Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Tác giả: Anmai

Home / Anmai
20Tháng Bảy
2020

Nghe và thực hành

20/07/2020
Anmai
Phụng vụ, Suy niệm hàng ngày
0

21/07/2020

Thứ Ba Tuần XVI Mùa Thường Niên

 Mt 12, 46-50

NGHE VÀ THỰC HÀNH

Trong Tin Mừng Luca, ta thấy thái độ của Chúa Giêsu đối với gia đình ruột thịt của Ngài được ghi lại như một kết luận của toàn bộ những lời giảng dạy của Ngài về Nước Chúa, cũng như những điều kiện để thuộc về Nước Chúa. Như vậy, đối với Luca, chỉ có việc lắng nghe và thực thi Lời Chúa mới thực sự làm cho con người được đi vào quan hệ mật thiết với Chúa Giêsu.

Chúa Giê-su vì sứ mạng loan báo Tin Mừng, đã buộc mình phải rời xa tương quan ruột thịt tự nhiên và hạn hẹp, để gắn bó thiết thân hơn với sứ vụ, và gắn chặt mối tương quan nhân loại bao quát hơn.

 Có lẽ trong nhận thức của không ít người, khi dấn thân phục vụ cho đồng loại, dường như họ nghĩ là sẽ bị mất mác thua thiệt điều gì đó, nhưng Chúa Giê-su muốn cho mọi người, và nhất là những người môn đệ của Người thấy rằng: họ không mất mà được gấp trăm là “mẹ là anh em” của Chúa. Cũng như kinh nghiệm của Bật Thứ Thiên trong câu chuyện trên, khi tận tình cho công việc chung của triều đình, tương quan của Ông rộng và sâu hơn.

Khi Mẹ Maria liều lĩnh chấp nhận vâng nghe Lời Sứ Thần truyền, và chấp nhận gắn bó với Chúa Giê-su, Mẹ đã từng bước nhận ra Mẹ không chỉ là Mẹ duy nhất của Chúa Giê-su theo huyết nhục, mà Mẹ còn có mối tương quan thân thiết gắn bó đặc biệt với nhóm 12, mà còn quan trọng hơn với gia đình nhân loại.

Trang Tin Mừng hôm nay là phần kết luận của trình thuật về cuộc chiến đấu giữa thần khí Chúa và thần khí ma quỉ. Ma quỉ vốn làm cho con người ra câm điếc đối với Lời Chúa; do đó, như người câm được Chúa Giêsu chữa lành, con người cũng cần phải được tháo cởi khỏi xiềng xích của ma quỉ mới có thể lắng nghe được Lời Chúa và thần khí của Ngài. Ðức Maria chính là mẫu mực của con người không hề bị giam hãm trong xiềng xích của ma quỉ. Mẹ luôn luôn lắng nghe và đáp trả Lời Chúa. Chính vì lắng nghe Lời Chúa mà Mẹ đã cưu mang Con Chúa; nơi Mẹ, quan hệ máu mủ ruột thịt với Chúa Giêsu được xây dựng trên chính thái độ lắng nghe Lời Chúa; Mẹ chỉ là Mẹ Chúa Giêsu, bởi vị Mẹ đã lắng nghe Lời Chúa.

Khi biết lắng nghe và thực hành Lời Chúa, mỗi người chắc chắn sẽ tăng thêm nhận thức về bản thân là những phần tử trong mối dây liên kết và tương quan trong đức tin, đức cậy và đức mến đối với đồng loại và đối với Thiên Chúa. Không ai trong thế giới này từ cổ chí kim có liên hệ huyết nhục nhân loại với Đức Giêsu; nhưng đã có rất nhiều người và chắc chắn sẽ còn có nhiều người sẽ gắn bó còn hơn ruột thịt và dám sống chết với Người, vì họ biết lắng nghe và thi hành ý muốn của Cha trên trời (Mt 12,50).

“Phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, Người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi” ( c.50). Thế đã rõ câu trả lời của Chúa Giêsu khi xác nhận ai là họ hàng với Ngài : đó là những người thi hành ý Chúa Cha, là những người nghe Lời Chúa và đem ra thực hiện.

 Chắc hẳn lúc đó Mẹ Maria vui lắm, vì Mẹ biết không những Mẹ là Mẹ của Chúa Giêsu trong máu huyết nhưng còn được Chúa ưu ái đón nhận là Mẹ của Ngài, khi Mẹ “ ghi nhớ lời Chúa và suy niệm trong lòng” ( Lc 2,19). Khi Mẹ ghi nhớ và suy niệm thì chắc hẳn Mẹ đã sống tận căn Lời Chúa, đến nỗi Mẹ đã đứng hiên ngang dưới cây thập giá, đồng công cứu chuộc với con của Mẹ.

Chúa Giêsu đã đề cao thái độ của Mẹ Maria, để từ đó nói lên mối giây liên kết đích thực trong gia đình Giáo Hội mà Ngài sẽ thiết lập. Hầu hết các tôn giáo đều dựa trên gia đình như là cộng đoàn nền tảng nhất. Truyền thống khôn ngoan và luật Do Thái luôn đề cao tầm quan trọng của gia đình. Chúa Giêsu xem ra đã làm một cuộc cách mạng táo bạo khi xây dựng tôn giáo của Ngài, không dựa trên mạng lưới những quan hệ gia đình, mà trên nền tảng của sự tự do. Trong gia đình Giáo Hội, con người trở nên thân thiết với nhau, không nhất thiết nhờ máu mủ ruột thịt, mà do chính niềm tin.

Dĩ nhiên, gia đình tự nhiên vốn là nơi con người đón nhận và nuôi dưỡng đời sống đức tin; gia đình là trường học đầu tiên về cung cách làm người cũng như sự trưởng thành trong đức tin. Chúa Giêsu không bao giờ chối bỏ vai trò ấy của gia đình. Cộng đoàn xã hội, nhất là xã hội gia đình là môi trường cần thiết giúp con người đón nhận và phát huy đức tin.

Khi đề cao thái độ lắng nghe và thực thi Lời Chúa của Ðức Maria, Chúa Giêsu muốn chúng ta thấy rằng đức tin là sự gặp gỡ cá biệt giữa con người với Thiên Chúa, đó là cuộc gặp gỡ của mỗi người mà không ai có thể thay thế được. Càng sống Lời Chúa, càng đi sâu vào sự thân tình với Chúa, con người càng nhận ra tương quan của mình với tha nhân. Hai giới răn mến Chúa và yêu người gắn liền mật thiết với nhau là thế đó: người yêu mến Chúa một cách nồng nàn không thể không yêu thương người anh em của mình, trái lại, lòng bác ái đối với tha nhân cũng không thể không làm cho con người thêm gần gũi với Chúa hơn.

Read More
20Tháng Bảy
2020

Thứ Ba  Tuần XVI – Mùa Thường Niên

20/07/2020
Anmai
Phụng vụ, Thánh lễ
0

Thứ Ba  Tuần XVI – Mùa Thường Niên

 

Ca nhập lễ

Tv 53,6.8

Này con được Thiên Chúa phù trì,

thân con đây, Chúa hằng nâng đỡ.

Con tự nguyện dâng Ngài lễ tế,

lạy Chúa, con xưng tụng danh Ngài,

vì danh Ngài thiện hảo.

 

Lời nguyện nhập lễ

Lạy Chúa xin tỏ lòng nhân hậu với các tín hữu Chúa và rộng tay ban phát mọi ơn lành để chúng con thêm lòng tin cậy mến và chuyên cần tuân giữ những điều Chúa truyền dạy. Chúng con cầu xin …

Bài đọc I                                                                           Mk 7, 14-15. 18-20

Ngài ném xuống đáy biển mọi tội ác của chúng ta.

Bài trích sách tiên tri Mikêa

14     Lạy Chúa, xin cầm gậy chăn dắt dân Ngài,
là đoàn chiên thuộc gia nghiệp của Ngài,
đang sống cô lập nơi vùng rừng hoang, giữa các khu vườn.
Ước gì họ được chăn dắt tại Basan và Galaát

như trong những ngày xa xưa.

15     Như ngày Chúa ra khỏi đất Ai Cập,
xin tỏ cho chúng con thấy những việc kỳ diệu.

18     Có thần linh nào giống như Ngài, Đấng cất đi điều bất chính,
và bỏ qua lỗi lầm cho số sót gia nghiệp của Ngài?
Ngài không giận dữ luôn mãi, vì Ngài ưa thích lòng nhân từ.

19     Ngài sẽ trở lại và thương xót chúng tôi,
Ngài sẽ giẫm đạp lên những bất công của chúng tôi,
và ném mọi tội lỗi chúng tôi xuống đáy biển.

20     Xin Ngài đối xử trung tín với Giacob, nhân từ với Abraham
như Ngài đã thề với tổ phụ chúng con từ ngày xa xưa.

Đó là Lời Chúa.

Thánh vịnh đáp ca                                             Tv 84, 2-4. 5-6. 7-8 (Đ. 8a)

Đ. Lạy Chúa, xin tỏ cho chúng con lượng từ bi Chúa.

 

2       Lạy Chúa, Chúa dủ thương đất nước của Chúa,
thay đổi phận lưu đày của nhà Giacob.

3       Chúa đã tha tội lỗi cho dân Ngài,
và khỏa lấp mọi lỗi lầm của họ.

4       Chúa đã nén giận hoài, và nguôi cơn thịnh nộ.                                     Đ.

 

 

5       Lạy Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ chúng con,
xin dẫn chúng con về, và nguôi giận chúng con.

6       Chẳng lẽ Chúa giận chúng con luôn mãi,
hay cứ nuôi cơn thịnh nộ ngàn đời sao?                                                Đ.

 

7       Lẽ nào Ngài chẳng đoái lại cho chúng con được sống,
để dân riêng hoan hỉ trong Ngài?

8       Lạy Chúa, xin tỏ cho chúng con lượng từ bi Chúa,
và ban ơn cứu độ cho chúng con.                                                           Đ.

Alleluia                                                                                              Ga 14, 23

Alleluia, alleluia. Chúa nói: Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy, Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, Cha Thầy và Thầy sẽ đến với người ấy. Alleluia.

Tin Mừng                                                                                    Mt 12, 46-50

Người giơ tay chỉ các môn đệ và nói: “Này là mẹ và anh em Tôi”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Matthêu

Khi ấy,

46     Chúa Giêsu còn đang nói với đám đông dân chúng,
thì này: Mẹ và anh em Người đứng bên ngoài tìm cách nói với Người.

47     Có kẻ thưa: “Kìa, mẹ và anh em Thầy
đang đứng bên ngoài tìm cách nói với Thầy”.

48     Nhưng Người trả lời kẻ ấy rằng: “Ai là mẹ Tôi, ai là anh em Tôi?”

49     Rồi Người đưa tay chỉ các môn đệ và nói:
“Này là mẹ và anh em Tôi,

50     vì ai làm theo ý Cha Tôi trên trời,
người ấy là anh em, chị em và là mẹ Tôi”.

Đó là Lời Chúa.

 

 

 

Lời nguyện tiến lễ

Lạy Chúa là Cha nhân từ, Chúa đã dùng hiến tế duy nhất của Ðức Kitô trên thập giá làm cho các hy lễ theo luật Môsê được đầy đủ ý nghĩa. Xin thánh hoá lễ vật chúng con dâng với cả tấm lòng thành, cũng như xưa Chúa đã vui lòng thánh hoá lễ vật của Aben. Nhờ đó, hiến lễ mỗi người chúng con dâng lên để tôn vinh Danh Thánh sẽ giúp mọi người đạt tới ơn cứu độ. Chúng con cầu xin …

Lời Tiền Tụng Chúa Nhật Thường Niên

Lạy Chúa là Cha chí thánh, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc, nhờ Ðức Ki-tô, Chúa chúng con, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.

Vì chính Người, khi sinh ra đã đổi mới con người cũ, khi chịu khổ hình, đã tẩy xoá tội lỗi chúng con, khi từ cõi chết sống lại, đã khai lối vào chốn trường sinh, và khi lên cùng Chúa là Cha, Người đã mở cửa Nước Trời.

Vì thế, cùng với toàn thể Thiên thần và các thánh, chúng con hát bài ca chúc tụng Chúa và không ngừng tung hô rằng:

Thánh! Thánh! Thánh! …

Ca hiệp lễ

Tv 110,4-5

Chúa đã truyền tưởng niệm

những kỳ công của Người.

Chúa là Đấng từ bi nhân hậu.

Ai kính sợ Người, Người ban phát của ăn.

Lời nguyện hiệp lễ

Lạy Chúa, xin phù trợ chúng con là đoàn dân Chúa. Chúa đã lấy bánh bởi trời và nuôi dưỡng chúng con, xin cũng giúp chúng con từ bỏ nếp sống cũ và hân hoan bước vào đời sống mới. Chúng con cầu xin …

 

Read More
20Tháng Bảy
2020

Tản mạn về Thư Chung 1980 của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam

20/07/2020
Anmai
GH Việt Nam, Tin tức
0

Tản mạn về Thư Chung 1980 của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam

Kỷ niệm 40 năm Thư Chung 1980, những nghiên cứu về “thần học bối cảnh” phía sau bức thư đã được tiến sĩ Peter Hải bên Úc trình bày rất tường tận. Các nghiên cứu khác thì nhiều người có khả năng hơn để tham gia.

Tòa soạn báo Công giáo và Dân tộc nhờ tôi viết vài cảm nghĩ “tản mạn” về Thư Chung 1980. Ở nơi quê hương của Chúa, vào cái tuổi mà bạn bè cũ đã về hưu, tôi vẫn chưa đạt mức “bảy nghiệp”, nên vẫn bận rộn. Viết gì sâu xa thì không dám, nhưng viết tản mạn thì một ông lão đã chạm mức trần cao của Thánh vịnh: “Tính tuổi thọ trong ngoài bảy chục, mạnh giỏi chăng là được tám mươi” chịu lắm, chỉ sợ người thời nay không có thời giờ đọc chuyện thời xưa thôi !

Lm Giuse Nguyễn Công Đoan gặp ĐGH Phanxicô trong dịp kỷ niệm 50 năm sống trong dòng Tên, năm 2016

Ăn cơm mới nói chuyện cũ

Tôi nói ăn cơm mới, vì đã được biết và đã ăn vài bữa cơm của Ðức TGM Leopoldo Girelli, hiện là Sứ Thần Tòa Thánh bên cạnh Nhà nước Israel, kiêm Khâm sứ Tòa Thánh tại Giêrusalem và Palestin, do tính phức tạp của vùng đất này. Trước khi nhận nhiệm sở tại đây, ngài là “Ðại diện không thường trú” của Tòa Thánh Vatican tại Việt Nam từ năm 2011-2017.

Hai năm trước, có một đoàn hành hương từ Sapa tới Giêrusalem, xin thăm ngài. Tôi được gọi giúp dịch thư từ bằng tiếng Việt giữa hai bên, rồi trong buổi gặp gỡ thân mật diễn ra ngay tại nhà chúng tôi – vì lúc ấy Tòa Khâm sứ đang sửa chữa, không đủ chỗ tiếp tám chục người. Ðáp lời chào mừng của đoàn, ngài mở đầu : “Khi tôi rời Việt Nam, tôi chỉ xỏ đôi giày mang theo, còn trái tim tôi để lại ở đó”. Ngài nói rất chân thành và chứng tỏ ngay sau đó : đoàn chỉ xin thăm, đến khi thăm rồi thì xin ngài chủ sự thánh lễ. Ngài hỏi tôi : “Sáng nay tôi dâng lễ rồi thì sao?”. Tôi trình với ngài : “Ðây là ngoại lệ, không có lần thứ hai cho người hành hương và cho ngài đâu!”. Ngài vui vẻ đi mặc áo lễ. Tôi đồng tế bên cạnh. Cảnh “mẹ gà con vịt”. Ngài mở đầu bằng tiếng Việt : “Nhân danh Cha…, Bình an của Chúa ở cùng anh chị em…”. Sau đó thì tôi đọc tiếp bằng tiếng Việt. Ngài giảng bằng tiếng Ý, tôi dịch. Ðến kinh Tiền Tụng và Kinh Nguyện Thánh Thể cũng vậy… Trái tim ngài vẫn còn ở Việt Nam.

Ăn cơm mới nhớ chuyện cũ, tôi nhớ chứ không có gì để nói, vì lúc đó tôi đi ra miền Trung gõ cửa từng Ðức Giám mục để xin ý kiến về tương lai của Giáo Hoàng Học viện Thánh Piô X, Ðà Lạt do Dòng Tên phụ trách, khi về thì nghe kể lại. Nghe tâm tình của Ðức Khâm sứ ở đây, tôi bỗng cúi mặt bùi ngùi, nhớ lại Vị Khâm sứ cuối cùng tại Việt Nam, Ðức cha Henri Lemaitre, rời đi năm 1975, ôm theo một trái tim đầy khắc khoải và chiếc áo dòng bị kéo đứt nút làm kỷ niệm.

Bốn mươi lăm năm qua đi giữa Ðức Khâm sứ cuối cùng và vị Ðại diện không thường trú đầu tiên, đánh dấu hai giai đoạn lịch sử thật trái ngược. Giữa những biến chuyển toàn cầu, đường lối Tin Mừng của Hội đồng Giám mục Việt Nam được phát biểu trong Thư Chung năm 1980 và được toàn thể Hội Thánh kiên trì thực thi, đã chuyển nối giữa hai câu chuyện trong tương quan giữa Hội Thánh và chính quyền, giữa Tòa Thánh Vatican với Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Từ Thư Chung 1951 đến Thư Chung 1980

Chuyện tản mạn về Thư Chung 1980 đưa tôi ngược về năm 1951, lúc tôi lên mười. Tôi còn là cậu giúp lễ ở một xứ đạo xa xôi, chuẩn bị vào Tiểu Chủng viện năm 1952, chưa biết gì ngoài chuyện sợ bom đạn, vì chiến tranh đang lên tới đỉnh cao.

Năm 1954, tôi theo chủng viện di cư vào Nam rồi tiếp tục học hành. Ngày 29.4.1975, giữa tuổi “băm…”, tôi mới bắt đầu làm việc. Sau năm 1954, do hoàn cảnh, các giám mục ở miền Bắc gần như hoàn toàn cắt đứt với bên ngoài, nên vẫn sống với Thư Chung 1951.

Từ Ðức Thánh Cha Piô XI đến Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII và Thánh Giáo Hoàng Phaolô VI

Tư tưởng của loài người tiến triển không ngừng. Thời đại của những khám phá khoa học về mọi lãnh vực từ thế kỷ XVI thúc đẩy sự phát triển tư tưởng ngày càng nhanh. Trong khi đó thì Hội Thánh trước thời Công đồng Vatican II, có thể nói là tự bằng lòng với một khung giáo lý vững vàng, bất di bất dịch, một nền thần học chủ yếu là giải thích các tín điều, một nền triết học chủ yếu kế thừa của Hy Lạp. Triết học này được coi là “nữ tỳ phục vụ thần học”. Những người giảng dạy thần học, triết học chủ yếu là người phương Tây, một số người vốn tự coi là trung tâm của thế giới, coi các dân khác là man-di mọi rợ. Sau thánh Tôma Aquinô thì thần học và triết học được giảng dạy trong Hội Thánh trở thành khung tư tưởng, dường như không có chỗ cho sáng tạo nữa. Kinh Thánh là Lời Chúa, nguồn ánh sáng và sức sống của tín hữu và cả Hội Thánh, đôi khi cũng bị giáng cấp làm một “nữ tỳ phục vụ thần học”. Cuộc cải cách của Luther và nhiều người khác làm cho Sách Thánh trở thành một kho báu phải bảo vệ nhờ hàng rào của tiếng Latinh, thứ ngôn ngữ đã ra khỏi đời sống hằng ngày của người Âu châu.

Nhắc lại những yếu tố này để hiểu sự thay đổi tư tưởng, thái độ của Hội Thánh là kỳ công của Chúa Thánh Thần, để giải phóng Lời Chúa và mở mạch nước ban sự sống của Thiên Chúa cho loài người. Chuyện này đã xảy ra ngay từ thời ban đầu, như sách Công Vụ Tông Ðồ kể cho chúng ta. Chúa Thánh Thần vẫn là Ðấng dẫn dắt Hội Thánh từ bên trong, con người thì luôn có khuynh hướng gây cản trở bằng cách nhốt Thánh Thần lại, hoặc bỏ Thánh Thần để theo “thần lạ”. Nhìn lại những thách đố từ bên trong này, để thấy rõ hơn Công đồng Vatican II quả là một cuộc hiển linh mới của Chúa Thánh Thần, để đưa Hội Thánh vào thiên niên kỷ mới.

Cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, Hội Thánh bắt đầu chuyển mình với Ðức Lêô XIII, rồi Thánh Giáo Hoàng Piô X. Nhưng thái độ lập hàng rào tự vệ trỗi dậy mạnh mẽ với các trào lưu duy lý và thực nghiệm ứng dụng vào suy tư thần học và giải thích Sách Thánh.

Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII, vị “Giáo Hoàng chuyển tiếp”

Sau thời lãnh đạo đầy gian truân nhưng sáng chói của vị Giáo Hoàng thông minh tài giỏi Piô XII, các Hồng y họp nhau và thấy cần một vị Giáo Hoàng chuyển tiếp, giải pháp một “Ông Già Chuyển Tiếp” được chọn và Hồng y Roncalli ở tuổi “sắp chạm trần nhà” được bầu lên. Thiên Chúa vẫn giàu óc khôi hài hơn con người, như chúng ta vẫn thấy trong lịch sử mà Sách Thánh kể lại. Thiên Chúa hay dùng những người mà người ta coi thường để làm những việc to lớn. Các ngươi muốn chuyển tiếp hả, Ta sẽ chuyển tiếp theo cách của Ta chứ không phải theo cách của các ngươi.

Ðức Gioan XXIII kể lại rằng ngài chưa bao giờ nghĩ tới triệu tập một Công Ðồng chung, nhưng cứ nghe một tiếng nói bên trong thôi thúc và ngài quyết định theo tiếng nói bên trong ấy, mọi người chung quanh kinh hồn bạt vía khi nghe ngài công bố, vì nghĩ tới công việc chuẩn bị và thời hạn ngài đã đưa ra (năm ấy tôi lên tuổi hai mươi, bắt đầu học tại Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X Ðà Lạt). Lần này quả là Hội Thánh toàn cầu, mọi màu da tiếng nói, hai ngàn giám mục từ 141 nước có mặt. Các Hội Thánh Kitô giáo không hợp nhất với Rôma cũng được mời tham dự trong tư cách quan sát viên.

Các Công Ðồng, từ Giêrusalem đến Vatican I đều lo đối phó với những vấn đề nhất định. Công đồng Vatican II đã dứt khoát chọn hướng đi mới : trở về nguồn để canh tân. Ðối nội thì trình bày giáo lý cách tích cực và đối ngoại thì cởi mở, đối thoại, hợp tác. Hai hiến chế mở ra cái nhìn mới về bản chất và sứ mạng của Hội Thánh, truyền sức sống và năng động mới cho Hội Thánh toàn cầu. Các sắc lệnh và tuyên ngôn khác đặt Hội Thánh của Chúa ở giữa lòng thế giới như một cộng đoàn huynh đệ khiêm tốn, để phục vụ và mở rộng tình huynh đệ mà Chúa Giêsu đem tới cho cả loài người.

Thánh Giáo Hoàng Phaolô VI, vị Giáo Hoàng chắp cánh bay tới chân trời góc biển

Khóa họp thứ nhất kết thúc, trong khi chuẩn bị khóa II thì “Giáo Hoàng chuyển tiếp” đã hoàn thành sứ mạng đưa Hội Thánh rời bệ phóng để bay tới chân trời mới bằng năng lượng của Thánh Thần. Chúa cho ngài được nghỉ ngơi. Ðức Phaolô VI tuyên bố tiếp tục Công Ðồng như đã dự trù và đã bắt đầu. Công Ðồng hoàn tất việc thảo luận các vấn đề theo kế hoạch và bế mạc.

Từ khi thánh Phêrô di chuyển tới Antiôkhia rồi tới Rôma và bị đóng đinh ở đó, như Chúa Giêsu đã báo trước cho ông biết ông phải chết cách nào (x. Ga 21,19), Ðức Phaolô VI là người kế vị thánh Phêrô đầu tiên hành hương trở về Thánh Ðịa. Và trên núi Ôliu là nơi Chúa Giêsu đã cầu nguyện trong đêm cuối cùng, rồi sau khi Phục Sinh đã lên trời trước mặt các môn đệ, Ðức Phaolô VI đã ôm hôn Thượng phụ Giáo chủ Chính Thống giáo Hy Lạp Athenagoras, như một cử chỉ hòa giải sau khi hai bên (Latinh và Hy Lạp) đã “tuyệt thông” với nhau từ năm 1054. Ðức Phaolô VI cũng là vị giáo hoàng đầu tiên bay tới trụ sở Liên Hiệp Quốc tại New York để phát biểu trước Ðại Hội Ðồng, và là vị giáo hoàng đầu tiên bay tới chân trời phía Ðông để gặp gỡ Hội Thánh vùng châu Á Thái Bình Dương. Về phương diện ngoại giao, ngài cũng mở về phía các nước Ðông Âu.

Từ Giám mục Giám quản Tông tòa đến Giám mục Chánh tòa tại Việt Nam

Tin Mừng đã đến Việt Nam lần đầu từ năm 1533, nhưng chỉ như một tia sáng lóe lên, không để lại dấu vết gì. Năm 1615, các cha Dòng Tên mới bắt đầu gầy dựng được các cộng đoàn tín hữu đông đúc lâu bền. Nhưng phải chờ nửa thế kỷ sau mới có Giám mục Giám quản Tông tòa, Ðức cha Pierre Lambert de la Motte tới. Hội Thánh lớn lên giữa những cơn bách hại kế tiếp nhau. Phải ba trăm năm sau mới có người Việt Nam đầu tiên làm Giám mục Giám quản Tông tòa. Rồi năm 1960, Ðức Gioan XXIII đã thiết lập Hàng Giáo Phẩm, đưa Hội Thánh tại Việt Nam từ chế độ “Giám mục Giám quản Tông tòa” sang chế độ “Giám mục Chánh tòa”, nghĩa là nhìn nhận Hội Thánh tại Việt Nam đã trưởng thành ngang tầm với các Hội Thánh kỳ cựu.

Bối cảnh gần của Thư Chung 1980

Bởi vì được nhờ viết “tản mạn” nên lão tám chục đã tản sang bối cảnh xa, từ năm lên mười của đời mình, khi Thư Chung 1951 ra đời. Bây giờ lại tản về bối cảnh gần, từ khi đất nước tạm chia đôi năm 1954. Hai bên bờ sông Bến Hải là hai thể chế chính trị, hai nếp sống khác nhau. Hội Thánh hai bên cũng không thể đi chung một nhịp. Các giám mục ở phía Nam đã tham dự Công Ðồng, từ bước chuẩn bị đến ngày bế mạc, và áp dụng ngay. Hội Thánh ở miền Bắc thì cắt đứt với bên ngoài, sang thập niên 70 mới bắt đầu có chút liên lạc. Tôi nhớ không lầm thì năm 1974, các linh mục, tu sĩ Việt Nam chúng tôi đang học hay làm việc ở Rôma, đã được tiếp đón Ðức cha Giuse Maria Trịnh Văn Căn tại Rôma.

Tìm lại nhịp bước chung giữa Hội Thánh ở hai miền

Cuối năm 1976, toàn cõi Việt Nam trở thành một Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, sự giao thông từ Bắc vào Nam, từ Nam ra Bắc ngày càng dễ dàng, thì Hội Thánh ở miền Bắc cũng nhận được đầy đủ các văn kiện của Công Ðồng với bản dịch tiếng Việt, và hai bên bắt đầu tìm lại nhịp bước chung. Miền Bắc cần thời gian để chuyển từ thông điệp chống cộng 1936 và Thư Chung 1951 sang đường lối của Công đồng Vatican II.

Trước ngày 30.4.1975, ÐTC Phaolô VI, đã ủy quyền cho các Giám mục Việt Nam, nếu không liên lạc được với Tòa Thánh thì có thể phong chức giám mục, rồi khi nào có thể thì báo lại. Nhưng Việt Nam là Việt Nam. Năm 1977, Ðức TGM Phaolô Nguyễn Văn Bình vẫn có thể đi Rôma dự cuộc họp Thượng Hội đồng Giám mục về việc giảng dạy giáo lý, và đã gây tiếng vang lớn với bài phát biểu nêu vấn đề : Làm thế nào dạy giáo lý cho thế hệ trẻ lớn lên trong nền giáo dục của một nước theo chủ nghĩa Mác-xít ? Hội đồng Giám mục miền Nam Việt Nam đã họp được hai lần năm 1976 và 1978, tìm cách ứng dụng đường lối cởi mở, đối thoại, hợp tác và phục vụ của Công Ðồng và của Hai vị Giáo Hoàng Gioan XXIII và Phaolô VI.

Năm 1980 đã đi vào lịch sử Hội Thánh tại Việt Nam như cột mốc của một khúc quanh quan trọng. Lần đầu tiên Hội đồng Giám mục toàn quốc Việt Nam họp. Cuộc họp diễn ra tại Thủ đô Hà Nội suốt một tuần lễ, và bế mạc ngày 1 tháng 5. Lúc đó cả nước có 40 vị giám mục thì 33 vị đã về họp. Dư luận chờ xem các giám mục sẽ nói gì, vạch ra đường hướng nào cho Hội Thánh bước đi trong một nước Xã Hội Chủ Nghĩa.

Các giám mục phía Nam đã hai lần họp bàn về hướng đi của Hội Thánh dưới chế độ mới, nên thấy rõ ràng Công đồng Vatican II đã đưa Hội Thánh sang trang, mở đầu một trang sử mới mà không cần nhắc chuyện cũ của thời đã qua. Trước khi họp nhau lần đầu, các giám mục hai miền đã có nhiều dịp trao đổi với nhau, hiểu biết nhau, hiệp nhất với nhau trong tinh thần của Công Ðồng, nên khi họp nhau lại thì dễ dàng đưa ra đường lối chung. Chẳng ai có thể vặn đồng hồ lịch sử lại. Mỗi thế hệ phải viết trang sử của mình nhờ đào sâu và sống thực với căn tính của mình. Lịch sử dân tộc và đất nước đã sang trang, Hội Thánh phải cùng đi trong trang sử mới. Hội Thánh tại Việt Nam lúc ấy, giám mục, giáo sĩ giáo dân toàn là Con Rồng Cháu Tiên. Vậy thì cần xác định rõ căn tính của Hội Thánh và cách thức đồng hành với dân tộc.

Phúc Âm làm cho Kitô hữu là Kitô hữu và Hội Thánh là Hội Thánh của Chúa Kitô. Hội Thánh kết hợp mọi tín hữu của Chúa Kitô trên toàn thế giới, có chung một Thiên Chúa là Cha, một Ðức Giêsu Kitô là Chúa, một Thánh Thần liên kết mọi người bằng một đức tin, một phép Rửa, để nên một Thân Thể của Ðức Kitô. Một Hội Thánh duy nhất dưới quyền Ðấng kế vị thánh Phêrô và các giám mục, tương tự như các thế hệ ban đầu với thánh Phêrô và các tông đồ : “Hội Thánh duy nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền” như chúng ta vẫn tuyên xưng.

Trong Hội Thánh duy nhất này, mỗi người vẫn giữ nguyên màu da tiếng nói, văn hóa của mình; vẫn sống giữa lòng dân tộc, chung vận mệnh với dân tộc của mình, cùng bảo vệ và thăng tiến giống nòi, xây dựng và bảo vệ quê hương, tổ quốc của mình; yêu đồng bào, yêu quê hương, yêu đất nước của mình, nhưng không kỳ thị loại trừ các dân tộc khác, vì tất cả mọi người và mọi dân tộc đều là con cái Thiên Chúa và được Ðức Kitô cứu chuộc.

Bức thư đã đề ra những giáo huấn rõ ràng dứt khoát, nói lên bản chất và sứ mạng của Hội Thánh, trách nhiệm của mọi người tín hữu của Chúa Kitô, đối với Hội Thánh cũng như đối với đồng bào, dân tộc, quê hương, đất nước. Cả một trăm đứa con của Mẹ Âu Cơ phải được tôn trọng như nhau, được đón nhận Phúc Âm và sống theo bản sắc của mình, trong một Hội Thánh trên giải đất hình chữ “ S “ven bờ Thái Bình Dương này.

Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc vì hạnh phúc của đồng bào

Cũng như Chúa Kitô là Con Thiên Chúa đã vì loài người chúng ta mà xuống thế làm người, thì Hội Thánh của Chúa Kitô cũng vì loài người. Không phải loài người chung chung, trên mây hay trong mơ, mà cụ thể :

Chúng ta phải đồng hành với dân tộc mình, cùng chia sẻ một cộng đồng sinh mạng với dân tộc mình, vì quê hương này là nơi chúng ta được Thiên Chúa mời gọi để sống làm con của Người, đất nước này là lòng mẹ cưu mang chúng ta trong quá trình thực hiện ơn gọi làm con Thiên Chúa, dân tộc này là cộng đồng mà Chúa trao cho chúng ta để phục vụ với tính cách vừa là công dân vừa là thành phần Dân Chúa (s.9).

Hai ngàn năm trước ở Giêrusalem, Thánh Thần đã nổi gió mạnh (Cv 2,2) đưa các môn đệ lên đường loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. Ở ngưỡng cửa của thời đại toàn cầu hóa, gió mạnh này lại nổi lên trong Công Ðồng Vatican II để đưa Hội Thánh đi vào kỷ nguyên mới. Năm 1980 tại thủ đô Hà Nội, gió mạnh của Chúa Thánh Thần lại cuốn các giám mục và toàn thể Hội Thánh tại Việt Nam vào hướng đi mới giữa lòng dân tộc.

Sự chân thành của Hội Thánh tại Việt Nam được kiểm chứng bằng hành động. Những biến chuyển trên thế giới và sự kiên trì của Hội Thánh tại Việt Nam trong đường lối của Chúa Thánh Thần đã đưa lại kết quả như chúng ta đang sống hôm nay.

Thay lời kết

Từ mười hai năm nay, được sống và phục vụ Hội Thánh tại Thành Thánh Giêrusalem, nơi Chúa đã chết, sống lại, sai các môn đệ đi tới tận cùng thế giới rồi lên trời, tôi có dịp gặp gỡ những người từ bốn phương trời, mười phương đất đến hành hương, nghiên cứu, học hỏi. Biết nguồn gốc của tôi, họ thường hỏi hai câu: Việt Nam còn là nước cộng sản không ? Tình trạng Hội Thánh ở Việt Nam thế nào ? Trả lời câu thứ nhất : Nước tôi vẫn là nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam do Ðảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo. Trả lời câu thứ hai : Tôi chỉ về phía tòa Khâm sứ: Ðức Tổng Giám mục Leopoldo Girelli, trước khi nhận nhiệm vụ Khâm sứ Tòa Thánh tại Giêrusalem và Palestin, đã là người đầu tiên làm Ðại diện không thường trú của Tòa Thánh tại Việt Nam. Chúng tôi hy vọng trong tương lai gần sẽ có Sứ thần Tòa Thánh đấy ! Chúng tôi mới có thêm một giáo phận và đang chờ có thêm vài giáo phận nữa.

Ai cũng trố mắt ngạc nhiên “chưa thấy thế bao giờ”. Tôi giải thích : “Ở đâu có mà thấy ? Chỉ có ở Việt Nam tôi mới có thôi !”.

Vâng, Việt Nam vẫn là Việt Nam, có những nét rất riêng !

Chúng tôi là Con Rồng Cháu Tiên, biến hóa khôn lường, không rập khuôn của ai hết.

Nhưng chúng tôi tin rằng được như thế là vì Chúa Giêsu vinh quang ở với chúng tôi, và Chúa Thánh Thần dẫn dắt chúng tôi như lời Chúa Giêsu đã hứa; mà chúng tôi cũng để Chúa Thánh Thần dẫn dắt, như cha ông chúng tôi vẫn sống từ khi đón nhận Tin Mừng, suốt bốn trăm năm qua.

Ngợi khen Chúa Giêsu Kitô muôn đời. Amen. Ha-lê-lui-a!

Lm GIUSE NGUYỄN CÔNG ÐOAN – Dòng Tên

Read More
20Tháng Bảy
2020

Bốn cái bẫy mà ma quỷ thường bày ra cho chúng ta khi cầu nguyện

20/07/2020
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

Những trò gạt gẫm của ma quỷ rất phổ biến: khi cầu nguyện, tất cả mọi người, cách nào đó luôn gặp phải điều này. Dưới đây là một số lời khuyên hữu ích để tránh những cái bẫy của ma quỷ khi cầu nguyện trong bình an.

Tên cám dỗ làm mọi thứ để ngăn cản con người cầu nguyện. Vì vậy, thật khó để chúng ta không rơi vào cám dỗ. Chúng ta hãy mở to đôi mắt để cố gắng nhận ra những lời dối trá, để mình không bị ma quỷ lừa bịp.

Bẫy số 1 : “cầu nguyện thật vô ích”

Nếu dựa vào những tiêu chuẩn thông thường của chúng ta về tính hiệu quả của cầu nguyện, thì thực sự cầu nguyện không giúp được gì cả. Theo quan điểm của con người, cầu nguyện là lãng phí thời gian. Đây là câu hỏi lớn mà các tu sĩ nam nữ nêu ra cho thế giới xung quanh họ: đời sống cầu nguyện giúp được gì cho những người này? Dưới cặp mắt của nhiều người thì cuộc sống của họ xem ra quá lãng phí.

Chúng ta thường mắc cùng một sai lầm này khi từ bỏ việc cầu nguyện với lý do chúng ta có quá nhiều việc phải làm. Bởi vì chúng ta đặt mình vào cái luận lý về hiệu suất, thay vì theo luận lý của tình yêu. Trái lại, nếu biết suy nghĩ một chút, chúng ta sẽ thấy trong cuộc sống dường như những thứ xem ra vô dụng nhất thực ra là những thứ quí giá nhất; chẳng hạn như cưng chiều một đứa trẻ, hôn vợ hoặc chồng, chiêm ngắm một phong cảnh đẹp. Cầu nguyện có vẻ vô ích, nhưng thực ra đó là điều tuyệt đối không thể thiếu.

Bẫy số 2: “Bạn không biết cầu nguyện”

Kẻ thù tăng thêm nhiều lý lẽ để cho chúng ta thấy rằng cầu nguyện quá khó đối với chúng ta, rằng chúng ta cần được đào tạo trước khi bắt đầu cầu nguyện… Ngay cả trong trường hợp này, quả thực, chúng ta không biết cầu nguyện. Lời cầu nguyện của chúng ta đầy lơ đãng, đầy những tìm kiếm lợi lộc cho riêng mình, đầy những bất trung và hàng nghìn những cái bất toàn khác. Rồi sao? Có người cha nào khi bồng đứa trẻ sơ sinh trên tay, đứa bé bắt đầu bập bẹ và tươi cười, đặt nó ngay ngắn lại rồi ông nói với nó : “Khi nào con biết nói thì hãy nói chuyện với cha?”. Tất nhiên là không! Trái lại, ông sẽ cảm động và ngạc nhiên trước những lời nói bập bẹ đầu tiên này. Điều đó thật giá trị đối với những bậc cha mẹ trên trần gian, thậm chí còn giá trị hơn trước mặt Thiên Chúa của chúng ta.

Bẫy số 3: “Bạn sẽ cầu nguyện khi có thời gian”

Nếu chúng ta đợi đến khi có thời giờ để cầu nguyện, chắc chắn một điều chúng ta sẽ không bao giờ cầu nguyện, bởi vì chúng ta sẽ có muôn nghìn việc rất khẩn thiết để làm. Nếu hôm nay chúng ta có ý cầu nguyện, nhưng không biết thiết đặt thời gian cụ thể, nguy cơ chúng ta sẽ đi ngủ vào buổi tối mà không tìm thấy dù chỉ một phút để tự mình xắp xếp.

Người cầu nguyện thường xuyên không nhất thiết là người có nhiều thời giờ rảnh rỗi, mà là người quyết định dành thời giờ cho việc cầu nguyện. Đó là một chọn lựa. Vậy ưu tiên của chúng ta là gì? Chúng ta muốn đặt việc cầu nguyện làm trung tâm của đời sống không hay chúng ta coi đó như là điều xa xỉ, không bắt buộc? Nếu đó là điều cần thiết thì nó phải được xếp vào hàng đầu tiên trong lịch trình hằng ngày của chúng ta.

Bẫy số 4: “Công việc của tôi đã là cầu nguyện”

Ma quỷ thì thầm vào tai chúng ta: “Nếu bạn làm việc hết lòng, dâng công việc của bạn cho Chúa, vì vậy bạn sẽ được miễn cầu nguyện”. Thực may mắn cầu nguyện không phải là cách duy nhất để đặt mình trước sự hiện diện của Thiên Chúa, để được ở gần và phục vụ Chúa. Nếu không chúng ta sẽ chỉ dành một phần nhỏ trong ngày của chúng ta cho Chúa. Tuy nhiên, nếu chúng ta không cầu nguyện thật lòng, không biết dừng lại trong ngày, chúng ta sẽ khó mà cầu nguyện trong mọi lúc. Chúng ta có thể thành công cầu nguyện trong khi làm việc, nếu từng ngày chúng ta biết học cách cầu nguyện ngay cả khi không làm gì cả.

Edifa/Aleteia

G. Võ Tá Hoàng chuyển ngữ

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 1.535
  • Page 1.536
  • Page 1.537
  • …
  • Page 2.056
  • Next page
Bài viết mới nhất
ĐỨC THÁNH CHA: CÁC CỘNG ĐOÀN GIÁO HỘI PHẢI LÀ NHỮNG NƠI AN TOÀN CHO MỌI NGƯỜI
22/06/2026
CÔNG NGHỊ HỒNG Y BÀN VỀ THẾ GIỚI, THÔNG ĐIỆP VÀ THƯỢNG HỘI ĐỒNG
12/06/2026
GIỚI THIỆU SỔ TAY HÀNH HƯƠNG “CON ĐƯỜNG TRÁI TIM - HÀNH HƯƠNG VÀO TRÁI TIM SỨ MẠNG LOAN BÁO TIN MỪNG”
12/06/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.