2020
Tình yêu thương và sự tôn trọng


2020
Bác sĩ Công Giáo đến ở cùng những người vô gia cư để bảo vệ họ khỏi đại dịch.
Bác sĩ Công Giáo đến ở cùng những người vô gia cư để bảo vệ họ khỏi đại dịch.
Ðược truyền cảm hứng từ gương Mẹ Têrêsa, bác sĩ Thomas Huggett và đội của ông đã và đang nỗ lực chăm sóc nhóm dân cư có nguy cơ nhiễm virus cao trong bối cảnh dịch bệnh covid-19 lan tràn …
Khi đại dịch COVID-19 bắt đầu hoành hành, những người có nguy cơ nhiễm bệnh nhất là những người vô gia cư. Bác sĩ Thomas Huggett, vốn là một chuyên viên dược ở Chicago, Mỹ, đã dành nhiều năm trong công tác chăm sóc nhóm dân cư nói trên. Khi virus lan đến Chicago, ông cùng đồng nghiệp tại trung tâm chăm sóc sức khỏe công giáo Lawndale biết rằng họ cần phải hành động để bảo vệ những con người có cơ hội sống sót tưởng chừng như rất mong manh.
Giải pháp của họ chỉ đơn giản là thuê hàng trăm căn phòng từ 2 khách sạn tại trung tâm thành phố và biến chúng hành một cơ sở cách ly tạm thời dành cho những người vô gia cư, với sự tương trợ của chính quyền thành phố Chicago.
“Tôi đã làm việc hàng thập kỷ với những người lang thang cơ nhỡ, và trong thời gian khó khăn này, chúng tôi rất muốn bảo vệ họ khỏi đại dịch nhưng lại không có cơ sở vật chất để che chở những người vô gia cư ” Bác sĩ nói trong một cuộc phỏng vấn với Aleteia. Ông giải thích một vài lý do đằng sau quyết định này:
Hiện tại, để giữ an toàn cộng đồng, người ta tiến hành cách ly xã hội tại nhà. Tuy nhiên, những người này không có lấy một mái nhà để trú thân. Nhiều người chọn ẩn náu ở những nơi rất rộng lớn, được xem là những cơ sở sống tập trung, với 200 đến 300 người chen chúc trong 1 căn phòng. Ðây là một tình huống hết sức nguy hiểm do virus rất dễ lan truyền nơi đông người. Tình trạng này cũng xảy ra ở những nhà hưu dưỡng với nhiều người cùng tập trung lại một nơi.
Chúng tôi rất quan ngại việc virus có thể phát tán nhanh trong môi trường đông người nói trên, trên hết là mạng sống của những con người này đang bị đe dọa. Họ là những người ngoài 55 hoặc ngoài 60, họ có thể đang bị tiểu đường hoặc gặp những vấn đề về tim mạch, hoặc có những mối lo về sức khỏe khác. Ðiều đó có nghĩa là họ có nguy cơ tử vong cao, vì vậy, chúng tôi cảm thấy có trách nhiệm bảo vệ và gìn giữ những con người không nơi cư trú này.
Huggett là bác sĩ lãnh đạo chương trình và đã quyết định chuyển vào ở trong những khách sạn được thuê cho người vô gia cư, để chăm sóc sức khỏe cả ngày lẫn đêm cho họ. ”Tôi ở đây hầu hết các đêm trong tuần ” Ông cho biết. ”nhưng tôi có về nhà 1 lần mỗi tuần để giặt giũ, lấy thư và chăm sóc những khóm hồng của tôi ”
Những nghĩa cử cao đẹp của bác sĩ Hugget đối với những người vô gia cư thực sư phi thường, nhưng đối với ông thì đây không phải chuyện gì khác hơn việc tiếp tục một thập kỷ khác làm việc ăn ý cùng đội ngũ. Bác sĩ Huggett là một phần của trung tâm đã thực thi công việc của Thiên Chúa ngay tại khu vực tây và nam của Chicago kể từ những năm 1980. Trên trang web của tổ chức, người ta có thể đọc thấy:
Nhiệm vụ của trung tâm chăm sóc sức khỏe công giáo Lawndale là biểu lộ và lan tỏa tình thương của Chúa Giêsu qua việc gìn giữ sức khỏe, cung cấp dịch vụ chất lượng, vừa túi tiền cho khu vực Lawndale và những vùng phụ cận.
Trung tâm chăm sóc sức khỏe công giáo Lawndale cung cấp những dịch vụ chăm sóc sức khỏe về tâm bệnh, thể xác và cả về đời sống tâm linh của bệnh nhân. Công việc của họ thực sự cần thiết và chẳng có gì phải thắc mắc khi chính quyền thành phố Chicago đã nhờ sự cộng tác của trung tâm trong việc chăm sóc những người không có nơi cư trú trong bối cảnh khủng hoảng sức khỏe toàn cầu hiện nay.
Huggett không phải là người duy nhất chăm sóc sức khỏe tại những khách sạn được cải tạo, những đồng nghiệp của ông cũng thay phiên nhau ở lại khách sạn qua đêm. Bác sĩ Huggett cho biết: ”Tôi giúp đỡ họ liên tục nhờ vào những cộng sự. Những nhân viên điều hành và những cộng sự khác của tôi cũng ở lại đây qua đêm.. thường ngày chúng tôi có khoảng 35 người làm việc tại khách sạn chỉ để phân phát đồ ăn và đưa người ta lên xuống thang máy, kèm theo 10 nhân viên y tế thăm hỏi mọi khách trọ trong phòng của họ mỗi ngày ”
Ở khách sạn, mỗi một người có một phòng riêng với nhà tắm và vòi sen, thức ăn mỗi ngày 3 bữa được giao tận phòng, mỗi ngày đều được chăm sóc y tế.
Những khách sạn được cải tạo đã trở thành nơi cư ngụ của hơn 240 người. Vào ngày tôi trò chuyện cùng bác sĩ Huggett thì số lượng khách trọ là 163 người, bác sĩ cho biết: “chúng tôi đang làm việc với 20 cơ sở cư trú khác xuyết suốt Chicago, và chúng tôi thường xuyên khảo sát để nhận những người đang có nguy cơ nhiễm dịch cao và sắp xếp cho họ chuyển đến những khách sạn ”
Tất cả mọi việc đều phù hợp với tinh thần và nhiệm vụ của trung tâm chăm sóc sức khỏe công giáo Lawndale: chăm sóc người nghèo với tình yêu của Chúa Kitô. Với bác sĩ Hugget, Ðức tin của ông đã truyền cảm hứng và sức mạnh cho ông để thực hiện nhiệm vụ ấy.
“Chúng tôi được truyền cảm hứng từ những người như Mẹ Têrêsa và những người đã mở rộng vòng tay với những người nghèo khổ khốn cùng. Chúng tôi noi gương các vị thánh. ” Ông chia sẻ.
Khi bác sĩ Hugget lo lắng hồi hộp, ông luôn tìm được sự cổ vũ tinh thần trong những câu chuyện về cha Walter Ciszek, một linh mục dành hàng thập kỷ trong nhà giam và trại lao động cải tạo đầy khó nhọc ở Liên Xô cũ từ năm 1939 đến 1963, và về hạnh của các thánh khác.
”Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh, ta không thể là Mẹ Têrêsa hay cha Walter Ciszek, nhưng ta có thể lắng nghe tiếng Chúa, và xin vâng theo ý người ”. Bác sĩ nói.
Với Huggett, tiếng gọi ấy là hy sinh quên mình để phục vụ cho ”những người bé mọn nhất trong chúng ta ” (Mt 25:40). Song song với việc cải tạo lại những khách sạn để ứng phó với dịch bệnh, ông cùng những đồng nghiệp vẫn ngày đêm miệt mài làm việc để cải thiện đời sống những bệnh nhân của họ một các tích cực và lâu dài:
Chúng tôi không chỉ cố gắng bảo vệ họ khỏi virus corona, hay cứu chữa họ, mà còn giúp đỡ họ có nơi lưu trú lâu dài. Chúng tôi không muốn mai này họ phải rời khách sạn mà trở về những nhà cơ nhỡ. Họ sẽ được an toàn hơn nếu ở trong căn hộ của chính họ, đặc biệt là vào mùa thu, khi virus trở lại như nhiều người đã dự đoán. Vài người trong số những người khách trọ sẽ phải sống một mình, vì vậy họ rất cần một cơ sở lưu trú tại chỗ và hiệu quả, và lúc này chính là lúc chúng tôi sẽ biến điều đó thành hiện thực.
Trên tất cả mọi sự, bác sĩ Huggett mong mỏi những kinh nghiệm sống và làm việc của mình với những người lang thang cơ nhỡ có thể đem ánh sáng vào nơi tăm tối nhất của tình hình hiện tại.
”Có rất nhiều hiểu lầm xoay quanh những người không có nơi cư trú ”, ông nói. Ðã có những người đến hỏi tôi rằng liệu khách sạn có thể bị hư hại vì những người vô gia cư không biết giữ gìn? Câu trả lời là hoàn toàn không. Họ không chỉ giữ cho phòng ốc luôn ngăn nắp gọn gàng mà còn hỏi xin tôi những vật dụng để lau dọn nhà cửa. ”
Bác sĩ chia sẻ với chúng tôi rằng Ngày Của Mẹ là một ngày thực sự khó khăn cho những vị khách trọ, họ nhớ gia đình, bạn bè và những người thân yêu. Như bất kì ai, những bệnh nhân của ông đều muốn được khỏe mạnh, sống trong một nơi an toàn và có những mối tương quan tích cực với những người họ quan tâm.
”Những người bị mất nhà cửa cũng như bao người khác, họ cũng cố gắng sống lương thiện, họ cũng là hình ảnh của chính Chúa như chúng ta mà thôi ” Bác sĩ nói. ”Nếu người ta đến khách sạn, ngồi xuống, nói chuyện, lắng nghe họ, chắc chắn người ta sẽ hiểu vì sao một ai đó đang sống yên ổn bỗng dưng trở thành vô gia cư ”
Bác sĩ và đội của ông vẫn đang ra sức bảo vệ những người mỏng dòn yếu đuối nhất trong chúng ta, cho họ một mái nhà giữa tâm bão của cuộc khủng hoảng toàn cầu. Hy vọng rằng nỗ lực phi thường của bác sĩ cùng những đồng nghiệp sẽ là bàn đạp nâng đỡ họ không những trong đại dịch mà còn trong quãng đời còn lại.
Bác sĩ Huggett tâm tình: ”Vẫn còn đó sự kì thị người vô gia cư, nhưng họ cũng là con người như chúng ta, họ xứng đáng được tôn trọng, được có tiếng nói trong cộng đồng, và một nơi để tựa đầu, một nơi để dừng chân ”. Minh Thảo dịch từ Aleteia
2020
Trở nên môn đệ Chúa
11.6.2020 Thứ Năm Thánh Barnaba
Mt 10, 7-13
TRỞ NÊN MÔN ĐỆ CHÚA
Hôm nay Giáo Hội kính nhớ thánh Barnaba tông đồ. Là một người Do Thái sinh trưởng tại đảo Sýp vào khởi đầu của đạo Kitô, Barnaba có tên là Giuse, thuộc dòng tộc Lêvi. Có lẽ thánh nhân từng sống tại Giêrusalem trước khi Chúa Giêsu chịu tử nạn. Vì nhiệt tình và sự thành công trong công tác rao giảng, cho nên thánh nhân được các thánh tông đồ tặng cho biệt hiệu là Barnaba, nghĩa là “người con có biệt tài khuyên nhủ hay an ủi”.
Thánh Barnaba quê ở đảo Sýp. Ít lâu sau lễ Ngũ Tuần, người có mặt trong cộng đoàn Giêrusalem, rồi ở Antiôkia, nơi người đã giới thiệu ông Saolê thành Tácxô với các anh em.
Người đã cùng với ông Phaolô đi loan báo Tin Mừng cho Tiểu Á, nhưng sau người trở lại đảo Sýp. Thánh Banaba, với cái nhìn rộng rãi, khoáng đạt, đã giữ vai trò chủ yếu trong tiến trình truyền giáo của Hội Thánh.
Chính thánh Barnaba là người đứng ra bảo đảm và giới thiệu thánh Phaolô với các tông đồ, nhưng sau đó thánh Phaolô lui về ẩn dật trong nhà ngài tại Tácxô trong nhiều năm và Barnaba vẫn ở lại Giêrusalem. Sau này các thánh tông đồ sai Barnaba đến Antiokia để điều tra về sự thành công của thánh Phaolô trong công tác rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại, Barnaba đã nhận ra ngay ơn Chúa trong công việc của thánh Phaolô. Ðây là lý do để nối kết hai người lại với nhau trong cánh đồng truyền giáo của dân ngoại. Cả hai sát cánh bên nhau tại Antiokia trong vòng một năm. Một trận đói lớn đã tàn phá Giêrusalem, Barnaba và Phaolô đã quyên góp để mang về Giêrusalem cứu trợ. Sau công tác này, cả hai trở về Antiokia và mang theo một người bà con họ hàng với Barnaba là Marcô, vị thánh sử tương lai.
Thánh Barnaba là một trong những nhà truyền giáo tiên khởi của Giáo Hội. Ngài đóng vai trò chủ yếu trong việc loan truyền và chuyển dịch Phúc Âm cho dân ngoại. Đồng thời, chính ngài là người đã đứng ra đảm bảo về sự trở lại thực sự của thánh Phaolô trước mặt cộng đoàn Kitô hữu khi Phaolô mới trở lại đạo. Sau đó, Barnaba được sai đi rao giảng ở Antiôkia để rao giảng Tin Mừng. Khi công việc ngày càng có kết quả, Barnaba đã xin Phaolô đến giúp sức cho mình. Cả hai đã xây dựng một Giáo Hội thật phát triển tại nơi đây. Theo sách Công Vụ Tông Đồ, chính ở Antiôkia mà “lần đầu tiên các môn đệ được gọi là Kitô hữu”.
Bắt đầu sứ vụ công khai, Đức Giêsu kêu gọi các môn đệ để các ông ở với người, chứng kiến việc Người làm, rồi được sai đi rao giảng Tin Mừng. Khi lãnh nhận bí tích rửa tội, chúng ta được gia nhập vào Giáo Hội, trở nên người môn đệ của Chúa. Vì thế, mỗi người phải có bổn phận nói về Chúa cho mọi người.
Nước Trời là nơi Thiên Chúa hiện diện. Qua biến cố Nhập Thể, “Nước Trời” đã đến gần với con người. Đức Giêsu Kitô chính là sự hiện diện hữu hình của Thiên Chúa nơi trần gian. Chúa Giêsu đến để xóa bỏ ngăn cách giữa Thiên Chúa và con người, giữa Nước Trời với thế gian. Bởi đó, khi bắt đầu sứ vụ công khai, Chúa Giêsu đã rao giảng: “Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 4,17).
Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cũng sai các Tông Đồ ra đi và rao truyền cùng một sứ điệp: “Thiên Chúa yêu thương con người”. Tình yêu của Thiên Chúa được cụ thể hóa qua việc Chúa Giêsu trao ban quyền năng cho các Tông Đồ để các ông có thể làm những điều vượt khả năng con người. Đó là làm cho người đau yếu được lành, người chết được sống lại, người phong hủi được sạch, người giam cầm được tự do. Qua đó, những ai đang đau khổ, buồn phiền, thất vọng, bị bỏ rơi được hưởng trọn vẹn tình yêu của Chúa.
Chúa Giê-su còn căn dặn khá chi tiết: “Anh em đừng đi tới vùng các dân ngoại, cũng đừng vào thành nào của người Samari. Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà Israel”. Như thế, khi thi hành sứ vụ, chúng ta luôn phải thi hành theo sự hướng dẫn của Lời Chúa, được lắng nghe trong cầu nguyện, qua việc nhận định thiêng liêng hay qua các trung gian. Trong những lời này, Đức Giê-su còn nêu rõ đối tượng của sứ vụ rao giảng Nước Trời: “các con chiên lạc nhà Israel”. Như thế, trong sứ vụ, người môn đệ luôn phải lựa chọn đối tượng ưu tiên; và khi lựa chọn, đừng quên “các con chiên lạc” của Chúa hiện diện ở giữa chúng ta, ở ngay bên cạnh chúng ta.
Ta được mời gọi nhận ra tình yêu nhưng không của Thiên Chúa ban cho chúng ta, nhưng không trong ơn huệ sự sống và cũng nhưng không trong ơn tha thứ. Và ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm này : sự sống đích thật, chỉ có thể sinh ra và lớn lên được trong sự nhưng không mà thôi. Cuộc sống của chúng ta, nhất là trong Cộng Đoàn và ngay cả trong xã hội, nếu không có sự nhưng không, sẽ bị bóp nghẹt. « Nhưng không » thì ngược với « sòng phẳng ». Nếu Thiên Chúa là « sòng phẳng », thì không có sự sống, và nếu có, sự sống cũng không thể được duy trì ; giữa chúng ta cũng vậy, nếu chỉ là sòng phẳng, sẽ không có chúng ta trên đời, và nếu có, con người sẽ loại trừ nhau và cuộc sống sẽ trở nên gánh nặng không thể chịu nổi ; và nếu chúng ta sống sòng phẳng với nhau, chúng ta sẽ không có ngày hôm nay ở Cộng Đoàn này, chúng ta được qui tụ từ rất xa trong niềm vui sống ơn gọi như thế này.
Khi sai họ đi, Chúa Giêsu không đòi hỏi các Tông Đồ điều gì quá sức, chỉ là những gì “đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy” (Mt 10,8b). Điều mà các Tông đồ nhận được cách nhưng không từ Chúa không gì khác hơn chính là tình yêu. Đến lượt mình, các Tông Đồ đã ra đi và loan báo tình yêu cứu độ của Chúa cho mọi người. Đó là truyền giáo. Là Kitô hữu, mỗi người chúng ta cũng được Chúa mời gọi ra đi và làm cho môi trường chúng ta sinh sống trở thành nơi tình yêu Chúa hiện diện, cụ thể, trong gia đình, nơi xứ đạo, trường học, công xưởng và ngoài xã hội.
Lời rao giảng « Nước Trời đã đến gần » đi đôi với một dấu chỉ, đó là dấu chỉ « nhưng không » : « Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy » (c. 8). có thể nói, nếu chúng ta không kinh nghiệm sự nhưng không, không thực hành sự nhưng không, không xây dựng sự nhưng không, thì Nước Trời sẽ không hiện diện ở giữa chúng ta. Bởi vì Nước Trời là Nước của Thiên Chúa, và Thiên Chúa là nhưng không.
Thiên Chúa là nhưng không, bởi vì Ngài tạo dựng nên muôn loài muôn vật và tạo dựng nên chính loài người chúng ta, khi chúng ta chưa làm được gì, chưa lập công được gì. Giống như cha mẹ trước khi sinh con, cha mẹ đã cho rất nhiều và còn muốn cho hơn cả cái mình có, hơn nữa, còn tha thứ và bao dung trước, nếu chẳng may đứa con trở nên hư hỏng.
Trong đời dâng hiến, Chúa gọi chúng ta đi theo Ngài trong một Hội Dòng, khi chúng ta chưa làm được gì cho Chúa và cho Dòng. Trong đời hôn nhân, Chúa ban tặng cuộc đời người này cho người kia, khi mà cả hai chưa làm được gì cho nhau. Lãng quên điều này, chúng ta không thể sống hạnh phúc và không thể sống đến cùng ơn gọi của mình ; và nhất là không để cho Nước Trời trị đến trong ngay tâm hồn chúng ta và ở giữa gia đình, Cộng Đoàn của chúng ta.
Thánh Barnaba là mẫu gương nhiệt thành trong đời sống tông đồ và hết lòng với tha nhân. Ước mong mỗi người đều học được nơi ngài những nhân đức cao cả đó, hầu trở nên chứng nhân của Chúa giữa cuộc đời.
2020
Thánh Ba-na-ba tông đồ – lễ nhớ bắt buộc
Thánh Ba-na-ba tông đồ
lễ nhớ bắt buộc
Ca nhập lễ
- Cv 11,24
Vị thánh này có phúc
vì đáng được kể thêm vào số Tông Đồ :
Người thật là tốt, đầy ơn Thánh Thần và lòng tin.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa, Chúa đã truyền phải dành riêng thánh Ba-na-ba là một người đầy lòng tin và Thánh Thần, để thánh nhân đưa nhân loại về với Chúa. Xin cho mọi tín hữu biết dùng lời nói và việc làm để trung thành loan báo Tin Mừng Ðức Kitô như thánh nhân đã can đảm rao truyền. Chúng con cầu xin …
Bài đọc 1
Cv 11,21b-26 ; 13,1-3
Ông Ba-na-ba là người tốt, đầy ơn Thánh Thần và lòng tin.
Bài trích sách Công vụ Tông Đồ.
11 21b Hồi ấy, có một số đông đã tin và trở lại cùng Chúa.
22 Tin ấy đến tai Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem, nên người ta cử ông Ba-na-ba đi An-ti-ô-khi-a. 23 Khi tới nơi và thấy ơn Thiên Chúa như vậy, ông Ba-na-ba mừng rỡ và khuyên nhủ ai nấy bền lòng gắn bó cùng Chúa. 24 Ông là người tốt, đầy ơn Thánh Thần và lòng tin. Và đã có thêm rất nhiều người theo Chúa.
25 Ông Ba-na-ba trẩy đi Tác-xô tìm ông Sao-lô. 26 Tìm được rồi, ông đưa ông Sao-lô đến An-ti-ô-khi-a. Hai ông cùng làm việc trong Hội Thánh ấy suốt một năm và giảng dạy cho rất nhiều người. Chính tại An-ti-ô-khi-a mà lần đầu tiên các môn đệ được gọi là Ki-tô hữu.
13 1 Trong Hội Thánh tại An-ti-ô-khi-a, có những ngôn sứ và thầy dạy, đó là các ông Ba-na-ba, Si-mê-ôn biệt hiệu là Đen, Lu-ki-ô người Ky-rê-nê, Ma-na-en, bạn thời thơ ấu của tiểu vương Hê-rô-đê, và Sao-lô. 2 Một hôm, đang khi họ làm việc thờ phượng Chúa và ăn chay, thì Thánh Thần phán bảo : “Hãy dành riêng Ba-na-ba và Sao-lô cho Ta, để lo công việc Ta đã kêu gọi hai người ấy làm.” 3 Bấy giờ họ ăn chay cầu nguyện, rồi đặt tay trên hai ông và tiễn đi.
Đáp ca
Tv 97,1.2-3ab.3cd-4.5-6 (Đ. c.2b)
Đ.Chúa đã mặc khải đức công chính của Người trước mặt chư dân.
1Hát lên mừng Chúa một bài ca mới,
vì Người đã thực hiện bao kỳ công.
Người chiến thắng nhờ bàn tay hùng mạnh,
nhờ cánh tay chí thánh của Người.
Đ.Chúa đã mặc khải đức công chính của Người trước mặt chư dân.
2Chúa đã biểu dương ơn Người cứu độ,
mặc khải đức công chính của Người trước mặt chư dân ;3abNgười đã nhớ lại ân tình và tín nghĩa
dành cho nhà Ít-ra-en.
Đ.Chúa đã mặc khải đức công chính của Người trước mặt chư dân.
3cdToàn cõi đất này đã xem thấy
ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta.4Tung hô Chúa, hỡi toàn thể địa cầu,
mừng vui lên, reo hò đàn hát.
Đ.Chúa đã mặc khải đức công chính của Người trước mặt chư dân.
5Đàn lên mừng Chúa khúc hạc cầm dìu dặt,
nương khúc hạc cầm réo rắt giọng ca.6Kèn thổi vang xen tiếng tù và,
tung hô mừng Chúa, vị Quân Vương !
Đ.Chúa đã mặc khải đức công chính của Người trước mặt chư dân.
Tung hô Tin Mừng
- Mt 28,19a.20b
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Chúa nói : “Anh em hãy đi giảng dạy cho muôn dân. Này đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng
Mt 10,7-13
Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
7 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các Tông Đồ rằng : “Anh em hãy đi rao giảng : Nước Trời đã đến gần. 8 Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết trỗi dậy, cho người mắc bệnh phong được sạch, và khử trừ ma quỷ. Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy. 9 Đừng kiếm vàng bạc hay tiền đồng để giắt lưng. 10 Đi đường, đừng mang bao bị, đừng mặc hai áo, đừng đi giày dép hay cầm gậy. Vì thợ thì đáng được nuôi ăn.
11 “Khi anh em vào bất cứ thành nào hay làng nào, thì hãy dò hỏi xem ở đó ai là người xứng đáng, và hãy ở lại đó cho đến lúc ra đi. 12 Vào nhà nào, anh em hãy chào chúc bình an cho nhà ấy. 13 Nếu nhà ấy xứng đáng, thì bình an của anh em sẽ đến với họ ; còn nếu nhà ấy không xứng đáng, thì bình an của anh em sẽ trở về với anh em.”
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin thánh hoá của lễ chúng con dâng, và ban cho chúng con lửa yêu mến nồng nàn xưa đã thiêu đốt lòng thánh Ba-na-ba và thúc đẩy thánh nhân đem ánh sáng Tin Mừng đến cho dân ngoại, Chúng con cầu xin …
Lời tiền tụng các Tông Ðồ,
Lạy Chúa là Cha chí thánh, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Lạy Chúa là Mục Tử hằng hữu, Chúa không bỏ rơi đoàn chiên Chúa, nhưng nhờ các Thánh Tông Ðồ, Chúa luôn che chở, giữ gìn để đoàn chiên được hướng dẫn nhờ các vị lãnh đạo Chúa đã đặt làm mục tử nhân danh Con Chúa coi sóc đoàn chiên.
Vì thế, cùng với các Thiên thần và tổng lãnh Thiên thần, các Bệ thần và Quản thần, cùng toàn thể đạo binh thiên quốc, chúng con không ngừng hát bài ca chúc tụng vinh quang Chúa rằng:
Thánh! Thánh! Thánh! …
Ca hiệp lễ
Ga 15,15
Chúa nói :
“Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa,
vì tôi tớ không biết việc chủ làm.
Thầy gọi anh em là bạn hữu,
vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy,
Thầy đã tỏ cho anh em biết.”
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, nhân ngày lễ thánh Ba-na-ba tông đồ, Chúa đã ban cho chúng con bảo chứng của cuộc sống vĩnh cửu. Chúng con khiêm tốn nài xin Chúa cho chúng con một ngày kia được chiêm ngưỡng chính Ðức Kitô, Ðấng chúng con vừa đón rước trong mầu nhiệm thánh lễ này. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.
