2020
2020
Cả hai bố con chịu chức phó tế
Cả hai bố con chịu chức phó tế
Cả hai bố con ông Stan Upah được thụ phong phó tế tại Nhà thờ thánh Patrick ở Tama, Iowa vào năm 2017; ông bố chịu chức phó tế vĩnh viễn, còn người con chịu chức phó tế trong tiến trình tới chức linh mục thừa tác.
Một năm sau, năm 2018, Thầy phó tế vĩnh viễn Stan Upah làm phó tế trong cả Thánh lễ truyền chức linh mục và thánh lễ mở tay cho Cha Andy Upah là con trai của ông, tại giáo xứ nguyên quán của họ.
Cả hai bố con chịu chức phó tế
Cả hai đã đeo đuổi con đường ơn gọi phục vụ Giáo hội. Linh mục Upah, là cha xứ Nhà thờ Chúa giáng sinh ở Dubuque, Iowa chia sẻ trong cuộc sống, cha thường nghe người ta nói với ba của ngài rằng ông nên đi học làm một phó tế… và ba tôi đã âm thầm sửa soạn cho ơn gọi đó.
Thầy phó tế vĩnh viễn Stan Upah cũng chia sẻ tôi đã dấn thân vào việc học thần học, nhưng chưa bao giờ nói với con tôi ước muốn đó, vì tôi không muốn quyết định của tôi làm ảnh hưởng đến ơn gọi của con tôi.
Thật vậy, bố là một phó tế vĩnh viễn và con là một linh mục là một trường hợp của một cuộc hành trình tâm linh khá đặc biệt.
Thầy phó tế vĩnh viễn Stan Upah làm phó tế trong cả Thánh lễ truyền chức linh mục và thánh lễ mở tay cho Cha Andy Upah là con trai
Được biết ở Hoa kỳ và nhiều nơi trên thế giới ngày nay, trong Giáo hội có nhiều phó tế vĩnh viễn vẫn sống cuộc sống gia đình, nhưng làm việc cho Giáo hội… Nhưng trường hợp cả hai bố con, bố là phó tế vĩnh viễn và con là linh mục thì tương đối hiếm có!
Thanh Quảng sdb
2020
Bức tượng của Thánh Junipero Serra bị giật sập tại công viên San Francisco
Bức tượng của Thánh Junipero Serra bị giật sập tại công viên San Francisco
Một bức tượng của Thánh Junipero Serra, một nhà truyền giáo Công Giáo, đã bị giật sập tại công viên San Francisco hôm thứ Sáu 19 tháng 6, cùng với các bức tượng của Francis Scott Key và Ulysses S. Grant.
Các bức tượng đã bị phá hủy vào tối thứ Sáu tại Công viên Golden Gate, bởi một nhóm khoảng 100 người trong cuộc biểu tình vào ngày Juneteen. Juneteen là chữ viết tắt bởi June, nghĩa là tháng Sáu, và nineteen nghĩa là 19 kỷ niệm ngày 19 tháng Sáu, 1865 khi tướng Liên Minh Gordon Granger công bố tại Galveston, Texas sắc lệnh bãi bỏ chế độ nô lệ.
Cảnh sát đã được lệnh rút lui bỏ mặc khu vực như trong một thành phố vô chính phủ. Tại sao cảnh sát rút lui khi cuộc biểu tình chỉ có 100 người là câu hỏi đối với nhiều người. Có thể là để tránh xung đột với người biểu tình. Tuy nhiên, cũng không thể loại trừ đây là một quyết định chính trị nhằm đổ lỗi cho chính quyền của Tổng thống Trump về tình trạng rối loạn trong cả nước theo sau cái chết của anh George Floyd.
Trên khắp đất nước, những người biểu tình và những kẻ bạo loạn trong tuần này đã kéo xuống những bức tượng của các nhân vật lịch sử. Trong khi một số cuộc biểu tình đã phá bỏ các tượng đài của các nhân vật Liên minh, như là một phần trong lời kêu gọi chấm dứt nạn phân biệt chủng tộc, các bức tượng khác cũng đã bị phá hủy từ các địa điểm quan yếu, bao gồm cả một bức tượng của George Washington.
Francis Scott Key, sinh ngày 1 tháng 8 năm 1779 và qua đời ngày 11 tháng Giêng năm 1843. là một luật sư, tác giả và nhà thơ sinh quán ở Frederick, Maryland. Ông rất nổi tiếng vì đã viết lời cho bài quốc ca Mỹ “The Star-Spangled Banner.”
Ulysses S. Grant, sinh ngày 27 tháng 4 năm 1822 và qua đời ngày 23 tháng 7 năm 1885 là một quân nhân và chính trị gia người Mỹ, từng là tổng thống thứ 18 của Hoa Kỳ từ 1869 đến 1877. Trước khi làm tổng thống, Grant đã lãnh đạo Quân đội Liên minh là Tổng chỉ huy của Quân đội Hoa Kỳ trong cuộc Nội chiến Hoa Kỳ. Grant đã thúc giục phê chuẩn Tu Chính Án thứ 15, bảo đảm cho người Mỹ gốc Phi quyền bầu cử, và vào năm 1870 đã tạo ra Bộ Tư pháp liên bang để truy tố Ku Klux Klan.
Việc giật sập tượng của các danh nhân này cho thấy những kẻ phá hoại chỉ là một bọn ngu dốt về lịch sử, hành động mù quáng.
Thánh Junipero Serra, người Tây Ban Nha, là một linh mục Dòng Anh Em Hèn Mọn sinh ngày 24 tháng 11, 1714 và qua đời ngày 28 tháng Tám, 1784.
Trong thế kỷ thứ mười tám, Thánh Junipero Serra đã thành lập chín miền truyền giáo đầu tiên trong khu vực mà sau này trở thành California, nhiều miền truyền giáo đó ngày nay là trung tâm của các thành phố lớn ở California. Đó là 9 miền truyền giáo đầu tiên trong số 21 miền truyền giáo từ San Diego đến San Jose.
Thánh Junipero Serra đã giúp cải đạo hàng ngàn người dân California bản địa sang Kitô giáo và dạy họ các công nghệ nông nghiệp mới. Bức tượng trong Công viên Golden Gate được đặt lần đầu tiên vào năm 1907 và được chế tác bởi nhà điêu khắc nổi tiếng người Mỹ Douglas Tilden.
Những kẻ chống báng đức tin Công Giáo coi Thánh Junipero Serra là biểu tượng của chủ nghĩa thực dân châu Âu và vu cáo các nhà truyền giáo tại California tham gia vào lao động cưỡng bức người Mỹ bản địa, đôi khi tuyên bố chính bản thân Thánh Junipero Serra cũng đã từng ngược đãi người bản địa.
Nhưng những người bảo vệ Thánh Junipero Serra, nói rằng Thánh Junipero Serra thực sự là một người ủng hộ người bản địa và là một nhà vô địch về nhân quyền. Họ ghi nhận nhiều người bản địa mà ngài đã giúp đỡ trong suốt cuộc đời và sự đau buồn của họ khi ngài qua đời.
Các nhà viết tiểu sử lưu ý rằng Thánh Junipero Serra thường xuyên can thiệp cho người bản địa khi họ phải đối mặt với sự khủng bố từ chính quyền Tây Ban Nha. Trong một trường hợp, vị linh mục đã can thiệp để cứu mạng sống của một số thổ dân California đã tấn công một tiền đồn Tây Ban Nha.
Trong một lá thư kêu gọi đối xử công bằng với người bản địa, Thánh Junipero Serra đã viết rằng, nếu người bản địa giết tôi… thì họ nên được tha thứ.
Năm 2015, Đức Tổng Giám Mục Jose Gomez của Los Angeles cho biết rằng Thánh Junipero Serra có tình yêu sâu sắc với người bản địa là những người ngài đã đến để truyền giáo.
“Trong những lời kêu gọi của ngài, thánh nhân đề cập đến một số điều thực sự đáng chú ý về phẩm giá con người, quyền con người và lòng thương xót của Thiên Chúa, ” Đức Tổng Giám Mục nói.
Năm 2017, Đức Tổng Giám Mục Gomez nói thêm rằng Thánh Junipero Serra là một nhà sáng lập người Mỹ bị bỏ quên.
“Tưởng nhớ công ơn Thánh Junípero và những nhà truyền giáo đầu tiên thay đổi cách chúng ta nhớ về câu chuyện đất nước mình. Điều đó nhắc nhở chúng ta rằng sự khởi đầu của nước Mỹ không phải là một diễn biến chính trị. Sự khởi đầu của nước Mỹ là về mặt tinh thần, ” ngài nói trong bài giảng năm 2017.
Năm 2018, chính quyền thành phố San Francisco, đã loại bỏ một bức tượng của vị thánh khỏi một vị trí nổi bật bên ngoài Tòa thị chính. Một bức tượng của vị thánh vẫn được trưng bày ở Quốc hội Hoa Kỳ.
Thanh Quảng sdb
2020
Đường vào Nước Trời
23.6.2020 Thứ Ba
Mt 7, 6.12-14
ĐƯỜNG VÀO NƯỚC TRỜI
Cuộc đời là một chuyến đi dài, trên hành trình ấy mỗi người là một lữ khách. Người lữ hành khi bước vào chuyến đi thì đã chọn cho mình một hướng nhất định để đến đích họ muốn. Người lữ hành mang danh Kitô hữu lên đường cho chuyến đi dài và xa ấy từ ngày lãnh Bí tích Rửa tội. Trên hành trình đi có những trạm tiếp sức nhờ các ơn thánh qua các Bí tích chúng ta được lãnh nhận. Như vậy, con đường ta đi là con đường mang tên Giêsu.
Trên con đường đó, “Lời Ngài sẽ là đèn soi cho ta bước, là ánh sáng chỉ đường ta đi” (Tv 119, 110). Nhưng đường Giêsu không thênh thang, không phân thành nhiều len, không có cỏ hoa trang trí. Đường thì chật, cửa vào thì hẹp, đòi hỏi phải bỏ mình và vác lấy thập giá, do đó mà ít người theo đường này. Còn “cửa rộng và lối thênh thang thì dễ đưa ta đến hố diệt vong” (Mt 7, 13), nhưng trớ trêu thay lại có nhiều người thích đi. Được vào Nước Trời hay bị rơi vào hố diệt vong bắt đầu từ chọn lựa hôm nay của chúng ta, và đã lên đường thì sự chọn lựa không còn nằm trong trí tưởng nhưng là qua cách sống, lối sống mà Tin Mừng đòi hỏi.
Cửa hẹp là hình ảnh dùng để diễn tả những khó khăn trước mắt phải cô gắng vượt qua; rồi sau đó mới đạt được kết quả tốt đẹp.
Chúa Giêsu dùng hình ảnh “cửa hẹp” và “đường chật” (Mt 7, 13-14) trong Tin Mừng hôm nay để dạy các tông đồ cần phải biết từ bỏ những ham muốn, những quyến rũ thoải mái, bất chính của bản thân mình. Thay vào đó là hãy lựa chọn những hy sinh, hãm mình, kiêng khem tiện nghi vật chất, biết từ bỏ ý riêng của bản thân, sẵn sàng vâng theo thánh ý Chúa, chấp nhận chương trình cứu độ bằng khổ nạn thập giá để rồi nhờ cuộc phục sinh của Đức Ki-tô đưa các ông đến sự sống đời đời.
Quả vậy, không ai muốn đưa mình đến sự chết nhưng đều chọn về cõi sống. Ngặt một nỗi đường đến sự sống thì chật hẹp, gồ ghề, bị cản trở bởi ngăn sông cách núi, đòi hỏi từ bỏ nhiều và chỉ có tình yêu dẫn lối. Tình yêu Chúa để nhận ra “chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14, 6). Ngài sẽ là đường và là người dẫn đường, để khi vấp ngã, lúc mỏi mệt hay phải mang gánh nặng nề, ta được Ngài cho nghỉ ngơi bồi dưỡng (Mt 11, 28). Ngài sẽ kiên nhẫn nâng ta dậy, ấp ủ ta “như gà mẹ ấp ủ gà con dưới cánh” (Mt 23, 37).
Tình yêu tha nhân cũng là động lực thúc đẩy ta tiến bước, đó không còn là rào cản bước chân ta. Yêu thương anh em là bước đi trong ánh sáng (1 Ga 2, 10). Một cuộc sống đầy yêu thương và quảng đại để xoa dịu nỗi đau của tha nhân, làm cho họ những gì họ muốn, đồng hành trong từng nhịp bước với họ và nhất là dìu nhau vào Nước Trời.
Con người hôm nay sống giữa một xã hội vật chất tiện nghi, ai cũng thích dễ dãi, tự do, chẳng ai muốn vác lấy khó khăn, kỉ luật, hy sinh. Lắng nghe lời Chúa hôm nay chúng ta ý thức con đường đưa tới sự sống vĩnh cửu là chính Chúa Giêsu. Đường ấy là đường khổ giá đau thương. Bước trên con đường ấy thì “phải đương đầu với sức mạnh”, sức mạnh của danh vọng, lạc thú, tiền tài, hưởng thụ nhưng “ai mạnh sức thì chiếm được” (Mt 11, 11).
Con người ngày nay thích an nhàn hưởng thụ hơn là cố gắng hướng thiện, sống thánh; thích thỏa mãn bản năng của thân xác càng nhiều càng tốt; muốn hưởng thụ tiện nghi vật chất tối đa. Chỉ biết tôn thờ thân xác, của cải vật chất và xem thường đời sống tâm linh của chính mình…
Vô hình chung con người trở nên nô lệ cho thân xác, và vật chất; quên mất phẩm giá linh thánh của mình. Quên mất căn tính của mình là con của Đấng Tối Cao, được chung hưởng hạnh phúc, và có bổn phận phụng sự Người trong chân lý.
Con người ta đã quên nhớ con đường bên trong, con đường nội tâm mới thực sự dẫn con người trở về với con người thật của mình. Để dù muốn hay không, cũng phải nhận chân thực tại tự thân: Nhìn lại con người thật của mình với những hệ lụy đúng sai mà nhận ra thiện ác…
Và ta được mời gọi tin tưởng vào tình thương Thiên Chúa và đáp lại lời mời gọi của Ngài, chúng ta cùng tìm cho mình một con đường, một lối đi chật hẹp mang tên Giêsu; và nhanh chân bước theo cách xác tín “vì chúng ta biết chúng ta tin vào ai” (Tm 1,12). Đồng thời cùng mở lòng và đưa dẫn bao người chưa biết tin vào ai, hay còn hoài nghi chưa chịu bước theo đường Giêsu.
Chúa Giêsu dạy rằng: “Tất cả những gì các con muốn người ta làm cho các con, thì chính các con hãy làm cho người ta như thế!” (Mt 7, 12) và Người mời gọi: “Các con hãy vào qua cửa hẹp, vì cửa rộng và đường thênh thang là lối đưa đến hư mất, và có nhiều kẻ đi lối ấy; cửa và đường đưa tới sự sống thì chật hẹp, và ít kẻ tìm thấy” (Mt 7, 13-14). Đó là lối sống mà Kitô hữu chúng ta cần phải chọn lựa để sống trong tương quan với Chúa và với tha nhân.
Chúa Giêsu giáo huấn : con đường dễ dãi là con đường dẫn đến hư mất, đó là định luật chung của cuộc sống. “Hãy vào qua cửa hẹp, vì cửa rộng và đường rộng đưa đến diệt vong”. Thái độ hững hờ không thể đi đôi với những đòi hỏi của Tin Mừng; cuộc sống dễ dãi, buông thả không có chỗ đứng trong nếp sống của những người theo Chúa. Ðã một thời cùng ăn, cùng uống, cùng nghe giảng dạy, chưa phải là giấy thông hành để vào Nước Trời: “Ai nghe những lời Ta dạy mà không đem ra thực hành, thì ví được như người ngu xây nhà trên cát”. Nếu viện lý do mình là con dòng cháu giống, cũng chưa phải là lý do để được thâu nhận vào Nước Trời.
Xin Chúa giúp chúng ta biết khôn ngoan chọn cho mình một con đường hẹp. Đó là con đường của thập giá, con đường sống vị tha, sống vì tha nhân bằng cả tấm lòng yêu mến chân thành, dù cho sẽ phải gặp nhiều gian truân và đau khổ; đồng thời, chúng ta hãy luôn xác tín rằng, đó là con đường dẫn chúng ta đến niềm vui, hạnh phúc và sự sống đời đời.
Xin Chúa giúp chúng ta biết khôn ngoan chọn cho mình một con đường hẹp. Đó là con đường của thập giá, con đường sống vị tha, sống vì tha nhân bằng cả tấm lòng yêu mến chân thành.
