2020
Cử chỉ tế nhị của Đức Phanxicô với người thông dịch của mình
Đức Phanxicô trong lần gặp nhóm Ladarô và buổi video-hội thảo ngày thứ sáu 29 tháng 5 tại Nhà Thánh Marta.
Ngày thứ sáu 29 tháng 5, khi tham dự buổi video-hội thảo với các nhóm Ladarô, nhóm của những người cùng thuê nhà chung gồm người vô gia cư và các bạn trẻ vừa tốt nghiệp, Đức Phanxicô đã có cử chỉ tế nhị với thông dịch viên của mình.
“Ta khát, các ngươi đã cho uống… mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy (Mt 25, 35). Một lời hứa Đức Phanxicô không xem nhẹ và ngài đã thực hiện trong lần gặp các bạn trẻ nhân kỷ niệm mười năm thành lập tổ chức Ladarô. Đức Giám mục phong tục giáo phận Lyon, Emmanuel Gobilliard, có mặt trong buổi họp này đã kể chuyện, sau khi nói rất nhiều, Đức Phanxicô xin một ly nước. Và trong khi các bạn trẻ tham dự chờ ngài uống một mạch ly nước thì ngài lại đưa ly nước cho cô thông dịch, người cũng nói nhiều như ngài. Một tấm gương cho các bạn tham dự để họ luôn có “Tin Mừng trong lòng!”
Trên trang Twitter của Đức Giám mục phụ tá giáo phận Lyon, Emmanuel Gobilliard:
Ngạc nhiên trong ngày! Buổi video-hội thảo của Đức Phanxicô với các bạn cùng thuê phòng của tổ chức Ladarô, Đức Phanxicô xin chúng ta luôn có tinh thần “Tin Mừng trong lòng!”
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
2020
Linh mục Tomas Halik: “Giáo hội phải ở đó cho tất cả mọi người, không phải chỉ dành cho những người tin”

Linh mục Tomas Halik người Séc, chịu chức chui dưới chế độ cộng sản, là nhà xã hội học, thần học gia, theo linh mục thì đại dịch là “dấu hiệu của thời đại” đối với Giáo hội. Giáo hội phải thoát ra khỏi sự cách ly thiêng liêng, tương lai của Giáo hội phải thông qua đối thoại với văn hóa đương đại.
Cha sống thời gian cách ly như thế nào và cá nhân cha rút tỉa được gì về thời gian này?
Linh mục Tomas Halik: Đời sống của tôi quanh năm ở trường đại học luôn sôi động, giữa các lớp dạy ở đại học, ở nước ngoài, cai quản giáo xứ và ở Viện Công giáo Séc, tôi còn tham dự vào các chương trình nghiên cứu quốc tế. Từ hai mươi năm nay, mỗi mùa hè tôi dành ra một tháng để sống trong rừng, trong cô tịch hoàn toàn: tôi không vào Internet, không vào các trang truyền thông, tôi chỉ chiêm niệm, nghiên cứu và viết. Không có sự thinh lặng này, tôi sẽ không sống sót về mặt thể lý, tinh thần và nhất là về mặt thiêng liêng.
Trước hết, với tôi, thời gian cách ly cũng như thời gian ở “ẩn cốc”. Nhưng thật ra thì không phải vậy, tôi tiếp tục công việc qua các buổi nói chuyện trực tuyến với sinh viên, các bài suy niệm với giáo dân. Tuy nhiên tôi cố gắng tìm giờ để yên tĩnh suy niệm và tiếp tục suy nghĩ để phát triển những gì tôi nghiên cứu trong các năm vừa qua: một diễn giải thần học các sự kiện văn hóa và xã hội (kairologie), một cách đọc suy niệm các “dấu hiệu của thời đại. Với tôi, điều này có vẻ cần thiết cho tình hình hiện tại.
Cuộc khủng hoảng này có nhắc lại cho cha thời cha sống trong Giáo hội chui dưới chế độ cộng sản không?
Đúng là một phần nó làm tôi nhớ lại mười một năm linh mục phục vụ “chui” dưới sự đàn áp của chế độ cộng sản. Vào thời điểm đó, tôi dâng lễ Phục Sinh ở các nhà riêng, trên chiếc bàn bình thường, không áo lễ, không hương trầm, không đàn ống. Nhưng sự bất đồng văn hóa và tôn giáo không quá cô lập ở Tiệp trong những năm 1970-1980. Nhiều triết gia và thần học gia đến Pra-ha với tư cách du lịch đã có các buổi giảng bài ở các nhà riêng, đó là các vị như Paul Ricoeur, Jacques Derrida, Walter Kasper, Hans Küng…
Thời đó không còn khủng khiếp như những năm 1950, khi thế hệ các thầy của chúng tôi bị tù, bị đày ở các trại tập trung của Stalin, họ trải qua cuộc sống của các nhóm nhỏ bí mật với một miếng bánh mì làm lậu…v.v. Một số người diễn giải đây là bài học của Chúa để thanh tẩy Giáo hội khỏi chiến thắng của quá khứ. Đến mức mà sau khi được giải phóng vào những năm cuối 1960, họ đã hiểu ngay tinh thần của công đồng Vatican II, một Giáo hội đơn giản, đáng kể và cởi mở mà họ mơ khi còn bị giam giữ…
Bản thân cha là một phần của di sản này. điều gì dẫn cha đến đức tin ở một trong những nước vô thần nhất thế giới?
Tôi lớn lên trong một gia đình trí thức của Pra-ha, được đánh dấu bằng tinh thần của chủ nghĩa nhân văn thế tục. Gia đình tôi xem kitô giáo là một phần của di sản văn hóa quá khứ. Trong những năm 1950 và 1960, Giáo hội đã bị trục xuất ra khỏi cuộc sống công cộng và cho đến trước tuổi trưởng thành, tôi đã không gặp một người công giáo giữ đạo nào.
Hành trình đức tin của tôi đã trải qua nhiều giai đoạn. Nó bắt đầu với niềm đam mê thẩm mỹ vì nghệ thuật, vì kiến trúc nhà thờ và âm nhạc thiêng liêng. Sự phản đối chính trị đối với chế độ, một chế độ dùng quân đội để áp đặt ý thức hệ vô thần đã đóng một vai trò quan trọng. Rồi đến cảm hứng trí tuệ thông qua văn học – Graham Greene, François Mauriac, Georges Bernanos, Léon Bloy, G. K. Chesterton, v.v. Vào mùa xuân Pra-ha năm 1968, tôi gặp cả một thế hệ linh mục, thần học gia và các nhà trí thức công giáo ở tù ra. Chính lúc đó, Giáo hội đã mang khuôn mặt con người đối với tôi. Đó cũng là lần đầu tiên tôi đến Phương Tây – trong chuyến đi trao đổi ở Hà Lan, rồi ở Anh, khi tôi thấy mình ở đúng lúc quân đội Liên Xô chiếm đóng Tiệp. Đó là tháng 8 năm 1968. Tôi dự định di cư. Nhưng lá thư của các bạn cho tôi biết quá nhiều người Tiệp đã di cư và phe chống đối rất yếu nên đã làm cho tôi thay đổi ý kiến, tôi trở về.
Đức tin của cha liên hệ chặt chẽ với bối cảnh kháng chiến này..
Đúng. Không lâu sau khi tôi trở về, một đồng nghiệp của tôi đã tự thiêu để chống việc bắt đầu hợp tác và sự suy yếu của cuộc kháng chiến. Tôi rúng động và tổ chức buổi lễ cầu hồn cho bạn. Tôi mang mặt nạ tử thần ở nhà thờ, rồi tôi cũng mang đến phân khoa nghệ thuật của tôi, và đó là thời điểm quyết định đối với tôi. Tôi đã có một cuộc đối thoại nội tâm với đồng nghiệp đã qua đời. Như thử hành vi của anh giao cho tôi một thách thức mà tôi phải trả lời. Tôi hiến mạng sống của tôi cho cái gì? Tôi nghĩ đó là bước đầu cho quyết định trở thành linh mục của tôi.
Nhưng thời đó chỉ có một chủng viện duy nhất ở Bohême và bị cảnh sát mật kiểm soát. Chỉ có các ứng viên nào chưa được đào tạo ở đại học mới được nhận vào chủng viện. Còn tôi, tôi đã xong chương trình triết lý và xã hội. Khi nhận bằng tiến sĩ, trong bài diễn văn của tôi, tôi đã cám ơn các giáo sư đã bị trục xuất khỏi trường đại học vì các lý do chính trị, và tôi trích lời của nhà văn nổi tiếng Tiệp Karel Capek (1890-1938): “Sự thật quan trọng hon quyền lực, vì sự thật là vĩnh hằng.”
Cha có biết điều này sẽ làm cha bị rắc rối không…
Chắc chắn rồi. Tôi bị vào sổ đen của chế độ: cho đến khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, tôi không được dạy ở trường đại học, không được xuất bản sách, không được đi Phương Tây, và tôi bị cảnh sát thẩm vấn nhiều lần. Tôi làm nhiều nghề, đặc biệt là tư vấn cho những người nghiện rượu và người nghiện ngập (từ năm 1984 đến năm 1990 ở Bệnh viện thuộc Đại học Tiệp). Cách duy nhất để tôi được làm linh mục là bí mật học thần học, tôi được chịu chức chui ở Erfurt, Đông Đức. Ngay cả mẹ tôi, bà cũng không biết. Đó là tháng 10 năm 1978, một hôm trước ngày Đức Gioan-Phaolô II nhậm chức. Sau đó tôi vào ban cố vấn chui của các linh mục và giáo dân suy nghĩ tìm chiến thuật cho Giáo hội để đối phó trong các trường hợp khó khăn này, nhưng cũng cho tương lai, tôi trở thành người cộng tác thân cận của hồng y Tomasek, ngài là hình ảnh của tinh thần phản kháng chế độ.
Cha đã nếm các khó khăn của một tín hữu kitô dưới chế độ vô thần công khai. Bây giờ tình trạng có trở nên đơn giản hơn dù phải sống trong bối cảnh thờ ơ và với chủ nghĩa tương đối không?
Tôi thích trả lời câu này bằng một giai thoại do thái. Ở nguyện đường có người viết: “Ai đi vào mà để đầu hở thì cũng tương tự như người ngoại tình.” Ngày hôm sau có người viết: “Tôi đã cố gắng làm cả hai, nhưng không thể so sánh được!” Tôi có kinh nghiệm của chế độ cộng sản và chế độ dân chủ tự do: không có gì có thể so sánh được! Vào thời đó, điều chúng tôi cần nhất là lòng can đảm, bây giờ chúng tôi cần khôn ngoan, để phân định kỹ, xa mọi tầm nhìn của chủ nghĩa thiện ác.
Cái gì làm cho cha lớn lên trong sự khôn ngoan này? Đâu là nguồn trợ lực thiêng liêng của cha?
Điều chính yếu đối với tôi là chiêm niệm. Chúng ta phải bình tĩnh trước các phản ứng đầu tiên non nớt của mình với những gì xảy ra chung quanh và trong chúng ta. “Con người bên ngoài” của chúng ta, cái tôi của chúng ta thường đứng ở ngưõng cửa ngăn không cho chúng ta bước qua. Nhưng Chúa Giêsu đã nói: “Ta là cánh cửa.”
Trên đầu giường của tôi có treo một tượng hiện đại và lớn Chúa Kitô Phục Sinh cho thấy vết thương của Ngài. Trước khi ngủ và khi thức dậy, tôi suy niệm về các vết thương này. Các vết thương Chúa Giêsu là cánh cửa để đến với Chúa Cha. Và vết thương của Chúa Giêsu là vết thương của thế giới chúng ta: đại dịch, khủng hoảng kinh tế, nạn nghèo khổ, các lạm dụng trong Giáo hội… Chúng ta không thể bỏ qua chúng, nếu không chúng ta không có quyền nói như Thánh Tôma Tông đồ: “Chúa của con, Đức Chúa của con!” Các vết thương là nơi chúng ta gặp Chúa Giêsu hôm nay. Tôi không tin vào một Thiên Chúa mà không có vết thương, một đức tin không có vết thương, một Giáo hội mà không có vết thương.
Một thời gian dài cha đã là nhà trị liệu. Khoa tâm lý đã mang lại cho cha những gì?
Tôi được đào tạo theo truyền thống của tâm lý gia Jung, khoa tâm lý giúp tôi trong vai trò của cha giải tội. Khoa tâm lý cũng giúp tôi nhận diện nhiều loại mộ đạo, thường liên quan đến các nền tảng tâm lý khác nhau. Một số sử dụng tôn giáo như công cụ, để bảo vệ một bản sắc văn hóa chẳng hạn. Những người này đôi khi cứng nhắc, độc đoán… Ngược lại, với nhiều người khác, tôn giáo được được sống cho chính mình, như một con đường thiêng liêng, những người này họ thường bao dung hơn, tinh thần cởi mở và nhạy cảm hơn. Tôn giáo có thể là một phương thuốc và cũng có thể là một vũ khí.
Điều này gắn liền với những gì cha viết về đức tin và về sự nghi ngờ, cả hai giống như “anh em với nhau”…
Đức tin mà không có suy nghĩ phê phán thì có thể dẫn đến cuồng tín và không khoan dung. Ngay cả chủ nghĩa vô thần phê phán (tôi không nói đến chủ nghĩa vô thần giáo điều ngu ngốc, thực chất đó là ngụy tôn giáo) có thể là “người phục vụ cho thần học” : nó giúp chúng ta thanh tẩy suy nghĩ về một Chúa ngẫu tượng, dùng để phóng chiếu các nỗi sợ và các ước muốn của chúng ta. Chúng ta cần loại biện chứng giữa đức tin và hoài nghi này. Không quá nhiều về nghi ngờ Thiên Chúa, cho bằng nghi ngờ về khái niệm của chúng ta có về Chúa, trên đó chúng ta phóng chiếu quá nhiều mong chờ… Với tôi, dường như chúng ta không nên quá chờ đức tin mang đến cho chúng ta câu trả lời cho tất cả các câu hỏi của chúng ta. Đúng hơn chúng ta nên cậy vào đức tin để cho chúng ta can đảm vào trong bóng tối của huyền nhiệm và gánh các câu hỏi, các nghịch lý còn để mở của cuộc sống. Đức tin không được ngừng tìm kiếm và chất vấn, không được hóa đá trong ý thức hệ, cũng không rời bỏ sự cởi mở của đức tin đối với một tương lai cánh chung.
Ở cái gì nơi kitô giáo vẫn còn là nguồn cho các xã hội chúng ta?
Thời đại của kitô giáo đã qua. Chúng ta là một tiếng nói trong số những tiếng nói khác trong xã hội dân sự, nhưng tiếng nói này phải được rõ ràng. Chúng ta cần tham gia vào cuộc tranh luận công khai về các vấn đề xã hội quan trọng. Theo tôi, ẩn dụ của Đức Phanxicô về Giáo hội là “bệnh viện dã chiến” rất có ý nghĩa. Một bệnh viện rất tốt phải chẩn đoán, trị liệu, chữa lành và làm miễn nhiễm. Ngày nay có rất nhiều ý thức hệ nguy hiểm, chúng ta cần một hệ thống miễn nhiễm tốt.
Cuộc khủng hoảng toàn cầu hóa trong thập kỷ vừa qua đã làm dấy lên những người theo chủ nghĩa dân tộc, những kẻ mị dân, các chủ nghĩa dân túy nguy hiểm ở cả hai bờ Đại Tây Dương. Và tôi sợ rằng hậu quả kinh tế và xã hội của đại dịch sẽ ảnh hưởng đến bối cảnh chính trị quốc tế. Phương Tây rất ngây thơ đánh giá thấp cuộc chiến tranh lai tạp của Nga do Putin tiến hành. Thông qua tuyên truyền và hỗ trợ tài chính, nó hỗ trợ cho những người theo chủ nghĩa dân tộc và làm suy yếu niềm tin vào Liên minh châu Âu. Tuyên truyền này thường nhắm vào người công giáo bảo thủ. Sự tan rã của Liên minh châu Âu sẽ là sự tự sát tập thể của các quốc gia châu Âu. Các Giáo hội, các trường đại học phải là chất kháng virus để chống các căn bệnh này.
Nếu Giáo hội hoàn thành vai trò trị liệu và là “bệnh viện dã chiến” thì Giáo hội không thể hài lòng với chức vụ mục vụ cổ điển của mình trong giáo xứ và các hình thức truyền thống của hoạt động truyền giáo. Theo tôi, Giáo hội phải ở trong một xã hội đa nguyên thế tục hóa, triệt để mở rộng và đào sâu tận căn những gì các cha tuyên úy đã làm trong các bệnh viện, các nhà tù, trong quân đội, trong giáo dục… Có nghĩa là cho tất cả mọi người, chứ không chỉ cho tín hữu. Cung cấp cho tất cả mọi người sự hỗ trợ tinh thần mà không chiêu dụ, không cao ngạo trong vai trò giáo sĩ hay trong chủ nghĩa gia trưởng, trong một đối thoại và quan hệ đối tác thực sự, không đặt mình vào vị trí giảng dạy mà còn để cho người khác dạy mình. Theo tôi, đó là mô hình Giáo hội tương lai. Nếu Giáo hội muốn duy trì thì không thu vào chính mình như một tà phái, Giáo hội phải chịu sự thay đổi tận căn trong nhận thức về chính mình và trong sứ vụ của mình trên thế giới.
Làm thế nào đời sống của cha lại đưa cha đến suy nghĩ này?
Công giáo Pháp đã giúp chúng tôi rất nhiều về mặt diễn giải thần học tình trạng của chúng tôi dưới chế độ cộng sản. Kinh nghiệm linh mục trong Giáo hội chui của chúng tôi nhắc chúng tôi nhớ các khía cạnh truyền giáo của “linh mục-thợ”. Cho đến bây giờ, tôi vẫn trung thành với sự hiệp nhất của chức tư tế và nghề dân sự – tôi là quản nhiệm giáo xứ đại học và giáo sư ở một trường đại học thế tục. Sự việc tôi không theo dõi việc đào tạo ở chủng viện và không sống ở nhà xứ nhưng suốt đời sống gần những người bình thường đã dạy tôi biết các vấn đề của họ, các câu hỏi và ngôn ngữ của thế giới trần tục. Và những gì tôi làm bây giờ là thành quả của tất cả những năm này.
Cha có thấy cha trong cái chúng ta gọi là “tân phúc âm hóa” không?
Theo tôi, dường như ý này của Đức Gioan-Phaolô II đã bị hiểu lầm. Chúng ta dựa theo mô hình cách truyền giáo của Mỹ. Tôi không nghĩ loại tâm linh cảm xúc, tay này cầm miếng bánh mì hamburger, tay kia cầm Thánh Kinh và hô Alléluia! là cách thích hợp để giao tiếp ở Âu châu. Theo tôi, tân phúc âm hóa là coi trọng văn hóa đương đại và xem xét các điểm trao đổi thật sự với nó. Đặc biệt phát triển một văn hóa suy niệm nhưng không tách rời với hành động: con người đang khao khát điều này và khi họ không tìm thấy trong Giáo hội công giáo, họ sẽ đi tìm nơi khác, trong các tôn giáo đông phương, trong yoga…v.v. Nhưng chúng ta có các điều này trong truyền thống công giáo, chẳng hạn ở cộng đoàn Taizé mà theo tôi đây là một ví dụ tốt.
Làm thế nào ngày nay chúng ta nghĩ về Thiên Chúa và làm sao để loan báo?
Tội lớn nhất trong lịch sử thần học và rao giảng của Giáo hội là nghĩ rằng rất dễ để nói về Chúa. Sự vô lo về lòng mộ đạo rẻ tiền này đã mở đường cho vô số khái niệm ngây ngô, nhưng cũng quái ác và độc hại về Chúa. May mắn thay, thần học gia Karl Rahner nhắc, Chúa của 60 đến 80 % người hình dung như thế không tồn tại! Chúng ta đừng đi tìm Chúa trong các cơn bão, các vụ động đất và đại dịch. Các người vô thần lập luận một cách đúng đắn, Chúa phạt con cái của Ngài tàn khốc chỉ là phản chiếu các nỗi sợ và các ước muốn của chúng ta.
Giống như tiên tri Êlia trên núi Horeb, chúng ta có nhiều khả năng tìm Chúa trong cơn gió thoảng, trong các diễn tả không giả vờ yêu thương và đoàn kết, trong hy sinh anh hùng hàng ngày vào các giờ đen tối của thảm họa. Chính trong các diễn tả tình yêu và phục vụ này mới mang lại hy vọng và can đảm để sống, rằng sự thánh thiện thực sự tự chính nó thể hiện.
Dù Thiên Chúa vẫn là huyền nhiệm nhưng huyền nhiệm này đã được mở ra qua nhân tính của Chúa Giêsu. Nhân tính của Chúa Giêsu là cửa sổ qua đó chúng ta thấy Thiên Chúa làm việc. Nó không những chỉ mở ra cho Chúa mà cho cả chúng ta, đặc biệt với những người nghèo nhất, yếu nhất, những người cần đến tình thương và sự gần gũi của chúng ta.
Đại dịch đã làm cho chúng ta đối diện với câu hỏi về ý nghĩa. Đây có phải là dịp để kitô giáo có thể nói thông điệp của mình, hy vọng của mình không?
Với tôi, giai đoạn các nhà thờ đóng cửa là lời cảnh báo mang tính ngôn sứ: trừ khi Giáo hội tiến hành cải cách theo yêu cầu của Đức Phanxicô – không chỉ cải cách cơ cấu, nhưng nhất là một bước ngoặt sâu thẳm, ở trọng tâm Tin Mừng -, các nhà thờ trống rỗng và bị khóa này sẽ không phải là ngoại lệ mà là quy tắc.
Cuộc khủng hoảng kitô giáo chủ yếu không do các lực bên ngoài – chủ nghĩa thế tục, chủ nghĩa duy vật. Và vì thế, nó không thể bị ngăn chặn bởi một cố gắng quay về thế giới công giáo đã bị mất, cũng không bằng sự “hiện đại hóa” rỗng tuếch và hời hợt để phù hợp với “tinh thần của thời đại”.
“Tinh thần của thời đại” chắc chắn không phải là tinh thần của Thần Khí; đó là ngôn ngữ của thế giới này mà tín hữu kitô không nên tuân thủ như Thánh Phaolô đã viết. Thay vào đó họ nên lắng nghe và hiểu các dấu chỉ của thời đại: đó là ngôn ngữ của Chúa trong các biến cố lịch sử mà chúng ta góp phần. Tôi hiểu, không phải dễ để thấy sự khác biệt giữa những gì là “người, quá người”, hời hợt và chóng qua trong lịch sử chúng ta, và “giây phút đúng lúc” mà tất cả chúng ta phải chấp nhận, qua đó chúng ta phải đáp trả như một thách thức của Chúa đối với đức tin của chúng ta.
Đại dịch đặt ra những câu hỏi tâm linh cho người tin, khi họ đối diện với sự dữ lớn lao này, và cho cả người không tin, dẫn họ đến câu hỏi về ý nghĩa cuộc sống. Trước hết Giáo hội không nên đặt câu hỏi làm thế nào để tái hội nhập những người ở bên ngoài biên giới hữu hình của họ (có lẽ không phải là một mục tiêu thực tế), nhưng nên suy nghĩ về một loại trách nhiệm mà họ có thể thực hiện cho chính họ.
Cha phân tích cuộc khủng hoảng kitô giáo đang trải qua (lạm dụng tình dục, nhà thờ trống rỗng) như thế nào?
Vấn đề thực sự bắt nguồn từ việc Giáo hội không thể hiểu và đáp ứng một cách thích hợp với cuộc cách mạng tình dục trong những năm 1960. Thay vì đáp ứng bằng cách phát triển một thần học về tình yêu và tình dục dựa trên các nguồn gốc sâu thẳm của chủ nghĩa thần bí kitô giáo, thì Giáo hội lại có xu hướng đi lui về một tôn giáo của mệnh lệnh, của cấm đoán. Nỗ lực kỷ luật tình dục cách nghiêm ngặt nhất có thể, đã làm điều răn thứ sáu phát triển đến mức (chớ lấy vợ người) thành như điều răn đầu tiên – và có lẽ là điều răn duy nhất.
Chúng ta đã bắt đầu thấy người công giáo là người tiếp tục nói về bao cao su, phá thai, các kết hiệp đồng tính… Cho đến khi Đức Phanxicô đã có can đảm tố cáo “nỗi ám ảnh thần kinh” này và nhắc chúng ta nhớ những gì là trọng tâm của kitô giáo; lòng thương xót, tình thương lân tuất và hiệp nhất với tất cả mọi người, đặc biệt là những người sống bên lề, và phải có trách nhiệm với hành tinh.
Phản ứng tự nhiên của thế giới thế tục là: quý vị hãy nhìn vào hàng ngũ quý vị! … Đó là làn sóng tiết lộ trên toàn cầu về các vụ lạm dụng tình dục. Nó cũng cho thấy nhiều người phản đối ồn ào chống đồng tính luyến ái, họ làm như vậy để che giấu vấn đề riêng của họ trong các vụ này. Chính họ thường có đời sống hai mặt.
Khi Đức Phanxicô bắt đầu nói về nguyên nhân thực sự của tình trạng này – sự lạm quyền trong Giáo hội, chủ nghĩa giáo quyền, trong Tông huấn Niềm vui Yêu thương, Amoris laetitia, ngài đã tìm cách sửa đổi các tín hữu biệt phái bằng đạo đức của lòng thương xót và thấu hiểu với những người gặp khó khăn, khuyến khích họ tin vào tiếng nói lương tâm, ngài đã khơi dậy lòng hận thù điên cuồng của những người biệt phái và kinh sư thời buổi chúng ta.
Thời kỳ mà các vết thương ẩn giấu này bắt đầu xuất hiện trên thế giới – những năm cuối cùng của Đức Bênêđictô XVI và sau đó là của Đức Phanxicô – là một “dấu chỉ của thời đại” khác: nó trùng với sự thức tỉnh lương tâm về phẩm giá phụ nữ trong xã hội và trong Giáo hội. Nếu Giáo hội phớt lờ nó, Giáo hội có nguy cơ mất một số lớn phụ nữ, cũng như Giáo hội đã mất ảnh hưởng đối với tầng lớp lao động vì phản ứng trễ tràng của Giáo hội trong các vấn đề xã hội của cuộc cách mạng công nghiệp. Chúng ta cần tạo thêm chỗ cho đặc sủng của họ trong Giáo hội.
Chúng ta nên sáng chế gì?
Vào lễ Phục sinh, tôi đã chỉ trích khuynh hướng của người công giáo thay thế việc cử hành Thánh Thể bằng việc tiêu thụ đại chúng trực tuyến. Sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô trong bí tích Thánh Thể đòi hỏi có sự hiện diện của tín hữu xung quanh bàn thờ và sự hiện diện thực sự của các kitô hữu trong xã hội.
Tuy nhiên, chúng ta không thể trở về với hoài niệm một thế giới đã biến mất và sẽ không bao giờ trở lại. Tôi tin rằng một hình thức kitô giáo đang chết dần. Nhưng trọng tâm của kitô giáo không phải là thông điệp của cái chết phải đi trước sự sống lại đó sao? Bây giờ sự phục sinh không phải là hồi sinh, trở lại trạng thái trước đó. Các Tin Mừng cho chúng ta biết Chúa Giêsu đã biến hình, ngay cả những người gần với Ngài lúc đầu cũng không nhận ra Ngài. Ngài phải chứng minh bằng các vết thương của Ngài. Tôi nghĩ “sự sống lại” của kitô giáo trong tương lai là trong cải cách, trong sự đào sâu và biến đổi của nó.
Điều này tùy thuộc vào mức độ mà Giáo hội có thể giao tiếp với những người đi tìm ý nghĩa này. Thần học nên nghiêm túc rút kinh nghiệm của những người ở bên lề Giáo hội và vượt ra ngoài ranh giới hữu hình của mình. Chúa Giêsu không chỉ hiện diện duy nhất trong bài giảng, trong các bí tích của chúng ta nhưng Ngài đến với chúng ta như Ngài đã đến với các môn đệ trên đường Ê-mau như người khách lạ. “Chúa Thánh Thần thổi ở đâu Ngài muốn.”
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
2020
Renaud Capuçon: “Trong thời gian cách ly tôi đàn mỗi ngày”

Nhạc sĩ vĩ cầm Renaud Capuçon, 44 tuổi đưa chúng ta vào thế giới âm nhạc của ông.
Ông nghĩ đến ai đầu tiên trong ngày? Đến vợ tôi (ký giả Laurence Ferrari) và con trai Elliott 9 tuổi của tôi.
Cái gì còn lại trong tuổi thơ của ông? Mùi sàn cao-su của hành làng Hôtel du Golf, ở Bourg-Saint-Maurice. Nó dính liền với niềm đam mê âm nhạc của tôi. Đây là nơi bắt đầu với các buổi hòa nhạc ở Liên hoan nhạc Arcs.
Tội nho nhỏ của ông, đặc biệt trong thời gian cách ly này? Dĩ nhiên là sô-cô-la.
Lần cuối cùng ông tha thứ? Với đứa con trai của tôi. Trong thời gian cách ly, tôi dạy phân số cho con và tôi khá khắc khe với con.
Ông có một giờ thinh lặng ông làm gì? Tôi sẽ đến tu viện các tu sĩ Dòng Xitô ở Sénanque (Vaucluse).
Báu vật của ông? Chiếc đàn vĩ cầm, người bạn mỗi ngày của tôi, người cùng tôi trên sân khấu. Kể cả trong thời gian cách ly, mỗi ngày tôi đàn một thời gian ngắn và đăng trên trang Twitter của tôi.
Một hành vi đón nhận làm ông xúc động? Cách cúi đầu nghiêm trang chào của người Nhật.
Ông muốn “cám ơn” ai? Cha mẹ tôi, họ luôn nâng đỡ tôi trên con đường khó khăn này.
Một nơi để ông lấy lại sức? Khi rãnh tôi đi bộ ở Alpilles, tôi rất thích ánh sáng ở đây. Và dừng chân ở Eygalières, nơi tôi kết hôn.
Quyển sách gối đầu giường của ông?
Tôi thường hay đọc lại Các thư gởi Gala của nhà văn Paul Eluard.
Nhân vật ông mơ được gặp? Nhà soạn nhạc Bach, để hiểu làm sao một con người lại có thể viết loại nhạc thần thánh như vậy.
Đối với ông, Chúa Giêsu là… Hy vọng. Một cảm giác mà tôi vừa cảm nhận gần đây khi tôi chầu vương miện thánh giá ở Nhà thờ Đức Bà Paris ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Đây là một trong những khoảnh khắc sâu đậm nhất của đời tôi, đến mức tôi không có đủ chữ để mô tả: mạnh mẽ về mặt thiêng liêng và đồng thời gắn chặt vào thực tế bởi sức nặng của nó.
Ông được ban cho đời sống vĩnh cữu, ông có ký nhận không? Có. Từ lâu tôi đã có đức tin và tôi tin nó vẫn còn tồn tại trong tôi.
Marta An Nguyễn dịch
2020
Giáo dục nhân bản trong gia đình
- Gia đình Việt Nam hiện nay
Gia đình Việt Nam trong những thập kỷ qua có nhiều sự biến đổi dưới tác động của sự thay đổi nhanh chóng của xã hội theo nhiều chiều hướng, cả tích cực lẫn tiêu cực.
Một số dữ liệu thống kê cung cấp bức tranh tạm phác hoạ của gia đình Việt Nam:
– Tuổi kết hôn trung bình là 25 tuổi. Tuổi kết hôn có chiều hướng tăng qua các năm có thể cho thấy người trẻ có sự chín chắn, cẩn trọng hơn trong quyết định hôn nhân.
– Tỷ lệ lao động nữ đã qua đào tạo tăng từ 12,3% (2007) lên 20,9% (sơ bộ 2017). Các số liệu thống kê cho thấy tỷ lệ nữ giới được học tập và tham gia lao động ngoài xã hội ngày càng tăng. Tuy nhiên, sự tham gia của nam giới vào công việc nội trợ, và cả việc giáo dục con cái không tăng đáng kể và chưa tương xứng với sự gia tăng của phụ nữ tham gia thị trường lao động (Nguyễn Hữu Minh. (2015). Gia đình Việt Nam sau 30 năm Đổi mới. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam. 11 (96)).
– Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh trong gia đình Việt liên tục từ năm 2006 đến nay: 109,8 bé trai/100 bé gái (năm 2006) lên 113,8 bé trai/100 bé gái (năm 2013), mất cân bằng cả ở nông thôn và thành thị; người có điều kiện kinh tế, học vấn cao hơn lại lựa chọn giới tính khi sinh nhiều hơn. Theo dự báo đến năm 2050, VN thừa 3-4 triệu đàn ông không lấy được vợ.
– 27,5% gia đình Việt có xung đột: Theo khảo sát trên 1.500 người của Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế và Môi trường (iSEE) tiến hành trong tháng 5 và tháng 6/2015, gia đình Việt Nam đang đối mặt với một số vấn đề như xung đột, bất hòa giữa các thành viên trong gia đình (27,5%), ngoại tình (16%), nợ quá khả năng chi trả (9,9%) và các vấn đề khác.
– Theo số liệu của Tổng Cục thống kê, năm 2016 có 24.308 vụ ly hôn đã xét xử; năm 2017 là 27.948. Một số liệu khác lại cho thấy con số lớn hơn nhiều: năm 2000 là 51.361; năm 2005 là 65.929 (điều tra do Bộ VH-TT&DL, phối hợp với Tổng Cục Thống kê, với sự hỗ trợ của UNICEF, trích theo Family).
- Giáo dục gia đình qua một số nghiên cứu
2.1 Giáo dục gia đình và tác động đến con cái
– Nguyễn Thị Anh Thư (2006) phân tích 2 trường hợp trẻ được chẩn đoán tăng động giảm chú ý để chỉ ra tác động của giáo dục gia đình, đặc biệt vai trò của cha và mẹ trong việc kìm hãm, điều chỉnh những rối nhiễu ở trẻ hay làm tăng thêm rối nhiễu nếu cha mẹ không có cách giáo dục phù hợp. Đoàn Việt (2005) nghiên cứu các biện pháp giáo dục con của cha mẹ vùng nông thôn huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy cha mẹ vẫn quan niệm đánh, mắng con là những biện pháp, công cụ để giáo dục con; một số cha mẹ đã có thay đổi trong nhận thức về việc sử dụng các biện pháp bạo lực trong giáo dục con nhưng trong thực tế họ vẫn thỉnh thoảng sử dụng biện pháp bạo lực như giải pháp tức thời trong tình huống con phạm lỗi, điều này cho thấy sự lúng túng của cha mẹ trong việc đổi mới nhận thức và phương pháp giáo dục con.
– Tác giả Lưu Song Hà (2008) tìm hiểu đánh giá của chính cha mẹ về bản thân và so sánh với cảm nhận của con cái về cha mẹ ở học sinh trung học cơ sở. Kết quả cho thấy có những khác biệt về mức độ hiểu con giữa đánh giá của người cha về bản thân và cảm nhận của con về cha mình. Đối với người mẹ, sự khác biệt thể hiện ở tiêu chí tin tưởng và bình đẳng.
– Nghiên cứu về phong cách giáo dục của cha mẹ cho thấy cha mẹ có xu hướng giữ gìn các mối dây liên hệ cho sự hoà hợp gia đình mà vẫn ủng hộ độc lập của cá nhân (Hoàng M.K., 2005). Các cha mẹ Việt đều có chỉ số khuyến khích tự chủ-tự lập và chỉ số tình cảm cao hơn chỉ số kiểm soát độc đoán.
– Các nghiên cứu khác cũng cho thấy cha mẹ tỏ ra quan tâm nhiều đến con cái của mình ở những độ tuổi khác nhau (Lưu Song Hà, 2007; Lã Thị Thanh Thủy, 2009; Nguyễn Thị Anh Thư và Bùi Minh Đức, 2012). Đặc biệt, tác giả Lưu Song Hà trong nghiên cứu của mình đã nhận thấy rằng, các em học sinh ở độ tuổi trung học cơ sở dù biết rằng cha mẹ quan tâm nhiều đến mình, nhưng các em vẫn mong muốn được cha mẹ quan tâm hơn nữa, và đối xử với mình bớt nghiêm khắc hơn. Đây cũng chính là hai điều mà các em học sinh muốn cha mẹ mình thay đổi nhất. Theo lập luận của tác giả Lưu Song Hà thì nguyên nhân của mong muốn này xuất phát từ việc cha mẹ của các em rất bận rộn với công việc và không nhiều thời gian dành cho con – một thực tế chung cho phần lớn các gia đình hiện nay. Theo kết quả Điều tra Gia đình Việt Nam 2006, vẫn còn một tỷ lệ không nhỏ cha mẹ không dành chút thời gian nào để chăm sóc con cái dưới 15 tuổi: 6,8% người mẹ và 21,5% người cha.
– Sự thiếu hụt kiến thức của các bậc cha mẹ về đặc điểm phát triển nhận thức, sự thay đổi tâm sinh lý của con cái trong giai đoạn vị thành niên và không nắm được các phương pháp giáo dục con một cách hiệu quả là nguyên nhân quan trọng làm tăng nguy cơ xung đột giữa cha mẹ và con cái (Nguyễn Hữu Minh. (2015). Gia đình Việt Nam sau 30 năm Đổi mới. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam. 11 (96)).
2.2 Tương quan giữa cha mẹ và con tuổi vị thành niên
Trẻ vị thành niên được nuôi dưỡng tốt nhất khi những mối quan hệ trong gia đình của trẻ tìm được sự cân bằng giữa sự tự chủ – tự lập và gắn bó với cha mẹ. Nghiên cứu của Allen và cộng sự (1994) về sự cần thiết của cha mẹ trong việc tạo ra cân bằng giữa phát triển tự chủ-tự lập và gắn bó với cha mẹ. Theo đó, có 2 loại hành vi đặc thù liên quan đến sự tự chủ-tự lập của trẻ vị thành niên: hành vi cho phép và hành vi kìm hãm. Những phụ huynh có hành vi cho phép được đánh giá cao thì thường chấp nhận con cái của họ, đồng thời giúp trẻ phát triển và đưa ra ý kiến riêng của mình thông qua những câu hỏi, sự giải thích, và sự bao dung về sự khác biệt quan điểm. Ngược lại, cha mẹ nào sử dụng nhiều hành vi kìm hãm thì sẽ khó chấp nhận cá tính của con em mình, đồng thời phản ứng lại với sự thể hiện suy nghĩ của trẻ bằng những lời nhận xét là thiếu tập trung, phán xét hoặc ít có giá trị. Trẻ vị thành niên có cha mẹ sử dụng nhiều hành vi cho phép lẫn một chút sự kìm hãm thì có khả năng thể hiện cá tính nhiều hơn và có nhiều tiến triển trong sự phát triển bản ngã cũng như năng lực tâm lý xã hội.
Thanh thiếu niên dần dần có được quyền tự chủ – tự lập từ cha mẹ. Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, khái niệm tự chủ tự lập được định nghĩa theo các khuynh hướng khác nhau. Tự chủ cảm xúc đề cập đến sự độc lập, tách rời, liên quan đến sự thay đổi trong tương quan giữa cha mẹ và trẻ. Tự chủ cảm xúc dường như đem lại những ảnh hưởng rất khác biệt đến trẻ vị thành niên, phụ thuộc vào mức độ của sự hòa hợp trong mối quan hệ giữa cha mẹ – trẻ. Những trẻ trở nên tự chủ về cảm xúc nhưng đồng thời có cảm giác xa cách, tách biệt với cha mẹ thì sẽ có biểu hiện kém trong mức độ đo lường về điều chỉnh tâm lý cá nhân, còn những trẻ khác, thể hiện cùng mức độ tự chủ cảm xúc nhưng vẫn đi kèm cảm giác gần gũi, gắn bó với cha mẹ thì có đời sống tinh thần khỏe mạnh hơn bạn bè cùng lứa.
Tự chủ về hành vi đề cập đến khả năng quyết định và thực hiện độc lập. Nỗ lực ban đầu của thanh thiếu niên để thiết lập hành vi tự chủ trong gia đình thường là nguyên nhân dẫn đến xung đột giữa cha mẹ và thanh thiếu niên. Giữa thời kỳ niên thiếu, trẻ vị thành niên hành động và được đối xử giống người lớn hơn. Trẻ có nhiều ảnh hưởng đến các quyết định gia đình, và do vậy, không cần khẳng định ý kiến của mình bằng các hành vi chưa trưởng thành (Grotevant, 1998). Trẻ cũng được phép dành nhiều thời gian riêng tư mà không phải chịu sự giám sát trực tiếp của cha mẹ.
Nhìn chung, thanh thiếu niên tự chủ- tự lập cho thấy họ khá thân với cha mẹ, thích có các hoạt động chung với gia đình, tuy có một ít xung đột với cha mẹ nhưng thanh thiếu niên vẫn cảm thấy thoải mái khi cha mẹ tư vấn, chia sẻ, và nói rằng họ muốn được như cha mẹ (Kandel và Lesser, 1972). Các mối quan hệ gia đình căng thẳng xuất hiện có liên quan đến thiếu tự chủ trong tuổi niên thiếu, chứ không phải với sự hiện diện tất yếu của thời kỳ vị thành niên.
Có những thay đổi trong sự hài hoà trong gia đình khi trẻ bước vào tuổi vị thành niên. Mặc dù có ít nghiên cứu tìm hiểu về tình cảm giữa trẻ vị thành niên và cha mẹ, nhưng một số ít minh chứng từ kết quả nghiên cứu cho thấy quan hệ giữa cha mẹ và con ít gần gũi hơn khi trẻ bước vào tuổi vị thành niên, được nhận thấy qua việc trẻ ít tham gia vào các hoạt động chung trong gia đình và cha mẹ và trẻ ít thể hiện tình cảm. Thực ra, mối quan hệ ít gần gũi giữa cha mẹ và trẻ vị thành niên chỉ là thể hiện mong muốn gia tăng sự độc lập và riêng tư của trẻ và vì trẻ đã lớn, cha mẹ ít thể hiện tình cảm qua cử chỉ, lời nói, đó không phải là không còn tình yêu và tôn trọng giữa cha mẹ và con cái (Montemayor, 1983, 1986). Nghiên cứu cho thấy các mối quan hệ có thể trở nên ít mâu thuẫn và thân mật hơn trong giai đoạn cuối tuổi vị thành niên (Thornton, Orbuch, và Axinn, 1995; Larson et al., 1996).Trong các gia đình có sự gắn bó tốt giữa cha mẹ và con ở tuổi đầu vị thành niên vẫn giữ được tương quan gần gũi trong giai đoạn vị thành niên mặc dù tần suất trao đổi, tương tác và các hoạt động chung giữa cha mẹ và con có thể giảm. Mặc dù một số trẻ vị thành niên và cha mẹ có những vấn đề mâu thuẫn, nhưng nhìn chung trong các gia đình, trẻ vị thành niên vẫn có mối quan hệ tốt với cha mẹ, tôn trọng cha mẹ và cảm nhận được tình yêu thương, quan tâm, chăm sóc cha mẹ dành cho mình (Steinberg, 2001).
Mặc dù xung đột là yếu tố đặc trưng trong mối quan hệ giữa trẻ vị thành niên và cha mẹ, nhưng nghiên cứu cho thấy rõ ràng những xung đột gay gắt, thường xuyên và dẫn đến bạo lực là không bình thường. Những ảnh hưởng tiêu cực của xung đột giữa trẻ vị thành niên và cha mẹ không nằm ở vấn đề của xung đột mà ở cách thức giải quyết xung đột. Xung đột thường được giải quyết bằng sự phục tùng của trẻ hoặc bằng việc rút lui (bỏ đi chỗ khác), hoặc bằng việc bỏ ngoài tai những lời của cha mẹ (Đỗ Hạnh Nga, 2014). Các cách thức này đều không đem lại hiệu quả cải thiện mối quan hệ cũng như giúp trẻ phát triển năng lực giải quyết vấn đề. Các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy các gia đình rất khác nhau trong vấn đề mâu thuẫn và xung đột giữa cha mẹ và con tuổi vị thành niên. Smetana (1996) đưa ra ba nhóm mâu thuẫn gia đình: i) nhóm đông nhất thường xuyên có xung đột, nhưng không mâu thuẫn không gay gắt, lặt vặt và không có bạo lực; ii) một nhóm nhỏ các gia đình được thấy là không hề có xung đột giữa cha mẹ và con vị thành niên; iii) nhóm gia đình thứ ba cũng thường xuyên có xung đột, mâu thuẫn gay gắt và có thể dẫn đến bạo lực. Theo Smetana (1996), nhóm gia đình 1 thuộc loại gia đình với những xáo trộn điển hình trong thời kỳ này, nhóm 2 là một số ít các gia đình đã khéo léo vượt qua được các khó khăn và thành công trong việc điều chỉnh lại các mối quan hệ để phù hợp với đặc điểm phát triển của tuổi vị thành niên, nhóm 3 đại diện cho các gia đình với nguy cơ rối loạn tâm thần và các vấn đề về điều chỉnh hành vi nơi trẻ vị thành niên. Tóm lại, mâu thuẫn và xung đột thường xuyên, gay gắt, bạo lực là điều không bình thường trong thời kỳ vị thành niên; trong khi những tranh cãi về công việc nhà, quần áo, thời gian vào internet, hoặc các quy tắc, quy định là điều bình thường trong các gia đình có con tuổi vị thành niên. Hầu hết những mâu thuẫn này thể hiện sự thay đổi trong quá trình trưởng thành về nhận thức của trẻ, đặc biệt sự nhìn nhận và thể hiện quan điểm cá nhân về quy ước xã hội.
2.3 Phong cách giáo dục của cha mẹ
Nghiên cứu của Hoàng Mai Khanh (2014) về bốn yếu tố thể hiện phong cách giáo dục của cha mẹ tại một trường THCS quận 1, TP. HCM cho thấy cha mẹ tự đánh giá mình thể hiện sự yêu thương, quan tâm đến con cái tương đối khá, đồng thời không đề cao cách giáo dục áp đặt, con cái phải hoàn toàn tuân theo yêu cầu của cha mẹ. Tuy nhiên, cha mẹ vẫn sử dụng hình phạt với con cái. Cha mẹ vẫn sử dụng hình phạt như một cách thức kỷ luật đối với con: 83,8% cha và mẹ đồng ý và hoàn toàn đồng ý dùng hình phạt khi con hư, nhưng cha mẹ cũng nhận thức rằng hình thức chỉ trích và la mắng không phải là cách giáo dục tốt để con tiến bộ (71% cha mẹ ít đồng ý và không đồng ý với hình thức này).
Khuyến khích tự chủ – tự lập là yếu tố được cha mẹ quan tâm thực hiện trong giáo dục con cái ở độ tuổi THCS. 75% cha mẹ khuyến khích con tự tìm cách giải quyết vấn đề khi gặp khó khăn. Cha mẹ chỉ đóng vai trò hướng dẫn, tư vấn, trẻ được tự do suy nghĩ và chọn lựa. Một kết quả thú vị là cha mẹ rất chú trọng việc phát triển nhận thức, suy nghĩ độc lập cho con qua việc khuyến khích con đặt câu hỏi và suy nghĩ về cuộc sống (91% đồng ý và hoàn toàn đồng ý).
Một kết quả tích cực từ nghiên cứu là các chỉ số thể hiện sự xung khắc giữa cha mẹ và con được đánh giá thấp nhất. Chính trẻ vị thành niên cũng nhận xét ít có mâu thuẫn với cha mẹ. Kết quả này cho thấy xung đột giữa cha mẹ và trẻ vị thành niên thường là những xung đột nhỏ, lặt vặt, không gay gắt và không có bạo lực. Đây là những xung đột điển hình trong thời kỳ này, cả cha mẹ và trẻ đều đang trải qua một thời kỳ thích nghi với một giai đoạn/chu kỳ mới trong cuộc sống gia đình. Trẻ khám phá chính bản thân mình, khám phá khả năng tiềm ẩn của chính mình, học hỏi và rèn luyện những khả năng đó để định vị mình trong xã hội. Cha mẹ cũng học hỏi và thích nghi với sự trưởng thành của con cái.
Cũng giống như cha mẹ, cảm nhận của con về tình yêu thương quan tâm của cha mẹ có chỉ số cao nhất, tiếp đến là yếu tố khuyến khích tự chủ – tự lập. Trẻ vị thành niên cũng có nhận định cha mẹ mình không kiểm soát độc đoán cao trong giáo dục và ít có xung khắc giữa cha mẹ và con.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy cha mẹ và trẻ vị thành niên đều đánh giá cao yếu tố khuyến khích sự tự chủ – tự lập, và có sự tương đồng trong quan điểm, nhìn nhận sự tự chủ – tự lập trên 3 khía cạnh: trách nhiệm, thể hiện bản thân và khả năng chọn lựa. Cha mẹ và thiếu niên định nghĩa tự chủ – tự lập là có tinh thần trách nhiệm, chủ động, tự giác, thể hiện bản thân và khả năng quyết định. Quan điểm này phù hợp với khái niệm cái Tôi tự chủ trong liên đới (autonomous-related Self (Kagitcibasi, 1996)) không trở nên tách biệt, độc lập hoàn toàn với người khác, mà là hài hòa và phù hợp với người khác. Trong quá trình phát triển bản sắc cá nhân và xã hội, gắn bó an toàn và khích lệ của cha mẹ là một trong những điều kiện cần thiết. Trong quá trình đạt đến tự chủ – tự lập, trẻ phát triển bản sắc cá nhân và xã hội trong các mối quan hệ xã hội bình đẳng và hỗ trợ tích cực. Sự gắn bó an toàn và khích lệ của cha mẹ rõ ràng cần thiết và thúc đẩy quá trình phát triển tự chủ – tự lập của thanh thiếu niên. Có thể kết luận trong các gia đình lành mạnh, các thiếu niên thân thiết với cha mẹ, đáp ứng thẩm quyền của cha mẹ và tiếp tục tin tưởng vào sự tư vấn của cha mẹ, trong khi vẫn thể hiện tính tự chủ – tự lập ngày càng cao trong các hoạt động của cuộc sống.
2.4 Bàn luận về giáo dục nhân bản qua các kết quả nghiên cứu về giáo dục gia đình và những thách thức của gia đình
Giáo dục Nhân bản (bản chất của con người) là giáo dục nhằm giúp nhận biết con người thật của mình là hình ảnh của Thiên Chúa, duy nhất, độc đáo, độc lập, trọn vẹn giá trị. Theo định nghĩa này, bức tranh giáo dục của cha mẹ được trình bày từ các kết quả nghiên cứu có thể đưa đến kết luận như thế nào về giáo dục nhân bản trong gia đình?
Với phong cách giáo dục dân chủ – nghiêm minh, thể hiện tình yêu thương, quan tâm đối với con và khuyến khích sự tự chủ – tự lập, khám phá và phát triển “cái Tôi” duy nhất, độc đáo trong sự liên đới, trách nhiệm với con người, môi trường và xã hội, cha mẹ đã đáp ứng mục tiêu của giáo dục nhân bản.
Tuy nhiên, cũng cần nêu rõ là nghiên cứu thực hiện trên địa bàn quận trung tâm, các gia đình lành mạnh và cha mẹ có trình độ và hiểu biết tốt. Vẫn còn một tỷ lệ không nhỏ các cha mẹ bận rộn suốt ngày, trẻ con bị giảm thiểu các mối quan hệ giao tiếp và cũng là giảm thiểu những bài tập đầu tiên và cơ bản của giao tiếp xã hội. Ở nông thôn, cha mẹ bỏ ra thành phố kiếm việc dài ngày, con cái phó mặc cho ông bà già. Ở thành thị, trẻ được giao phó cho người giúp việc, trẻ chỉ nhận được tình yêu của cha mẹ qua vài dòng dặn dò ghi trên tấm bảng. Có trẻ tự nhận mình mồ côi ngay khi vẫn còn bố mẹ. Các cha mẹ giáo dục con cái không đúng cách, làm ngơ cho lỗi lầm của con trẻ, đánh đòn con bất kể lý do gì, hay có thái độ bất lực đối với các hành vi mắc lỗi của con cái. Số liệu điều tra Thanh niên và vị thành niên Việt Nam lần 2 (SAVY 2009) cho thấy, có đến 4,1% trẻ vị thành niên tuổi 14 – 17 cho biết đã bị người trong gia đình đánh thương tích, có thể hiểu chủ yếu là cha mẹ đánh. Số liệu Điều tra Gia đình Việt Nam 2006 cho biết, có 1,4% người làm cha mẹ đã đánh trẻ khi con cái mắc lỗi trong 12 tháng trước khảo sát. Sự thiếu hụt kiến thức của các bậc cha mẹ về đặc điểm phát triển nhận thức, sự thay đổi tâm sinh lý của con cái trong giai đoạn vị thành niên và không nắm được các phương pháp giáo dục con một cách hiệu quả là nguyên nhân quan trọng làm tăng nguy cơ xung đột giữa cha mẹ và con cái.
Bên cạnh những thách thức như công việc bận rộn, thời gian eo hẹp, cả cha và mẹ đều đi làm. Xung đột giá trị là một trong những thách thức lớn của gia đình. Trong bối cảnh của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhất là dưới sự tác động của toàn cầu hóa, hệ giá trị gia đình ở Việt Nam đang có sự biến đổi rất lớn. Bên cạnh những giá trị cổ truyền như “kính trên, nhường dưới”, “trọng xỉ” (tôn trọng người cao tuổi), thì những giá trị mới như coi trọng “quyền tự do cá nhân”, “bình đẳng giới”, “quyền trẻ em”, “sự tự chủ – tự lập” cũng ngày càng được khẳng định. Các nghiên cứu xã hội học cũng ghi nhận xu hướng tiếp nhận giá trị mới, tiêu biểu nhất là sự bình đẳng giới, bình đẳng giữa các thế hệ trong đời sống gia đình. Tỷ lệ ưu tiên lựa chọn giá trị này ở mức trung bình (51,6%), phản ánh tính chất quá độ trong sự chuyển đổi của gia đình từ truyền thống sang hiện đại. Bình đẳng là một giá trị của xã hội hiện đại, hơn nữa, là một giá trị thuộc về chất lượng cuộc sống. Trong thời kỳ hiện đại, nhất là ở các xã hội đang chuyển đổi, người ta không thể không có sự lựa chọn giữa giá trị sinh tồn và giá trị tự biểu hiện, giá trị nâng cao chất lượng cuộc sống.
Sự biến đổi này, trong một chừng mực nhất định, đã làm cho mối quan hệ ông bà – cha mẹ – con cháu không thuận chiều như trước đây và làm tăng những mâu thuẫn và xung đột thế hệ. Điều tra Gia đình Việt Nam 2006 cho biết, có khoảng 1/10 số ý kiến từ các hộ gia đình có 3 thế hệ chung sống thừa nhận có sự không thống nhất về các vấn đề về lề lối sinh hoạt, cách quản lý tiền và tiêu tiền, cách thức làm ăn và phát triển kinh tế gia đình, cũng như về phương pháp giáo dục con cháu.
Tuy nhiên, từ các lý thuyết và kết quả nghiên cứu về phong cách giáo dục của cha mẹ, có thể thấy các giá trị truyền thống hay các giá trị mới đều không hề xung đột với phong cách giáo dục yêu thương, quan tâm, xây dựng tương quan gắn bó, tin tưởng, chia sẻ, lắng nghe và tôn trọng giữa cha mẹ và con và khuyến khích sự tự chủ – tự lập.
Bên cạnh đó, giáo dục nhân bản và giáo dục đức tin còn thông qua chính cuộc sống, công việc, các tương quan, ứng xử, các quyết định, chọn lựa hằng ngày của cha mẹ. Đó chính là cuốn sách sống động về giáo dục nhân bản và đức tin cho con cái.
Tóm lại, giáo dục là một ơn gọi, sứ mạng cao cả nhất của cha mẹ được thực hiện qua cuộc sống hằng ngày, qua từng ứng xử, từng lời nói với con cái. Giáo dục của cha mẹ mang tính cách độc đáo – cha mẹ là “người mẫu” (dù muốn hay không muốn). Trẻ thẩm thấu từ cha mẹ cách yêu thương chính mình và yêu thương người khác, các quan niệm và giá trị, các hành động, ứng xử, giải quyết vấn đề và các chọn lựa trong cuộc sống. Tương quan giữa cha mẹ và con cái là một tình yêu đặc biệt, không thể thay thế, cùng với những hiểu biết khoa học về giáo dục, tâm lý sẽ giúp cha mẹ trở thành Người thầy tuyệt vời nhất của con.
Biển Đức Hoàng Mai Khanh
Tài liệu tham khảo
- Allen, J., Hauser, S., Bell, K., and O’Connor, T. (1994). Longitudinal assessment of autonomy and relatedness in adolescent-family interactions as predictors of adolescent ego development and self- esteem. Child Development 64, pp. 179-194.
- Đỗ Hạnh Nga (2014), Xung đột tâm lý giữa cha mẹ và con lứa tuổi học sinh trung học cơ sở về nhu cầu độc lập. TP. HCM: NXB ĐHQG-HCM.
- Grotevant, H. (1998). Adolescent development in family contexts. In W. Damon (Series Ed.) and N. Eisenberg (Vol. Ed.), Handbook of child psychology: Vol. 3. Social, emotional, and personality development. (5th ed., pp. 1097-1150). New York: Wiley.
- Hoàng Mai Khanh. (2005). Pratiques éducatives parentales et l’autonomie de l’enfant. Comparaison France-Viet Nam. Thèse de doctorat en Sciences de l’Éducation. Université de Paris X – Nanterre, France.
- Hoàng Mai Khanh. (2014). Phong cách giáo dục của cha mẹ: tự đánh giá của cha mẹ và nhận định từ con cái lứa tuổi học sinh THCS. Đề tài NCKH trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG TP. HCM.
- Kagitcibasi, C. (1996). Family and human development across cultures: A view from the other side. Hillsdale, NJ: Lawrence Erlbaum.
- Kandel, D., and Lesser, G. (1972). Youth in two worlds. San Francisco: Jossey-Bass.
- Lã Thị Thanh Thủy. 2009 Mức độ kỳ vọng của cha mẹ đối với con cái lứa tuổi tiểu học. Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế “Nhu cầu, định hướng và đào tạo tâm lý học đường tại Việt Nam”, Hà Nội, 08/2009, 232-237.
- Lưu Song Hà (2007), Tự đánh giá của cha mẹ và những khác biệt giữa nó với cảm nhận của con về cha mẹ trong quan hệ cha mẹ – con lứa tuổi học sinh trung học cơ sở, Tạp chí Tâm lý học, số 2-2007, tr.24-29.
- Lưu Song Hà. (2008). Tác động của giáo dục gia đình đến động cơ thành đạt của thanh niên. Tạp chí Tâm lý học, 8, 16-21.
- Montemayor, R. (1983). Parents and adolescents in conflict: All families some of the time and some families most of the time. Journal of Early Adolescence, 3, 83-103
- Montemayor, R. (1986). Family variation in parent-adolescent storm and stress. Journal of Adolescent Research, 1, 15-31.
- Montemayor, R., and Brownlee, J. (1987). Fathers, mothers, and adolescents: Gender-based differences in parental roles during adolescence. Journal of Youth and Adolescence, 16, 281-292.
- Nguyễn Hữu Minh. (2015). Gia đình Việt Nam sau 30 năm Đổi mới. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam. 11 (96).
- Nguyễn Thị Anh Thư, (2006), Ảnh hưởng của giáo dục gia đình đến tăng động giảm chú ý ở trẻ em, Tạp chí Tâm lý học, số 11 (92), tr.34-39.
- Nguyễn Thị Anh Thư và Bùi Minh Đức. (2012). Mối quan hệ giữa ứng xử trong gia đình và kết quả học tập của học sinh trung học cơ sở. Tạp chí Tâm lý học, 8, 68-79.
- Smetana, J. G. (1996). Adolescent-parent conflict: Implications for adaptive and maladaptive development. Rochester, NY: University of Rochester Press.
- Steinberg, L., & Morris, A. S. (2001). Adolescent development. Annual Review Psychology, 52, 83-110.
- Thornton, A., Orbuch, T. L., and Axinn, W.G. (1995). Parent-child relationships during the transition to adulthood. Journal of Family Issues, 16, 538-564.
