2020
ĐTC Phanxicô (16/5): Học phân biệt Tin Mừng và tinh thần thế gian
Sáng thứ Bảy, Đức Thánh Cha dâng Thánh Lễ với ý chỉ cầu nguyện “cho những người đang làm việc chôn cất người chết trong thời điểm đại dịch này. Đây là một trong những việc làm của lòng thương xót, và tất nhiên không phải là một công việc dễ chịu, một công việc có rất nhiều rủi ro bị nhiễm bệnh.”
Trong bài giảng, Đức Thánh Cha hướng mọi người vào bài Tin Mừng theo thánh Gioan (Ga 15,18-21), trong đó Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em”.
Đức Thánh Cha nói: “Nhiều lần Chúa Giêsu nói về thế gian, nói về sự thù ghét của thế gian đối với Chúa và các môn đệ. Chúa Giêsu xin Cha không cất các môn đệ ra khỏi thế gian nhưng bảo vệ các ông khỏi tinh thần thế gian. Thế gian mà Chúa nói ở đây là một thế gian có khả năng ghét và hủy diệt Chúa Giêsu và các môn đệ Ngài, và hơn thế nữa nó còn làm cho Giáo hội hư hỏng”.
Từ cuộc đời của các môn đệ bị thế gian thù ghét vì các ông không thuộc về thế gian, Đức Thánh Cha chỉ ra cách thế gian phá hủy Giáo hội. Theo Đức Thánh Cha tinh thần thế gian là một văn hóa phù du, trình diễn và hóa trang. Đó là một văn hóa của ngày hôm nay thì nói “có”, nhưng ngày hôm sau thì lại nói “không”. Nó chỉ mang giá trị bề ngoài. Tinh thần thế gian không biết đến sự trung tín, bởi vì nó thay đổi theo hoàn cảnh, thương lượng tất cả; đó là một văn hóa loại bỏ và vứt bỏ những gì không phù hợp với mình, một thứ văn hóa không có nguồn gốc. Đức Thánh Cha cảnh báo: “Đây là một lối sống mà nhiều Kitô hữu cũng đang theo. Họ tự xưng là Kitô hữu nhưng lại theo tinh thần thế gian. Những bận tâm lo lắng thế gian đã nhấn chìm đức tin của họ”.
Để khẳng định điều vừa giải thích, Đức Thánh Cha nhắc đến cha de Lubac, một thần học gia: “Cha de Lubac nói rằng tinh thần thế gian là một điều tồi tệ nhất trong những điều xấu xa có thể xảy ra với Giáo hội. Tinh thần thế gian là “một cách giải thích cuộc sống, là một lối sống, và ngay cả một lối sống tồn tại trong Kitô giáo. Và để tồn tại được trước những lời của Tin Mừng, thì tinh thần thế gian đã ghét và giết những người tin.” Đức Thánh Cha nói đến các vị tử đạo, bị giết trong sự thù ghét đức tin, nhưng đây không phải là đa số. Đa số bị giết bởi tinh thần thế gian, tinh thần này ghét đức tin. Tinh thần thế gian không phải trên bề mặt, nhưng nó bám rễ sâu theo hoàn cảnh.
Kết thúc bài giảng, Đức Thánh Cha mời gọi: “Chúng ta cầu nguyện, xin Chúa Thánh Thần giúp chúng ta phân định nhận ra điều gì thuộc về thế gian và điều gì thuộc về Tin Mừng và không để tinh thần thế gian lừa dối bởi vì thế gian ghét chúng ta. Thế gian đã ghét Chúa Giêsu, và Chúa Giêsu đã cầu nguyện để Chúa Cha bảo vệ chúng ta không bị tinh thần thế gian chiếm hữu”.
Ngọc Yến – Vatican News
2020
Vài cảm nghĩ về Tuần lễ Laudato Sí (từ ngày 16-24/05/2020)
Vài cảm nghĩ về Tuần lễ Laudato Sí (từ ngày 16-24/05/2020)
Vào ngày 03/03/2020, vaticannews.va đã loan đi bản tin: Đức Giáo Hoàng Phanxicô mời gọi các cộng đoàn Công giáo trên toàn thế giới cử hành Tuần lễ Laudato Sí từ ngày 16-24/05/2020, nhân kỷ niệm 5 năm thông điệp được ban hành.
Nhân dịp này, xin được có vài cảm nghĩ về Thông điệp khi tuần lễ kỷ niệm bắt đầu được diễn ra trong tuần này.
Phương pháp luận trong Laudato Sí [1]
Năm năm (2015-2020) đã trôi qua kể từ khi Đức Giáo Hoàng Phanxicô ban hành thông điệp về môi sinh Laudato Sí, có lẽ đây là tác phẩm chứa đựng nhiều nhất các Giáo huấn Xã hội của Giáo Hội Công giáo kể từ Thông điệp Rerum Novarum (Tân Sự) của Đức Giáo Hoàng Lêô XIII về các vấn đề xã hội (1891). Điều có lẽ hấp dẫn nhất trong Laudato Sí, là nó đưa ra quan điểm rõ ràng của Đức Giáo Hoàng Phanxicô về hệ thống và phương pháp luận thần học.
Quy chiếu phương pháp luận của Đức Giáo Hoàng Phanxicô được thể hiện rõ khi ngài tuyên bố hai lần rằng: thực tại thì quan trọng hơn ý tưởng (Laudato Sí, số 110 và 201) – điều này đã từng được ngài đưa ra trong Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng Evangelii Gaudium “thực tại thì quan trọng hơn ý tưởng” (Evangelii Gaudium, số 231).
Như là một sự tiếp nối với các quy chiếu phương pháp luận của các vị Giáo Hoàng tiền nhiệm như Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII và Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã sử dụng phương pháp Xem-Xét-Làm để suy tư thần học và giải thích thực tại (hoặc các dấu chỉ của thời đại, nếu bạn muốn dùng như thế), với mục tiêu thay đổi các vấn đề về công lý và hành vi xã hội sai trái.
Phương pháp Xem-Xét-Làm được đề xuất bởi Đức Hồng y Joseph Cardijn (thập niên 1920), mặc dù nguồn gốc của nó có thể được tìm thấy trong mô tả của thánh Tôma Aquinô, trong phần nói về tri thức của Đức khôn ngoan. Phương pháp của Đức Hồng y Cardjin được phát triển sau đó bởi Liên Hội đồng Giám mục Mỹ Latinh (CELAM) và các nhà thần học giải phóng, với những triển khai gần đây được thực hiện bởi các nhà thần học thực tiễn Bắc Mỹ. [2]
Sau đó phương pháp này đã trở nên dấu ấn của tinh thần Công đồng Vatican II. Văn kiện đầu tiên chính thức đề cập đến phương pháp này là Thông điệp Mater et Magistra (Mẹ và Thầy) của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII, sau đó cũng đã có nhiều văn kiện khác áp dụng, đặc biệt là Hiến chế Mục vụ Gaudium et spes đã được cấu trúc theo phương pháp Xem – Xét- Làm này. [3]
Trong Laudato Sí, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã mô tả thực tế phương pháp luận mà ngài sử dụng để xây dựng lập luận thần học của mình (Laudato Sí, số 15). Ngài nói rằng, ngài bắt đầu bằng việc xem xét các thành quả tốt đẹp của việc tìm tòi khoa học, để nhìn sâu xa và nêu lên một nền tảng cụ thể đường hướng đạo đức và tinh thần (Xem), sau đó xem xét các nguyên tắc (Xét) từ truyền thống Do thái-Kitô giáo (Judeo-Christian), và trong ánh sáng của suy tư thần học, ngài sẽ thúc đẩy các đề xuất đối thoại và hành động (Làm) ở cả cấp độ cá nhân và toàn cầu để cải thiện vấn đề về môi sinh.
Tiến trình ba bước này trình bày một phương pháp luận định hướng thực tiễn, điều mà ưu tiên một đánh giá phê bình về thực tại (bước 1 – Xem) để thay đổi thực tại (bước 3 – Làm) thông qua suy tư thần học phê bình như một bước trung gian (bước 2 – Xét). Sự biện minh của Đức Giáo Hoàng Phanxicô về việc ngài sử dụng phương pháp này được nêu rõ khi ngài nói: “những suy tư thần học hay triết học về tình trạng con người và vũ trụ xem ra chỉ có thể là những sứ điệp lập lại và trừu tượng, nếu như chúng không đối mặt một cách mới mẻ với liên hệ hiện hành, khi nhìn vào những gì chưa hiện diện nhưng cần thiết cho lịch sử nhân loại. Vì thế, trước khi nhìn xem niềm tin mang đến cho chúng ta những động lực và những đòi hỏi mới mẻ khi đối diện với thế giới mà chúng ta đang sống, tôi xin đề nghị dừng lại một chút để nhận ra những gì đang diễn ra trong ngôi nhà chung của chúng ta” (Laudato Sí, số 17).
Sau phần tổng quan này, Đức Giáo Hoàng bắt đầu chương I bằng cách diễn giải các phân tích khoa học để mô tả về những gì đang xảy ra với ngôi nhà chung của chúng ta. Sau đó, ngài chuyển sang bước hai với suy tư thần học về Tin Mừng về sự Sáng Tạo. Khi ngài bắt đầu quá trình này, Đức Giáo Hoàng nhắc nhở độc giả rằng: “đối thoại giữa khoa học và đức tin có thể tạo ra cuộc đối thoại hiệu quả hay nói cách khác năng động và hữu ích cho cả hai phía” (Laudato Sí, số 62).
Vị Giáo Hoàng của chúng ta đặc biệt lập luận rằng: “khi chú tâm vào sự đa dạng của cơn khủng hoảng môi trường và các nguyên nhân muôn mặt của nó, chúng ta phải công nhận, các giải pháp không thể đến từ một con đường duy nhất do việc giải thích thực tại và thay đổi chúng” (Laudato Sí, số 63). Ngài tiếp tục nói rằng: “nếu chúng ta thật sự muốn gầy dựng một môi trường sinh thái, tái lập lại những gì chúng ta đã hủy hoại, thì không được phép bỏ qua những ngành khoa học và các hình thức khôn ngoan, ngay cả tôn giáo cũng như ngôn ngữ tôn giáo.” Ở điểm khác, Đức Giáo Hoàng cho biết thêm: “một loại khoa học muốn đưa ra những giải đáp cho những đòi hỏi lớn lao, cần phải nhận thức tất cả sự hiểu biết về những bình diện kiến thức, bao gồm cả triết học và đạo đức xã hội” (Laudato Sí, số 110).
Cách tiếp cận phương pháp luận này thì tương thích với truyền thống Công giáo, vì Giáo hội luôn sẵn sàng đối thoại với các tư tưởng triết học (ví dụ, thánh Tôma Aquinô và triết học Aristotle). Tuy nhiên, đồng thời nó không chỉ là việc xem xét vấn đề trong việc kết hợp đức tin và lý trí không mà thôi, mà còn bao gồm các diễn ngôn xã hội khác như xã hội học, nhân chủng học, lý thuyết phê bình và các phương pháp khoa học khác nhau.
Lời kêu gọi của Đức Giáo Hoàng Phanxicô cho việc nghiên cứu liên ngành phải tập hợp các lĩnh vực tri thức khác nhau, bao gồm cả kinh tế học, để có một tầm nhìn tích hợp và thống nhất hơn. Để chắc chắn, đến cuối thông điệp, một lần nữa, Đức Giáo Hoàng lại kêu gọi một phương pháp liên ngành đối với phương pháp luận, khi ngài nói có tính phê bình rằng: “người ta không thể nói rằng các khoa học thực nghiệm giải thích hoàn toàn sự sống, cơ cấu các thụ tạo và sự toàn vẹn của các thực tại. Có nghĩa là, chúng đã bước ra khỏi ranh giới thực nghiệm của mình. Nếu người ta suy nghĩ trong khung đóng kín này, thì cảm nghiệm vẻ đẹp, thi phú và cả khả năng lý trí để nhận ra ý nghĩa và mục đích vạn vật, cũng tiêu tan” (Laudato Sí, số 199).
Thay vì cách tiếp cận phương pháp hạn chế như vậy, Đức Giáo Hoàng Phanxicô tuyên bố rằng các bản văn tôn giáo cổ điển vẫn có thể đưa ra một ý nghĩa cho tất cả mọi thời đại, có một sức lực tác động luôn khai mở một chân trời mới, nên chúng cần được thống nhất để theo đuổi sự hiểu biết về các cuộc khủng hoảng nhân đạo như hiện tại, chẳng hạn như về vấn đề môi sinh, điều đặt để một câu hỏi gần đây chú ý về tương lai của sự sống trên trái đất.
Gần đây nhất, như một mối dây liên hệ, một Đức Hồng y người Peru nhấn mạnh rằng: Thượng Hội Đồng Amazon có những vùng nước sâu: vùng nước sâu nằm trong Thông điệp Laudato Sí, một thông điệp mà đã được viết cho các người Công giáo, cho những người tin và cho tất cả dân cư trên thế giới, và kêu gọi chúng ta hành động: bởi vì Mẹ Trái Đất của chúng ta đang gào thét và những người nghèo đang khóc vì trái đất đang hấp hối.
Đức Hồng y này nói rằng, Đức Giáo Hoàng Phanxicô ý thức rằng người ta đã cắt 20% lá phổi (rừng) của hành tinh và ngài muốn ngăn chặn điều phá hủy ấy khỏi tệ hơn. Ngài mô tả về Laudato Sí như là sức mạnh sâu sắc của Thượng Hội Đồng, trong đó chúng nêu ra những vấn đề thực sự. Tại Thượng Hội Đồng về vùng Amazon, ngài nói rằng, chúng ta đang khám phá vùng nước sâu của Chúa, và những gì Chúa đang yêu cầu chúng ta về việc truyền giáo cho khu vực Amazon.
Nhưng để làm sao để biết những hành động can thiệp của con người trong vấn đề môi sinh mang lại hiệu quả. Điều này rất khó để đưa ra các bằng chứng cụ thể, vì những gì được đưa ra hầu hết là dựa trên những chỉ số và các dự đoán của các nghiên cứu khoa học. Nhưng gần đây, mọi người có thể thấy được một bằng chứng rõ ràng về việc nếu con người thực sự áp dụng các biện pháp hạn chế ô nhiễm môi sinh thì sẽ mang lại những kết quả đáng khả quan.
Trận đại dịch Covid-19 vừa qua vô tình đã trở nên một cuộc “đại bảo trì” môi sinh chưa từng có trong lịch sử kể từ khi nền công nghiệp phát triển. Vì hầu hết các nước đều áp dụng luật phong tỏa, đóng cửa biên giới, giới nghiêm vv… từ đó đã dẫn đến việc các nhà máy ngừng hoạt động và các xe cộ đều “bất động”, nên đã giảm thiểu một lượng vô cùng lớn khí thải và rác thải vào trong môi trường. Chính điều này đã tạo nên một hiệu ứng tích cực cho môi trường, điều mà trước đây các nhà chính trị và các nhà môi sinh đều mong ước có những vấn đề cắt giảm khí thải nhưng xem ra bất khả thi.
Cụ thể cho những tín hiệu tích cực này trong vấn đề môi sinh có thể một số nguồn thông tin đã đề cập như: người dân ở miền bắc Ấn Độ đã có thể nhìn thấy dãy Himalaya, thậm chí từ khoảng cách200km, nhờ các biện pháp chống dịch Covid-19 như Tuổi trẻ online đưa tin ngày 10/04/2020; hay Dòng sông (Hằng) ô nhiễm nhất thế giới trong lại sau 50 năm; theo Reuters, dữ liệu vệ tinh của Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) cho thấy từ ngày 14 đến 25-3, ô nhiễm không khí do chất NO2 ở những thành phố lớn tại các nước Pháp, Tây Ban Nha, Ý giảm khoảng 40% như Tuổi trẻ online đưa tin.
Tuy nhiên, người ta cũng lo ngại rằng sau đại dịch thì dân chúng sẽ sản xuất “bù”, đi lại “bù”, thì có khả năng càng làm cho vấn đề ô nhiễm lại nghiêm trọng hơn. Cho nên vấn đề bây giờ là mong sao các nhà chính trị, chính phủ các nước và các nhà hoạt động môi sinh có những can thiệp thích hợp để duy trì được hiệu quả môi sinh này lâu dài và tránh tái ô nhiễm sau này. Một chuyên gia về môi trường của trung tâm Nghiên cứu Năng lượng và Không Khí sạch (CREA) đã có một nhận xét xác đáng rằng: “cuộc khủng hoảng hiện nay đã cho chúng ta thấy rằng bầu trời trong lành và không khí dễ thở có thể đạt được rất nhanh nếu thực hiện các hành động cụ thể nhằm giảm thiểu đốt cháy nhiên liệu hóa thạch” như một số báo chí Phương tây đã đưa tin gần đây.
Cụ thể, để kỷ niệm 5 năm ngày ra đời của thông điệp này, tất cả mọi người Kitô hữu, một lần nữa cũng được kêu gọi để có những hành động cụ thể trong vấn đề bảo vệ môi trường ngay từ gia đình, ngay từ trong cộng đoàn mình đang sống: như phân loại rác thải ngay từ nguồn và xử lý đúng cách; tham gia các ngành sản xuất không ảnh hưởng đến môi trường; nói không với việc sử dụng túi nilon, đồ plastic trong trường học, giáo xứ, học viện hay cộng đoàn dòng tu; trồng cây xanh, tiết kiệm điện, nước trong sinh hoạt, v.v… mong rằng khi vấn đề bảo vệ môi sinh đi từ tập thể nhỏ như thế sẽ góp phần tốt hơn cho môi trường ở bình diện lớn hơn. Mong thay!
Nhân dịp kỷ niệm 5 năm Thông điệp Laudato Sí, xin được đóng góp một vài suy tư nhỏ về vấn đề ô nhiễm không khí được xem xét dưới khía cạnh của thần học môi sinh. (Xin xem file đính kèm)
Phương pháp luận để xem xét các vấn đề mục vụ trong Gia đình Vinh Sơn (famvin) [4]
Một phương pháp đơn giản giúp chúng ta dừng lại, đứng trước một tình huống và suy nghĩ về nó trước khi chúng ta nhảy vào và đưa ra hành động. Tiến trình này giúp chúng ta triển khai sự xem xét mang tính phê bình về các tình huống, sự kiện và cấu trúc qua tiến trình Xem-Xét-Làm như Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã áp dụng phương pháp luận này để xem xét về tình trạng môi sinh và đưa ra hành động cụ thể để cải thiện môi sinh tốt hơn trong Thông điệp Laudato Sí.
Trong gia đình Vinh Sơn phương pháp luận Xem -Xét- Làm có thể được dùng trong các vấn đề về mục vụ hay còn gọi chu trình mục vụ khi áp dụng phương pháp phân tích xã hội này. Khi các thành viên Vinh Sơn đang đứng trước một vấn đề nào đó về mục vụ, rồi áp dụng từng bước của phương pháp luận này vào thực tế, sau đó tìm cách để đi đến một can thiệp mục vụ hữu hiệu cho vấn đề đang gặp phải. Tiến trình này có thể được tiến hành theo trình tự bằng cách nêu lên các câu hỏi cho mỗi tiến trình như famvin đã đề xuất:
XEM
– Điều gì đang diễn ra?
– Những ai là người liên quan?
– Ai có lợi được từ tình trạng này? Ai thua thiệt?
– Những gì tình trạng này đang ảnh hưởng đến dân chúng?
– Tại sao nó lại xảy ra? Tại sao nó tiếp tục?
XÉT
– Chúng ta cảm thấy như thế nào về tình huống này?
– Chúng ta đã bao giờ cư xử hoặc hành động như bất kỳ ai trong tình huống này chưa? Nếu vậy, chuyện gì đã xảy ra? Tại sao? Làm thế nào chúng ta và / hoặc những người liên quan cảm nhận thấy?
– Chúng ta nghĩ điều gì sẽ xảy ra?
– Đức tin của chúng ta nói gì về điều này?
– Truyền thống Vinh Sơn của chúng ta nói gì về điều này?
LÀM
– Chúng ta có thể làm gì để thu hẹp khoảng cách giữa những gì đang xảy ra (thực tế) và những gì nên xảy ra (lý tưởng/những gì đức tin của chúng ta nói về điều này?)
– Chúng ta sẽ làm gì?
– Người nào có thể liên quan trong hành động của chúng ta?
Để kết luận về giá trị thực tiễn của phương pháp luận này trong một số tài liệu huấn quyền, trong đó điển hình như Thông điệp Laudato Sí, cũng như trong các vấn đề mục vụ – xã hội, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII trong Thông điệp Mẹ và Thầy (Mater et Magistra) (1961), đã từng khẳng định tầm quan trọng của phương pháp này: “thường ai quyết thực hành học thuyết xã hội phải trải qua ba giai đoạn: điều tra cho biết tình hình một cách tỉ mỉ; nhận xét hiện tượng dưới ánh sáng học thuyết công giáo; rồi quy định đường lối áp dụng vào thời thế hoàn cảnh những nguyên tắc vĩnh cửu của Giáo Hội. Ba giai đoạn ấy, thường gọi là kiến thức, luận xét và hành động (xem, xét, làm)” (Mater et Magistra, số 236).
Manila, Tháng Hoa 2020
Phêrô Phạm Minh Triều CM.
Nguồn: vinhson.net
__________
[1] Theo: “See-Judge-Act: The foundational pastoral method of Laudato Sí” tại https://www.catholiccharitiesusa.org (đăng nhập 05/05/2020).
[2] Daniel Franklin Pilario. “Revisiting See-Judge-Act: Reflections from Asia” in Concilium (00105236). 2016, Issue 1, p83-92.
[3] “See, judge, act at Vatican II” tại https://www.cardijnresearch.org và “1964 – Schema XIII adopts see, judge, act” tại http://www.josephcardijn.com (đăng nhập 05/05/2020).
[4] John Freund, CM. Pope Francis – See, Judge, Act, tại https://famvin.org và the “See, Judge, Act” Process tại https://vinformation.org (đăng nhập 05/05/2020).
2020
Trong thời đại dịch Covid-19, thánh Gioan Phaolô II sẽ nói gì?
Trong thời đại dịch Covid-19, thánh Gioan Phaolô II sẽ nói gì? Đây là câu hỏi được các giám mục Ba Lan đặt ra trong lá thư nhân dịp bách niên sinh nhật thánh Gioan Phaolô II vào ngày 18/05 tới đây. Và câu trả lời chính là: “Anh chị em đừng sợ!”.
“Anh chị em đừng sợ! Hãy mở rộng cửa cho Chúa Kitô!”
Các giám mục Ba Lan nói rằng thánh Gioan Phaolô II sẽ nói với chúng ta: “Anh chị em đừng sợ! Hãy mở rộng cửa cho Chúa Kitô!”, như ngài đã nói trong bài giảng Thánh lễ khai mạc sứ vụ Giáo hoàng của ngài vào ngày 22/10/1978. “Đúng thế, Chúa Kitô biết những gì mỗi người chúng ta đang mang trong lòng mình, Người hoàn toàn biết niềm vui, nỗi lo, hy vọng, sợ hãi và mong muốn của chúng ta”.
Thánh Gioan Phaolô II hiểu và đánh giá cao công việc của các nhân viên y tế
Trong hoàn cảnh cụ thể của chúng ta giữa đại dịch, các giám mục Ba Lan nhấn mạnh: “Nếu thánh Gioan Phaolô II sống hôm nay, ngài sẽ cầu nguyện cho người bệnh, người chết và gia đình họ. Bản thân ngài đã nhiều lần đau ốm và phải chịu cảnh cô lập, trong bệnh viện, không thể cử hành Thánh lễ với các tín hữu. Ngoài ra, anh trai Edmund của ngài, một bác sĩ trẻ, qua đời ở tuổi 26, vì lây nhiễm bệnh từ một bệnh nhân trong khi chữa trị cho người bệnh này.” Và trên thực tế, để tưởng nhớ anh trai mình, “Đức Giáo hoàng của chúng ta đã để một ống nghe trên bàn làm việc. Ngài hiểu và đánh giá cao công việc của các bác sĩ, y tá và nhân viên y tế, những người mà ngài thường cầu nguyện và gặp gỡ”.
Tín thác vào Mẹ Maria khi gặp khổ nạn
Tiếp đến, các giám mục Ba Lan nêu bật các đặc điểm khác của Đức Giáo hoàng Wojtyła, như chú ý đến thế giới truyền thông và đặc biệt là Internet, và “bảo vệ sự sống của con người, từ thụ thai đến chết tự nhiên”. Các ngài nhắc về thánh Gioan Phaolô II, như nhân chứng trung thành của Tin Mừng, đã tín thác vào Mẹ Maria trong thời khắc kịch tính khi bị ám sát tại quảng trường thánh Phêrô vào ngày 13/05/1981.
Lá thư của các giám mục sẽ được đọc trong tất cả các nhà thờ ở Ba Lan vào Chúa Nhật ngày 17/05. (CSR_3677_2020) Hồng Thủy
Nguồn: vaticannews.va/vi
2020
Mẫu gương sống đức tin kết hợp với khoa học của hai ông bà Jérôme Lejeune, Birthe Lejeune
Mẫu gương sống đức tin kết hợp với khoa học của hai ông bà Jérôme Lejeune, Birthe Lejeune
Ông Jérôme Lejeune và bà Birthe Lejeune là những người nổi tiếng không chỉ liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu khoa học, nhưng trước hết hai ông bà là mẫu gương cho đời sống đức tin và đời sống gia đình. Đối với hai ông bà, đức tin, tình nghĩa vợ chồng và nghiên cứu khoa học luôn đi cùng với nhau. Cuộc đời của hai ông bà có liên quan trực tiếp đến Hàn lâm viện Tòa Thánh về Sự sống và Tổ chức Lejeune ở Pháp. Cả hai đều say mê xây dựng một xã hội ngày càng trở nên nhân văn hơn.
Ông Jérôme Lejeune là một trong những nhà khoa học hàng đầu của thế kỷ XX, ông được coi là cha đẻ của di truyền học hiện đại. Ông phát hiện ra các đột biến nhiễm sắc thể gây ra hội chứng Down, là một trong những người đầu tiên trên thế giới thúc đẩy phương pháp điều trị và chăm sóc cho những trẻ em và bảo vệ quyền sống của chúng.
Đối với Giáo hội, cách đây 26 năm, 1994, theo đề nghị của ông Jérôme Lejeune, Thánh Gioan Phaolô II đã thành lập Hàn lâm viện Tòa Thánh về Sự sống và bổ nhiệm ông là chủ tịch đầu tiên của Hàn lâm viện này. Thánh Gioan Phaolô II cũng là một người bạn thân của ông Jérôme Lejeune, chính Thánh Giáo Hoàng đã mang đến cho ông sự ủi an và hỗ trợ vào những thời khắc khó khăn nhất trong sự nghiệp của ông. Ông qua đời năm 1994, trong chuyến tông du đến Pháp năm 1997, Thánh Gioan Phaolô II đã đến viếng thăm mộ của nhà khoa học. Hiện Jérôme Lejeune đã là vị Tôi tớ Chúa và đang trong tiến trình được phong á thánh.
Cùng với sự trợ giúp của bà Birthe Lejeune, ông Jérôme Lejeune đã thành lập Tổ chức Lejeune. Tổ chức Jérôme Lejeune là một trung tâm y tế và nghiên cứu duy nhất ở châu Âu, chuyên về hội chứng Down và thiểu năng trí tuệ có nguồn gốc di truyền. Mục đích của Tổ chức là cung cấp giám sát y tế toàn cầu cho khoảng 10 ngàn bệnh nhân trong suốt cuộc đời. Mỗi năm Tổ chức tài trợ cho hơn 100 chương trình nghiên cứu về hội chứng Down và thiểu năng trí tuệ có nguồn gốc di truyền. Các dự án nghiên cứu quốc tế này đã tạo ra hơn 500 ấn phẩm khoa học giúp khoa học tiến bộ về hiểu biết và điều trị hội chứng Down và thiểu năng trí tuệ có nguồn gốc di truyền. Tổ chức luôn đi đầu trong lĩnh vực bảo vệ sự sống.
Sau khi ông Jérôme Lejeune qua đời vào năm 1994, bà Birthe Lejeune là người hướng dẫn Tổ chức và tiếp tục sứ vụ bảo vệ sự sống những người yếu đuối nghèo khổ. Khi được hỏi về Tổ chức này, bà Birthe Lejeune nói: “Chúng tôi không bỏ rơi các em bé bị hội chứng Down và chúng tôi không ngừng khuyên cha mẹ các em bảo vệ những người con đặc biệt này”. Cả hai ông bà xác tín sự sống phải luôn được bảo vệ, điều này không chỉ liên quan đến chiều kích thần học mà là một bằng chứng khoa học: một thai nhi, một phôi thai đã là một sự sống. Với sự tin chắc này hai ông bà bảo vệ liên tục không mệt mỏi những người yếu đuối, đặc biệt các trẻ em bị hội chứng Down. Sau khám phá khoa học của ông Jérôme Lejeune, các cha mẹ không bị đổ lỗi là nguyên nhân gây nên hội chứng Down của con trẻ.
Ngày 16/5/2017, Đức Thánh Cha Phanxicô bổ nhiệm bà Birthe Lejeune là thành viên danh dự của Hàn lâm viện Tòa Thánh về Sự sống. Ngày 07/5/2020 bà Birthe Lejeune qua đời, hưởng thọ 92 tuổi, sau một thời gian dài bệnh.
Sau đây là những lời chứng của Đức cha Vincenzo Paglia, Chủ tịch Hàn lâm viện Tòa Thánh về Sự sống khi nghe tin bà Birthe Lejeune qua đời:
Tôi rất buồn khi nghe tin bà Birthe Lejeune đã về với Chúa. Bà là vợ của Jérôme Lejeune đang được trong tiến trình phong chân phước; một nhà khoa học, một tín hữu đã dành cả cuộc đời và kiến thức khoa học để bảo vệ và hỗ trợ sự sống và vì thế ông đã phải trả giá cay đắng. Đối với Giáo hội, chúng ta đã nhận được từ nơi ông một chứng tá đặc biệt và một trong những hoa trái đó là Hàn lâm viện về Sự sống. Tôi biết bà Lejeune, từ khi tôi được Đức Thánh Cha Phanxicô bổ nhiệm làm chủ tịch Hàn lâm viện Tòa Thánh về Sự sống. Trong những năm cuối đời, bà không mất đi niềm đam mê bảo vệ sự sống. Hàn lâm viện và Tổ chức Lejeune ở Pháp do hai ông bà tạo dựng là những cột trụ trong cuộc chiến bảo vệ sự sống, nhất là trong thời điểm hiện nay. Và chúng ta phải nói lời cám ơn đến giáo sư Lejeune và Thánh Gioan Phaolô II đã có trực giác thiết lập Hàn lâm viện này.
Bà Birthe Lejeune là người rất năng động ngay cả khi Học viện bắt đầu một giai đoạn mới để đối diện với những biên giới mới; chúng ta hãy nghĩ đến những gì đang xảy ra hôm nay với đại dịch, với trí tuệ nhân tạo, với robot, v.v. Ở nơi bà luôn có niềm say mê trong nghiên cứu để hiểu và đồng hành. Tôi muốn nhấn mạnh một khía cạnh hiển nhiên liên quan đặc biệt đến đời sống của hai ông bà, như bà chia sẻ: Đó là mối tương quan chặt chẽ của vòng tròn đạo đức giữa những người tin, khoa học và đam mê xây dựng một xã hội thực sự nhân văn hơn. Trong bối cảnh này, cuộc hôn nhân của họ có sức mạnh đặc biệt, chứng tá của họ nhấn mạnh tầm quan trọng sự liên kết giữa khoa học và đức tin. Cùng với chồng, tôi cũng cảm thấy bà gần gũi với Học viện của chúng tôi để tiếp tục bảo vệ, hỗ trợ và đồng hành cùng sự sống, bất cứ nơi nào và trong bất kỳ tình huống hoặc điều kiện nào mà sự sống hiện hữu.
Ngọc Yến
Nguồn: vaticannews.va/vi
