2020
Coronavirus: Cả một thế hệ trí thức công giáo Pháp biến mất

Khai mạc Công đồng Vatican II 11 tháng 10-1962
Đại dịch Covid-19 đã cuốn đi nhiều tư tưởng gia và thần học gia công giáo, những người đã thực hiện Công đồng Vatican II vào những năm 1970. Nếu họ đã phát triển đối thoại giữa Giáo hội và tôn giáo thì các người kế thừa họ đang đi tìm ngày nay.
Chúng ta chưa thấy họ già, các vị ngoài tám mươi này đã suy nghĩ về Giáo hội và thế giới từ năm mươi năm nay. Và bây giờ Covid-19 đặc biệt nhắm đến họ, mang cả một thế hệ các nhà trí thức kitô giáo đánh dấu tư duy hậu Công đồng Vatican II ra đi.
Những cái chết trong các tuần vừa qua đã tạo một cảm xúc sâu đậm, đã mang các cha Henri Madelin, Michel Lelong, André Manaranche, Philippe Lécrivain, các sử gia Francis Rapp, Jacques Le Brun ra đi, đó là chỉ kể tên một vài trong số họ. Họ là chứng nhân của một thời, của một dấn thân đáng kể trong lịch sử gần đây của Giáo hội và xã hội.
Chắc chắn không phải đại dịch mới cuốn đi lứa tuổi này, chúng ta còn nhớ các cha vừa qua đời trong những năm gần đây như cha Maurice Bellet (90 tuổi, qua đời năm 2018), cha Dòng Đa Minh Claude Geffré (91 tuổi, qua đời năm 2017) và sử gia Jean Delumeau (97 tuổi, qua đời ngày 13 tháng 1 năm 2020). Điểm chung của các vị là họ ở trọng tâm của một thời kỳ rất đặc biệt, đánh dấu bởi ba sự kiện lớn: Công đồng Vatican II mà các trí thức Pháp đã đóng góp rất nhiều, vụ nổi dậy Tháng Năm 68 tại Pháp và cuộc khủng hoảng của Giáo hội với một số lớn linh mục ra đi.
Hậu công đồng
Sử gia Charles Mercier nêu bật: “Đó là những năm rắc rối trong lịch sử Giáo hội, nhất là trong lãnh vực tư duy trí thức. Trong đường hướng tiếp nối của linh mục Dòng Tên Michel de Certeau (1925-1986), tất cả đều mang ảnh hưởng của khoa học nhân văn, đối đầu thần học với xã hội học, với khoa học chính trị, mà vẫn ở trong thể chế giáo hội.” Các khuôn mặt trí thức của hàng giáo sĩ là những người đưa đò, một gắn kết đúp, bám rễ trong xã hội và trong Giáo hội, ngay cả các nhà trí thức và học giả thế tục cũng không dám nói đến đức tin, ngoại trừ sử gia đáng kể René Rémond (1918-2007).
Sử gia Charles Mercier giải thích: “Hình ảnh trí thức công giáo thế tục như François Mauriac hay Maritain đã chấm dứt, điều này thậm chí giải thích cả việc giải thể Trung tâm trí thức công giáo năm 1977, một trung tâm được thành lập năm 1941.” Khi đó các trí thức công giáo được yêu cầu chọn lựa, và đa số họ cống hiến vào lịch sử kitô giáo, xã hội học trong môi trường đại học mà không được thể chế giáo hội công nhận, như sử gia Jean Delumeau hay Jacques Le Brun.
Một thế hệ trong thế giới
Các lựa chọn của họ đôi khi rất khác nhau, thậm chí còn ngược nhau. Các tu sĩ Dòng Đa Minh trung thành với tự do đặc nét của họ, họ có các dấn thân chống đối mạnh mẽ như Marie-Dominique Chenu, các tu sĩ Dòng Tên thì xa cách hơn, và dưới ảnh hưởng của các nhân vật giảng dạy như Henri de Lubac (1896-1991), Jean Daniélou (1905-1974) hay Henri Bouillard (1908-1981). Các vị lớn tuổi này đã làm việc cho sự phát triển Công đồng Vatican II, các nhà trí thức Pháp đúng là các kiến trúc sư của tinh thần phóng khoáng, mở ra. Và thế hệ tiếp theo – thế hệ bị Covid-19 tấn công trực diện – thế hệ này thực hiện công đồng.
Nhà xã hội học và nhà xuất bản Jean-Louis Schlegel giải thích: “Họ đã sống mãnh liệt trong tinh thần đối thoại với thế giới, với nét hơi ngây ngô và tham vọng, họ muốn chia sẻ “niềm vui, nỗi buồn của những người thời này” theo công thức của công đồng. Thật ra tiến trình của họ bao gồm đức tin vào lịch sử con người.” Sự đảo lộn do công đồng được nhiều người xem là “một ngạc nhiên thần thánh”: “Đó là công đồng đầu tiên không lên án. Đối với cả một thế hệ, đó là sự nhẹ nhõm và một lời kêu gọi táo bạo,” nhà xã hội hoặc Jean-Louis Schlegel nhấn mạnh.
Các nhà trí thức tranh cãi
Sự dấn thân của linh mục Michel Lelong trong đối thoại hồi giáo-kitô giáo là một trong các khuôn mặt mở ra này. Nhưng sau này, có hơi trễ hơn, có một phong trào tái tập trung, đặc biệt dưới thời Đức Gioan-Phaolô II. Linh mục Dòng Tên André Manaranche là một trong các nhân vật này. Bà Brigitte Cholvy, thần học gia của Viện công giáo Paris ghi nhận: “Dòng Tên là câu chuyện của một gia đình phức tạp. Điều đáng kể là sự dấn thân mục vụ của các tu sĩ trí thức, họ có thể điều khiển nhiều mặt, nuôi dưỡng cuộc tranh luận với văn hóa đương đại.”
Năm 1971, các tu sĩ Dòng Đa Minh đã rời Saulchoir để về Saint-Jacques ở Paris. Với việc đóng cửa các chương trình học ở Lyon và Chantilly, các nơi đào tạo tu sĩ Dòng Tên, họ phải về thủ đô, họ hiện diện nhiều hơn ở Trung tâm công giáo Pháp và sau đó trong những năm 1970 họ thành lập Trung tâm Sèvres – các phân khoa Dòng Tên Pháp Paris.
Địa lý này làm cho gốc rễ của họ mạnh hơn trong thế giới, đặc biệt đối thoại với các trường đại học và các phương tiện truyền thông.
Chúng ta vẫn còn nói về các nhà trí thức trong độ tuổi ba mươi này của những năm 1970, chính xác là vì họ đã “tiếp xúc” với các giáo hội địa phương, các giáo dân, vì họ đã để lại các bài viết, đã tiếp tục làm việc đến cùng. Sử gia Étienne Fouilloux nhận xét: “Độ bền lâu tiến trình của họ có thể giải thích vì thiếu một thế hệ, những người rời chức thánh sau năm 68. Có thể cũng vì không có hậu duệ thực sự cho tinh thần thiết tha dấn thân vào thế giới, thậm chí còn tranh cãi với thể chế giáo hội. Các nhà nghiên cứu ngày nay là các chuyên gia, các kỹ thuật viên.”
Tìm kiếm người thừa kế
Không liên tục cũng không cắt đứt… Những người suy nghĩ về các vấn đề của năm 2020 một phần vẫn được nuôi dưỡng bởi công việc của các nhà trí thức lớn tuổi này. Dù họ ở Dòng Tên (Christoph Theobald, Gael Giraud) hay Dòng Đa Minh (Adrien Candiard), và bây giờ cũng từ các dòng khác, họ kết hiệp với các trường đại học công giáo, với Học viện Bernardin và tiếp xúc với các giáo dân, các triết gia (Rémi Brague, Jean-Luc Marion), các giáo sư (Charles Mercier, Yann Raison du Cleuziou) và nữ thần học gia Anne-Marie Pelletier, Marie-Jo Thiel).
Các nhà trí thức bị Covid-19 đánh gục hôm nay đã viết nên lịch sử Công đồng Vatican II. Một trang mới được lật qua; có lẽ đã đến lúc để khám phá giai đoạn bản lề hậu-công đồng của những năm 1970, mà nhiều khía cạnh giống như cuộc khủng hoảng mà Giáo hội công giáo đang trải qua ngày nay.
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
2020
Các Giám mục châu Phi kêu gọi các công ty lớn giúp người dân vượt khủng hoảng
Trong một Hội nghị chuyên đề của các Hội đồng Giám mục châu Phi và Madagascar (SECAM), các Giám mục châu Phi đã tuyên bố rằng đại dịch Covid-19 đang gây những tác động tàn phá với những hậu quả bi thảm cho những người nghèo. Đồng thời, các vị lãnh đạo Giáo hội kêu gọi các công ty lớn đang khai thác tài nguyên châu Phi giúp người dân vượt khủng hoảng.
Tuyên bố của các Giám mục được gửi đến Hãng tin Fides nhấn mạnh rằng, tại châu lục này điều hiển nhiên đã thấy: suy thoái kinh tế do phải ngưng các hoạt động kinh tế, đặc biệt là trong các lĩnh vực sản xuất chính, lĩnh vực du lịch, trong vận tải hàng không và trong ngành khách sạn. Các Giám mục lo ngại “sẽ có một sự bùng nổ xã hội ở nhiều quốc gia, đặc biệt là ở châu Phi, nơi đã phải gánh chịu nợ nần và tình trạng thất nghiệp. Hậu quả sẽ là gia tăng tình trạng nghèo đói của dân chúng”.
Hội nghị chuyên đề của các Hội đồng Giám mục châu Phi và Madagascar yêu cầu các công ty đa quốc gia lớn có mặt ở châu Phi, đóng góp giúp các quốc gia của lục địa trong thời điểm khó khăn này. “Châu Phi cung cấp nguyên liệu quan trọng cho các nước công nghiệp. Vì lẽ đó, chúng tôi kêu gọi các công ty lớn khai thác các tài nguyên này đóng góp tích cực cho các nước châu Phi để người dân có thể hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản như bệnh viện, trường học, nhà ở đầy đủ và giá cả phải chăng”.
Các Giám mục châu Phi cũng yêu cầu “trong cuộc chạy đua với thời gian ở các nước phát triển để tìm ra thuốc chữa trị hiệu quả cho Covid-19, cộng đồng doanh nghiệp và các công ty dược phẩm không lợi dụng hoàn cảnh để thu lợi nhưng tham gia vào các nỗ lực hỗ trợ cho những người dễ bị tổn thương”.
Hội nghị kêu gọi Liên minh châu Phi biến cuộc khủng hoảng sức khỏe thành cơ hội mang lại một thay đổi trong việc chăm sóc sức khỏe cho lục địa. Cụ thể, cùng nhau tìm cách thức và phương tiện để loại bỏ các bệnh như sốt rét và bệnh lao, vẫn đang gây đau khổ cho người châu Phi. Các Giám mục viết: “Chúng tôi yêu cầu Liên minh châu Phi nâng cao nhận thức các nước thành viên trong việc đóng góp tạo dựng một quỹ liên đới, giúp cải thiện sức khỏe cho người dân”.
Các Giám mục mời gọi “các nhà lãnh đạo châu Phi phải đảm bảo rằng một số ít tài nguyên sẽ được sử dụng để giúp đỡ những người thực sự cần giúp đỡ, đặc biệt là những người nghèo, chứ không chỉ rơi vào túi của các chính trị gia tham nhũng, tích lũy cho chính họ”. (Fides 4/6/2020)
Ngọc Yến – Vatican News
2020
Covid-19: Chúng ta quên rằng câu chuyện thật bi thảm
Covid-19: Chúng ta quên rằng câu chuyện thật bi thảm


Linh mục Christian Gouyaud, tiến sĩ thần học, cha xứ trong giáo phận Strasbourg, là tác giả của nhiều tác phẩm thiêng liêng.
Đại dịch Covid-19 đã làm nảy sinh rất nhiều bình giải và câu hỏi, từ cổ điển nhất đến lập dị nhất, đáng chú ý là ý tưởng “hình phạt thần thánh”. Chúng ta quay về một chút với cha xứ Christian Gouyaud trên trang mạng “La Nef”:
“Cần có thời gian của một độ lùi để phân tích chuỗi kỳ lạ đại dịch và cách ly này. Các kitô hữu đã trải qua giai đoạn thiếu Mình Thánh Chúa, họ khao khát hoặc bực tức, khi Mùa Chay chưa xong, khi một Thứ Bảy Tuần Thánh không lối thoát, khi sáng Phục Sinh vẫn bị giam cầm, không có ai đến lăn tảng đá. Giữa, một mặt là thận trọng với các biện pháp vệ sinh, mặt kia là thư giãn tối thiểu hóa tầm mức lây lan rộng lớn; giữa, với một số người là phẫn nộ trước việc cấm đoán các buổi lễ thờ phượng có dân chúng, và với người khác là nghiện các buổi lễ trực tuyến, mỗi người với con chuột có thể ngừng ở đoạn mình thích đặc biệt. Về phần các mục tử, họ mãi sửng sốt với các thánh lễ không có giáo dân và bị các con chiên xa đồng cỏ Thánh Thể chất vấn một cách hợp pháp. Chắc chắn, một cách sâu đậm, thực tế nhắc chúng ta nhớ rằng lịch sử thật bi thảm.
Thay vì cậy đến thể loại “thời cuối” – vì theo triết gia Agamben, kể từ khi Nhập Thể, chúng ta rõ ràng ở trong “thời kỳ cuối” -, hiện tượng đại dịch lớn lao đã đưa chúng ta đứng trước cái mà hồng y Ratzinger gọi là “sự suy đồi trong nội tình lịch sử”.
Chúng ta biết có hai đường hướng đọc khác nhau trong Tân ước: đường hướng thứ nhất phủ nhận tất cả tiên lượng nào cho rằng sự xuất hiện của Chúa Kitô là một tự tại lịch sử, vào cuối quá trình chín muồi tối thượng hoặc, ngược lại, là sự đơn hóa biện chứng; đường hương thứ hai nói đến việc cảnh giác các dấu hiệu báo trước của sự Ngự Đến, trong số đó sẽ xuất hiện các tình huống giao nhau. Trong thực tế, ngay cả khi chúng ta đã quên, mỗi thế hệ đều trải qua các biến động như vậy, từ các vụ rung chuyển vũ trụ cho đến các tình huống tội đày. Lịch sử bi thảm vì cấu trúc chưa hoàn tất. Tất cả các thiên niên kỷ đều lẫn lộn: chủ nhân của lịch sử chỉ nảy sinh sự quay về của mình từ bên ngoài lịch sử. Và vì thế luôn cần tinh thần sẵn sàng về mặt cánh chung của tín hữu và nghịch lý thay, việc cách ly hướng chúng ta hướng đến siêu việt.
Cái ác trong lịch sử đặt câu hỏi về sự tồn tại của công lý vô thường dưới hình thức của trừng phạt trong nội tình thế giới. Vấn đề tế nhị vì Thánh Kinh chứa những hình ảnh như vậy và vì tai ương thần thánh cũng đánh vào những người vô tội. Chúng ta phải nói ở đây và cần nhắc lại, Chúa không phải là Đấng chỉ tạo những gì “là tốt”, rằng, trong số những gì gọi là tốt, Chúa, nguyên nhân đầu tiên duy nhất, đã cho con người có địa vị cao cả là nguyên nhân chính thứ nhì, có nghĩa là người có trách nhiệm, mà Chúa chỉ đặc biệt không áp dụng trong quá trình mọi việc bằng cách tạo ra hậu quả ngay lập tức mà không có nguyên nhân thứ hai hoặc vượt nguyên nhân thứ hai – và chính xác đây là phép lạ–, mà phán xét cuối cùng sẽ quay về vinh quang của Chúa Kitô, có nghĩa vào cuối lịch sử.
Do đó, nghiêm túc mà nói, không có “công lý vô thường”, ngoại trừ theo nghĩa kép, nơi Thiên Chúa cho phép điều ác được thực hiện bởi nguyên do thứ hai cố tình, và nơi mà điều ác này tác động đến bản chất môi trường cũng như con người – bởi vì chúng ta không thể đo lường cho đủ khả năng tác hại môi sinh của tội. Sự trừng phạt thần thánh, được hình thành khác hơn là do hậu quả tự động của chính hành vi chúng ta, tương ứng với hình ảnh thoái bộ của Chúa và tạo một thể loại khá thích ứng để làm cho chúng ta khỏi bị lương tâm dày xéo, yếu tố duy nhất có khả năng cải cách lối sống của chúng ta và chiến đấu chống “các cấu trúc tội lỗi” ăn mòn xã hội. Vì một Thiên Chúa tự trừng phạt chính mình trong nội tình lịch sử đã giải phóng chúng ta khỏi công lý.
Nhưng nếu lịch sử là bi thảm – vì tự chính nó chưa hoàn tất, chứ không phải vì Thiên Chúa ngang nhiên thường xuyên đến khôi phục lại thứ trật -, đó chính là nhận thức về sự bi thảm của lịch sử – hoặc nếu chúng ta thích, đó là sự suy yếu của thế giới – là điều kiện tiên quyết của hy vọng đối thần. Chúng ta đã thoáng thấy trong thời gian cách ly này, dù chúng ta có thể chịu đựng đau khổ do sự chung tạp vì nơi cách ly nhỏ hẹp, rằng địa ngục không phải là người khác, nhưng là giãn cách xã hội đạt thực hiện được công việc tối thượng là chúng ta tự thu mình. Khi một hạt siêu nhỏ thách thức các quá đổi của chúng ta để giải thoát chúng ta khỏi quy luật của tạo dựng thì khi đó chúng ta hiểu cuối cùng “bộ mặt thế giới này đang biến đi” (1 Co 7, 31) và, cuối cùng, sẽ đến lúc nhìn vào vĩnh cữu.
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
2020
Cơ thể là mối dây bình đẳng của chúng ta
Các phản ánh về ảnh hưởng của đại dịch qua quyển sách nhỏ “Đột biến” của Marco Bracconi.
“Điểm ngoặt là nhìn Đức Phanxicô đi bộ một mình qua đường Corso để cầu nguyện trước Thánh giá nhiệm mầu ở nhà thờ San Marcell”.
Tác giả Marco Bracconi không che giấu cảm nhận ngưỡng mộ và biết ơn với cử chỉ này của Đức Phanxicô ngày chúa nhật 15 tháng 3, một tuần sau khi thế giới bị cách ly. Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, Đức Phanxicô đại diện cho tất cả mọi người, như thử ngài đến đây chờ mọi người chứ không phải để cầu nguyện.
Tác giả Bracconi không phải là người tin, ông là người công giáo như mọi người, với ông, các lời nói và cầu nguyện của giáo hoàng không ấn tượng lắm nhưng thực tế là qua chính sự kiện: người này đã di chuyển, đã đi trong thành phố hoang vắng, đã đặt con người của ngài, cơ thể của ngài vào trọng tâm chú ý của thế giới, khi cơ thể bị cấm xuất hiện trong xã hội, trong sự chung sống của xã hội dân sự. Tất cả điều này xảy ra khi tác giả viết một quyển sách nhỏ về “đột biến” mà xã hội phương Tây đang trải qua, có nghĩa là việc chuyển qua kỹ thuật số, trong số các tác động khác, cũng như sự phi vật chất hóa, sự biến mất của cơ thể cho tính đại diện của nó.
“Thật ra tôi muốn viết một quyển tiểu thuyết nói về việc thay thế đời sống bằng một khái niệm ‘lối sống’ và sự thay đổi toàn cầu về kỹ thuật số; sau đó thực tế vượt xa những gì tôi muốn kể theo trí tưởng tượng: đại dịch Covid-19 đã chặn cả thế giới trong một bức ảnh tĩnh. Vào thời điểm đó, sự chú ý của tôi tập trung vào một số mô hình đang nổi lên, trong đó nguy hiểm nhất là bầu khí của thế giới ngàn năm mà chúng ta thở trong hai tháng. Các cụm từ lặp đi lặp lại như bùa chú ‘sẽ không bao giờ như trước’, hoặc ‘có cái gì đó chưa bao giờ xảy ra’. Không, chuyện này không trở lại. Bắt đầu từ khía cạnh của một vấn đề không được đưa ra ánh sáng: chúng ta không những cách ly trong nhà, chúng ta còn ngồi hàng loạt trước thế giới kỹ thuật số và cuộc di tản tập thể này không những chỉ ở ngoài đường và nơi công cộng, mà còn từ thực tế của thể lý mạng đã không được nhấn mạnh cho đủ. Có lẽ vì thực tế là một cái gì chưa bao giờ thấy, một quá trình đã được tiến hành, được xem như điều hiển nhiên. Tôi quyết định viết quyển sách nhỏ, không còn là tiểu thuyết nữa nhưng dưới dạng một bức thư trực tiếp gởi đến virus, ‘tố cáo’ nó đã đưa ra một thực tế đang diễn ra nhưng không được chú ý. Và trong khi tôi suy nghĩ điều này thì tôi thấy hình ảnh Đức Phanxicô đi bộ một mình trên đường. Một trong những hình ảnh cực mạnh mà tôi chưa bao giờ thấy”.
Ông dành một vài trang cho cảnh đó trong bản văn cực kỳ sâu đậm của ông, đánh động bởi việc Đức Phanxicô muốn nói những gì ngài muốn nói “với cơ thể của ngài.” Một phần của chúng ta đã bị Covid-19 tấn công và Internet thay thế. Và vì thế đi bộ ở Rôma trở nên một cuộc chiến đấu. Một cơ thể và bị vùi dập đã chống lại kế hoạch cách ly. Ông muốn nói gì qua câu này?
Cử chỉ của Đức Giáo hoàng đột nhập vào đời sống trong ranh giới cứng nhắc của sự chính xác, biên giới mà chúng ta áp đặt lên chính mình với sự ra đời của kỹ thuật số. Trong ngôn ngữ của tôi, “mô hình chính xác” trái ngược với tâm linh, một mô hình của sự hoàn hảo hình học làm giảm mọi thứ gấp bội, ngay cả con người mà bản chất là bất toàn, nếu chúng ta muốn đi quá độ. Tầm mức cô đơn và ý nghĩa của thành phố được nhấn mạnh trên bước đi của Đức Giáo hoàng. Nhưng cả hai cách giải thích đều chưa đủ, hơi sợ hãi. Theo tôi, trong cử chỉ này có câu trả lời cho sự nhân lên của các chức năng kỹ thuật số của chúng ta. Trong quyển sách của tôi, tôi viết, cơ thể của Giáo hoàng là cơ thể “theo cấp số nhân trái ngược”, giảm xuống một cơ thể và chỉ nơi người này, duy nhất nơi người này, như thử ngài muốn nhắc chúng ta nhớ, bản sắc của chúng ta trên hết là cơ thể, là nhạy cảm. Sự việc đi ra ngoài đường và bảo vệ thế giới thật với cơ thể của mình, trong cách nhìn của tôi, đây là một trực giác cực mạnh (và cũng là ý thức) chống với việc phải vật chất hóa đời sống chúng ta.
Đây là câu trả lời của Bergoglio cho mô hình chính xác: một mặt công nhận tính duy nhất của cơ thể, về bản chất và vật chất của nó, mặt khác, ý tưởng nhân rộng của mạng làm giảm chủ thể chức năng của nó, kết thúc là theo chức năng người tiêu thụ.
Lời của ông nhắc tôi nhớ gần đây Đức Phanxicô mời gọi giáo dân “chuyển từ văn hóa tính từ sang thần học thể từ”.
Tuyệt vời, đúng vậy! Đối tượng, với cơ thể của mình, không thể thay thế qua về. Khi chúng ta là tài khoản, chúng ta không thể là chủ thể, không phải cá nhân hay xã hội, nhưng chỉ là cấp số nhân của mạng, của đối tượng, của “những thứ” chỉ có thể lèo lái hoặc bị lèo lái theo quyền lực. Đó là lý do vì sao tôi nói bình đẳng thực sự có thể và phải là bình đẳng của cơ thể, nhưng không bao giờ là như vậy. Bình đẳng dựa trên các biểu tượng tượng trưng là bình đẳng của các hệ thống toàn trị. Dân chủ thật sự cần thịt da.
Một vài ngày sau, Đức Giáo hoàng lại đi ra ngoài thêm một lần nữa, bằng xương thịt, ngài đến Quảng trường Thánh Phêrô hoang vắng và ẩm ướt, và trong số các điều, ngài tuyên bố những lời thật mạnh khi ngài nói chúng ta ảo tưỏng khi nghĩ rằng chúng ta “khỏe mạnh trong một thế giới đã bệnh.” Ông cảm thấy gì khi nghe những lời này?
Tôi gần như rớt xuống ghế: người duy nhất có bài phát biểu không xưa cổ ngàn năm hoặc có lời an ủi là chính ngài, Giáo hoàng. Các lời hợp lý và đáng tin cậy nhất đến từ thẩm quyền tôn giáo: nhắc chúng ta nhớ chúng ta đã bệnh, đã bị cô lập, Đức Phanxicô đã làm nhẹ tình huống, bỏ đi vầng hào quang xưa cổ khi ngài nói đây không phải là điều mới lạ tuyệt đối, cái Ác tuyệt đối. Cuối cùng phải công nhận giáo dân chúng ta xem Covid-19 như Satan và Đức Phanxicô nhắc chúng ta, nó chỉ là một con virus. Dĩ nhiên Đức Phanxicô cảm thấy mọi người sợ và phải gần gũi họ, nhưng ngài không bao giờ nâng virus lên thành kẻ thù. Có hai cách nhìn về tình trạng khẩn cấp và cách ly: hoặc giống “vật thay thế”, hoặc khởi đầu một thế giới mới, và Đức Phanxicô nhìn thấy nó theo cách đầu tiên, khi quay về với lịch sử. Như muốn nói: “Không có gì mới, một dịch bệnh là điều thường xuyên nhất chúng ta biết” và để cảnh báo “không đúng là không bao giờ có gì sẽ xảy ra như trước đây”. Vì vậy bức ảnh chụp ở đường Corso dưới mắt tôi như một kho báu của một thông điệp cụ thể vì nó khẩn cấp: “Nhìn xem, nếu chúng ta xây dựng một xã hội không có cơ thể, thế giới sẽ mất đi điều quan trọng nhất, bởi vì cơ thể là mối liên kết duy nhất của sự bình đẳng”. Với bước chân vượt trội này, Đức Phanxicô đã kéo dài bước chân của ngài, đi trước chúng ta và nói “Cha chờ con trong cơ thể này”. Ngài là người duy nhất không loại bỏ sự việc, rằng mâu thuẫn giữa vấn đề cuộc sống và biểu tượng của nó đã phần lớn diễn ra. Thậm chí một cuộc xung đột chung quanh chính ý tưởng về bình đẳng, vì nếu cơ thể bốc hơi thì bình đẳng không tồn tại, nó không còn như vậy, nó trở nên không thực tế.
Ông có thể đưa ra một vài ví dụ về cuộc xung đột xoay quanh tính trung tâm này của cơ thể không?
Người di cư. Tại sao chúng ta sợ họ? Vì họ đến với cơ thể trần trụi, dơ bẩn, họ cho chúng ta thấy trọn sự bê bối trong đó. Thông điệp của họ là: với cơ thể này, chúng tôi ngang hàng với quý vị. Vấn đề là chúng ta, với cơ thể ngày càng trừu tượng, biểu tượng và vật chất ngày càng ít, chúng ta không còn có thể thấy họ ngang hàng với chúng ta. Tôi không phải là người công giáo, nhưng bạn không cần phải là người công giáo để kết nối với ý tưởng một Thiên Chúa nhập thể và chết như tất cả mọi người: chính Chúa Kitô bị đóng đinh nhắc chúng ta nhớ cơ thể là mối dây liên kết bình đẳng đầu tiên và liên kết này áp dụng cho tất cả mọi người. Từ quan điểm này, cử chỉ của Bergoglio là cử chỉ kitô nhất có thể hình dung được. Chúng ta hãy suy nghĩ về câu hỏi chung: cơ thể có phải là yếu tố cơ bản trong trường hợp này không? Nền tảng của bí tích Thánh Thể nói “đây là mình Ta”, chứng minh rằng sự hiện diện của cơ thể không thể giảm xuống thành một biểu tượng hay một suy nghĩ. Cơ thể ở đó, nó ở đây và trên trái đất. Tôi muốn dùng chữ thân thuộc với Đức Phanxicô: sự gần gũi. Có phải đó là trung tâm của thông điệp kitô dựa trên tình yêu cho người anh em, chứ không dựa trên “kết nối” không? Tôi xúc động nhớ lại câu Đức Gioan XXIII xin chúng ta “âu yếm với con mình”. Một vuốt ve chạm bằng tay trên khuôn mặt này, khuôn mặt duy nhất mà chúng ta có. Không thể sản xuất lại, những gì sẽ luôn là “của chúng ta”.
Rốt cuộc đức tin kitô giáo cho thấy trước một sự phục sinh của cơ thể trong cốt tủy của thông điệp. Tuy nhiên một sự lên án của công nghệ sản xuất từ lời nói của ông, đây có phải là đột biến mà ông nói trong quyển sách công nghệ không? Một định mệnh bây giờ không tránh được không?
Không, nói rằng công nghệ là kẻ thù sẽ là một tiếp cận sai. Đúng là với “đột biến”, tôi muốn nói đến sự thay đổi trong thời gian cách ly. Nhưng đó là sự đột biến như chúng ta nói ở trên đã xảy ra liên tục, không phải là lý do trực tiếp của đại dịch: chúng ta, người Phương Tây đã phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống mạng, trên thực tế Internet đã trở thành một hệ thống thế giới chứ không còn đơn thuần là tiện ích. Tình trạng sức khỏe khẩn cấp chỉ đơn giản đưa ra sự thật này. Trong quyển sách, tôi lập luận Covid-19 chỉ hoàn thành một quy trình đã bắt đầu, trong đó trí tưởng tượng tập thể mạng trở thành cùng đích chứ không còn là phương tiện. Điều này để nói rằng công nghệ không phải là kẻ thù, nó không thể. Đối thủ là ý thức hệ của sự đổi mới kỹ thuật số. Và nó là đối thủ của những người quan tâm đến xã hội chúng ta, nhưng với cả những ai thiết thân với chiều kích thiêng liêng của con người. Vì lý do này, tôi tin tưởng sâu sắc, ngày nay một liên minh giữa những người tin và không-tin là chuyện không tránh được và còn hơn thế nữa: tự nhiên và sinh lý, vì dưới ánh sáng của những gì đã nói trước đây cả ngàn năm, việc đi tìm sự hợp lý trong đức tin không còn là nghịch lý. Các bạn còn nhớ, khi bắt đầu cách ly, các mạng xã hội đưa ra cảnh báo có thể các máy chủ sẽ bị hỏng không? Đó là một rủi ro không tồn tại, nhưng đáng sợ như một thực tế, một thảm họa. Ở đây, nỗi sợ hãi toàn cầu này đã làm nổi bật chiều không thể chạm đến được của thế giới hệ thống Internet. Sự thay thế kỹ thuật số đã trở thành toàn bộ, trò chơi trên Web không còn là hỗ trợ mà là thứ cần thiết để chúng ta sống, điều này đã thực sự “cứu” chúng ta trong trường hợp khẩn cấp. Đây là sự thay đổi địa vị văn hóa. Một quá trình che giấu cái bẫy toàn trị.
Không có gì lạ khi trong nhiều tháng qua chúng ta lặp lại sẽ không bao giờ chúng ta thoát được con virus này phải không? Và chúng ta cũng không nói nhờ làm việc thông minh và học tập điện tử, chúng ta sẽ không bao giờ quay lại như cũ phải không? Nhưng tôi tự hỏi: sẽ không quan trọng để không suy nghĩ, phân định và tách biệt sao? Chẳng hạn, chúng ta tự hỏi mình nghĩ gì về các trường đại học, nếu chúng ta muốn quan niệm chúng là những nơi quan trọng và sinh hoạt hay xem chúng chỉ là các cái hộp sản xuất các công nghệ. Còn làm việc từ xa thì sao? Liệu trung gian hòa giải kỹ thuật số trong sản xuất không có lợi cho sự đại diện mang tính biểu tượng của con người, với hệ thống quyền lực của nó, làm cho vai trò và chức năng chiếm ưu thế trên con người, tính từ trên danh từ sao? Rủi ro là xây dựng một hệ tư tưởng xung quanh hoạt động thông minh, thúc đẩy quá trình củng cố các cấu trúc xã hội của chúng ta, trong khi các cấu trúc xã hội cần được giữ cho mềm và trôi chảy, chấp nhận chúng, có nghĩa là sớm đưa chúng trở lại một trật tự chưa bao giờ dân chủ.
Từ quan điểm này, quyển sách của ông có một đặc tính chính trị rõ ràng.
Đúng. Vấn đề thực tế phức tạp và ảnh hưởng trực tiếp đến khía cạnh chính trị. Đó không phải là về công nghệ đối lập về mặt ý thức hệ, nó có thể sẽ ngớ ngẩn và lỗi thời. Nhưng tôi nghĩ rằng có một suy nghĩ khẩn cấp qua việc thực hiện nghi ngờ lành mạnh (mà bây giờ dường như tôi vẫn hoàn toàn ở trong lãnh vực công giáo). Đối diện với nhiều lực thúc đẩy nới lỏng cách ly xã hội, cần phải đáp trả bằng sự táo bạo và can đảm, khi nghĩ đến một hiệp ước mới với công nghệ kỹ thuật số, điều mà ngày nay không thể thiếu khi đưa ra cho chúng ta sức mạnh được cung cấp khi cách ly. Ở đây, sẽ là nhiệm vụ của một chính sách có khả năng có tầm nhìn dài hạn. Làm việc trên một hiệp ước mới với Web, lần này giữa những chuyện ngang nhau. Tôi không sợ bỏ phiếu trực tuyến hoặc các công cụ công nghệ cao khác trong các hành động xã hội và ngay cả trong lãnh vực chính trị. Nhưng tôi sợ một thế giới trong đó sự hình thành tinh thần cộng đồng tiến hành bằng kỹ thuật số.
Trong quyển sách tôi lập luận điều quan trọng là phải xem lại các giới hạn và các vành đai, điều chỉnh triệt để các công cụ của nền dân chủ thế kỷ 20 sang kỹ thuật số, nhưng bảo vệ sự hiện diện thể lý của con người ở những nơi có cấu trúc không gian công cộng: một cấu trúc của con người và xã hội. Và không chỉ có vậy. Dân chủ, như ngày nay chúng ta hiểu, không thể tồn tại lâu trong một hệ thống được điều chỉnh bởi việc lên lịch các trang mạng; với một hệ thống kết nối toàn cầu mang tính cá nhân sâu đậm không tương thích với tinh thần lợi ích chung đưa thông tin về các giá trị dân chủ của chúng ta. Nói những người ghét và những người buôn bán tin tức giả xấu là vô ích. Chúng ta đã biết điều này. Hữu ích hơn là lập luận trên cơ cấu của Web, bắt đầu là mở tranh luận về những gì có thể là “của nó” và những gì đáng lý là phải “của chúng ta”, về thể lý, về cơ thể. Bằng cách này, tìm cách giúp chúng ta quay về để có thể nói chuyện thực sự với nhau, không phải chỉ nói một cách tượng trưng.
Liên kết với điều này là điểm cô đơn. Đáp lại sự cô độc lớn lao của con người ở thành phố có lẽ là thách thức lớn nhất và cấp bách nhất trong lãnh vực chính trị.
“Nó là như vậy. Và câu trả lời cho tình trạng khẩn cấp này là không thể giao nó cho kỹ thuật số. Có những người như nhà văn Alessandro Baricco, trong những ngày cách ly đã nói những điều không tưởng về công nghệ sinh học, về “sự mở rộng“ các cơ quan sinh học của chúng ta, về tính hợp lý của Web. Hấp dẫn, có lẽ. Nhưng nó không cần thiết để hồi sinh các thể loại mác-xít xưa cổ để nhớ rằng chúng ta là chủ nhân của cơ thể mình, trong khi các “phần mở rộng” kỹ thuật số của chúng ta thì ít hơn một chút. Năm công ty lớn nhất hoàn cầu là các công ty kỹ thuật số và mối quan tâm chính của họ không phải là sự phát triển con người, nhưng là lời nhuận. Đó là một khía cạnh khác của đột biến, nó biến cơ thể chúng ta từ một cơ thể xã hội thành một cơ thể mong muốn (và do đó sẵn sàng để tiêu thụ), một bối cảnh nhắc đến phương chẩm cổ ngày xưa của người la-mã “không phải tình cờ mà người tín hữu kitô la-mã bị bách hại” (panem et circenses). Nói cách khác, chúng ta phi vật chất hóa trong xã hội, nhưng chúng ta vẫn muốn và chúng ta luôn hình dung bằng thể lý và vật chất khi đối diện với ham muốn. Đây là một chủ đề lớn của nhân loại, có trước cả thời công giáo. Bởi vì biến đổi cơ thể xã hội thành một cơ thể mong muốn là mối nguy hiểm cho tất cả mọi người. Tâm linh không phải là vấn đề độc quyền của tôn giáo, đó là một thách thức cho tất cả mọi người, cả cho chính trị và văn hóa. Như thế mục đích là mục đích chung: quay trở lại dùng các công cụ mà chúng ta biết cách phát minh với một tài năng cao như vậy, nhưng không để bị nó chi phối. Tôi đưa ra một ví dụ liên quan đến ngôn ngữ. Trong quyển sách của tôi, chúng ta học dùng cùng một ngôn ngữ cho các tang lễ và các ban cố vấn quản trị. Đó là cú pháp kỹ thuật số pha với các hệ thống phân cấp, gây tác động xấu cho tương quan nhân quả, tăng tốc thời gian bằng cách san bằng sự cắt đoạn giữa lẽ thường và lẽ chung. Với các hậu quả lâu dài nào?
Nói về các tang lễ, trong quyển sách ông nhấn mạnh đến câu hỏi về cái chết với những chữ rất mạnh: “Chúng ta không nói về sự cứu rỗi của mọi người, Chúa Giêsu Kitô và Internet không nhất thiết có cùng quan điểm. Chắc chắn không phải về cái chết. Hãy hỏi các linh mục ban đêm phải đi đặt tay lên trán của người sắp chết (…) bỏ người sắp chết và các xác chết cho virus là điều không thể chịu đựng nhất trong những chuyện mà họ phải chịu đựng cho chúng a”. Và sau đó ông đi vào chi tiết, thật kinh khủng “khi thấy mẹ bạn đi xe cứu thương đến bệnh viện, nơi bà sẽ chết một mình, trong thinh lặng, với những người ngoài hành tinh có tình lân tuất mặc bộ đồ lân quang, đó là không nói đến cảnh tương tự của người con trai nhìn qua cửa sổ xe cứu thương đi Hadès. Quá hãi sợ, đúng. Để đưa bạn trở lại dưới sự thống trị của chúng tôi, chúng tôi buộc phải dựng lên một bức tường giữa cơ thể người sống và xác người chết. Không tiếp xúc”.
Ở đây cũng vậy – và trong một thời gian – hiện tượng phi vật chất hóa tương tự đã xảy ra. Facebook có phải có cùng một cơ chế bất tử của kỹ thuật số đó không? Mạng lưới khinh miệt cơ thể và nhắm vào tâm hồn đến mức nó không bao giờ làm cho họ chết. Trong quyển sách nhỏ, tôi tập trung vào hồ sơ kỹ thuật số của người chết: không có bia mộ, nhưng bùng lên sức sống. Mất mạng sống của mình, bạn vẫn vậy. Luôn luôn. Thực tế là mạng đang phi vật chất hóa mối quan hệ của chúng ta với cái chết bởi vì nó chủ yếu phi vật chất hóa mối quan hệ của chúng ta với thời gian. Đây cũng là lý do vì sao tôi xúc động trước cử chỉ “thể lý” của Đức Phanxicô: trong những ngày “thiên niên kỷ” này, ngài là người duy nhất kiên định giữ sợi dây lịch sử, bắt đầu từ những gì chúng ta có trước virus, trải qua những gì chúng ta đang có bây giờ, và bạn sẽ hỏi ngày mai chúng ta sẽ như thế nào. Thời gian. Thay vào đó, đối với nhiều người sau ngày 8 tháng 3, vấn đề lịch sử đó dường như đã dừng lại. Như thể không có trước đó, như thử chuyện sau đó đã được thành lập sẽ mãi mãi. Rốt cuộc chúng ta đã quen với Web, chúng ta trở thành “người mới” mỗi ngày, sống theo năng động tạm thời của Web, trong cái mà tôi gọi lại món quà vĩnh cữu trong quyển sách. Một thế giới mà ký ức luôn ở thì hiện tại, sẵn sàng mỗi ngày. Tất cả có bề ngoài rất đẹp, nhưng cái giá của nó thì quá đắt: trong hệ thống Internet, thế giới không còn bộ nhớ (mà bộ nhó là một quá trình), nhưng có kho lưu trữ (kho này đúng hơn là cơ chế). Và ngay cả chủ đề cái chết cũng được thay thế bằng “sự vắng mặt” của thời gian này, thì việc đi tìm một ý tưởng thời gian lịch sử, không phải là thời gian công nghệ là một trong các thách thức mà chúng ta phải đối diện. Tôi tin chắc, từ quan điểm này cũng vậy, kitô giáo có thể đóng một vai trò quyết định. Làm thế nào suy nghĩ phê phán sành sỏi nhất của giáo dân có thể đóng một vai trò ở đây. Đó là điều tôi muốn nói khi tôi nói đến một liên minh của những người suy nghĩ, tin hay không-tin: nếu tình trạng khẩn cấp liên quan đến chúng ta là giống nhau, nếu điểm khởi đầu và điểm kết thúc phải tiếp tục là con người, thì việc tìm kiếm ý nghĩa cho sự phát triển của mình, người thế tục và người công giáo nói chuyện với nhau chỉ có thể là diện đối diện. Bây giờ hơn bao giờ hết.
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
