chồng. Cũng có một số phụ nữ ghiền theo nghĩa thị giác. Một số thiếu nữ bị buộc vào con đường tình dục qua mạng chỉ vì bạn trai của họ nài nỉ, coi đó như một điều kiện cho mối liên hệ giữa họ với nhau. Chứ thật tâm họ không muốn thế. Đây là một vấn đề khác. [8] Và dù sao các việc này đều gây hậu quả nghiêm trọng và khó lường.
- Hậu quả của việc nghiện mạng [9]
Ngày nay xã hội phải đối diện với các nạn nhân của nhiều hình thức nghiện mạng. Các hình thức nghiện mạng có thể là cờ bạc, mua sắm, xem phim, trò chơi online, trao đổi cổ phiếu, đọc tin lung tung, nghiên cứu lung tung, và nghiện tình dục mạng (tình dục ảo).
Khi rơi vào nghiện mạng, nạn nhân có thể gặp các hậu quả sau:
– Xa rời tương tác xã hội thật.
– Thúc đẩy và làm tăng thêm cô lập và rút lui xã hội.
– Có thể đưa đến trầm cảm.
– Dễ mất tập trung khỏi những vấn đề quan trọng khác của đời sống thực.
– Thậm chí có người đã “mất mạng sống” khi “lướt mạng” nhiều giờ quên cả ăn ngủ. [10]
- Các hình thức tình dục qua mạng [11]
Tình dục qua mạng có thể dưới nhiều hình thức
– Sưu tập các hình ảnh hay câu chuyện mang tính kích dục
– Trao đổi thư điện tử với nội dung tình dục.
– Xem các loại phim khiêu dâm.
– Đưa lên mạng những hình ảnh gợi dục.
– Nói chuyện trao đổi kích dục bằng “phòng chát”
– Liên lạc với các cư dân mạng, chia sẻ những tưởng tượng cuồng loạn về tình dục, có thể dẫn đến tình dục ảo, điện thoại tình dục hay đưa đến việc gặp mặt thực sự.
Hoạt động tình dục mạng thường diễn ra vô danh, nên người ấy thường an tâm đi vào thực hành mà không e ngại người khác biết. Tuy nhiên trên thực tế, điều này cũng không thể giữ bí mật lâu dài.
Người sử dụng mạng để trao đổi tình dục có thể:
– Tạo lý lịch giả, che giấu hay thay đổi căn tính.
– Tạo hình tượng mới, thay đổi sở thích.
– Tạo nên một thế giới của tưởng tượng cuồng loạn về tình dục.
– Tương tác tình dục ảo bị hạn chế vào hình ảnh truyền tải, thay vì tương tác mặt đối mặt, với tiếp xúc mắt, tiếng nói, ngôn ngữ thân xác.
– Qua tưởng tượng cuồng loạn người ta có thể đưa ra bất cứ cái gì và có thể tạo được một sự thân mật tức thời.
Tình dục qua mạng được bao bọc bởi sự bí mật – kín đáo:
– Người nghiện không nói về điều đó cho ai cả.
– Nó trở thành một cách để đối phó với những đối kháng vô thức và ý thức trong lãnh vực tính dục.
– Có thể khám phá đề tài liên quan đến tình dục mà không phải tỏ lộ danh tánh, gốc gác.
– Cảm thấy được an toàn bởi tại phòng riêng và tính chất vô danh trên mạng.
Tình dục ảo hay mạng có thể trở thành nghiện khi cá nhân sử dụng hành vi tình dục ảo để thay đổi tâm trạng của mình, dù ý thức hay không ý thức. Các đặc tính nghiện tình dục ảo không khác với các loại nghiện khác:
– Có thể cảm thấy “hứng thú”, và cảm thấy trầm cảm khi hết hoạt động
– Có thể cố gắng dứt bỏ nhưng không thể.
– Ảnh hưởng đến công việc, đời sống gia đình, cộng đoàn, xã hội, và cầu nguyện.
– Cảm giác tội lỗi, xấu hổ.
– Trải qua nhiều thời gian trước máy vi tính, mất ngủ…
– Tình trạng trở nên trầm trọng hơn khi không kết nối được mạng.
Thường có sự tiến triển từ nghiện ít, thấp đến các hành động cao hơn: bắt đầu xem phim khiêu dâm miễn phí, rồi đến phim trả tiền, sau đó tìm cách liên lạc, thực hiện điện thoại tình dục, có thể thực hiện hành vi tình dục qua mạng bằng lời trao đổi, hình ảnh, kể cả gặp gỡ thật.
- TRÊN PHƯƠNG DIỆN LUÂN LÝ CÔNG GIÁO
Giáo lý Hội Thánh Công Giáo số 2354 dạy rằng:
Hình ảnh khiêu dâm cốt tại việc đem những hành vi tình dục, có thật hay giả vờ, ra khỏi vòng thân mật của những người trong cuộc, chủ ý phơi bày cho những người khác. Hình ảnh khiêu dâm xúc phạm đến đức khiết tịnh, bởi vì làm biến chất hành vi phu phụ, sự tự hiến thân mật cho nhau của đôi phối ngẫu. chúng xúc phạm cách nghiêm trọng đến phẩm giá của những người tham gia vào đó (diễn viên, kẻ kinh doanh, khán giả), bởi vì người này trở thành đối tượng mua vui thô lỗ và là nguồn lợi nhuận bất chính cho người khác. Hình ảnh khiêu dâm dìm hết người này đến người khác vào sự ảo tưởng của thế giới giả trá. Đó là một trọng tội. Chính quyền phải ngăn cấm việc sản xuất và phổ biến những hình ảnh khiêu dâm này.
Giám mục Robert Emmet Barron nhận định sự thật đáng buồn là, đối với những người trẻ thực hiện tình dục qua mạng internet, sự kích thích tình dục không còn gắn liền với con người bằng xương bằng thịt nữa, nhưng gắn liền với những hình ảnh nhấp nháy của những con người có diện mạo hoàn hảo trong một thực tại ảo. Ngoài ra, bởi vì họ bắt đầu từ khi còn quá trẻ, nên khi lớn lên, họ bị thôi thúc hướng về các phim ảnh khiêu dâm hoang dại và mức độ bạo lực ngày càng lớn hơn, nhằm để đạt được thỏa mãn cảm xúc thèm khát. Và điều này, đến lượt nó làm cho họ mất khả năng tìm thấy sự hứng thú trong tình dục bình thường, tức là nhẹ nhàng, không hoang dại bạo lực. [12]
Các lãnh vực cần quan tâm [13]
– Tình dục ảo đẩy mạnh thái độ “nhìn trộm” (voyeuristic) về tình dục – dần dần đi xa tình dục tương quan lành mạnh.
– Tình dục ảo tiếp thị kinh nghiệm phân mạng về tình dục: các phần của thân thể, y phục, xem người khác chỉ là “đồ vật”, đưa đến lệch lạc “sùng bái đồ vật” (fetishism).
– Tình dục ảo cô lập cá nhân và tính dục của mình. Không có sự trao đổi trực tiếp hay phản hồi khách quan. Đưa đến một sự phát triển nhân cách không lành mạnh.
– Hoạt động tình dục ảo cô lập cá nhân khỏi những giao tiếp xã hội với đồng lứa.
– Có thể đưa đương sự vào những nguy cơ như trơ lì về những gì liên quan đến tính dục một cách đúng đắn, hoặc làm lương tâm và ý thức trở nên mờ nhạt và tăm tối về các vấn đề tính dục hay tương quan với người khác.
– Hoạt động tình dục mạng tạo nên và mở rộng mọi thể loại văn hóa khiêu dâm.
– Hoạt động tình dục mạng ở các môi trường tôn giáo như trong cộng đoàn, giáo xứ, giáo phận có thể đưa đến nguy hại luân lý và thanh danh, vì người ta có thể truy ra nơi sử dụng.
Tác hại của nền văn hóa khiêu dâm [14]
Giáo hội Công Giáo, và tất cả xã hội đứng đắn, đều coi phim khiêu dâm:
– Là “một sự phương hại về đạo đức”.
– Một sự “xuyên tạc sâu sắc tính dục con người”.
– Một sự “chà đạp lương tâm con người ”tới mức, “coi họ không hơn một đồ vật” nhằm thỏa mãn khao khát dục vọng.
Sự xuyên tạc này tạo nên nhiều vấn đề trên phương diện thể lý, tâm lý, luân lý và thiêng liêng. Những hậu quả đi kèm theo vấn nạn này sẽ không được tiếp cận đến đầy đủ, nếu vấn nạn tiềm ẩn chưa được giải quyết thỏa đáng.[15]
III. MỤC VỤ ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHIỆN VĂN HÓA KHIÊU DÂM VÀ TÌNH DỤC QUA MẠNG
- Thành phần có nguy cơ cao [16]
– Các vấn đề thông thường dẫn tới việc ghiền văn hóa khiêu dâm là: lòng vị kỷ, một số hình thức cô đơn, bất an về nam tính nên tìm cách khẳng định nam tính qua hành vi tình dục, áp lực nặng nề của công việc, khủng hoảng tương quan vợ chồng, khủng hoảng đời tu.
– Kỹ năng giao tiếp và thân mật kém: xa lánh bạn bè, có vấn đề với bạn bè, khuynh hướng sử dụng internet để tránh lúng túng trong giao tiếp xã hội.
– Có tiền sử về những khó khăn tình dục chưa giải quyết. Tiền sử về chấn thương tâm lý.
– Trầm cảm, hay bất ổn cảm xúc (dysthymia) ở một mức độ nào đó.
– Đời sống thiêng liêng nghèo nàn.
- Phòng ngừa thanh thiếu niên rơi vào bẫy tình dục qua mạng internet
Một phương án cực đoan là một số phụ huynh cấm đoán con cái sử dụng internet. Đây không phải là một giải pháp hay, bởi internet ngày nay là một phương tiện quan trọng cung cấp kiến thức và học hỏi, nghiên cứu, trao đổi, làm việc…
Thay vì cấm đoán, cha mẹ nên trang bị cho con những kiến thức cần thiết để tự bảo vệ mình như: không để lộ thông tin cá nhân, không nói chuyện trên mạng về tình dục, chia sẻ ngay với cha mẹ, người thân nếu ai đó cố tình nói về vấn đề tình dục, không hẹn hò gặp mặt với người mới quen qua mạng mà không có sự chia sẻ thông tin và cho phép của cha mẹ… Cha mẹ nên có quy định rõ ràng về việc sử dụng internet của con. Chẳng hạn thời gian sử dụng internet mỗi ngày, các trang mạng nào được cho phép và trang nào thì không. Để làm được điều này, bố mẹ cũng có thể sử dụng các phần mềm kiểm duyệt, để cài đặt thời gian sử dụng hoặc áp dụng tính năng như chặn linh hoạt, cho phép chặn các trang mạng xấu được phân loại sẵn. [17]
Tuy nhiên để con cái có thể cởi mở thông tin, cần thiết phải xây dựng mối quan hệ gần gũi, tin cậy giữa cha mẹ và con cái ngay từ nhỏ. Các trẻ em phải sống trong cảnh gia đình cha mẹ ly hôn, thiếu sự quan tâm của cha mẹ thường có xu hướng tìm bạn trên mạng để khỏa lấp nỗi buồn, dễ trở thành con mồi của kẻ xấu. [18]
- Phương cách giúp đỡ người nghiện văn hóa khiêu dâm
– Quan tâm đến những người có nguy cơ cao, nhất là trong lúc bị stress, những người tương giao kém, và có các vấn đề tình dục.
– Đặt vấn đề hoạt động tình dục mạng tại các buổi hội thảo, tạo cơ hội để bàn thảo về đề tài này và các đề tài liên hệ đến tính dục.
– Khuyến khích chứng tỏ sự đáng tin cậy trong việc sử dụng thời gian, thời gian giao tiếp xã hội, giảm thiểu cơ hội sử dụng vi tính một mình.
– Đặt vi tính ở những nơi công cộng hay công khai. Chú ý kiểm soát việc loan truyền sản phẩm khiêu dâm qua đường điện thoại di động.
- Tiến trình chữa lành người ghiền văn hóa khiêu dâm [19]
Trước hết cần xác định, ai là người ghiền văn hóa khiêu dâm? Theo Kleponis, người thường tiếp xúc với văn hóa khiêu dâm không nhất thiết là người ghiền các sản phẩm đó. Cần đặt thêm cho họ các câu hỏi này: bạn có bị lôi cuốn vào đó hay không, bạn có hay nghĩ nhiều tới nó hay không? Bạn có trông chờ mau chóng về nhà để được vào mạng, coi các sản phẩm khiêu dâm cho thỏa thích không? Bạn có mong nó sẽ giải quyết các căng thẳng của bạn phát sinh do sự cô đơn, cảm thức bất ổn phái tính hay do áp lực công việc hay không? Bạn có thấy thật khó khăn khi phải đi vắng một thời gian mà không được xem các sản phẩm khiêu dâm hay không? Nếu các câu trả lời là “có”, thì hầu như là bạn đã ghiền văn hóa khiêu dâm rồi!
Tiến trình chữa lành phải bắt đầu bằng việc nhìn nhận mình có vấn đề đối với văn hóa khiêu dâm, rồi cố gắng tìm hiểu mình cũng như các nguyên nhân tạo ra tình trạng ghiền sản phẩm khiêu dâm kia. Để được chữa lành, nạn nhân không thể hành động một mình được. Kleponis đề nghị phương thức sáu điểm như sau: che chở của gia đình; hỗ trợ của những người cùng trang lứa; tư vấn hay tự tìm hiểu nguyên nhân gây ra việc ghiền khiêu dâm; lớn lên trong đức tin và thực hành nhân đức; tình bạn; và giáo dục.[20]
Đối với các thanh niên độc thân, Kleponis nhắc rằng khi bước chân vào con đường ghiền văn hóa khiêu dâm, họ thực sự đã đi vào chủ nghĩa vị kỷ sâu xa, một trở ngại sẽ phá hủy khả năng tương quan lành mạnh với phụ nữ trẻ. Các người này phần lớn thiếu tự tin trong giao tiếp với phụ nữ và do đó, thường lo âu. Các phụ nữ họ thấy trong sản phẩm khiêu dâm không có cảm xúc, nhu cầu hay ý kiến. Vì thế, khi ra khỏi thế giới ảo và gặp gỡ phụ nữ trong thực tế, là những người có cảm xúc, có ý kiến, họ lúng túng không biết cách cư xử đúng mực, nên đành rút lui trong bất an và giận dữ. Kleponis khuyên các bậc cha mẹ nên lưu ý tới cuộc khủng hoảng này và dạy cho con cái sự thật về luân lý tính dục và các nguy hiểm của văn hóa khiêu dâm cũng như các thói quen thủ dâm tai hại.
Cần nhận định các yếu tố dẫn đến ghiền khiêu dâm và giải quyết từng yếu tố. Việc gia tăng sự trợ giúp của những người đồng trang đồng lứa hay tình bạn đều mang hiệu quả tích cực. Chia sẻ với người phối ngẫu hay với một người bạn thân các khó khăn của mình là điều hữu ích. “Người anh được em giúp đỡ là một thành vững chắc và cao ngất” (Cn 18,19).
- Các nhân đức đặc thù
Tập luyện nhân đức góp phần thoát khỏi cạm bẫy này. Người tập luyện lớn lên trong nhân đức, thường ít bị thương tổn bởi nạn khiêu dâm. Các nhân đức giúp ta chống lại sự cô đơn là chia sẻ, nhìn nhận phận người yếu đuối, không quá cậy dựa vào chính mình, là tín thác và tin vào tình yêu Thiên Chúa. Tuy ở vài thời điểm tăng trưởng nhất định nào đó, ta có thể cảm thấy mình không được yêu thương.
Các nhân đức giúp ta thoát khỏi lòng vị kỷ là quảng đại dâng hiến cho người thân, cho tha nhân, cho quê hương, là khai triển tình bạn cởi mở với người phối ngẫu, là hãm mình, lòng biết ơn, tinh thần trách nhiệm, sự điều độ, lòng khiêm nhường. Kính yêu Chúa Giêsu nhiều hơn. Tất cả các nhân đức ấy động viên ta đừng gây thêm hại và đau đớn nữa, bằng cách xa lánh văn hóa khiêu dâm.
Ngoài ra, các nhân đức giúp người thanh niên lớn lên trong niềm tự tin vào nam tính của mình là sự biết ơn đối với các ân ban của Chúa, trong đó có thân xác mình, là tha thứ cho những ai đã gây hại đến niềm tự tin của chính mình, là tình bạn lành mạnh. Lớn lên trong niềm tin sẽ giúp người trẻ biết trông cậy vào sự hiện diện của tình yêu Thiên Chúa và của Đức Maria.
Các nhân đức giúp giảm bớt sự giận dữ thái quá phát sinh do cô đơn và buồn bực, là lòng tha thứ, biết cảm thương, lòng tốt, biết tôn trọng người khác và khiêm tốn. Các nhân đức giúp chống lo âu xao xuyến là tín thác, dứt bỏ, không quyến luyến lệch lạc, khôn ngoan đủ để thấy được sự tốt lành nơi người phối ngẫu, người thân và tin vào tình yêu chữa lành của Thiên Chúa cũng như khả năng của Thiên Chúa có thể cất các gánh nặng cũng như lo âu của đời sống hằng ngày. Lớn lên trong nhân đức, người trẻ sẽ cảm nhận được một hạnh phúc và thỏa mãn hơn trong việc tự hiến bước theo ơn gọi làm người của mình.
Để chống lại sự cô đơn ngăn cách giữa vợ chồng, vợ chồng cần bảo vệ tình yêu lãng mạn của họ, xây dựng tình bạn phu thê, tình yêu lúc mới đính hôn trong đó có biết bao là thân mật gần gũi. Họ phải dành càng nhiều thì giờ cho nhau càng tốt, vào những buổi tối cùng nhau và phải chuyện trò, chia sẻ với nhau. Chia sẻ là điều cốt yếu trong bất cứ tình bạn phu thê nào.
Đối với trẻ em, cần làm cha mẹ có trách nhiệm, không buông thả mà cũng đừng kiểm soát quá đáng. Buông thả là thái độ thường thấy trong nền văn hóa ngày nay, từng góp phần tạo ra nạn khiêu dâm. Cha mẹ thuộc loại này thường không chịu sửa phạt tính vị kỷ nơi con cái, mà đôi khi còn làm gương xấu cho chúng nữa. Họ thường yếu về đức tin và không hướng dẫn con cái một cách hữu hiệu về phương diện thiêng liêng để chúng tránh không bị ám ảnh bởi thân xác và tình dục quá phổ biến trong nền văn hóa hiện nay. Họ cũng thường thất bại, không cảnh giác con cái về các nguy hiểm của nạn khiêu dâm, thói quen thủ dâm và nền văn hóa trụy lạc.
Việc làm cha mẹ có trách nhiệm khiến họ cam kết đào luyện con cái mình trong nhân đức, cảnh giác chúng về các nguy hiểm của việc dùng người khác như đối tượng thỏa mãn tình dục, yêu thương sửa dạy con cái và dạy chúng vẻ đẹp tính dục con người trong kế hoạch của Thiên Chúa dành cho bí tích hôn phối. Cha mẹ cho các con thấy và dạy chúng biết rằng tình yêu có tính bí tích của vợ chồng làm cho tình yêu và vẻ đẹp của Chúa Ba Ngôi hiện diện trong thế giới.
Phần quan trọng khác của tiến trình chữa lành là giáo dục. Ảnh hưởng của não trạng ngừa thai trong 50 năm qua liên quan tới tình yêu vợ chồng và tính dục. Não trạng này khiến nhiều người nam coi người nữ như đối tượng để thỏa mãn tình dục. Nó góp phần rất nhiều vào nạn dịch khiêu dâm. Đức Cha Paul Loverde của Giáo Phận Arlington, Virginia, trong một lá thư mục vụ viết về nạn khiêu dâm, đã nhắc nhở giáo dân: “Con người tiệm tiến bồi đắp hay hủy diệt nhân cách mình bằng từng và mỗi một quyết định luân lý. Khi cái nhìn của con người hướng vào chỗ lầm lạc, họ trở nên loại người sẵn sàng sử dụng người khác làm đối tượng để thỏa mãn khoái cảm”.
Đức tin có vai trò rất quan trọng. Nhiều người đang khốn khổ vì cơn ghiền văn hóa khiêu dâm, tình dục qua mạng này cảm thấy được nâng đỡ và đầy ơn sủng khi biết nhìn nhận sự bất lực của mình và phó thác cho Chúa. Bí tích hòa giải, Bí tích Thánh thể, việc linh hướng, đọc Thánh Kinh, cầu nguyện, đặt kế hoạch thiêng liêng cho đời sống sẽ giúp ta dễ dàng trong giải quyết các khó khăn đã dẫn ta vào con đường đam mê các sản phẩm khiêu dâm.
- Vấn đề sử dụng mạng internet trong các cộng đoàn tu và đại chủng viện
Sau đây là vài suy tư của một số nhà đào luyện:
– Việc sử dụng vi tính, sử dụng mạng ngày nay rõ ràng là một nhu cầu, đặc biệt cho các dòng tu tông đồ và đại chủng viện.
– Nhưng mức độ của nhu cầu ấy cần phải được lượng định cách trung thực.
– Thời gian sử dụng mạng và việc sử dụng vi tính trong phòng riêng là vấn đề cần được thảo luận.
– Hiện nay, các cộng đoàn huấn luyện ở các dòng tu và đại chủng viện đều hạn chế và kiểm soát việc sử dụng internet của ứng sinh, với các mức độ khác nhau. Vấn đề đặt ra là sau khi vĩnh khấn hoặc chịu chức phó tế, linh mục, hay thời gian về thăm gia đình dịp hè hay tết, họ lại được tự do khá nhiều trong việc sử dụng mạng. Người huấn luyện cũng không thể có mặt khắp nơi để “canh chừng” ứng sinh. Lo rằng khi ấy họ lại “quá đà” sử dụng cho “đã thèm” thì lại phản tác dụng. Có lẽ quan trọng và hữu hiệu hơn hết là huấn luyện cho người ứng sinh được trưởng thành, biết sử dụng tự do cách đúng đắn, biết phân định lợi ích và tác hại của việc sử dụng mạng. Người thụ huấn sẽ là người quyết định ơn gọi của chính mình triển nở và thăng tiến hay không. Người huấn luyện chỉ đóng vai trò hỗ trợ, hướng dẫn, không thể “tu thế” cho người thụ huấn. [21]
KẾT
Trong Buổi Triều Yết Chung tại Quảng Trường Thánh Phêrô, suy tư đoạn Tin Mừng trong ngày về câu hỏi của một thanh niên trẻ hỏi Chúa Giêsu: “Con phải làm gì để được sự sống đời đời?” Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói người Kitô hữu phải theo đuổi con đường của đời sống thật, tình yêu thật, sự giàu có thật của Nước Trời! [22]
Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGM VN Số 108 (tháng 9 & 10, năm 2018)
__________
[1] Đan Sĩ (Theo Vatican Radio), “Đức Giáo Hoàng Tập Trung Vào Vấn Đề ‘Tin Giả’ Trong Thông Điệp Ngày Thế Giới Truyền Thông 2018”, 30/09/2017, Tại <http://masimpress.com>
[2] “Đức Giáo Hoàng Tập Trung Vào Vấn Đề ‘Tin Giả’ Trong Thông Điệp Ngày Thế Giới Truyền Thông 2018”.
[3] X. Vũ Văn An, “Tâm lý trị liệu và văn hóa khiêu dâm”, tại <http://vietcatholic.org>
[4] X. Gm Robert Emmet Barron, “ Porn and the curse of total sexual freedom”, <http://www.wordonfire.org>
[5] X. PV/VOV.VN “Giới trẻ có nguy cơ bị lạm dụng tình dục trên mạng”, 07/06/2016 <http://vov.vn>
[6] X. PV/VOV.VN “Giới trẻ có nguy cơ bị lạm dụng tình dục trên mạng”.
[7] Theo Bizlive, “Sử dụng Internet phải như ‘quan hệ tình dục an toàn’!” 2/7/2015, <https://viettimes.vn>
[8] Trích trong Vũ Văn An, “Tâm lý trị liệu và văn hóa khiêu dâm”.
[9] Trích trong Nguyễn Đình Vịnh, “Cảm tính và dục tính: Những vấn đề liên quan đến tính dục đối với các Tu sĩ/ Linh mục”.
[10] Đ. Hà, K, Giang, “Một thanh niên chết do chơi game kiệt sức?”,01/07/2017 <https://tuoitre.vn>
[11] Trích trong Nguyễn Đình Vịnh, “Cảm tính và dục tính: Những vấn đề liên quan đến tính dục đối với các Tu sĩ/ Linh mục”.
[12] X. Gm Robert Emmet Barron, “Porn and the curse of total sexual freedom”.
[3] Trích trong Nguyễn Đình Vịnh, “Cảm tính và dục tính: Những vấn đề liên quan đến tính dục đối với các Tu sĩ/ Linh mục”.
[4] X. Gm Robert Emmet Barron, “Porn and the curse of total sexual freedom”.
[5] X. Gm Robert Emmet Barron, “Porn and the curse of total sexual freedom”.
[6] Trích trong Nguyễn Đình Vịnh, “Cảm tính và dục tính: Những vấn đề liên quan đến tính dục đối với các Tu sĩ/ Linh mục”.
[7] “Xâm hại tình dục qua mạng: ‘Vaccine’ phòng ngừa nào cho trẻ?”, 02/08/17 <https://baomoi.com>
[8] Kim Thoa, “Báo động tình trạng trẻ bị xâm hại tình dục qua mạng”,19/01/2015 <https://tuoitre.vn>
[9] Trích trong Vũ Văn An, “Tâm lý trị liệu và Văn Hóa khiêu dâm”.
[20] Vũ Văn An, “Tâm lý trị liệu và văn hóa khiêu dâm”.
[2] Trích trong Nguyễn Đình Vịnh, “Cảm tính và dục tính: Những vấn đề liên quan đến tính dục đối với các Tu sĩ/ Linh mục”.
[22] Đan Sĩ, (Theo Vatican News) “Đức Giáo Hoàng Trong Buổi Tiếp Kiến Chung: Người Kitô hữu Phải Đi Theo Con Đường Thật, Tình Yêu Thật, Sự Giàu Có Thật”, 14/06/2018, <http://masimpress.com>
WHĐ, 16-05-2020 – Ngày Truyền Thông Thế Giới đầu tiên được thực hiện cách nay nửa thế kỷ (07/05/1967), do Chân Phước Giáo Hoàng Phaolô VI khởi xướng, khi Ngài muốn Giáo hội quan tâm đến truyền thông với sức mạnh đáng kể của nó, cả tích cực lẫn tiêu cực, đối với sự biến đổi văn hóa và ảnh hưởng trên cuộc sống con người, và đến cả sứ mạng truyền giảng Tin Mừng của Giáo hội. [1]
Nhận định về chủ đề Ngày Truyền Thông Thế Giới năm 2018, Bộ Trưởng Truyền Thông Vatican đã cho biết rằng thông tin giả bóp méo dữ kiện, tác động trên những cá nhân và tập thể trên đường tìm kiếm chân lý và sống theo chân lý.[2] Trong bối cảnh này, bài viết gợi mở một khía cạnh quan trọng mà mạng lưới internet đã và đang tác động đến đời sống cá nhân và xã hội, cách riêng các bạn trẻ, đó là bóp méo sự thật về tính dục con người qua lan truyền văn hóa khiêu dâm và một trong các hậu quả trầm trọng là tình dục qua mạng, làm thoái hóa nhân cách của người sử dụng.
- VỀ PHƯƠNG DIỆN XÃ HỘI
- Hiện trạng vấn đề và cảnh báo nguy cơ
Kleponis, phụ tá giám đốc của Comprehensive Counseling Services, nhận định sự lan tràn của văn hóa khiêu dâm đã đến mức báo động nghiêm trọng. Các con số thống kê hiện nay thực ra chưa nói đủ được tình trạng ấy. Ông giải thích vì đây là điều thường diễn ra về đêm, trong cõi riêng tư của các gia đình. Nhưng điều rõ ràng đây là một kỹ nghệ trị giá tới 97 tỷ Mỹ Kim, riêng Mỹ chiếm 13 tỷ. [3] Tạp Chí Time có một bài viết cho thấy thế hệ thanh thiếu niên ngày nay truy cập phổ biến vào phim khiêu dâm “hạng nặng” trên mạng Internet. Thống kê về việc này gây lo lắng cho các nhà giáo dục và tất cả những ai thao thức xây dựng một xã hội và thế giới tốt đẹp. Phần lớn giới trẻ bắt đầu xem hình ảnh khiêu dâm ở tuổi 11; khoảng 107 triệu lượt truy cập hằng tháng vào các trang mạng dành cho người lớn ở Hoa Kỳ; 12 triệu giờ mỗi ngày trên toàn cầu được dành cho việc xem những hình ảnh khiêu dâm; 40% các trẻ nam ở Anh Quốc nói rằng, chúng thường xem phim ảnh khiêu dâm, và nhiều chuyện khác như thế. [4]
Theo UNICEF, trung bình mỗi ngày có khoảng 720.000 hình ảnh mang tính khiêu dâm, bạo lực… được đưa lên internet. Tại Việt Nam, từ 2011 đến 2015, có 9.920 trẻ em bị xâm hại bởi các chiêu thức dụ dỗ qua mạng xã hội, Internet, trong đó 65% là xâm hại tình dục. Các con số này báo động về nguy cơ xâm hại tình dục ở trẻ em phát sinh từ mạng internet. [5] Phó Giám đốc Ban Bảo vệ trẻ em của UNICEF, Cornelius William cho rằng: “Internet và điện thoại di động đã tạo ra một cuộc cách mạng và thay đổi việc tiếp cận thông tin của giới trẻ. Nhưng kết quả thăm dò cho thấy nguy cơ bị xâm hại trực tuyến đối với các trẻ em gái và trẻ em trai là có thật”. [6]
Đây là một vấn đề thời sự cần được quan tâm đúng mức, và thậm chí xảy ra cả trong giới tu trì: nghiện mạng, nghiện văn hóa khiêu dâm qua mạng và thậm chí tình dục qua mạng. Đã có cặp vợ chồng ly dị vì chồng nghiện mạng, không quan tâm gia đình. Đã có người phải rời bỏ đời tu vì có hành vi tình dục qua mạng. Giống như các thành quả khoa học kỹ thuật khác, sử dụng truyền thông mạng là con dao hai lưỡi, đòi hỏi người sử dụng phải đủ trưởng thành để làm chủ thời gian sử dụng mạng internet, phân biệt nội dung đúng sai, tốt xấu, tự chủ trước các cám dỗ tình dục qua mạng. Nhà cung cấp Internet, Chính phủ sẽ không bảo vệ bạn. Gia đình cũng khó bảo vệ bạn hiệu quả. Bạn trẻ phải tự bảo vệ chính mình khi sử dụng internet. [7]
- Sự khác biệt giới tính
Theo Kleponis hiện nay khoảng 83% người nghiện văn hóa khiêu dâm là nam giới, nữ giới chỉ chiếm 17%. Người nam và người nữ được kích thích một cách khác nhau. Người nam thường dễ bị kích thích bằng thị giác. Khi nhìn một hình ảnh khiêu dâm, một phản ứng hóa học lập tức diễn ra, chất dopamine được tiết ra, gây ra hiện tượng phấn khích (euphoria) mạnh, và khi phối hợp với việc kích dục và khoái ngất, nó dễ dẫn tới ghiền văn hóa khiêu dâm. Đối với phụ nữ, việc ghiền loại văn hóa này chủ yếu diễn ra dưới hình thức tán gẫu (chat rooms). Phụ nữ nghiêng về tương quan. Họ thường ưa thích vào các “phòng chat” nơi họ có thể tự tạo cho mình một nhân vật giả (false persona). Ở đấy, họ có thể giả dạng bất cứ người nào họ muốn, và dấn thân vào các liên hệ gợi dục với đàn ông trên mạng bằng lời. Như thể họ đang cùng người đàn ông này viết ra câu truyện tiểu thuyết đầy lãng mạn giữa họ. Đó chính là điều làm họ ghiền! Nhất là đối với phụ nữ không hạnh phúc trong đời sống vợ chồng. Cũng có một số phụ nữ ghiền theo nghĩa thị giác. Một số thiếu nữ bị buộc vào con đường tình dục qua mạng chỉ vì bạn trai của họ nài nỉ, coi đó như một điều kiện cho mối liên hệ giữa họ với nhau. Chứ thật tâm họ không muốn thế. Đây là một vấn đề khác. [8] Và dù sao các việc này đều gây hậu quả nghiêm trọng và khó lường.
- Hậu quả của việc nghiện mạng [9]
Ngày nay xã hội phải đối diện với các nạn nhân của nhiều hình thức nghiện mạng. Các hình thức nghiện mạng có thể là cờ bạc, mua sắm, xem phim, trò chơi online, trao đổi cổ phiếu, đọc tin lung tung, nghiên cứu lung tung, và nghiện tình dục mạng (tình dục ảo).
Khi rơi vào nghiện mạng, nạn nhân có thể gặp các hậu quả sau:
– Xa rời tương tác xã hội thật.
– Thúc đẩy và làm tăng thêm cô lập và rút lui xã hội.
– Có thể đưa đến trầm cảm.
– Dễ mất tập trung khỏi những vấn đề quan trọng khác của đời sống thực.
– Thậm chí có người đã “mất mạng sống” khi “lướt mạng” nhiều giờ quên cả ăn ngủ. [10]
- Các hình thức tình dục qua mạng [11]
Tình dục qua mạng có thể dưới nhiều hình thức
– Sưu tập các hình ảnh hay câu chuyện mang tính kích dục
– Trao đổi thư điện tử với nội dung tình dục.
– Xem các loại phim khiêu dâm.
– Đưa lên mạng những hình ảnh gợi dục.
– Nói chuyện trao đổi kích dục bằng “phòng chát”
– Liên lạc với các cư dân mạng, chia sẻ những tưởng tượng cuồng loạn về tình dục, có thể dẫn đến tình dục ảo, điện thoại tình dục hay đưa đến việc gặp mặt thực sự.
Hoạt động tình dục mạng thường diễn ra vô danh, nên người ấy thường an tâm đi vào thực hành mà không e ngại người khác biết. Tuy nhiên trên thực tế, điều này cũng không thể giữ bí mật lâu dài.
Người sử dụng mạng để trao đổi tình dục có thể:
– Tạo lý lịch giả, che giấu hay thay đổi căn tính.
– Tạo hình tượng mới, thay đổi sở thích.
– Tạo nên một thế giới của tưởng tượng cuồng loạn về tình dục.
– Tương tác tình dục ảo bị hạn chế vào hình ảnh truyền tải, thay vì tương tác mặt đối mặt, với tiếp xúc mắt, tiếng nói, ngôn ngữ thân xác.
– Qua tưởng tượng cuồng loạn người ta có thể đưa ra bất cứ cái gì và có thể tạo được một sự thân mật tức thời.
Tình dục qua mạng được bao bọc bởi sự bí mật – kín đáo:
– Người nghiện không nói về điều đó cho ai cả.
– Nó trở thành một cách để đối phó với những đối kháng vô thức và ý thức trong lãnh vực tính dục.
– Có thể khám phá đề tài liên quan đến tình dục mà không phải tỏ lộ danh tánh, gốc gác.
– Cảm thấy được an toàn bởi tại phòng riêng và tính chất vô danh trên mạng.
Tình dục ảo hay mạng có thể trở thành nghiện khi cá nhân sử dụng hành vi tình dục ảo để thay đổi tâm trạng của mình, dù ý thức hay không ý thức. Các đặc tính nghiện tình dục ảo không khác với các loại nghiện khác:
– Có thể cảm thấy “hứng thú”, và cảm thấy trầm cảm khi hết hoạt động
– Có thể cố gắng dứt bỏ nhưng không thể.
– Ảnh hưởng đến công việc, đời sống gia đình, cộng đoàn, xã hội, và cầu nguyện.
– Cảm giác tội lỗi, xấu hổ.
– Trải qua nhiều thời gian trước máy vi tính, mất ngủ…
– Tình trạng trở nên trầm trọng hơn khi không kết nối được mạng.
Thường có sự tiến triển từ nghiện ít, thấp đến các hành động cao hơn: bắt đầu xem phim khiêu dâm miễn phí, rồi đến phim trả tiền, sau đó tìm cách liên lạc, thực hiện điện thoại tình dục, có thể thực hiện hành vi tình dục qua mạng bằng lời trao đổi, hình ảnh, kể cả gặp gỡ thật.
- TRÊN PHƯƠNG DIỆN LUÂN LÝ CÔNG GIÁO
Giáo lý Hội Thánh Công Giáo số 2354 dạy rằng:
Hình ảnh khiêu dâm cốt tại việc đem những hành vi tình dục, có thật hay giả vờ, ra khỏi vòng thân mật của những người trong cuộc, chủ ý phơi bày cho những người khác. Hình ảnh khiêu dâm xúc phạm đến đức khiết tịnh, bởi vì làm biến chất hành vi phu phụ, sự tự hiến thân mật cho nhau của đôi phối ngẫu. chúng xúc phạm cách nghiêm trọng đến phẩm giá của những người tham gia vào đó (diễn viên, kẻ kinh doanh, khán giả), bởi vì người này trở thành đối tượng mua vui thô lỗ và là nguồn lợi nhuận bất chính cho người khác. Hình ảnh khiêu dâm dìm hết người này đến người khác vào sự ảo tưởng của thế giới giả trá. Đó là một trọng tội. Chính quyền phải ngăn cấm việc sản xuất và phổ biến những hình ảnh khiêu dâm này.
Giám mục Robert Emmet Barron nhận định sự thật đáng buồn là, đối với những người trẻ thực hiện tình dục qua mạng internet, sự kích thích tình dục không còn gắn liền với con người bằng xương bằng thịt nữa, nhưng gắn liền với những hình ảnh nhấp nháy của những con người có diện mạo hoàn hảo trong một thực tại ảo. Ngoài ra, bởi vì họ bắt đầu từ khi còn quá trẻ, nên khi lớn lên, họ bị thôi thúc hướng về các phim ảnh khiêu dâm hoang dại và mức độ bạo lực ngày càng lớn hơn, nhằm để đạt được thỏa mãn cảm xúc thèm khát. Và điều này, đến lượt nó làm cho họ mất khả năng tìm thấy sự hứng thú trong tình dục bình thường, tức là nhẹ nhàng, không hoang dại bạo lực. [12]
Các lãnh vực cần quan tâm [13]
– Tình dục ảo đẩy mạnh thái độ “nhìn trộm” (voyeuristic) về tình dục – dần dần đi xa tình dục tương quan lành mạnh.
– Tình dục ảo tiếp thị kinh nghiệm phân mạng về tình dục: các phần của thân thể, y phục, xem người khác chỉ là “đồ vật”, đưa đến lệch lạc “sùng bái đồ vật” (fetishism).
– Tình dục ảo cô lập cá nhân và tính dục của mình. Không có sự trao đổi trực tiếp hay phản hồi khách quan. Đưa đến một sự phát triển nhân cách không lành mạnh.
– Hoạt động tình dục ảo cô lập cá nhân khỏi những giao tiếp xã hội với đồng lứa.
– Có thể đưa đương sự vào những nguy cơ như trơ lì về những gì liên quan đến tính dục một cách đúng đắn, hoặc làm lương tâm và ý thức trở nên mờ nhạt và tăm tối về các vấn đề tính dục hay tương quan với người khác.
– Hoạt động tình dục mạng tạo nên và mở rộng mọi thể loại văn hóa khiêu dâm.
– Hoạt động tình dục mạng ở các môi trường tôn giáo như trong cộng đoàn, giáo xứ, giáo phận có thể đưa đến nguy hại luân lý và thanh danh, vì người ta có thể truy ra nơi sử dụng.
Tác hại của nền văn hóa khiêu dâm [14]
Giáo hội Công Giáo, và tất cả xã hội đứng đắn, đều coi phim khiêu dâm:
– Là “một sự phương hại về đạo đức”.
– Một sự “xuyên tạc sâu sắc tính dục con người”.
– Một sự “chà đạp lương tâm con người ”tới mức, “coi họ không hơn một đồ vật” nhằm thỏa mãn khao khát dục vọng.
Sự xuyên tạc này tạo nên nhiều vấn đề trên phương diện thể lý, tâm lý, luân lý và thiêng liêng. Những hậu quả đi kèm theo vấn nạn này sẽ không được tiếp cận đến đầy đủ, nếu vấn nạn tiềm ẩn chưa được giải quyết thỏa đáng.[15]
III. MỤC VỤ ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHIỆN VĂN HÓA KHIÊU DÂM VÀ TÌNH DỤC QUA MẠNG
- Thành phần có nguy cơ cao [16]
– Các vấn đề thông thường dẫn tới việc ghiền văn hóa khiêu dâm là: lòng vị kỷ, một số hình thức cô đơn, bất an về nam tính nên tìm cách khẳng định nam tính qua hành vi tình dục, áp lực nặng nề của công việc, khủng hoảng tương quan vợ chồng, khủng hoảng đời tu.
– Kỹ năng giao tiếp và thân mật kém: xa lánh bạn bè, có vấn đề với bạn bè, khuynh hướng sử dụng internet để tránh lúng túng trong giao tiếp xã hội.
– Có tiền sử về những khó khăn tình dục chưa giải quyết. Tiền sử về chấn thương tâm lý.
– Trầm cảm, hay bất ổn cảm xúc (dysthymia) ở một mức độ nào đó.
– Đời sống thiêng liêng nghèo nàn.
- Phòng ngừa thanh thiếu niên rơi vào bẫy tình dục qua mạng internet
Một phương án cực đoan là một số phụ huynh cấm đoán con cái sử dụng internet. Đây không phải là một giải pháp hay, bởi internet ngày nay là một phương tiện quan trọng cung cấp kiến thức và học hỏi, nghiên cứu, trao đổi, làm việc…
Thay vì cấm đoán, cha mẹ nên trang bị cho con những kiến thức cần thiết để tự bảo vệ mình như: không để lộ thông tin cá nhân, không nói chuyện trên mạng về tình dục, chia sẻ ngay với cha mẹ, người thân nếu ai đó cố tình nói về vấn đề tình dục, không hẹn hò gặp mặt với người mới quen qua mạng mà không có sự chia sẻ thông tin và cho phép của cha mẹ… Cha mẹ nên có quy định rõ ràng về việc sử dụng internet của con. Chẳng hạn thời gian sử dụng internet mỗi ngày, các trang mạng nào được cho phép và trang nào thì không. Để làm được điều này, bố mẹ cũng có thể sử dụng các phần mềm kiểm duyệt, để cài đặt thời gian sử dụng hoặc áp dụng tính năng như chặn linh hoạt, cho phép chặn các trang mạng xấu được phân loại sẵn. [17]
Tuy nhiên để con cái có thể cởi mở thông tin, cần thiết phải xây dựng mối quan hệ gần gũi, tin cậy giữa cha mẹ và con cái ngay từ nhỏ. Các trẻ em phải sống trong cảnh gia đình cha mẹ ly hôn, thiếu sự quan tâm của cha mẹ thường có xu hướng tìm bạn trên mạng để khỏa lấp nỗi buồn, dễ trở thành con mồi của kẻ xấu. [18]
- Phương cách giúp đỡ người nghiện văn hóa khiêu dâm
– Quan tâm đến những người có nguy cơ cao, nhất là trong lúc bị stress, những người tương giao kém, và có các vấn đề tình dục.
– Đặt vấn đề hoạt động tình dục mạng tại các buổi hội thảo, tạo cơ hội để bàn thảo về đề tài này và các đề tài liên hệ đến tính dục.
– Khuyến khích chứng tỏ sự đáng tin cậy trong việc sử dụng thời gian, thời gian giao tiếp xã hội, giảm thiểu cơ hội sử dụng vi tính một mình.
– Đặt vi tính ở những nơi công cộng hay công khai. Chú ý kiểm soát việc loan truyền sản phẩm khiêu dâm qua đường điện thoại di động.
- Tiến trình chữa lành người ghiền văn hóa khiêu dâm [19]
Trước hết cần xác định, ai là người ghiền văn hóa khiêu dâm? Theo Kleponis, người thường tiếp xúc với văn hóa khiêu dâm không nhất thiết là người ghiền các sản phẩm đó. Cần đặt thêm cho họ các câu hỏi này: bạn có bị lôi cuốn vào đó hay không, bạn có hay nghĩ nhiều tới nó hay không? Bạn có trông chờ mau chóng về nhà để được vào mạng, coi các sản phẩm khiêu dâm cho thỏa thích không? Bạn có mong nó sẽ giải quyết các căng thẳng của bạn phát sinh do sự cô đơn, cảm thức bất ổn phái tính hay do áp lực công việc hay không? Bạn có thấy thật khó khăn khi phải đi vắng một thời gian mà không được xem các sản phẩm khiêu dâm hay không? Nếu các câu trả lời là “có”, thì hầu như là bạn đã ghiền văn hóa khiêu dâm rồi!
Tiến trình chữa lành phải bắt đầu bằng việc nhìn nhận mình có vấn đề đối với văn hóa khiêu dâm, rồi cố gắng tìm hiểu mình cũng như các nguyên nhân tạo ra tình trạng ghiền sản phẩm khiêu dâm kia. Để được chữa lành, nạn nhân không thể hành động một mình được. Kleponis đề nghị phương thức sáu điểm như sau: che chở của gia đình; hỗ trợ của những người cùng trang lứa; tư vấn hay tự tìm hiểu nguyên nhân gây ra việc ghiền khiêu dâm; lớn lên trong đức tin và thực hành nhân đức; tình bạn; và giáo dục.[20]
Đối với các thanh niên độc thân, Kleponis nhắc rằng khi bước chân vào con đường ghiền văn hóa khiêu dâm, họ thực sự đã đi vào chủ nghĩa vị kỷ sâu xa, một trở ngại sẽ phá hủy khả năng tương quan lành mạnh với phụ nữ trẻ. Các người này phần lớn thiếu tự tin trong giao tiếp với phụ nữ và do đó, thường lo âu. Các phụ nữ họ thấy trong sản phẩm khiêu dâm không có cảm xúc, nhu cầu hay ý kiến. Vì thế, khi ra khỏi thế giới ảo và gặp gỡ phụ nữ trong thực tế, là những người có cảm xúc, có ý kiến, họ lúng túng không biết cách cư xử đúng mực, nên đành rút lui trong bất an và giận dữ. Kleponis khuyên các bậc cha mẹ nên lưu ý tới cuộc khủng hoảng này và dạy cho con cái sự thật về luân lý tính dục và các nguy hiểm của văn hóa khiêu dâm cũng như các thói quen thủ dâm tai hại.
Cần nhận định các yếu tố dẫn đến ghiền khiêu dâm và giải quyết từng yếu tố. Việc gia tăng sự trợ giúp của những người đồng trang đồng lứa hay tình bạn đều mang hiệu quả tích cực. Chia sẻ với người phối ngẫu hay với một người bạn thân các khó khăn của mình là điều hữu ích. “Người anh được em giúp đỡ là một thành vững chắc và cao ngất” (Cn 18,19).
- Các nhân đức đặc thù
Tập luyện nhân đức góp phần thoát khỏi cạm bẫy này. Người tập luyện lớn lên trong nhân đức, thường ít bị thương tổn bởi nạn khiêu dâm. Các nhân đức giúp ta chống lại sự cô đơn là chia sẻ, nhìn nhận phận người yếu đuối, không quá cậy dựa vào chính mình, là tín thác và tin vào tình yêu Thiên Chúa. Tuy ở vài thời điểm tăng trưởng nhất định nào đó, ta có thể cảm thấy mình không được yêu thương.
Các nhân đức giúp ta thoát khỏi lòng vị kỷ là quảng đại dâng hiến cho người thân, cho tha nhân, cho quê hương, là khai triển tình bạn cởi mở với người phối ngẫu, là hãm mình, lòng biết ơn, tinh thần trách nhiệm, sự điều độ, lòng khiêm nhường. Kính yêu Chúa Giêsu nhiều hơn. Tất cả các nhân đức ấy động viên ta đừng gây thêm hại và đau đớn nữa, bằng cách xa lánh văn hóa khiêu dâm.
Ngoài ra, các nhân đức giúp người thanh niên lớn lên trong niềm tự tin vào nam tính của mình là sự biết ơn đối với các ân ban của Chúa, trong đó có thân xác mình, là tha thứ cho những ai đã gây hại đến niềm tự tin của chính mình, là tình bạn lành mạnh. Lớn lên trong niềm tin sẽ giúp người trẻ biết trông cậy vào sự hiện diện của tình yêu Thiên Chúa và của Đức Maria.
Các nhân đức giúp giảm bớt sự giận dữ thái quá phát sinh do cô đơn và buồn bực, là lòng tha thứ, biết cảm thương, lòng tốt, biết tôn trọng người khác và khiêm tốn. Các nhân đức giúp chống lo âu xao xuyến là tín thác, dứt bỏ, không quyến luyến lệch lạc, khôn ngoan đủ để thấy được sự tốt lành nơi người phối ngẫu, người thân và tin vào tình yêu chữa lành của Thiên Chúa cũng như khả năng của Thiên Chúa có thể cất các gánh nặng cũng như lo âu của đời sống hằng ngày. Lớn lên trong nhân đức, người trẻ sẽ cảm nhận được một hạnh phúc và thỏa mãn hơn trong việc tự hiến bước theo ơn gọi làm người của mình.
Để chống lại sự cô đơn ngăn cách giữa vợ chồng, vợ chồng cần bảo vệ tình yêu lãng mạn của họ, xây dựng tình bạn phu thê, tình yêu lúc mới đính hôn trong đó có biết bao là thân mật gần gũi. Họ phải dành càng nhiều thì giờ cho nhau càng tốt, vào những buổi tối cùng nhau và phải chuyện trò, chia sẻ với nhau. Chia sẻ là điều cốt yếu trong bất cứ tình bạn phu thê nào.
Đối với trẻ em, cần làm cha mẹ có trách nhiệm, không buông thả mà cũng đừng kiểm soát quá đáng. Buông thả là thái độ thường thấy trong nền văn hóa ngày nay, từng góp phần tạo ra nạn khiêu dâm. Cha mẹ thuộc loại này thường không chịu sửa phạt tính vị kỷ nơi con cái, mà đôi khi còn làm gương xấu cho chúng nữa. Họ thường yếu về đức tin và không hướng dẫn con cái một cách hữu hiệu về phương diện thiêng liêng để chúng tránh không bị ám ảnh bởi thân xác và tình dục quá phổ biến trong nền văn hóa hiện nay. Họ cũng thường thất bại, không cảnh giác con cái về các nguy hiểm của nạn khiêu dâm, thói quen thủ dâm và nền văn hóa trụy lạc.
Việc làm cha mẹ có trách nhiệm khiến họ cam kết đào luyện con cái mình trong nhân đức, cảnh giác chúng về các nguy hiểm của việc dùng người khác như đối tượng thỏa mãn tình dục, yêu thương sửa dạy con cái và dạy chúng vẻ đẹp tính dục con người trong kế hoạch của Thiên Chúa dành cho bí tích hôn phối. Cha mẹ cho các con thấy và dạy chúng biết rằng tình yêu có tính bí tích của vợ chồng làm cho tình yêu và vẻ đẹp của Chúa Ba Ngôi hiện diện trong thế giới.
Phần quan trọng khác của tiến trình chữa lành là giáo dục. Ảnh hưởng của não trạng ngừa thai trong 50 năm qua liên quan tới tình yêu vợ chồng và tính dục. Não trạng này khiến nhiều người nam coi người nữ như đối tượng để thỏa mãn tình dục. Nó góp phần rất nhiều vào nạn dịch khiêu dâm. Đức Cha Paul Loverde của Giáo Phận Arlington, Virginia, trong một lá thư mục vụ viết về nạn khiêu dâm, đã nhắc nhở giáo dân: “Con người tiệm tiến bồi đắp hay hủy diệt nhân cách mình bằng từng và mỗi một quyết định luân lý. Khi cái nhìn của con người hướng vào chỗ lầm lạc, họ trở nên loại người sẵn sàng sử dụng người khác làm đối tượng để thỏa mãn khoái cảm”.
Đức tin có vai trò rất quan trọng. Nhiều người đang khốn khổ vì cơn ghiền văn hóa khiêu dâm, tình dục qua mạng này cảm thấy được nâng đỡ và đầy ơn sủng khi biết nhìn nhận sự bất lực của mình và phó thác cho Chúa. Bí tích hòa giải, Bí tích Thánh thể, việc linh hướng, đọc Thánh Kinh, cầu nguyện, đặt kế hoạch thiêng liêng cho đời sống sẽ giúp ta dễ dàng trong giải quyết các khó khăn đã dẫn ta vào con đường đam mê các sản phẩm khiêu dâm.
- Vấn đề sử dụng mạng internet trong các cộng đoàn tu và đại chủng viện
Sau đây là vài suy tư của một số nhà đào luyện:
– Việc sử dụng vi tính, sử dụng mạng ngày nay rõ ràng là một nhu cầu, đặc biệt cho các dòng tu tông đồ và đại chủng viện.
– Nhưng mức độ của nhu cầu ấy cần phải được lượng định cách trung thực.
– Thời gian sử dụng mạng và việc sử dụng vi tính trong phòng riêng là vấn đề cần được thảo luận.
– Hiện nay, các cộng đoàn huấn luyện ở các dòng tu và đại chủng viện đều hạn chế và kiểm soát việc sử dụng internet của ứng sinh, với các mức độ khác nhau. Vấn đề đặt ra là sau khi vĩnh khấn hoặc chịu chức phó tế, linh mục, hay thời gian về thăm gia đình dịp hè hay tết, họ lại được tự do khá nhiều trong việc sử dụng mạng. Người huấn luyện cũng không thể có mặt khắp nơi để “canh chừng” ứng sinh. Lo rằng khi ấy họ lại “quá đà” sử dụng cho “đã thèm” thì lại phản tác dụng. Có lẽ quan trọng và hữu hiệu hơn hết là huấn luyện cho người ứng sinh được trưởng thành, biết sử dụng tự do cách đúng đắn, biết phân định lợi ích và tác hại của việc sử dụng mạng. Người thụ huấn sẽ là người quyết định ơn gọi của chính mình triển nở và thăng tiến hay không. Người huấn luyện chỉ đóng vai trò hỗ trợ, hướng dẫn, không thể “tu thế” cho người thụ huấn. [21]
KẾT
Trong Buổi Triều Yết Chung tại Quảng Trường Thánh Phêrô, suy tư đoạn Tin Mừng trong ngày về câu hỏi của một thanh niên trẻ hỏi Chúa Giêsu: “Con phải làm gì để được sự sống đời đời?” Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói người Kitô hữu phải theo đuổi con đường của đời sống thật, tình yêu thật, sự giàu có thật của Nước Trời! [22]
Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGM VN Số 108 (tháng 9 & 10, năm 2018)
__________
[1] Đan Sĩ (Theo Vatican Radio), “Đức Giáo Hoàng Tập Trung Vào Vấn Đề ‘Tin Giả’ Trong Thông Điệp Ngày Thế Giới Truyền Thông 2018”, 30/09/2017, Tại <http://masimpress.com>
[2] “Đức Giáo Hoàng Tập Trung Vào Vấn Đề ‘Tin Giả’ Trong Thông Điệp Ngày Thế Giới Truyền Thông 2018”.
[3] X. Vũ Văn An, “Tâm lý trị liệu và văn hóa khiêu dâm”, tại <http://vietcatholic.org>
[4] X. Gm Robert Emmet Barron, “ Porn and the curse of total sexual freedom”, <http://www.wordonfire.org>
[5] X. PV/VOV.VN “Giới trẻ có nguy cơ bị lạm dụng tình dục trên mạng”, 07/06/2016 <http://vov.vn>
[6] X. PV/VOV.VN “Giới trẻ có nguy cơ bị lạm dụng tình dục trên mạng”.
[7] Theo Bizlive, “Sử dụng Internet phải như ‘quan hệ tình dục an toàn’!” 2/7/2015, <https://viettimes.vn>
[8] Trích trong Vũ Văn An, “Tâm lý trị liệu và văn hóa khiêu dâm”.
[9] Trích trong Nguyễn Đình Vịnh, “Cảm tính và dục tính: Những vấn đề liên quan đến tính dục đối với các Tu sĩ/ Linh mục”.
[10] Đ. Hà, K, Giang, “Một thanh niên chết do chơi game kiệt sức?”,01/07/2017 <https://tuoitre.vn>
[11] Trích trong Nguyễn Đình Vịnh, “Cảm tính và dục tính: Những vấn đề liên quan đến tính dục đối với các Tu sĩ/ Linh mục”.
[12] X. Gm Robert Emmet Barron, “Porn and the curse of total sexual freedom”.
[3] Trích trong Nguyễn Đình Vịnh, “Cảm tính và dục tính: Những vấn đề liên quan đến tính dục đối với các Tu sĩ/ Linh mục”.
[4] X. Gm Robert Emmet Barron, “Porn and the curse of total sexual freedom”.
[5] X. Gm Robert Emmet Barron, “Porn and the curse of total sexual freedom”.
[6] Trích trong Nguyễn Đình Vịnh, “Cảm tính và dục tính: Những vấn đề liên quan đến tính dục đối với các Tu sĩ/ Linh mục”.
[7] “Xâm hại tình dục qua mạng: ‘Vaccine’ phòng ngừa nào cho trẻ?”, 02/08/17 <https://baomoi.com>
[8] Kim Thoa, “Báo động tình trạng trẻ bị xâm hại tình dục qua mạng”,19/01/2015 <https://tuoitre.vn>
[9] Trích trong Vũ Văn An, “Tâm lý trị liệu và Văn Hóa khiêu dâm”.
[20] Vũ Văn An, “Tâm lý trị liệu và văn hóa khiêu dâm”.
[2] Trích trong Nguyễn Đình Vịnh, “Cảm tính và dục tính: Những vấn đề liên quan đến tính dục đối với các Tu sĩ/ Linh mục”.
[22] Đan Sĩ, (Theo Vatican News) “Đức Giáo Hoàng Trong Buổi Tiếp Kiến Chung: Người Kitô hữu Phải Đi Theo Con Đường Thật, Tình Yêu Thật, Sự Giàu Có Thật”, 14/06/2018, <http://masimpress.com> Trần Như Ý Lan, Dòng Đức Bà
2020
Cần Lắm, Thần Khí Sự Thật
Cần Lắm, Thần Khí Sự Thật
Làm sao để có nhãn quan mới, suy nghĩ mới và sự hiểu biết mới để biện phân, để chọn lựa, để xác tín?
Khi Đức Giêsu loan báo việc ra đi, các môn đệ cảm nhận những việc bi thảm sắp xảy ra, lòng dạ rối bời. Nhưng Đức Giêsu đoan chắc Người sẽ không để họ mồ côi, Người sẽ đến với họ. Họ sẽ thấy Người sống và chính họ cũng sẽ sống. Lúc mắt họ mở ra, tâm trí họ hiểu được, lòng họ bừng sáng, họ sẽ nhìn thấy Người trong cái nhìn mầu nhiệm hiệp thông lạ lùng: “Ngày đó anh em sẽ biết rằng Thày ở trong Cha Thày. Anh em ở trong Thày và Thày ở trong anh em.”
Các điều răn của Đức Giêsu không chỉ là những giáo huấn về luân lý, mà còn diễn tả một mầu nhiệm của sự kết hợp sâu xa trong tình hiệp thông yêu thương, một cách sống “thần linh” do bởi Người luôn giữ các giới răn của Chúa Cha và luôn ở trong Chúa Cha.
Với Chúa Giêsu, tình yêu chân thật chỉ có thể chứng minh bằng sự vâng lời chân thành chứ không phải là một thứ cảm xúc, một cách ứng xử. Vì “nếu” các môn đệ yêu mến Thày, họ sẽ vâng lời Thày, như Đức Giêsu đã chứng minh Người rất mực yêu mến Chúa Cha qua sự vâng lời trọn vẹn, và Chúa Cha đã không bỏ rơi Người, thì các môn đệ sẽ nhận được một món quà Thần linh gửi tới từ Chúa Cha, là Đấng Bảo Trợ khác đến ở với họ luôn mãi.
Khi ở với các môn đệ, Đức Giêsu là Đấng Bảo Trợ cho họ. Người biện hộ, bảo vệ họ trước sự chỉ trích, phê phán của người Do thái; Người mặc khải các mầu nhiệm, dạy dỗ, yên ủi họ, giúp họ can đảm, thì giờ đây, Người hứa sẽ xin Chúa Cha ban cho họ Đấng Bảo Trợ khác là Thần Khí Sự Thật sẽ đến ở trong họ, ở với họ để hướng dẫn và giúp họ có khả năng đối phó với mọi hoàn cảnh.
Thần Khí Sự Thật đã tỏ mình qua Đức Giêsu. Thần Khí ấy sẽ đưa các môn đệ vào trong “sự thật”, sẽ che chở họ khỏi tinh thần thế gian, sẽ hoạt động trong tâm trí và trong tâm hồn họ, giúp họ đi sâu vào mầu nhiệm Đức Giêsu kết hiệp với Chúa Cha, và nhờ Người, họ được kết hiệp với Đức Giêsu, như Đức Giêsu hằng kết hiệp với họ.
Chỉ có các môn đệ mới biết Thần Khí Sự Thật và mọi hoạt động của Người, còn thế gian thì không. Nhờ đó, họ có nhãn quan mới, suy nghĩ và hiểu biết mới, có được những những kinh nghiệm mới để biện phân, để chọn lựa, để xác tín.
Không những thế, Đức Giêsu còn hứa sẽ đến cùng họ trong một dạng thức khác. Thế gian cứ tưởng là không có Đức Giêsu vì không thấy Người, nhưng các môn đệ vẫn nhận ra sự hiện diện của Người, sự hiện diện của một Đấng đang sống, và vì thế, họ cũng sẽ được sống.
Ở với các môn đệ một cách hữu hình, được cảm nhận qua những giác quan không phải là cách hay nhất, hữu hiệu nhất. Đức Giêsu hé mở cho họ biết về một cách thức hiện diện mới, không gì có thể ngăn cản, không gì có thể chia lìa, vượt trên thời gian và không gian, vượt lên trên cả những quy luật vật lý hạn hẹp của địa cầu. Khi “Ngày đó” đến, họ sẽ biết Đức Giêsu hằng ở trong Chúa Cha, họ được ở trong Người và Người ở trong họ.
Đó là điều sẽ xảy ra sau khi Chúa Giêsu từ cõi chết sống lại. Dù Đấng Phục Sinh chưa cho họ thấy tất cả sự vinh hiển của Người, nhưng các môn đệ đã được soi sáng để biết mầu nhiệm Thiên Chúa ở cùng.
Nhắc lại việc tuân giữ các điều răn mà Người đã ban cho các môn đệ, Đức Giêsu muốn họ lấy đức tin mà đón nhận Lời Người. Những ai gắn bó với các giới răn của Người mới có thể nhận được Thần Khí Sự Thật, và mở ra với tình yêu của Đức Giêsu và của Chúa Cha, trong sự kết hợp sâu xa của tình hiệp thông yêu thương thần linh. Đó là những gì Đức Giêsu muốn tỏ cho họ biết.
Chúng ta sẽ chẳng bao giờ nhận được Chúa Thánh Thần nếu chỉ tin mà không tuân giữ Lời Đức Giêsu, chỉ muốn thấy một Đức Giêsu không có bóng dáng thập giá, không dám coi tất cả mọi sự là rác, là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Kitô Giêsu và được kết hợp với Người, không muốn trở nên đồng hình đồng dạng trong cái chết của Người, làm sao hy vọng có ngày cũng được sống lại từ trong cõi chết? (x. Pl 3,8-11).
Lm. Giuse Ngô Văn Kha, CSsR
2020
Pleiku – Ngày Xưa Xa Lắm
Pleiku – Ngày Xưa Xa Lắm
Tuy tôi sống ở Pleiku từ đầu thập kỷ 60 của thế kỷ trước nhưng những việc trước đó tôi cũng chỉ biết mang máng vì thế tôi đã gặp các cụ cao niên đã từng đặt chân lên đất Pleiku này từ những năm 50 để xin các cụ tiết lộ đôi điều mà chúng ta ít tìm thấy, hoặc không thể tìm đọc trên các tài liệu in ấn…
Nơi đầu tiên mà bất cứ ai đặt chân xuống một vùng đất lạ đều lưu lại trong tâm khảm mình một ấn tượng, một kỷ niệm khó phai, có lẽ khá nhiều người đồng ý, là cái bến xe, điểm dừng của cuộc hành trình đến miền đất lạ!
Các cụ hiện nay đã ở tuổi 84 và các ông bạn cùng lứa tuổi tôi nữa đều là những người đã từng lên Pleiku sống và lập nghiệp từ năm 1957-58 (thời điểm chính quyền Ngô Đình Diệm đưa dân các tỉnh miền Trung lên các khu dinh điền ở Pleiku), họ đều nhớ lại và cho biết: vị trí cái bến xe đầu tiên hồi ấy là cái vườn hoa cạnh chợ chùa đường Sư Vạn Hạnh (tức vườn hoa Quách Thị Trang trước 75, nay là vườn hoa Kpa Klơng),
gần đó là nơi người dân họp chợ và cũng là nơi các đồng bào dân tộc thiểu số thường từ làng ra để trao đổi hàng hóa nằm lùi sâu vào phía gần chùa Bửu Thắng. (Điều đó phù hợp với suy luận, nếu có một chỗ gọi là bến xe được sử dụng trước khi bến xe Chợ Mới được hình thành và đưa vào sử dụng phải ở gần nhà làng xã Hội Thương-Hội Phú (dãy nhà cách tiệm phở Hoàng đường Hùng Vương bây giờ 1 con hẻm), nơi này gần như là trung tâm thị xã với đường phố chính mang tên Hoàng Diệu đi qua).
Nếu vào những năm đầu của thập niên 60, trên đường phố Sài Gòn và trên đường phố của Buôn Ma Thuột, một tỉnh lân cận Pleiku, người ta vẫn còn thấy những chiếc xe ngựa chở người và hàng hóa và mãi đến năm 65-66 tại SG mới có chương trình của chính quyền thời bấy giờ hỗ trợ cho các bác xà ích mua xe Lambretta 175cc và giúp họ thi lấy bằng lái dễ dàng thì tại Pleiku khoảng những năm từ 1960 trở đi đã vắng bóng xe ngựa mà hồi ấy người ta đã dùng xe ba gác đạp và xe ba gác gắn máy,
sau đó nhanh chóng tậu ngay chiếc xe Lam ba bánh để sử dụng từ những năm 1963 (vì thế có tài liệu cũ nói: đến năm 1964, Pleiku đã có khoảng 40 chiếc trilambretta lưu hành trên các tuyến đường nội thị). Xe ngựa tuy không xuất hiện trên đường phố chính nhưng ở những nơi thôn quê hẻo lánh có thể vẫn còn một vài chiếc xe ngựa dùng để chở rơm rạ, còn đa số người dân hồi ấy đã sử dụng xe bò, xe trâu trong công việc đồng áng.
Sau đời xe Lambretta này, hãng sản xuất đã cho ra đời các chiếc xe Lambro 550 (nhiều người nhầm tưởng là 550cc nhưng thực tế xe này dung tích 198cc và chở được 550kg, tức khoảng 10 đến 12 người lớn), hiện nay có chiếc vẫn còn chạy được, nhưng bị đưa vào danh sách xe bị cấm lưu thông trên đường vì mất an toàn.
Phi trường đầu tiên tại Pleiku, theo các cụ, ban đầu ở cái làng lúc đó có tên gọi là Trà Nhao (nay là làng Nhao, dưới chân núi Hàm Rồng).
Hồi đó, phi đạo bằng đất chứ chưa trải bê tông nhựa đường như hiện nay, sau đó người Pháp chủ sở trà Bầu Cạn mới làm một phi trường tư nhân ở khu vực hồi đó là làng Gia Tường (ngày nay là Ia Từng). Những năm trước thập niên 60 các máy bay dân sự của Air VN (Hàng Không VN trước 1975) vẫn đáp xuống phi trường này. Năm 1961 chính quyền VNCH xây dựng phi trường quân sự Cù Hanh và trong đó có dành một khu vực cho máy bay dân sự, ngoài ra còn có phi trường quân sự AREA…
Các cụ cao niên của Pleiku gọi phi trường Cù Hanh là cái phi trường thứ ba (sau 2 cái phi trường tạm bợ ban đầu vừa kể trên). 3. Những cư dân người Việt đến Pleiku từ nhiều con đường khác nhau: một số người dân gốc Bình Định có lẽ là những người Kinh vượt đèo An Khê và đèo Măng Giang để đặt chân lên đất Pleiku sớm nhất (ít ra là cũng vào thời kỳ ba anh em nhà Tây Sơn tụ nghĩa ở thôn An Lũy, An Khê-tức là Tây Sơn Thượng Đạo) vì 2 tỉnh ở lân cận nhau, một số khác là người Quảng Nam được đưa lên theo chương trình Dinh Điền của thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm (đó là những người dân khu vực Lệ Cần, Lệ Chí, Nam Giang Hà Bầu v.v) và những người khác là người Bắc sau cuộc di cư vào Nam năm 1954, nhiều người trong số họ đặt chân đến Pleiku từ những năm 1957-1958.
Dân số toàn tỉnh Pleiku vào những năm đầu 60 chỉ mới khoảng xấp xỉ 160 ngàn người, trong đó có khoảng 60 ngàn người Kinh.Ngoại kiều sống trên đất Pleiku lúc bấy giờ chỉ vào khoảng hơn 30 người một chút, trong đó có: người Mỹ (có lẽ khoảng 4,5 người gì đó, là gia đình vị mục sư Tin Lành); người Pháp (khoảng 7,8 người, gồm: bà sơ Nhất (sœur supérieure), người sáng lập trường Văn Đức (nay là trường Chu Văn An nằm trên đường Phan Đình Phùng) và trường Thánh Phao Lô; những người trong gia đình ông chủ sở trà Bầu Cạn…) và số còn lại là người Ấn là chủ khoảng gần 10 tiệm vải (khoảng trên dưới 20 người ),
Hồi đó, người ta hay gọi là người Chà Và (do đọc trại từ chữ Java), sau 1975 đa số người Ấn đã không quay về lại Pleiku nữa, người ta chỉ còn thấy ông cụ chủ tiệm ăn Mỹ Vị (nay đã mất), có thời gian ông là chủ tịch câu lạc bộ fan túc cầu Gia Lai, các con ông nay có người đang bán tại tiệm phở khô đường Nguyễn Văn Trỗi (tức đường Phó Đức Chính cũ).
Người Hoa cũng khá nhiều nhưng các tài liệu thường kể gộp chung với người Kinh nên không có số liệu riêng (quý thân hữu nào có thì xin cung cấp cho mọi người cùng biết). Tuy nhiên, nếu suy đoán từ số lượng học sinh của trường Tuyên Đức chuyên thu nhận các con em người Hoa thì số lượng người Hoa khoảng từ 300 đến 500 người .
Thời ấy, họ vẫn giữ tục lệ không gả con gái cho người Việt; những người Việt gốc Hoa này rất đoàn kết giúp đỡ những người cùng bang hội trong kinh doanh.
Rất nhiều người trong số họ nắm giữ những cửa tiệm, cơ sở kinh doanh to lớn, làm ăn phát đạt như: rạp Diệp Kính, tiệm ăn và bi da, banh lắc Xuân Lợi, tiệm ăn Mỹ Tâm, tiệm sâm bổ lượng Nam Viên (đường Phan Bội Châu), tiệm ăn Hiệp Thành, tiệm ăn Đông Kinh, kho gạo Trần Tỷ, phở Tàu Lý, bi da Hào Huê, cơ sở chế biến cà phê Đông Sanh, Đông Hưng, tiệm thuốc bắc Bảo Thọ Xuân (sau 75 vẫn còn ông thầy Mười, người chuyên đứng bốc thuốc bắc, đứng bán thuốc bắc bằng một cái xe nhỏ đẩy đặt tại ngã tư Phan Bội Châu -Hùng Vương… được độ vài năm thì ông mất ), Tế Dân, Tế Phước đường, các tiệm tạp hóa Hưng Phát, Phước Thành đường Hoàng Diệu, tiệm sắt Kim Ngươn, các tiệm tạp hóa của ông Kim, ông Thìn đầu hẻm chợ nhỏ Lê Lợi…
Rạp chiếu bóng Diệp Kính có từ trước năm 1960 do ông Diệp Kính xây dựng, bên cạnh rạp là phòng ngủ (nay là khách sạn Hùng Vương) và cây xăng. Rạp này chuyên chiếu phim Ấn Độ lồng tiếng Việt (tuy thế, hồi bé, tôi đã được bố tôi dẫn đến rạp này để xem phim Les misérables, lúc ấy họ dịch là “Những kẻ khốn nạn”) và một rạp chuyên để cho các gánh cải lương, hát bộ đến diễn là rạp Thăng Long.
Nơi này ban đầu là trụ sở Hội Liên Đới Phụ Nữ, khoảng 1960 bà Đỗ Thị Quả nhận thầu khai thác, bà đã sửa chữa, tôn tạo lại thành rạp Thăng Long (nên người ta gọi bà cụ này là bà Thăng Long); sau này các gánh cải lương lưu diễn thưa dần nên đổi tên thành rạp Cinéma Thanh Bình.
Mãi đến khoảng năm 1965 mới có thêm rạp Diên Hồng trên chợ Mới, chuyên chiếu phim và cho các trường học thuê làm nơi diễn văn nghệ và phát phần thưởng cuối năm. (Bà Thăng Long cũng là người đã tập hợp các bạn bè đồng hương của mình để tôn tạo và xây dựng một điện thờ theo đạo Mẫu Việt Nam nhưng sau khi tôn tạo vào năm 1961, cư dân Pleiku vẫn gọi điện thờ này là “Am Bà”, am này tồn tại đến khoảng năm 1994 gì đó?). 5. Đất đỏ ba dan phù hợp với cây trà nên ngay từ đầu, người Pháp đã thành lập ra sở trà Bầu Cạn và sở trà Biển Hồ, Cả 2 đồn điền trà này đều có trồng cả cây cà phê nhưng sản vật chủ yếu của họ vẫn là trà.
Trong nội thị có vườn cà phê của bà Sơ dòng Mến Thánh Giá trải dài từ hàng rào giáp ranh với trường Nam Tiểu học Pleiku lên đến hàng rào trường tư thục Tuyên Đức dành cho con em người Hoa và một số vườn cà phê nhỏ nữa nằm rải rác dọc đường Phan Đình Phùng (ước lượng toàn bộ độ 5 đến 6 mẫu).
Riêng đồn điền IMATZ thuộc quận Lệ Thanh có diện tích trồng cà phê khoảng 100 mẫu với sản lượng mỗi năm độ 20 tấn và đồn điền Ia Châm (nằm trên huyện Ia Grai bây giờ) cũng có khoảng hơn 100 mẫu cà phê cho sản lượng độ 21 tấn.
Tuy thế số liệu về cà phê xuất ra khỏi tỉnh vào thời điểm năm 1963 chỉ có 400 Kg thì e rằng nhầm (vì sản lượng toàn tỉnh khoảng gần 50 tấn cà phê mà chỉ xuất có 400kg thì ngần ấy người Pleiku tiêu thụ sao cho hết mấy chục tấn cà phê?).
Nhiều cụ cao niên từng là công nhân của nhà máy đèn Pleiku và một công nhân lâu năm của sở trà Bầu Cạn đều nhớ rằng ngày trước người Pháp đã đưa điện từ nhà máy thuỷ điện Bầu Cạn ( xây dựng năm 1950 ) về bán điện cho Trung Tâm Điện Lực Pleiku. Mãi đến năm 1963 đường dây điện từ Bầu Cạn về Pleiku mới bị rỡ bỏ chỉ còn để lại đoạn đường dây 15KV cấp điện cho nhà máy chế biến chè Bầu Cạn (cái tua bin thủy điện này được coi là cái máy phát điện lâu năm nhất của Pleiku và đoạn đường dây đưa về nơi chế biến trà này hiện nay vẫn còn đang vận hành tốt).
Còn nguồn nước chính tại khu trung tâm Pleiku là hầm nước xây bê tông tại cuối dốc lò ba toa (tức là lò mổ, lò bò, lò sát sinh dưới dốc đường Trần Hưng Đạo hiện nay, mạch nước ngầm ở đây rất trong, có nhà đào giếng sâu một mét thì nước đã đầy ắp đến miệng giếng. Hầm nước này nằm vị trí trong góc sân nhà hàng Trầu Cau 1) tại đây có suối Gia Ninh (Ia Kring) chảy qua, các xe chở xi téc nước cuả quân đội và người dân quanh vùng vẫn hay lấy nước tại hầm bê tông này,
Ngoài ra, còn có các giếng bơm lắc tay ở rải rác nhiều nơi (có tài liệu nêu gồm có 28 cái), nhưng cái giếng bơm lắc tay tập trung đông đảo người dân xếp hàng chờ đến lượt bơm nước cũng như những người làm nghề gánh nước thuê, chở nước thuê… nhất là cái giếng ngay sau lưng Am Bà đường Phó Đức Chính (tức Nguyễn Văn Trỗi ngày nay); có lẽ do nơi đây có cái bóng cây sung đại thụ râm mát cả ngày.
