2020
Vài suy tư về môi sinh dưới cái nhìn của Học thuyết Xã hội Công giáo
Dẫn nhập
Theo cái nhìn truyền thống về Học Thuyết Xă Hội của Giáo Hội, khi nói về việc hưởng dùng những tài nguyên của trái đất, người ta chú ý nhiều đến những tài nguyên, những của cải, những sản phẩm do con người làm ra qua sức lao động. Trọn cả dòng suy tư trong học thuyết xã hội của Giáo hội Công giáo dường như bị cuốn hút bởi “hai cực”: “Tư Bản và Lao Ðộng”, “Con Người và Tiền Vốn”.
Giờ đây, trong giai đoạn mới, xuất hiện một “phân cực mới”, với tên gọi mới là “môi sinh”, là “thiên nhiên”. Từ đây, suy tư của Học thuyết xã hội của Giáo hội không còn được trình bày theo hai phân cực “Tư Bản và Lao Ðộng”, nhưng theo ba phân cực “Tư Bản, Lao Ðộng và Môi Sinh”[1].
Trong phạm vi bài này, người viết xin trình bày vai trò của môi sinh đối với đời sống con người dưới cái nhìn của Giáo hội.
* Sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên có ngay từ những ngày đầu sáng tạo
Sáng thế, quyển sách đầu tiên của Kinh thánh Kitô giáo, đã diễn tả mối tương quan hài hòa giữa con người với thiên nhiên qua những hình ảnh biểu trưng sống động: thiên nhiên là công trình tạo dựng của Thiên Chúa và là ân huệ Người ban cho con người. Chính Người đã tạo dựng vạn vật từ hư vô và khi nhìn nhận từng tạo vật “Người đều thấy nó tốt đẹp” (x. St 1,4). Do đó, thiên nhiên không phải là sức mạnh thù nghịch ghê gớm, mà còn là “cách thế biểu lộ chương trình yêu thương và sự thật”[2] của Thiên Chúa đối với loài người.
Giáo huấn xã hội của Giáo hội luôn đề cao vai trò trung tâm của con người trong vũ trụ và phủ nhận cái “hào quang thần thánh” mà một số tôn giáo đã phủ lên vũ trụ vạn vật. Theo Kinh thánh, ngay từ khởi đầu, Thiên Chúa đã trao cho con người trách nhiệm quản trị toàn thể vạn vật để giúp chúng sinh sôi nảy nở và phát triển hài hòa (x. St 1,26-30). Nhờ ủy thác này, nhân loại mạnh dạn khám phá và chế ngự thiên nhiên, tạo điều kiện thuận lợi để khoa học hình thành và phát triển. Qua khoa học kỹ thuật, con người ngày càng mở rộng chủ quyền của mình trên toàn thể vũ trụ.
Theo Vaticanô II, nhờ lý trí và khoa học kỹ thuật, con người đã đạt được những kết quả phi thường trong việc khám phá cũng như chế ngự thế giới vật chất. Giáo huấn xã hội Công giáo đánh giá cao những đóng góp của khoa học kỹ thuật trong các lãnh vực của cuộc sống nông nghiệp, công nghiệp, y tế, thông tin, giáo dục…
* Khủng hoảng môi sinh
Tuy nhiên do quá nhấn mạnh về việc con người được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, nên hai vai trò ngôi vị và xã hội luôn được đề cao, trong khi đó, vai trò môi trường của con người bị xem nhẹ thậm chí bị lãng quên. Con người đã lạm dụng trách nhiệm làm chủ thiên nhiên của mình.
Vì thế trong mấy thế kỷ vừa qua, đặc biệt kể từ cuộc cách mạng công nghiệp từ thế kỷ XVII, con người không những không tôn trọng những quy tắc nền tảng nói trên, mà trái lại đã khai thác thiên nhiên một cách tùy tiện, ích kỷ và tàn bạo. Kết quả bi thảm là đã phá vỡ mối tương quan hài hòa giữa con người với môi trường và đẩy Trái Đất đến bờ vực thẳm của diệt vong. Càng cố gắng chinh phục và chế ngự Trái Đất theo quan điểm duy kỹ thuật, con người càng ô nhiễm hóa vũ trụ và tạo nên những gánh quá nặng cho môi trường. Thay vì cộng tác với Tạo Hóa để giúp thiên nhiên phát triển hài hòa, con người đã “hành hạ” và “bức tử” thiên nhiên[3].
* Giáo hội lên tiếng kêu gọi bảo vệ Thiên nhiên Môi trường
Hiện trạng xuống cấp trầm trọng môi trường toàn cầu gần đây khiến Giáo hội không thể im lặng. Giáo hoàng Phaolô VI năm 1967, trong thông điệp “Bát Thập Niên”, đã đề cập rõ vấn đề môi trường: “Đột nhiên con người hôm nay nhận thức rằng, do khai thác thiên nhiên một cách vô ý thức, mình bị đặt trước nguy cơ phá huỷ thiên nhiên và trở thành nạn nhân của chính hành động phá hoại có tác động dội lại trên con người”. Ngài xác nhận: vấn đề môi trường liên quan tới toàn thể nhân loại. Ngài kêu gọi các Kitô hữu hãy kề vai sát cánh cùng nhau gánh vác trách nhiệm về định mệnh chung bảo vệ thiên nhiên của cả thế giới[4].
Theo thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, cuộc khủng hoảng môi trường là hậu quả của chủ nghĩa tiêu thụ và khai thác thiên nhiên một cách vô tội vạ, phát xuất từ triết lý lệch lạc về vai trò con người, theo đó con người tự coi mình là chúa tể, là ông chủ tuyệt đối của thế giới, mà quên rằng Thiên Chúa đặt con người ở giữa vườn Êđen không phải là để làm bá chủ mà là để quản lý. Do đó, “lạm dụng thiên nhiên là ăn cắp của công”[5]. Như vậy tuy con người được phép sử dụng tạo vật, nhưng không có nghĩa là con người muốn sử dụng nó như thế nào tuỳ thích, mà phải có bổn phận giữ gìn và bảo vệ thiên nhiên để người khác cũng được hưởng.
Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn cho rằng bổn phận người Kitô hữu còn là tôn trọng, gìn giữ và bảo vệ môi trường. Đầu tư vào sản xuất, cần quan tâm đến tác động môi trường. Dù không phải là nhà sản xuất, mỗi người đều phải biết bảo vệ và gìn giữ môi trường sống của mình và của mọi người, bằng những hành động cụ thể trong đời sống thường ngày, như không xả rác nơi công cộng, không làm mất vệ sinh trong khu xóm…Thánh Kinh kể lại rằng khi tạo dựng con người, Thiên Chúa đã trao cho con người trách nhiệm chăm sóc, trông coi công trình tạo dựng của Ngài (x. St 1,28). Vì thế, đối với các Kitô hữu, gìn giữ, bảo vệ, chăm sóc môi trường thiên nhiên không chỉ là một trách nhiệm xã hội, mà còn là đòi hỏi của niềm tin, là một nghĩa vụ cao cả, vì lẽ ta được cộng tác với Thiên Chúa trong công trình tạo dựng[6].
* Cái nhìn và định hướng của bản thân
– Cái nhìn
Nhìn vào thực trang hiện nay của môi trường mình đang sinh sống quả thực có những vấn đề cần phải quan tâm và lên tiếng. Trước tiên, ý thưc tạo môi trường thiên nhiên lành mạnh chưa được người dân chú ý. Nhiều người còn có cái nhìn thiển cận chỉ biết nhắm đến cái lợi trước mắt mà không nghĩ đến hậu quả lâu dài của hành động thiếu tôn trọng và hủy hoại môi trường của mình. Đơn cử như việc chặt phá rừng, những người dân vào rừng chặt trộm cây, họ không biết được rằng chặt phá rừng như thế sẽ dẫn đến hậu quả lớn là thiên tai, bão lụt. Việc xả rác tại các sông ngòi cũng đáng báo động, người dân mới chỉ biết vất rác ra khỏi nhà mình còn lại các chất bẩn độc hại ngấm vào nguồn nước, rồi mình lại dùng lại nước đó sẽ gây bệnh tật thì ít người nghĩ tớ. Do đó mới có hiện tượng ở một số sông ngòi, kênh mương tràn rác thải, nước ô nhiễm bốc mùi nghiêm trọng, những đường ống cống sình lầy…Gần đây nhất là dịch lợn tai xanh, người dân chống dịch bệnh bằng cách mang lợn chết thả trôi lềnh bềnh trên song. Vấn đề phân loại rác trong cộng đoàn và gia đình cũng thế, rác phân hủy được và rác không phân hủy bỏ chung lẫn lộn…
– Định hướng
Là một tu sĩ, bản thân hiểu rõ sứ mệnh “bảo vệ và truyền bá việc bảo vệ môi trường” của mình hơn ai hết, bởi vì “thế giới xuất hiện trước mắt con người như một bằng chứng về Thiên Chúa, là nơi Ngài bày tỏ quyền năng sáng tạo, quan phòng và cứu độ của Ngài”[7]. Tu sĩ đi theo Chúa là mong ước được trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài, chính vì thế càng phải có trách nhệm góp phần bảo vệ công trình Ngài đã sáng tạo, hầu có thể đưa thiên nhiên về đúng ý định ban đầu Thiên Chúa tạo dựng.
Vì thế, trong đời sống của mình, trước tiên với cá nhân người tu sĩ phải biết tôn trọng và phát triển thiên nhiên bằng cách yêu mến, chăm sóc và trồng cây xanh nơi mình sinh sống. Tập nếp sống ngăn nắp, gọn gàng, sạch sẽ, tôn trọng và chia sẻ tài nguyên cho mọi người vì thiên nhiên là tài sản chung Thiên Chúa ban cho con người.
Tiếp đến, trong đời sống cộng đoàn, tu sĩ phải biết góp phần mình vào việc sử dụng thiên nhiên một cách hợp lý, việc phân loại và xử lý rác thác phải được thực hiện cách cẩn thận, đi sát giáo huấn của Giáo hội và hưởng ứng cụ thể lời kêu gọi của Giáo hội trong việc bảo vệ môi trường, giúp chị em học hiểu và áp dụng cách thực tế thông điệp Laudato Si’ về môi trường của Đức Giáo Hoàng Phanxico… Trong đời sống tông đồ, người tu sĩ phải làm gương sáng trong việc bảo vệ thiên nhiên. Trong việc coi sóc thiếu nhi hãy dạy cho các em yêu thiên nhiên, bảo vệ thiên nhiên, tổ chức những buổi trồng cây, làm cỏ, tưới nước trong khuôn viên nhà thờ, dạy các em không xả rác bừa bãi, có những thùng rác công cộng ở các nơi trong khu vực giáo xứ. Có những chương trình tổ chức đi đua về việc bảo vệ môi trường. Cổ vũ việc làm sạch môi trường sống bằng những hình thức phù hợp để giúp các em ý thức trách nhiệm và lợi ích của mình khi tôn trọng môi trường, đồng thời chỉ cho các em biết tác hại của việc tàn phá thiên nhiên chính là phá hại cuộc sống của mình.
Kết luận
Trên đây là một vài suy nghĩ về vấn đề môi sinh dưới cái nhìn của Học thuyết xã hội Công giáo, được người viết tổng hợp và trình bày. Thiết nghĩ vấn đề môi sinh hiện nay là vấn đề hết sức khẩn thiết mà ai trong chúng ta cũng nhận ra. Cái đáng nói ở đây là nguyên nhân của sự khủng hoảng môi trường hiện tại không nằm ở “môi trường” mà nằm ở vấn đề “đạo đức” của chính chúng ta, những con người được Thiên trao quyền cai quản thiên nhiên mà Ngài đã sáng tạo. Vì lợi ích cá nhân, một số người đã khai thác thiên nhiên một cách “tàn bạo”, khai thác không phải để phát triển mà là “tiêu diệt”. Môi trường là cái nôi cho con người sinh sống, trái đất như ngôi nhà chung của chúng ta, một khi “tiêu diệt” nó là đang tiêu diệt chính chúng ta. Những khủng hoảng của biến đổi khí hậu, thảm họa môi trường…chính là tiếng kêu cứu của thiên nhiên đang gào thét và ước mong làm thức tỉnh con người trước lối sử dụng khai thác quá mức.
Hy vọng mỗi chúng ta đáp lại tiếng kêu cứu ấy bằng cách góp phần nhỏ bé của mình vào việc bảo vệ và phát triển môi sinh theo đường hướng của Giáo hội.
[1] Dựa theo suy tư của Giáo sư Giorgio Campanini, chuyên viên về chính trị học theo tinh thần kitô giáo. Tập sách có tựa đề như sau: Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội: những thành quả đạt được và những thách thức mới, xuất bản năm 2007, Roma, nhà xuất bản EDB.
[2] Biển Đức XVI, Thông điệp Tình yêu trong sự thật, số 48.
[3] Nguyễn Thái Hợp, Một cái nhìn về Giáo huấn xã hội Công giáo, NXB Phương Đông, tr. 460.
[4] Thiên Kim, Giáo hội và Môi trường sinh thái. http://www.giaoducconggiao.net.
[5] GLHTCG số 2415.
[6] Phạm Minh Mẫn, Lá thư Mục tử, 2009. http://lambich.net.
[7] Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hòa bình, Toát yếu Học thuyết xã hội Công giáo, tập II, Tủ sách chuyên đề, Lưu hành nội bộ, tr. 238.
Hoa cát
2020
Tuân giữ Lời
25.6.2020 Thứ Năm
Mt 7, 21-29
TUÂN GIỮ LỜI
Chúa Giêsu dạy cho chúng ta biết điều kiện cần phải có để được vào Nước Trời, đó là: lắng nghe và thực hành lời Chúa. Việc tuân giữ Lời Chúa là thể hiện lòng yêu mến đích thực. Chúng ta không thể nói yêu mến Chúa mà lại không tuân giữ Lời Người, vì như thế là nói dối. Thật vậy, giữa tin có Chúa và yêu mến Chúa phải là một khi tuân hành ý Chúa.
Chúa Giêsu không nói thi hành “Lề Luật”, nhưng là thi hành “ý muốn của Cha Thầy”, và cũng là Cha của chúng ta. Thế mà, ý muốn của Thiên Chúa được thể hiện nơi Lề Luật, và ngang qua Lề Luật, ý muốn của Chúa Cha liên quan đến nguồn gốc, nền tảng và cùng đích của Lề Luật, vì ý muốn của Chúa Cha còn liên quan đến con tim và lòng mến của chúng ta ; và ý muốn của Chúa Cha còn liên quan đến lựa chọn ơn gọi của chúng ta, đến mọi hành vi, lời nói và tâm tình của chúng ta, ở mọi nơi mọi lúc. Và gương mẫu tuyệt vời nhất của chúng ta là chính Chúa Giêsu, bởi vì Ngài đã sống với Chúa Chúa bằng tình yêu con thảo cách trọn vẹn và cho đến cùng.
Ai là người khôn và ai là kẻ dại? Đây là câu trả lời của Chúa Giêsu: Người khôn là người chỉ nhắm hướng cuộc đời của mình đến hạnh phúc Nước Trời. Để đạt được mục tiêu đó, người ấy chuyên cần thực thi ý muốn của Chúa Cha là Đấng ngự trên trời.
Ngược lại kẻ dại là người chỉ giữ đạo ngoài môi miệng, có thể mang những chức vụ cao trong Hội Thánh như nhân danh Chúa mà nói tiên tri, trừ quỷ và làm phép lạ, nhưng lại không thi hành ý muốn của Chúa Cha. Những người như thế sẽ bị tống đi cho khuất mắt Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã minh họa hình ảnh người khôn kẻ dại bằng việc xây nhà trên nền đá hay trên nền cát, rất cụ thể, rất dễ hiểu. Sẽ còn lại gì sau mưa sa nước cuốn hay bão táp ập đến?
Như vậy, nếu chúng ta muốn được hưởng trọn vẹn hạnh phúc Nước Trời thì không chỉ có việc nghe và nói những lời hay ý đẹp, mà điều quan trọng là phải thực hiện những lời hay ý đẹp ấy trong đời sống.
Nói cách khác, chúng ta dừng lại ở việc chỉ nghe lời Chúa là chưa đủ, mà điều quan trọng là phải thực hành lời Chúa. Bởi người nào thực hành lời Chúa thì được xem là người khôn ngoan, vì đã xây dựng ngôi nhà đời mình trên nền tảng vững chắc là nền đá, dù cho bão táp mưa sa cũng không sụp đổ. Ngược lại, người nào chỉ nghe và nói lời Chúa mà thôi, thì được xem như là người khờ dại, vì đã xây dựng ngôi nhà đời mình trên nền cát, nên khi bão táp mưa sa thì ngôi nhà ấy sẽ sụp đổ hoàn toàn.
Thật ra, thi hành ý muốn của Chúa Cha là tất cả những gì bao trùm toàn bộ cuộc sống của chúng ra và luôn là những lựa chọn khó khăn. Hãy xem cuộc đời của Chúa Giêsu, hãy hình dung những lời cầu nguyện và giờ phút Chúa hấp hối trong vườn Cây Dầu để biết thi hành ý muốn của Chúa Cha là như thế nào, và chúng ta biết phải nỗ lực biết chừng nào.
Nếu đức tin chỉ có nơi đầu môi chót lưỡi thì chưa đủ hoặc nếu người ta có nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỉ, nhân danh Chúa mà làm phép lạ mà không chăm lo thực thi ý Chúa với lòng mến yêu chân thành thì cũng vẫn bị vào số những người bị Thiên Chúa từ chối: “Ta không biết các ngươi là ai, xéo đi cho khuất mắt ta, hỡi bọn làm điều gian ác” (Mt 7, 23).
Chỉ những ai đón nhận Lời Chúa, hiểu được ý Chúa và chuyển hóa thành hành động cụ thể mới xứng đáng vào Nước Trời. Họ được ví như người khôn ngoan, xây nhà trên đá dù mưa sa nước cuốn hay bão táp ập vào thì nhà ấy cũng không bao giờ sụp đổ.
Chúa Giêsu mời gọi chúng ta thi hành «ý muốn của Chúa Cha». Nhưng ai trong chúng ta cũng gặp khó khăn trong nỗ lực tìm kiếm ý Chúa. Lề Luật, thì chúng ta có thể đọc được trong sách hay trong kinh, nhưng ý muốn của Chúa Cha thì không thấy ghi ở đâu hết, nhất là khi chúng ta muốn biết ý Chúa trong những hoàn cảnh éo le riêng của mình, trong trường hợp riêng của mình, trong những vấn đề riêng tư và tế nhị của mình, trong những khó khăn phức tạp của mình.
Chúa Giêsu đã không rao giảng bằng lời nói suông nhưng bằng hành động cụ thể. Ngài đã trở thành con người bằng xương bằng thịt. Ngài đã không chỉ ngắm nhìn lịch sử nhân loại như khách bàng quan, nhưng Ngài đã nhập cuộc làm một với nhân loại, đã chung chia vui buồn sướng khổ của phận người. Ngài không rao giảng thập giá như một lý thuyết, nhưng đã thực sự đón nhận thập giá, vác lấy và bước đi.
Sau cùng, Ngài chấp nhận chịu chết trên thập giá để chia sẻ trọn vẹn sự đau khổ của con người. Ngài đã Phục Sinh để thánh hóa và biến đổi đau khổ thành niềm vui, cái chết thành sự sống đời đời viên mãn. Do đó, không thể có niềm tin Kitô giáo đích thực nếu không có dấn thân. Không thể rao giảng Tin Mừng bằng lời nói suông, không thể là Kitô hữu chân chính nếu không cố gắng nên hoàn thiện mỗi ngày như Cha trên Trời và đi vào con đường Chúa Giêsu đã đi, con đường yêu thương phục vụ vô vị lợi.
Đi tìm ý Chúa cho chính mình, cho ơn gọi của mình hay trong một hoàn cảnh đặc biệt, luôn luôn là một hành trình khó khăn. Và dường như Chúa thích để như thế, Chúa thích chúng ta đoán ra ý Chúa, thay vì để cho Chúa phải nói thẳng ra. Giống như đối với cha mẹ : khi chúng ta còn bé, cha mẹ ra lệnh cho chúng ta ; nhưng khi chúng ta lớn rồi, cha mẹ sẽ rất vui, nếu chúng ta tự mình làm vui lòng cha mẹ, tự mình khám phá ra ý thích của cha mẹ.
Nếu chúng ta không nghe và sống Lời Chúa, sự sống của chúng ta sẽ trở nên chết chóc và sụp đổ tan tành, chết chóc và sụp đổ tan tành ngay ở đời này, không chỉ ở mức độ cá nhân, nhưng ở mức độ « căn nhà », nghĩa là cả « gia đình ». Như Chúa Giêsu nói : “Người ngu dại xây nhà trên cát. Gặp mưa sa, nước cuốn hay bão táp ập vào, nhà ấy sẽ sụp đổ, sụp đổ tan tành” (c. 27).
Xin cho chúng ta nhận ra sự ngu dại của chúng ta, bởi vì chúng ta thường hay xây dựng cuộc sống của chúng ta, cá nhân cũng như nhóm, cộng đoàn và gia đình, trên cát. Trên cát, có nghĩa là không phải trên Lời Chúa là đá tảng, nhưng trên những gì là chóng qua, là phù vân.
Ta cũng xin Chúa giúp chúng ta biết quý trọng lời Chúa dạy và tích cực đem lời Chúa ra thực hành trong đời mình. Nhờ đó, chúng ta mới có thể hy vọng đón nhận được tình thương của Chúa và được hưởng hạnh phúc Nước Trời.
2020
Thứ Năm Tuần XII – Mùa Thường Niên
Thứ Năm Tuần XII – Mùa Thường Niên
Ca nhập lễ
Tv 27,8-9
Chúa là sức mạnh của dân Chúa,
là thành trì cứu độ
cho Đấng Người đã xức dầu tấn phong.
Lạy Chúa, xin cứu độ dân Ngài,
trên gia nghiệp này, giáng muôn phúc cả
dẫn dắt nâng niu đến muôn đời.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa, xin cho chúng con hằng trọn niềm tôn kính và ái mộ Thánh Danh, vì những ai được Chúa cho khăng khít với Chúa, Chúa sẽ chẳng bỏ rơi bao giờ. Chúng con cầu xin …
Bài đọc 1
2 V 24,8-17
Vua Ba-by-lon đày vua Giơ-hô-gia-khin và tất cả những người có thế giá sang Ba-by-lon.
Bài trích sách các Vua quyển thứ hai.
8 Giơ-hô-gia-khin lên ngôi vua khi được mười tám tuổi, và trị vì ba tháng ở Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Nơ-khút-ta, con gái ông En-na-than, bà là người Giê-ru-sa-lem. 9 Vua đã làm điều dữ trái mắt Đức Chúa, hệt như vua cha.
10 Khi ấy, các thuộc hạ của Na-bu-cô-đô-nô-xo, vua Ba-by-lon, tiến lên đánh Giê-ru-sa-lem, và thành bị vây hãm. 11 Na-bu-cô-đô-nô-xo, vua Ba-by-lon, đến đánh thành, trong khi các thuộc hạ của vua vây hãm thành. 12 Giơ-hô-gia-khin, vua Giu-đa, cùng với mẹ vua, các thuộc hạ, các tướng lãnh và thái giám của vua ra hàng vua Ba-by-lon. Vua đã bị bắt vào năm thứ tám triều vua Ba-by-lon.
13 Vua Na-bu-cô-đô-nô-xo đưa mọi kho tàng của Nhà Đức Chúa và các kho tàng của hoàng cung ra khỏi đó. Vua đập bể mọi đồ bằng vàng mà Sa-lô-môn, vua Ít-ra-en, đã làm để dùng trong đền thờ Đức Chúa, như Đức Chúa đã phán. 14 Vua bắt toàn thể Giê-ru-sa-lem, mọi tướng lãnh và mọi dũng sĩ đi đày, tất cả là mười ngàn người phải đi đày, cùng với mọi thợ rèn và thợ làm khoá, không sót lại một ai, trừ dân cùng đinh trong xứ. 15 Vua đày vua Giơ-hô-gia-khin sang Ba-by-lon ; vua đày mẹ vua này, các cung phi, các thái giám và phú hào trong xứ, từ Giê-ru-sa-lem sang Ba-by-lon. 16 Tất cả những người có thế giá, bảy ngàn người, thợ rèn và thợ làm khoá, một ngàn người, và tất cả các binh lính cũng bị vua đày sang Ba-by-lon.
17 Vua Ba-by-lon đặt ông Mát-tan-gia là chú của vua Giơ-hô-gia-khin làm vua thay thế ; vua Ba-by-lon đổi tên vua Mát-tan-gia là Xít-ki-gia-hu.
Đáp ca
Tv 78,1-2.3-5.8.9 (Đ. c.9bc)
Đ.Lạy Chúa, để danh Ngài rạng rỡ, xin giải thoát chúng con.
1Lạy Thiên Chúa, dân ngoại đã xâm lăng lãnh địa Ngài ;
chúng làm ô uế cả nơi thánh điện,
phá huỷ Giê-ru-sa-lem thành đống tro tàn
;2tử thi những người tôi tớ Chúa,
chúng đem liệng cho chim trời ăn ;
xác những kẻ hiếu trung với Ngài,
lại quẳng làm mồi cho dã thú.
Đ.Lạy Chúa, để danh Ngài rạng rỡ, xin giải thoát chúng con.
3Quanh khắp cả Giê-ru-sa-lem
chúng đổ máu dân Ngài như nước chảy,
người chết chẳng ai chôn.4Chúng con bị láng giềng thoá mạ
người chung quanh phỉ báng nhạo cười.
5Đến bao giờ, lạy Chúa, Ngài còn nổi giận,
Ngài nổi giận mãi sao ?
Đến bao giờ lòng ghen còn cháy bừng như lửa ?
Đ.Lạy Chúa, để danh Ngài rạng rỡ, xin giải thoát chúng con.
8Tội tiền nhân, xin Chúa đừng nhớ mãi
mà trừng phạt chúng con.
Xin dủ lòng thương mau đến giúp,
vì chúng con đã khổ quá nhiều.
Đ.Lạy Chúa, để danh Ngài rạng rỡ, xin giải thoát chúng con.
9Lạy Chúa Trời, Đấng cứu độ chúng con,
xin Ngài thương phù trợ, để danh Ngài rạng rỡ.
Xin giải thoát chúng con, và thứ tha tội lỗi,
vì danh dự của Ngài.
Đ.Lạy Chúa, để danh Ngài rạng rỡ, xin giải thoát chúng con.
Tung hô Tin Mừng
Ga 14,23
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Chúa nói : Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến với người ấy. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng
Mt 7,21-29
Nhà xây trên đá và nhà xây trên cát.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
21 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : ‘Lạy Chúa ! lạy Chúa !’ là sẽ được vào Nước Trời cả đâu ! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. 22 Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng : ‘Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao ?’ 23 Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ : ‘Ta không hề biết các ngươi ; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác !’
24 “Vậy ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá. 25 Dù mưa sa, nước cuốn, hay bão táp ập vào, nhà ấy cũng không sụp đổ, vì đã xây trên nền đá. 26 Còn ai nghe những lời Thầy nói đây, mà chẳng đem ra thực hành, thì ví được như người ngu dại xây nhà trên cát. 27 Gặp mưa sa, nước cuốn hay bão táp ập vào, nhà ấy sẽ sụp đổ, sụp đổ tan tành”.
28 Khi Đức Giê-su giảng dạy những điều ấy xong, dân chúng sửng sốt về lời giảng dạy của Người, 29 vì Người giảng dạy như một Đấng có uy quyền, chứ không như các kinh sư của họ.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Thiên Chúa từ bi, chúng con hiến dâng những lễ vật này để tạ tội và ngợi khen Chúa; cúi xin Chúa vui lòng chấp nhận, và dùng của lễ này mà thanh tẩy chúng con, hầu chúng con có thể dâng lên những tâm tình làm đẹp lòng Chúa. Chúng con cầu xin …
Lời Tiền Tụng
Lạy Chúa là Cha chí thánh, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Chúng con biết rằng: vì vinh quang vô biên của Chúa, Chúa dùng thần tính mà cứu giúp chúng con là những kẻ phải chết. Hơn nữa, Chúa còn dự liệu linh dược để chữa lành bản tính phải chết của chúng con và giải thoát tất cả những ai vì mang bản tính đó mà bị hư mất, nhờ Ðức Ki-tô, Chúa chúng con.
Nhờ Người, đạo binh các Thiên thần thờ lạy uy linh Chúa, muôn đời hoan hỷ trước Tôn Nhan. Xin cho chúng con được đồng thanh với các ngài hân hoan tung hô rằng:
Thánh! Thánh! Thánh! …
Ca hiệp lễ
Tv 144,15
Lạy Chúa,
muôn loài ngước mắt trông lên Chúa
và chính Ngài đúng bữa cho ăn.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã cho chúng con rước Mình và Máu Con Chúa để đổi m ới chúng con, xin cho chúng con được chắn chắn hưởng ơn cứu độ, nhờ mầu nhiệm cử hành trong thánh lễ này. Chúng con cầu xin …
