2026
CÁC GIÁM MỤC VIỆT NAM NÓI VỚI ĐỨC LÊÔ XIV RẰNG GIÁO HỘI CỦA HỌ LÀ MỘT GIA ĐÌNH
CÁC GIÁM MỤC VIỆT NAM NÓI VỚI ĐỨC LÊÔ XIV RẰNG GIÁO HỘI CỦA HỌ LÀ MỘT GIA ĐÌNH

Trở lại Vatican sau chuyến Tông du 11 ngày tới bốn quốc gia châu Phi, lịch trình của Đức Giáo hoàng Lêô XIV tại Rôma lập tức được tiếp tục. Sáng hôm sau khi trở về từ Guinea Xích đạo, ngài đã tiếp kiến các Giám mục Việt Nam trong chuyến thăm ad limina của họ.
Chuyến thăm “ad limina Apostolorum”, do các Giám mục hiệp thông với Tòa thánh thực hiện, nhằm mục đích củng cố trách nhiệm của họ với tư cách là những người kế vị các Tông đồ và sự hiệp thông phẩm trật của họ với Người kế vị Thánh Phêrô. Tập trung vào việc cầu nguyện tại các lăng mộ của Thánh Phêrô và Thánh Phaolô, chuyến thăm này cũng là một thời điểm quan trọng trong sứ vụ của Đức Giáo Hoàng, trong đó ngài gặp gỡ các Giám mục để thảo luận về các vấn đề liên quan đến sứ mang Giáo hội của họ.

Sau buổi tiếp kiến của Đức Giáo hoàng, Đức cha Đaminh Nguyễn Tuấn Anh của Giáo phận Xuân Lộc đã mô tả cuộc gặp gỡ là thân ái, nói rằng ngay cả “sau một hành trình dài đến châu Phi, [Đức Giáo hoàng] vẫn dành thời gian sáng nay để gặp gỡ chúng tôi bằng tất cả tấm lòng.
Với hơn 7 triệu tín hữu Công giáo, Việt Nam là nơi có cộng đồng Công giáo lớn thứ năm ở châu Á. Đức cha Nguyễn Tuấn Anh cho biết Đức Giáo hoàng rất vui khi được nghe về Giáo hội địa phương ở đất nước, mà Đức Cha mô tả là có “đức tin mạnh mẽ”. Ngài nói thêm rằng trong thế giới ngày càng phát triển dựa trên công nghệ, Giáo hội Việt Nam đang nỗ lực giải đáp những vấn đề liên quan đến đức tin, trí tuệ nhân tạo và truyền thông đại chúng.
Do đó, Đức Cha nhấn mạnh sự cần thiết phải “hiệp nhất” để đối mặt với những thách thức hiện đại này.

Sau đây là bản ghi lại cuộc phỏng vấn đã được biên tập lại cho rõ ràng hơn.
Vatican News: Sáng nay, các Giám mục Việt Nam đã gặp Đức Giáo hoàng Lêô XIV trong khuôn khổ chuyến thăm ad limina của các ngài. Cuộc gặp gỡ đó diễn ra như thế nào?
Đức cha Nguyễn Tuấn Anh: Thứ nhất, sau một hành trình dài đến châu Phi, sáng nay ngài đã dành thời gian gặp gỡ chúng tôi bằng tất cả tấm lòng. Chúng tôi cảm nhận được điều đó, và ngài cũng đã nói như vậy. Mặc dù hơi mệt, ngài vẫn rất vui mừng và hạnh phúc khi được gặp chúng tôi và nghe về Giáo hội Việt Nam. Thứ hai, cách ngài giao tiếp với chúng tôi rất huynh đệ.
Ngài quả thật là Người kế vị Thánh Phêrô, và chúng tôi là những người kế vị các Tông đồ. Bầu không khí sáng nay thật ấm cúng, như một gia đình của Giáo hội. Tất cả chúng tôi đều có trách nhiệm góp phần tạo nên sự hiệp nhất và hiệp thông trong Giáo hội. Chúng tôi thực sự cảm thấy mình đang hiệp thông với Đức Giáo hoàng, Tòa thánh và Giáo hội hoàn vũ. Giáo hội Việt Nam là một gia đình, và trong văn hóa của chúng tôi, gia đình rất quan trọng.
Giáo hội cũng đã được chúc lành bởi ân sủng của Thiên Chúa và bởi máu của các vị tử đạo.
Vatican News: Hoàn cảnh Giáo hội Việt Nam hiện nay như thế nào?
Đức cha Nguyễn Tuấn Anh: Tôi nghĩ trong Giáo hội, chúng tôi luôn cần sự đóng góp và hiệp nhất của tất cả mọi người: các giám mục, linh mục, giáo dân và tu sĩ. Chúng tôi được đánh giá cao vì đức tin mạnh mẽ của chúng tôi. Nhưng chúng tôi cũng phải đối mặt với tất cả những thách thức như mọi người khác, đặc biệt là hiện nay với trí tuệ nhân tạo và truyền thông đại chúng. Vì vậy, chúng tôi cần hiệp nhất; chúng tôi cần thống nhất, và với ơn Chúa, chúng tôi có thể đối mặt với thách thức này trên con đường đức tin, trên con đường hy vọng.
Tý Linh chuyển ngữ từ vaticannews.va/en
Nguồn: xuanbichvietnam.net
2026
ÔNG CỐ DIỆP, NGƯỜI Ở LẠI GIỮA DÂN MÌNH
ÔNG CỐ DIỆP, NGƯỜI Ở LẠI GIỮA DÂN MÌNH
Ông cố Diệp ơi,
Hồi nhỏ, con hay thắc mắc về cái danh xưng “ông cố” mà bà con mình hay gọi các linh mục. Con có đứa bạn cũng ở miền Tây quê ông, nó nói ở miền Tây, người ta kỵ nhất là sự xa cách, nên ai mà mình thương, mình quý, mình coi như ruột thịt trong nhà thì mới dám gọi bằng cái tiếng “cố”.
Nên con cũng muốn gọi Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp là “ông cố”, giống như cái cách người dân Tắc Sậy vẫn gọi. Dù con chưa từng gặp ông, nhưng cái tên của ông thì nghe riết thành quen. Vì hồi nhỏ, mỗi lần theo người lớn đi lễ, con hay nghe người ta nhắc: “Cha Diệp đó nghen, linh lắm!” Lúc đó con đâu hiểu gì nhiều. Chỉ thấy người ta đứng trước bàn thờ, chắp tay, có người thì rưng rưng nước mắt. Con cũng đứng ké, nhìn theo, mà trong lòng thì cứ thắc mắc: sao người ta thương ông cố dữ vậy?
Hôm nay, tự dưng có duyên cầm được cuốn sách “Con Sóc Trên Tàu Dừa” lên đọc, con mới thấy mình ngộ ra được biết bao nhiêu chuyện. Cái tên cuốn sách nghe qua thì thấy nó lạ lẫm, ngộ ngộ sao đâu, nhưng mà tới chừng ngồi ngẫm lại một hồi, tự nhiên thấy cái bụng mình nó thương dữ dội hà. Nó thương cái kiểu mộc mạc, bình dân như màu xanh của lá dừa, như cái tính nết chịu thương chịu khó của dân mình hồi đó tới giờ vậy. Hệt như cái tánh nết ông cố dành cho bà con mình vậy đó. Lúc nào ông cũng giống như con sóc nhỏ tận tụy trên tàu dừa quê hương, cứ thoăn thoắt đi hết nhà này tới nhà kia, lo cho dân nghèo từng miếng ăn, dạy họ từng lời kinh. Ông cố chọn sống “ở giữa” cuộc đời. Ở giữa những phận người khổ cực lầm than, ở giữa những trăn trở, lo âu của một thời loạn lạc. Cái sự thánh thiện của ông cố, sau khi con đọc xong mấy trang viết ấy, con thấy nó hổng phải cái gì lóng lánh hay xa xôi tít tắp đâu. Ngược lại, nó thơm nồng mùi lúa mới, thơm mùi phù sa mặn đắng vốn đặc trưng của đất quê mình. Chính thái độ đứng “ở giữa” dân mình như vậy, nên người ta mới thương, mới nhớ ông cố hoài cho tới tận bây giờ.
Ở dưới quê con, người ta quý nhau cũng chỉ vì cái lẽ đó. Chẳng cần phải thưa gởi hay nói năng chi cho nhiều, chỉ cần cái lâm nguy, lúc gian nan nhứt mà vẫn còn thấy mặt nhau, chịu ở lại với nhau, vậy là đủ đầy rồi. Con nghe người ta kể lại, tới cái lúc dầu sôi lửa bỏng, nguy hiểm kề cận bên mình, vậy mà ông cố vẫn nhứt quyết không chịu rời đi. Con nghĩ bụng, chắc cái hồi đó ông cố cũng có biết bao nhiêu là lựa chọn chớ bộ. Ở đời này, ai mà hổng ham sống sợ chết; ai mà hổng muốn tìm chỗ yên thân. Nhưng mà ông cố quyết tâm chọn ở lại. Cái lựa chọn đó, con thấy nó hổng phải kiểu anh hùng lẫm liệt gì đâu, mà nó giống hệt như tấm lòng của một người cha, người chú trong nhà, vì thương quá mà hổng nỡ bỏ mặc đám con cháu, bỏ mặc bà con mình lại phía sau trong lúc ngặt nghèo. Cái lựa chọn ở lại đó, người ngoài nhìn vô thấy lạ, nhưng người miền Tây mình thì hiểu. Nó hệt như rễ dừa, cứ âm thầm bám sâu vô đất phèn mặn chát để giữ cho cây đứng vững trước giông bão. Ông cố không nỡ bỏ dân vì cái tình đã “dính” vô nhau rồi thì khó mà buông được. Ông chết để dân được sống, một cái chết nhẹ tênh như lá dừa rụng xuống dòng kênh, nhưng lại để lại cái nghĩa nặng tình thâm tới ngàn đời.
Ông ở lại, rồi ông mất.
Nghe đơn giản vậy thôi, mà cái “ở lại” đó, nó đi xa dữ lắm. Từ một xóm nhỏ, từ một vùng quê có cánh đồng, có con rạch, có tàu dừa… câu chuyện của ông đi xa hơn. Đi tới những nơi mà chắc hồi đó ông cũng không nghĩ tới. Rồi người ta tìm về. Người ta cầu nguyện. Người ta kể lại câu chuyện của ông cho người khác nghe. Không phải vì muốn làm cho lớn, mà vì cái gì đó trong lòng người ta không quên được.
Con cũng vậy. Dù sinh ra sau này, dù không sống trong thời của ông, nhưng mỗi lần nghe kể, con vẫn thấy có cái gì đó rất thật. Không phải chuyện xa vời, mà là chuyện của một con người sống trọn vẹn với những gì mình tin.
Nên khi đọc sách về cuộc đời ông cố, con thấy như mình đang được đi lại trên những con đường đất quê những năm tháng cũ. Cuốn sách không bắt con phải nhớ ngày, nhớ tháng, nó chỉ bắt con phải cảm nhận. Cảm cái hơi ấm của một bàn tay mục tử, cảm cái nghĩa khí của một người con Nam Bộ dám lấy mạng sống mình để giữ gìn sự sống cho bà con.
Ông cố à,
Bây giờ người ta đang nói nhiều về việc ông được tuyên phong Chân phước. Con nghe mà thấy vui cái bụng. Vui như chuyện của người thân trong nhà được vinh danh vậy đó. Nghĩ kỹ lại, con thấy hình như ông vẫn vậy. Vẫn là “ông cố Diệp” của bà con mình. Vẫn gần, vẫn đơn sơ. Chỉ có điều, từ cánh đồng, con rạch, tàu dừa… con đường của ông bây giờ đã chạm tới bàn thờ của Hội thánh. Nghe thì xa, mà sao thấy cũng gần. Con nghĩ, chắc ông cũng không có ý “đi xa” tới vậy đâu. Ông chỉ sống trọn phần của mình thôi. Mà có khi, chính vì sống trọn cái phần đời mình như vậy, nên con đường mới tự nhiên mở ra. Thực sự con đường đi từ tàu dừa tới bàn thờ Hội thánh, xét cho cùng đâu có xa xôi gì. Nó chỉ dài bằng đúng một trái tim biết yêu thương cho tới tận cùng, yêu tới mức không còn giữ lại gì cho riêng mình, phải vậy không ông cố?
Mà lạ lắm ông cố à, có những câu chuyện tưởng chừng đã trôi theo con nước, vậy mà vẫn có người nhặt lại, ngồi kể bằng một giọng rất nhẹ. Không làm lớn chuyện, không cố giải thích, chỉ như ngồi bên bờ rạch, nhìn con sóc chuyền qua mấy tàu dừa, rồi chậm rãi nói về một con người đã từng sống giữa xóm làng này.
Con nghĩ, chắc ông cũng không ngờ có ngày câu chuyện đời mình lại được kể theo cách này: hiền như gió, mà thấm sâu như nước. Thôi, con xin dừng ở đây nghen ông cố, chớ mà nấn ná nói thêm hồi nữa, có khi con lại lỡ miệng khui hết trơn mấy cái chuyện kín trong lòng ra thì kỳ lắm.
Để con ra ngó coi bữa nay mấy con sóc có còn nhảy nhót, đùa giỡn trên mấy tàu dừa trước ngõ mình không. Biết đâu chừng, thấy con người quen, tụi nó lại xúm xít kể con nghe thêm mấy chuyện hồi xửa hồi xưa về ông cố nữa thì sao.
Ông cố nhớ cầu nguyện cho tụi con nghen!
Sơ Maria Madeleine Nguyễn Thị Lan, Dòng Thánh Phaolô – Thiện Bản (OSP)
2026
ĐỜI SỐNG NỘI TÂM TRONG ƠN GỌI
ĐỜI SỐNG NỘI TÂM TRONG ƠN GỌI
Dẫn nhập
Có thể nói, thế giới hôm nay là một thế giới động vì nó biến chuyển không ngừng, chuyển động vô cùng nhanh chóng với các gam màu thay đổi liên tục và các âm thanh ồn ào không ngơi, thậm chí còn đầy những “tiếng ồn đôi khi chói tai”[1] nữa. Sống trong một thế giới như vậy, con người sẽ dễ dàng mất khả năng dừng lại để lắng nghe. Điều này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống đức tin của con người, mà còn tác động trực tiếp đến khả năng con người nhận ra ơn gọi của chính mình và sống ơn gọi đó. Do đó, hiện nay, có không ít người cảm thấy ơn gọi như là một bổn phận phải chu toàn, một gánh nặng phải mang vác, mà không nhìn ra được ơn gọi là một hành trình mang một vẻ đẹp và một ý nghĩa sâu xa.
Trong Sứ điệp Ơn gọi lần thứ 63 năm nay, Đức Thánh cha Lêô XIV đã nhấn mạnh đến một chiều kích trong ơn gọi tưởng chừng quen thuộc mà nhiều khi dễ bị lãng quên, đó là đời sống nội tâm trong ơn gọi. Ngài đã mời gọi toàn thể Giáo hội khám phá nội tâm về ơn gọi. Bởi vì, “mỗi ơn gọi là một hồng ân lớn lao cho Giáo hội và cho những ai đón nhận với niềm vui”[2].
Được gợi hứng từ Sứ điệp Ơn gọi lần thứ 63 của Đức Thánh cha Lêô và dựa trên chính Sứ điệp của ngài, bài viết này như một sự dừng lại để suy tư về đời sống nội tâm trong ơn gọi qua sáu điểm sau: 1) Đời sống nội tâm trong ơn gọi là gì?; 2) Ý nghĩa của đời sống nội tâm trong ơn gọi; 3) Tầm quan trọng của đời sống nội tâm trong ơn gọi; 4) Dấu hiệu của một đời sống nội tâm lành mạnh trong ơn gọi; 5) Những nguy cơ khi thiếu vắng đời sống nội tâm trong ơn gọi; 6) Những phương thế nuôi dưỡng đời sống nội tâm trong ơn gọi.
1. Đời sống nội tâm trong ơn gọi là gì?
Có rất nhiều định nghĩa về đời sống nội tâm. Tuy nhiên, cần phải khẳng định rằng đời sống nội tâm trong ơn gọi không phải là sự thu mình, hoặc khép kín, hay một đời sống đạo đức mang tính cá nhân ích kỷ. Trái lại, đời sống nội tâm này là một hành trình đi vào chiều sâu của chính mình (cõi lòng mình), để khám phá một thực tại lớn lao hơn: hồng ân của Thiên Chúa đang hiện diện, hoạt động nơi tâm hồn. Bởi vì, Đức Thánh cha Lêô XIV đã nói trong Sứ điệp Ơn gọi 2026 như sau: “Suy tư về chiều kích nội tâm của ơn gọi, được hiểu như việc khám phá hồng ân nhưng không của Thiên Chúa nảy nở trong sâu thẳm trái tim mỗi người chúng ta.”[3]
Chính nơi trái tim hay cõi lòng, con người không chỉ gặp lại chính mình, mà còn gặp được Chân Lý là Thiên Chúa. Thánh Augustinô đã diễn tả điều này một cách đầy xác tín và mạnh mẽ qua một lời mời gọi như sau: “Noli foras ire, in te ipsum redi, in interiore homine habitat veritas – Đừng đi ra ngoài chính mình, hãy trở về với bản thân, Chân Lý cư ngụ trong con người nội tâm”.[4] Lời mời gọi của thánh nhân không dẫn đến một sự khép kín, nhưng mở ra cho một hành trình trở về nơi con người nhận ra Thiên Chúa trong sâu thẳm của chính mình.
Vì vậy, đời sống nội tâm trong ơn gọi là một cuộc gặp gỡ cá vị giữa con người (người được Chúa gọi) và Thiên Chúa. Cuộc gặp gỡ này vượt lên trên một tri thức thuần túy, vì “đây không phải là một tri thức trí tuệ trừu tượng hay một sự hiểu biết học thuật, nhưng là một cuộc gặp gỡ cá vị biến đổi cuộc đời.”[5]
2. Ý nghĩa của đời sống nội tâm trong ơn gọi
Đời sống nội tâm là “trụ cột” của mọi ơn gọi. Vì nhờ đời sống nội tâm, người được gọi mới có thể nhận ra mình được Chúa gọi, gắn bó với Chúa, được thanh luyện và được dẫn vào trong chính sự thật của bản thân mình. Đời sống nội tâm còn là một dấu chỉ chắc chắn của một ơn gọi chân thật. Vì cũng nhờ đời sống này, người được gọi mới có thể lớn lên trong tự do và trung tín với ơn gọi của mình.
2.1. Đối với chủng sinh
Đời sống nội tâm không chỉ được xem như một chiều kích thiêng liêng, nhưng là nền tảng hình thành nên căn tính người môn đệ nơi chủng sinh. Bởi vì, toàn bộ hành trình đào tạo linh mục là “hành trình đào tạo [duy nhất] của người môn đệ”[6]. Đây cũng là hành trình chủng sinh ở lại với Đức Kitô và được biến đổi trong tương quan mật thiết với Người[7]. Chính trong mối tương quan mật thiết này, chủng sinh không dừng lại ở việc trở nên “tốt” theo nghĩa luân lý mà còn được mời gọi trở nên “đẹp” theo nghĩa thiêng liêng, một vẻ đẹp như Florenskij nhận định là một vẻ đẹp phát xuất từ một đời sống được kết hợp với Thiên Chúa và được Người biến đổi từ bên trong[8]. Nhờ đó, chủng sinh trở nên trưởng thành và sự trưởng thành này cũng không diễn ra bên ngoài, nhưng lớn lên âm thầm trong nội tâm của chủng sinh, nơi họ học biết lắng nghe, phân định và dần trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô Mục tử.
2.2. Đối với linh mục
Đời sống nội tâm là nguồn mạch âm thầm nuôi dưỡng và thanh luyện sứ vụ linh mục từ bên trong. Thật vậy, linh mục không đơn thuần chỉ thi hành nhiệm vụ quản trị giáo xứ theo chức năng của mình, mà còn được thánh hiến để “nhân danh Đức Kitô chính thức thi hành tác vụ linh mục cho mọi người”[9]. Khi đời sống nội tâm được vun trồng, mọi hoạt động mục vụ của linh mục như giảng dạy, cử hành các bí tích cho cộng đoàn, phục vụ cộng đoàn… đều được thấm nhuần sức sống thần linh, bởi vì tất cả các hoạt động ấy phát xuất từ sự hiệp thông sống động với Đức Kitô. Trái lại, khi thiếu quan tâm đến đời sống nội tâm, sứ vụ của linh mục dễ bị giản lược thành những công việc thuần túy bên ngoài của con người, mất dần chiều sâu siêu nhiên và có nguy cơ trở thành một chức năng xã hội hơn là một thừa tác vụ.
Từ những điều trên, đời sống nội tâm không chỉ giúp linh mục trung thành với ơn gọi của mình, mà còn làm cho chính đời sống và sứ vụ của linh mục trở thành dấu chỉ sống động. Dấu chỉ sống động ấy chính là một sự tham dự vào sứ mạng của Đức Kitô và là việc “chiếu tỏa vẻ đẹp của Người”[10] giữa trần gian.
3. Tầm quan trọng của đời sống nội tâm trong ơn gọi
Đời sống nội tâm rất quan trọng vì không những giúp người được Chúa gọi nghe được tiếng Chúa, nâng đỡ ơn gọi của họ, mà còn định hướng toàn bộ đời sống và sứ vụ của họ. Chính trong đời sống nội tâm, ơn gọi được thanh luyện, được củng cố và trổ sinh hoa trái cho Giáo hội.
3.1. Giúp nghe được tiếng Chúa
Thiên Chúa thường đến với con người và mời gọi họ một cách rất âm thầm, nhẹ nhàng, kín đáo và riêng tư, chứ không hề áp đặt. Vì thế, chỉ những ai biết dừng lại và đi vào chiều sâu nội tâm của mình, thì mới có thể nhận ra lời mời gọi của Thiên Chúa. Trong Sứ điệp Ơn gọi 2026, Đức Thánh cha Lêô XIV đã nhấn mạnh: cần “phải tạo ra những khoảng lặng nội tâm để cảm nhận điều Chúa ấp ủ cho hạnh phúc của chúng ta.”[11] Những khoảng lặng nội tâm này là sự dừng lại, cầu nguyện và lắng nghe tiếng Chúa… Chính trong những khoảng lặng ấy, con người nghe được tiếng Chúa. Và không chỉ thế, họ còn học biết cách phân định để nhận ra đâu là tiếng gọi đích thực của Chúa giữa những xao động của cảm xúc và áp lực của hoàn cảnh sống đương thời. Không có đời sống nội tâm, ơn gọi của một người sẽ trở nên mơ hồ và có nguy cơ bị hiểu lầm như là một chọn lựa thuần túy theo kiểu thế gian.
Như vậy, đời sống nội tâm rất quan trọng vì giúp con người nghe được tiếng Chúa một cách chính xác.
3.2. Giúp ơn gọi trưởng thành bền vững
Đức Thánh cha Lêô XIV, trong Sứ điệp Ơn gọi năm nay đã nói rất rõ về đặc tính của ơn gọi như sau: “Ơn gọi không phải là một điểm đến tĩnh tại, nhưng là một tiến trình năng động của sự trưởng thành, được nuôi dưỡng nhờ sự gắn kết thân mật với Chúa: ở lại với Chúa Giêsu, để Chúa Thánh Thần hoạt động trong tâm hồn và trong các hoàn cảnh của cuộc sống, và đọc lại mọi sự dưới ánh sáng của hồng ân đã lãnh nhận, chính là lớn lên trong ơn gọi.”[12] Như vậy, ơn gọi không phải là một biến cố nhất thời, cố định; nhưng là một hành trình kéo dài suốt đời – “một tiến trình năng động”, đòi hỏi một sự trung tín và lớn lên từng ngày. Trong hành trình này, người được Chúa gọi sẽ không tránh khỏi những giai đoạn khô khan hoặc những thử thách, hay những lần được “cắt tỉa” cần thiết để thanh luyện. Chính sự gắn bó nội tâm mật thiết với Chúa Giêsu sẽ giúp họ đứng vững, giống như cành nho chỉ có thể sinh hoa trái khi gắn liền với cây nho.[13]
Tất cả những điều trên cho thấy đời sống nội tâm là một yếu tố vô cùng quan trọng giúp ơn gọi trưởng thành một cách bền vững theo thời gian. Khi đời sống nội tâm được nuôi dưỡng cẩn thận, người được Chúa gọi sẽ biết nhìn mọi biến cố đời sống dưới ánh sáng đức tin, không coi chúng là những điều ngẫu nhiên vô nghĩa, nhưng như những cơ hội để trưởng thành trong tình yêu và tín thác vào Thiên Chúa.
3.3. Giúp phục vụ Dân Chúa vì Chúa
Đời sống nội tâm trong ơn gọi là nền tảng quan trọng giúp người được Chúa gọi, cách riêng là các linh mục phục vụ Dân Chúa vì chính Chúa. Thật vậy, mọi hoạt hoạt động mục vụ, dù đa dạng và phong phú đến đâu chăng nữa, nếu không bắt nguồn từ sự hiệp thông với Thiên Chúa, thì sẽ rơi vào tình trạng duy hoạt động hoặc duy hiệu năng. Vì thế, Đức Thánh cha Lêô XIV, mời gọi phải canh tân sứ vụ truyền giáo “dựa trên cơ sở của việc chăm sóc đời sống nội tâm”[14]. Khi đời sống nội tâm được chăm sóc, người được Chúa gọi, cách riêng là các linh mục, không những làm việc cho Chúa, mà còn làm việc vì Chúa, với Chúa và trong Chúa. Khi ấy, sứ vụ của họ sẽ không còn là gánh nặng, mà là một sự tham dự vào chính tình yêu cứu độ của Thiên Chúa.
4. Dấu hiệu của một đời sống nội tâm lành mạnh trong ơn gọi
Nhận ra một đời sống nội tâm lành mạnh trong ơn gọi không bao giờ là một điều dễ dàng, bởi vì đời sống nội tâm thường không biểu hiện ra bên ngoài một cách rõ rệt. Một đời sống nội tâm lành mạnh trong ơn gọi chỉ bộc lộ qua những dấu chỉ âm thầm và sâu sắc trong chính cách sống của người được Chúa gọi và cách họ đáp lại tiếng Chúa mỗi ngày. Tuy nhiên, một đời sống nội tâm lành mạnh trong ơn gọi vẫn có thể được nhận ra qua những dấu hiệu sau:
4.1. Sự bình an gắn liền với lòng tín thác vào Chúa
Người có đời sống nội tâm lành mạnh trong ơn gọi không phải là người không gặp xáo trộn hay xao động trong đời sống, nhưng là người vẫn có được sự bình an sâu xa trong chính những xáo trộn hay xao động đó. Sự bình an gắn liền với lòng tín thác vào Chúa ấy phát xuất từ khả năng thưa tiếng “xin vâng” như Thánh Giuse, “ngay cả khi mọi việc xem ra đi ngược lại với những gì dự tính”[15]. Đây chính là một hành vi đức tin trưởng thành, chứ không phải là một sự cam chịu thụ động. Bởi vì, người được Chúa gọi dám phó thác toàn bộ cuộc đời mình cho Thiên Chúa và tin rằng chương trình của Thiên Chúa luôn vượt trên những dự tính riêng tư của bản thân mình.
4.2. Sự kiên trì trong bóng tối
Đời sống ơn gọi không phải lúc nào cũng tràn ngập ánh sáng hay cảm xúc sốt sắng. Nhưng, đời sống ơn gọi luôn có những giai đoạn khó khăn, khô khan, nguội lạnh, thậm chí còn có cảm giác bị bỏ rơi nữa. Những giai đoạn này được xem như “bóng tối” trong ơn gọi. Tuy nhiên, người có đời sống nội tâm lành mạnh trong ơn gọi không dễ dàng nhượng bộ “bóng tối” này. Họ vẫn kiên trì và trung thành bước đi. Bởi lẽ, họ xác tín rằng Chúa Giêsu Phục Sinh vẫn không bỏ rơi, mà vẫn đang âm thầm dẫn dắt họ trong ánh sáng của Người, như lời Đức Thánh Cha Lêô XIV, trong Sứ điệp Ơn gọi năm nay: “Người không bỏ rơi chúng ta trong những giờ phút đen tối nhất, nhưng đến để xua tan mọi bóng tối bằng ánh sáng của Người. Và chính nhờ ánh sáng và sức mạnh của Thánh Thần Người, ngay cả qua những thử thách và khủng hoảng, chúng ta có thể thấy ơn gọi của mình trưởng thành…”[16]
4.3. Vẻ đẹp thiêng liêng
Một đời sống nội tâm lành mạnh trong ơn gọi luôn có một vẻ đẹp và vẻ đẹp này là vẻ đẹp thiêng liêng. Đây không phải là vẻ đẹp bên ngoài theo kiểu trang phục hay trang sức, nhưng là một sự phản chiếu vẻ đẹp của chính Chúa qua đời sống của người được Chúa gọi. Đức Thánh cha Lêô XIV đã nhấn mạnh rằng khi trở nên môn đệ của Đức Kitô, “chính chúng ta cũng trở nên ‘đẹp’: vẻ đẹp của Người biến đổi chúng ta.”[17] Vẻ đẹp ấy được thể hiện qua “sự trung tín và niềm tín thác”[18], lòng nhân hậu, sự hiền lành và một tình yêu âm thầm nhưng bền bỉ. Chính vẻ đẹp này làm cho đời sống của người được Chúa gọi có sức thu hút người khác. Sức thu hút này không phải là tài năng hay thành công mà là sự hiện diện của Thiên Chúa nơi bản thân người được Chúa gọi.
5. Những nguy cơ khi thiếu vắng đời sống nội tâm trong ơn gọi
Khi đời sống nội tâm không đủ hay suy yếu, những nguy cơ trong ơn gọi sẽ không xuất hiện một cách tràn lan hay dồn dập. Chúng sẽ xuất hiện một cách âm thầm nhưng len lỏi trong khắp hành trình ơn gọi và dần dần làm biến dạng toàn bộ đời sống ơn gọi của người được Chúa gọi. Theo Sứ điệp Ơn gọi năm nay, những nguy cơ này là sự hỗn loạn vô nghĩa, trần tục hóa và khả năng rời bỏ ơn gọi.
5.1. Sự hỗn loạn vô nghĩa
Khi các biến cố trong đời sống của người được Chúa gọi không được đọc dưới ánh sáng đức tin, nhưng bị xem là ngẫu nhiên rời rạc, thì người được Chúa gọi dễ rơi vào sự hỗn loạn vô nghĩa.[19] Đây cũng là trạng thái người được Chúa gọi không còn đặt mình trong tương quan với Thiên Chúa. Vì thế, họ đánh mất khả năng nhận ra ý nghĩa sâu xa của lịch sử đời mình và từ đó mất dần định hướng sống đời ơn gọi.
5.2. Trần tục hóa
Khi đời sống nội tâm không còn được nuôi dưỡng hay suy yếu, người được Chúa gọi có thể vẫn còn giữ những hình thức bên ngoài của đời sống ơn gọi, nhưng lại mất đi chiều sâu thiêng liêng bên trong tâm hồn. Và khi ấy, họ sẽ không còn phản chiếu vẻ đẹp của Thiên Chúa nữa, mà bị cuốn vào những tiêu chuẩn tầm thường của thế gian. Vì thế, họ trở nên những con người “thô tục và trần tục”[20], khiến cho ơn gọi của họ cũng bị trần tục hóa.
5.3. Khả năng rời bỏ ơn gọi
Có thể nói, ơn gọi cũng giống như cành nho, chỉ có thể sống khi gắn liền với cây nho là Đức Kitô. Và đời sống nội tâm trong ơn gọi chính là sự gắn liền ấy.[21] Khi thiếu đời sống nội tâm, nghĩa là thiếu sự gắn kết hằng ngày với Đức Kitô qua đời sống cầu nguyện, các bí tích và tương quan cá vị với Người, thì “cành nho ơn gọi’ sẽ trở nên yếu ớt và khô héo trước những khó khăn – thử thách thường xuyên xảy ra trên hành trình ơn gọi như: thất vọng, cô đơn, hiểu lầm, bất an, sợ hãi, khủng hoảng… Điều này khiến cho người được Chúa gọi có nguy cơ không thể chịu đựng nổi, dẫn tới khả năng họ sẽ rời bỏ ơn gọi của mình. Thật vậy, có một số người đã rời bỏ ơn gọi linh mục/ tu sĩ, không phải vì họ mắc phải những lỗi lầm lớn lao mà vì họ thiếu vắng đời sống nội tâm qua việc không gắn bó mật thiết với Đức Kitô mỗi ngày.
Cả ba nguy cơ trên đều cho thấy có một điểm chung nổi bật. Đó là, khi thiếu vắng đời sống nội tâm trong ơn gọi, ơn gọi bị tách khỏi nguồn sống của nó. Và khi ấy, ơn gọi cũng không còn vẻ đẹp nữa.
6. Những phương thế nuôi dưỡng đời sống nội tâm trong ơn gọi
6.1. Cầu nguyện và thinh lặng
Cầu nguyện và thinh lặng là điều không thể thiếu trong việc nuôi dưỡng đời sống nội tâm trong ơn gọi.[22] Thật vậy, giữa một thế giới đầy ồn ào và náo động như hiện nay, hơn bao giờ hết, người được Chúa gọi phải biết cầu nguyện và thinh lặng. Bởi vì khi ấy, họ mới có thể thực sự bước vào mối tương quan cá vị với Thiên Chúa. Cầu nguyện là đặt mình trước Thiên Chúa, để được Người chạm đến và hướng dẫn. Còn thinh lặng không chỉ là không ồn ào hay không náo động, mà là một thái độ sẵn sàng để Chúa nói thay vì chỉ nói với Chúa. Chính trong thinh lặng và cầu nguyện như thế, đời sống nội tâm của người được Chúa gọi sẽ lớn lên và phát triển một cách tự nhiên.
6.2. Đời sống bí tích và Lời Chúa
Nếu cầu nguyện và thinh lặng là điều không thể thiếu trong việc nuôi dưỡng đời sống nội tâm trong ơn gọi, thì đời sống bí tích và Lời Chúa lại chính là nguồn mạch không thể thay thế. Nói cách khác, nếu cầu nguyện và thinh lặng là hơi thở, thì các bí tích và Lời Chúa là lương thực dưỡng nuôi đời sống nội tâm trong ơn gọi.[23] Quả thật, người được Chúa gọi không thể nào có được đời sống nội tâm nếu không kín múc từ chính các Bí tích và Lời Chúa. Việc viếng Thánh Thể, chầu Thánh Thể, tham dự Thánh lễ mỗi ngày, đọc Lời Chúa, suy niệm Lời Chúa và cầu nguyện với Lời Chúa mỗi ngày không chỉ là bổn phận, nhưng còn là nơi người được Chúa gọi gặp gỡ Đức Kitô cách sống động, Đấng nuôi dưỡng và biến đổi tâm hồn họ.
6.3. Đồng hành thiêng liêng
Không ai có thể tự mình phân định một cách chính xác và trọn vẹn đời sống nội tâm của mình trong ơn gọi. Vì thế, người được Chúa gọi cần có một sự đồng hành thiêng liêng. Điều này có nghĩa là họ cần có một người hướng dẫn khôn ngoan và vững vàng, để giúp họ “phân định và kiểm chứng” đời sống nội tâm “dưới ánh sáng của Thánh Thần”.[24] Nhờ đó, ơn gọi của họ có thể được thực hiện trọn vẹn trong vẻ đẹp của nó. Sự đồng hành này giúp cho người được Chúa gọi được soi sáng và trưởng thành hơn, chứ không làm mất đi sự tự do của chính họ. Dưới sự hướng dẫn của nhà đồng hành thiêng liêng, người được Chúa gọi học biết đọc lại đời mình, nhận ra những chuyển động sâu kín của ân sủng Chúa trong tâm hồn mình và tránh được những lầm lạc một cách chủ quan.
6.4. Tín thác vào Chúa
Đời sống nội tâm trong ơn gọi chỉ thực sự bén rễ sâu khi người được Chúa gọi tín thác vào Chúa trong mọi hoàn cảnh. Sự tín thác này là thái độ căn bản của người được Chúa gọi: họ phải dám tín thác như Thánh Giuse, ngay cả khi “mọi việc xem ra đi ngược lại với những gì dự tính”.[25] Sự tín thác này không loại trừ nỗ lực của người được Chúa gọi, nhưng đặt nỗ lực ấy trong niềm tin tưởng rằng Thiên Chúa đang dẫn dắt lịch sử cuộc đời mình. Nhờ đó, người được Chúa gọi có thể bước đi trong bình an và không bị chi phối bởi sợ hãi trước tương lai.
Kết luận
Đời sống nội tâm trong ơn gọi rất quan trọng vì đời sống nội tâm này không chỉ là một chiều kích thiêng liêng trong ơn gọi, nhưng chính là con đường có thể dẫn đưa người được Chúa gọi đến hạnh phúc đích thực. Bởi lẽ, hạnh phúc của người được Chúa gọi không hệ tại ở sự thành công hay sự công nhận bề ngoài, nhưng ở việc sống trong tương quan sống động với Thiên Chúa, Đấng đã kêu gọi họ. Chính nhờ đời sống nội tâm của mình, người được Chúa gọi khám phá ra rằng ơn gọi không phải là một gánh nặng, mà là một hồng ân, một con đường của vẻ đẹp và niềm vui. Khi đời sống nội tâm trong ơn gọi được nuôi dưỡng và chăm sóc cách cẩn thận, người được Chúa gọi không còn sống vì mình, nhưng sống trong sự hiệp thông với Đức Kitô, như lời Thánh Phaolô Tông đồ đã xác quyết: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20). Vì vậy, điều quan trọng đối với người được Chúa gọi không phải là làm hết việc này đến việc khác, mà là vun trồng mối tương quan cá vị với Thiên Chúa, đây cũng chính là vun trồng đời sống nội tâm trong ơn gọi.
[1] Đức Thánh cha Lêô XIV, Sứ điệp nhân ngày Thế giới Cầu nguyện cho Ơn gọi năm 2026, đoạn 6, truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2026, https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/su-diep-cua-duc-thanh-cha-nhan-ngay-the-gioi-cau-nguyen-cho-on-goi-lan-thu-63-nam-2026–kham-pha-noi-tam-ve-mon-qua-cua-thien-chua. Trong bài viết này xin viết tắt là Sứ điệp Ơn gọi 2026.
[2] Sứ điệp Ơn gọi, đoạn 8.
[3] Sứ điệp Ơn gọi, đoạn 1.
[4] Thánh Augustinô, De vera religione, XXXIX, 72, trích trong Sứ điệp Ơn gọi 2026, đoạn 7.
[5] Sứ điệp Ơn gọi 2026, đoạn 6.
[6] Bộ Giáo sĩ, Đào tạo linh mục. Hồng ân ơn gọi linh mục (Ratio fundamentalis institutionis, sacerdotalis) (8/12/2016), Hà Nội: Nhà xuất bản Tôn Giáo, 2017, Dẫn nhập số 3. Trong bài này xin được viết tắt là Ratio 2016.
[7] x. Ratio 2016, số 61.
[8] x. Sứ điệp Ơn gọi 2026, đoạn 2.
[9] Công đồng Vaticanô II, Sắc lệnh về chức vụ và đời sống linh mục, số 2, 1965.
[10] x. Sứ điệp Ơn gọi 2026, đoạn 2.
[11] ứ điệp Ơn gọi 2026, đoạn 6.
[12] Sứ điệp Ơn gọi 2026, đoạn 12.
[13] Sứ điệp Ơn gọi 2026, đoạn 13.
[14] Sứ điệp Ơn gọi 2026, đoạn 4.
[15] Sứ điệp Ơn gọi 2026, đoạn 10.
[16] Sứ điệp Ơn gọi 2026, đoạn 11.
[17] Sứ điệp Ơn gọi 2026, đoạn 2.
[18] Sứ điệp Ơn gọi 2026, đoạn 11.
[19] Sứ điệp Ơn gọi 2026, đoạn 14.
[20] x. P. Florenskij, Cột trụ và nền tảng của Chân lý, Roma 1974, 140-141), trích trong Sứ điệp Ơn gọi 2026.
[21] x. Sứ điệp Ơn gọi 2026, đoạn 13.
[22] x. Sứ điệp Ơn gọi 2026, đoạn 2-4.
[23] x. Sứ điệp Ơn gọi 2026, đoạn 6-8.
[24] x. Sứ điệp Ơn gọi 2026, đoạn 13.
[25] x. Sứ điệp Ơn gọi 2026, đoạn 10.
2026
LẬP TRƯỜNG VÀ GIÁO HUẤN CỦA GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VỀ VIỆC TÔN TRỌNG SỰ SỐNG VÀ QUYỀN ĐƯỢC SỐNG CỦA CON NGƯỜI, PHẦN 5 – VẬT NGỮ THUYẾT LUÂN LÝ
LẬP TRƯỜNG VÀ GIÁO HUẤN CỦA GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VỀ VIỆC TÔN TRỌNG SỰ SỐNG VÀ QUYỀN ĐƯỢC SỐNG CỦA CON NGƯỜI, PHẦN 5 – VẬT NGỮ THUYẾT LUÂN LÝ
| I. ĐỊNH GIÁ HÀNH VI LUÂN LÝ |
VẬT NGỮ THUYẾT LUÂN LÝ[1]
Hiện nay, đang có một sự bất bình, ngày càng lớn trong số các nhà luân lý Kitô giáo (cả Công giáo lẫn Tin lành) đối với sự phân biệt – được công bố chính thức – giữa phá thai trực tiếp và phá thai gián tiếp.[2] Tôi nghĩ, có lẽ được xem như là chính đáng khi nói rằng, sự không hài lòng đó phát sinh từ sự kiện ở cách thức phân biệt và quan điểm về thế giới mà chúng ta đang sống (vũ trụ quan), được xuất phát từ “vật ngữ thuyết”.[3] Chúng ta đã thấy quan điểm về luật tự nhiên, là quan điểm chỉ đạo trong các phân tích và mô tả của Giáo hội Công giáo về việc sát hại trực tiếp và phá thai trực tiếp, song vẫn cần phải chú tâm, giải thích và lượng giá rõ ràng hơn. Nói cách đơn giản nhất, một số thần học gia ngày nay cảm thấy không hài lòng với sự phân biệt giữa phá thai trực tiếp và phá thai gián tiếp, bởi vì sự khác biệt được tạo ra chỉ dựa trên hoặc được ưu tiên nhấn mạnh trên cấu trúc thể lý của một vài hành vi, “và không để ý đủ đến tầm quan trọng của các mối tương quan phức tạp và đa dạng được bao hàm trong hành động của con người”.[4]
I. ĐỊNH GIÁ HÀNH VI LUÂN LÝ
Điều các học giả theo “vật ngữ thuyết” lấy làm nền tảng chính là đồng hóa hành vi nhân linh,[5] và do đó, hành vi luân lý,[6] với cấu trúc thể lý của chính hành vi. Nói cách khác, “Vật ngữ thuyết” chủ trương rằng: khi cân nhắc hoặc lượng giá tính cách luân lý của một hành vi, chúng ta chỉ cần để ý đến cấu trúc thể lý của hành vi đó, mà không cần bận tâm lưu ý đến những hoàn cảnh xung quang hoặc nguyên nhân hay động lực gây nên hành động. Các người phê bình quan điểm này đã nhanh chóng lưu ý rằng: đó thường không phải là cách tiếp cận được chấp nhận, ngay cả bởi các nhà thần học truyền thống của Giáo hội. Như Charles Curran nhắc nhở chúng ta: “Trong hầu hết các trường hợp, thần học luân lý luôn luôn phân biệt cấu trúc thể lý và tính luân lý của hành vi.”
Sát nhân: (hành vi luân lý), khác với giết người: (hành vi thể lý)[7]. Nói một cách khác, hành động sát nhân/ ám sát thì khác với việc tội nhân bị tử hình. Tương tự như thế, hành động thể lý lấy của cải người khác không luôn luôn bao hàm một hành vi luân lý là ăn trộm.[8] Vì chính phủ hoặc các cơ quan hành pháp có quyền tịch thu tài sản của những kẻ phạm trọng tội.
Theo cách đó, thần học luân lý truyền thống không gặp phải khó khăn gì khi đồng ý với lập trường của Cornelius J. van de Poel, cũng một hành động chất thể [9] là bắn chết một người, nhưng đó có thể là hành động đúng và hợp pháp (trường hợp án tử hình, vì tự vệ, hay việc bắn giết lẫn nhau ngoài mặt trận chẳng hạn), nhưng ngược lai, nó cũng có thể là hành động bị cấm đoán và được coi là vô luân khi cố tình ám sát một người nào đó. Cùng một hành động thể lý (là bắn) và cùng một kết quả, (đối tượng bị tử vong) nhưng đó là ba hành vi nhân linh khác nhau.[10]Và do đó, chúng ta có thể thêm, có ba hành vi luân lý khác nhau. Ý hướng hay chủ đích phía sau hành động bắn chết một người, không thể được xác định chính xác, nếu tách rời nó khỏi việc xem xét đến hoàn cảnh của chính hành vi, tỷ dụ như bắn chết người vì tự vệ hay là cố sát. Hơn nữa, chỉ khi chúng ta biết ý hướng và mục đích của hành động đang xét trong hoàn cảnh riêng biệt và đầy đủ của nó, chúng ta mới có thể lượng giá đích đáng hành động đó về mặt luân lý được. Chúng ta không thể đơn giản cân nhắc một hành vi luân lý, trước khi biết ý nghĩa nhân linh của hành vi đó là gì. Chủ đích, mục tiêu hoặc ý hướng của hành động không bao giờ được coi như là một phương tiện nhằm để biện minh cho hành vi (tỷ dụ hành động ăn cướp ngân hàng không thể được biện minh bằng ý hướng hay mục đích tốt là muốn làm việc bác ái giúp đỡ cho người nghèo). Vì theo nguyên tắc luân lý: “Ta không thể dùng một phương tiện xấu để biện minh cho một hiệu quả tốt.” Nhưng cũng cần phải nhấn mạnh rằng: Chủ đích, mục tiêu hoặc ý hướng, đồng thời, cũng làm sáng tỏ và định rõ ý nghĩa của hành vi con người; thêm vào đó, chủ đích, mục tiêu và ý hướng, nếu bị cô lập và tách rời ra khỏi bối cảnh của hành động thì sẽ không thể biểu lộ một cách rõ ràng.
Ta hãy đơn cử một tỷ dụ để làm sáng tỏ vấn đề, ví dụ như việc lạc quyên cứu trợ chẳng hạn. Cùng một hành động chất thể như nhau (phát tiền cứu trợ bão lụt), nhưng điều này được thực hiện với hai ý hướng và mục đích khác nhau, do đó dẫn đến hai hành vi luân lý khác nhau.
– Người thứ nhất làm với ý hướng tốt và ngay lành, là giúp đỡ đồng bào gặp nạn thiên tai và mục đích là cứu đói;
– Người thứ hai làm với ý hướng vụ lợi và mục đích là được dân chúng bỏ phiếu cho kỳ bầu cử sắp tới.
Cho nên, hành động được thực hiện như là phuơng tiện để đạt tới một mục đích, hành động đó dự phần trong ý nghĩa nhân linh, và do đó trong tính đúng đắn, hoặc tính không đúng đắn luân lý của chính mục đích. Tuy vậy, tất cả những điều nêu trên không có ngụ ý rằng: bất cứ lý do nào cũng được coi là lý do tương xứng và được chấp nhận như là phương tiện xứng hợp được sử dụng để đạt tới mục tiêu.[11]
Vì thế, chúng ta không nên định giá một hành vi về mặt luân lý chỉ đơn giản trên nền tảng cấu trúc thể lý của hành vi đó. Chúng ta cần nhấn mạnh rằng: có khi hành động bắn chết người là một tội sát nhân, xấu xa về mặt luân lý (khi hành động ấy xảy ra chỉ vì lý do giết mướn hay báo thù), nhưng cũng có khi việc bắn chết đó không bao hàm một điều xấu về luân lý mà là điều xấu tiền luân lý hay thể lý,[12] tỷ như giết một mạng người, vì một lý do đầy đủ hay cân xứng (sự tự vệ hay công bình xã hội).
Nếu một hành vi như hành vi bắn chết người mà cũng còn được chấp nhận cho vào nhóm các hành vi có thể định giá về luân lý, thì lẽ đương nhiên, ta có thể đặt vấn đề tại sao lại không thể chấp nhận cho hành vi phá thai trực tiếp, là có thể được phép thực hiện, xét về mặt hành động thể lý.
Trong thực tế, hành vi phá thai trực tiếp, đôi khi có thể bao hàm một điều xấu luân lý là tội sát nhân, nhưng nhiều khi, nó không bao hàm điều xấu đó, dù là xét về cả mặt chất thể hay trong phạm vi cấu trúc thể lý, mặc dầu hành vi đó là một hành vi trực tiếp tước đoạt mạng sống của kẻ khác. Nói cách khác, nếu chúng ta chấp nhận một hành vi bắn chết người là một hành vi xấu luân lý, và đôi khi còn được phép thực hiện, tỷ dụ như để tự vệ, thì tại sao chúng ta không thể chấp nhận, hay cho phép việc phá thai trực tiếp, nếu điều đó xét ra có lý do chính đáng và tương xứng, như lý do đã được áp dụng trong việc giết một mạng người khi tự vệ, hay ngay cả trong khi có một sự xung đột về sự sống.
Nói tóm lại, như một số nhà luân lý đã phát biểu, thật rất dễ cho rằng ý hướng của một người được bao gồm rõ ràng trong hiệu quả trực tiếp của hành động của anh ta. Tương tự như vây, hình như cũng dễ hiểu việc tuyên bố rằng giá trị luân lý hay sự vô luân của một hành vi được đồng hoá, hoặc coi tương đương chỉ với đối tượng trực tiếp của một mình hành vi thể lý mà thôi. Như thế, hành vi bắn chết một người để tự vệ có thể được biện hộ theo hai cách khác nhau: một số nhà luân lý cho rằng việc sát hại đó là gián tiếp, vì ý hướng phía sau hành vi không phải là hủy diệt một mạng người, song đúng hơn là để tự vệ hay để bảo vệ mạng sống của chính bản thân hoặc của người khác; một số nhà luân lý khác lại có ý dạy rằng việc giết người quả thật là trực tiếp và có chủ ý, nhưng dầu vậy, vẫn có thể biện minh vì có lý do cân xứng. Thế thì tại sao lại không thể phân tích việc phá thai theo cách ấy? Thai nhi có thể bị giết như là một đối tượng gián tiếp của một thủ thuật thể lý đang khi cái chết ấy lại là điều có chủ ý, hay không? Cái chết của thai nhi có thể được ước mong trong những trường hợp lý do cân xứng hay không? Có sức thuyết phục hay không, khi cho rằng sự vô tội của thai nhi – xét về mặt luân lý – cấm cho phép làm thế khi mà trong thực tế, truyền thống luân lý của chúng ta, như sẽ thấy, dạy rằng ngay cả kẻ xâm lược bất chính cũng có thể bị giết chết khi cần, vì lý do tự vệ.
Cần nói rằng lý do luân lý căn bản cho phép được tự vệ chống lại ngay cả một kẻ xâm lược, lý do ấy là: dù chúng ta không qui trách nhiệm cho anh ta được, nhưng một kẻ như thế có thể làm những hành động sai lầm khách quan, những hành động ấy cần bị ngăn chặn. Tuy nhiên, trong trường hợp một căn bệnh đe dọa mạng sống của người phụ nữ, Giáo hội dạy rằng thai nhi tự thân không làm gì nên tội, rằng không có ai vô tội hơn thai nhi, rằng người ta không thể làm bất cứ điều gì tốt hơn điều thai nhi làm: đó là làm một thai nhi! Và do đó, khác với trường hợp trên.
Nhưng các nhà thần học như Charles Currran và Paul Ramsey lại nhìn vấn đề cách khác. Họ tin rằng tự bản chất, thai nhi không tạo ra bất cứ nguy hiểm nào đe dọa mạng sống của người phụ nữ đang mang nó. Tuy vậy, khi người mẹ đương đầu với một nguy hiểm như thế, thai nhi lại có hình thức của một kẻ xâm lược bất chính.
Ngày nay, nhiều nhà luân lý ủng hộ quan điểm cho rằng những xác định hay định giá về luân lý không nên chỉ dựa trên một hành động thể lý cụ thể. Nói theo Van de Poel, “cấu trúc thể lý của hành động chỉ là sự đánh giá tiền luân lý, và chính nó không xác định luân lý tính”. Thí dụ mà cả Van de Poel lẫn Curran đều dùng để minh họa cho quan điểm đó, tập trung trên vấn nạn về tính luân lý của việc cấy ghép một bộ phận của thân thể khi người hiến tặng còn sống. Một số nhà luân lý đã bác bỏ ngay từ đầu tính luân lý của tiến trình đó, vì chúng bao hàm việc cắt mổ trực tiếp, tức là các cơ quan còn khỏe mạnh bị lấy cách trực tiếp và có chủ ý ra khỏi cơ thể đang còn sống. Việc cắt mổ như thế luôn bị coi là vô luân, vì theo cái gọi là nguyên lý toàn vẹn hay còn gọi là nguyên lý toàn thể (the principle of totality), chỉ những tiến trình mổ xẻ đã được chuẩn nhận mới là cần thiết cho sức khỏe thể lý của bệnh nhân.
Tuy nhiên, cũng đã có một thời, việc cấy ghép các bộ phận được chuẩn nhận về mặt luân lý nhờ việc kết hợp nhiều cơ sở hợp lý. Đằng khác, chính nguyên lý toàn thể cũng được nới rộng, trong bối cảnh đó, đến độ không chỉ nhắm đến sức khỏe thể lý của con người, mà còn bao gồm cả những ích lợi nhân sinh và tinh thần, theo đó, người hiến tặng một phần thân thể khi còn sống, có thể được đánh giá cao, hay được hưởng nhiều lợi ích thiết thân nhờ việc hiến tặng một bộ phận thân thể của mình. Lại nữa, tiến trình thay thế bộ phận đó được chấp thuận trong sự nhìn nhận nhu cầu tuyệt vọng của người khác và lời mời gọi ứng đáp nhu cầu đó hoàn toàn chỉ vì tình yêu. Tuy thế, không thể phủ nhận được rằng việc cắt bớt một bộ phận khỏe mạnh của cơ thể con người, tự nó bao hàm cái gọi là sự mổ cách trực tiếp, và hậu quả trực tiếp duy nhất của hành động thể lý đó là sự tổn thương thân thể con người. Sự kiện đó không thay đổi, cho dù bộ phận lành mạnh vừa được cắt rời đó được trao tặng cho một người đang có nhu cầu khẩn thiết. Vì vậy, “cấu trúc thể lý của hành động cắt bộ phận con người không thể là điều xác định chung cuộc về giá trị luân lý. Hành động thể lý cắt bộ phận cơ thể con người là một phần của toàn thể hành động cấy ghép bộ phận của con người”.
Vậy, nếu những hành động thể lý của việc cắt một bộ phận con người trong ngành y, rồi hành động thể lý của việc bắn chết một người, hay việc chiếm đoạt hay tịch thu tài sản của người khác, tất cả đều không thể định giá về luân lý trước khi thấy rõ ý nghĩa nhân linh của những hành vi đó, thì tại sao lại không được có cùng một lập luận như thế khi phân tích về những hành vi luân lý trong việc phá thai trực tiếp?
II. NGUYÊN LÝ TƯƠNG XỨNG VÀ NHỮNG YẾU TỐ SÂU XA HƠN NỮA
Trong lãnh vực thần học luân lý, “Vật ngữ thuyết” được phản ánh trong sự phân biệt truyền thống giữa việc phá thai trực tiếp và việc phá thai gián tiếp. Sự không hài lòng đối với thuyết đó đã khiến một số thần học gia Kitô giáo đi đến kết luận rằng: sự phân biệt đó có thể sẽ không còn là yếu tố duy nhất giúp quyết định việc phá thai nào là được phép và việc phá thai nào là không được phép xét về mặt luân lý. Thay vào đó, những lượng giá luân lý như thế sẽ được qui chiếu vào cái gọi là “Thuyết tỉ hiệu” (Proportionalism). Nói cách khác, chúng ta tự hỏi: liệu có lý do nào cân xứng để công nhận việc phá thai, cho dẫu đó là phá thai trực tiếp về mặt thể lý, hay không? Nếu việc phá thai được chấp thuận trong một số hoàn cảnh nào đó, cụ thể là những hoàn cảnh tạo nên những lý do cân xứng và đầy đủ cho việc phá thai, thì chính hành động phá thai vẫn bị coi là sự xấu tiền luân lý (pre-moral evil) hay sự xấu thể lý (physical evil), (đó là việc sát hại mạng sống con người), nhưng nó lại không bị coi là sự xấu luân lý (moral evil), tức là hành động sát nhân (giết người có chủ ý, không thể biện hộ được).
Nhìn chung về vấn đề này thì các nhà luân lý: như Richard McCormick, S.J và Charles Curran biện luận là mạng sống con người sẽ chỉ bị tước đoạt trong trường hợp việc tước đoạt đó, gây nên điều ít tệ hại hơn, trong hai điều tồi tệ phải lựa chọn, sau khi đã xem xét mọi khía cạnh của sự việc.[13] Mc Cormick ghi nhận rằng: trong thực tế, tất cả các trường hợp truyền thống cho là ngoại lệ (ví dụ: tự vệ, chiến tranh chính nghĩa, án tử hình, sát hại gián tiếp) của luật cấm giết người, nói chung đều là những hình thức hóa và cụ thể hóa điều, tùy trường hợp, dựa trên nguyên tắc giữa hai sự dữ (xấu), ta cần chọn sự dữ ít hơn.[14]
Ngày nay, để việc tước đoạt mạng sống con người được chấp nhận là việc ít xấu hơn, mạng sống đó, tự thân, phải bị coi là mối nguy hiểm đe dọa mạng sống của người khác hoặc một giá trị khác có thể sánh với mạng sống con người, và vì vậy, có sự tương xứng về mặt luân lý với sự sống.
Khi nào phá thai có thể được coi là chính đáng trong một trạng huống xung đột, tức là trong trường hợp của mạng sống thai nhi xung đột với một hay nhiều giá trị khác? Khi thảo luận về vấn đề này, Curran đã đi ngược lại với giáo huấn truyền thống của thần học luân lý. Theo giáo huấn đó, được chấp thuận việc sát hại một kẻ xâm lăng bất chính với tính cách là một giải pháp cuối cùng để bảo vệ mạng sống một người nào đó, để bảo toàn thân thể, hay để bảo vệ một giá trị tinh thần vốn cao quý hơn cả mạng sống hay sự toàn vẹn thân thể, như bảo vệ lý trí khỏi bị hủy hoại hay bảo vệ danh dự trong những vấn đề rất quan trọng. Việc giết người như thế cũng có thể được biện minh trong trường hợp để bảo vệ những của cải vật chất có giá trị cao, ví dụ người ta được phép giết kẻ đang phá hủy nguồn kinh tế duy nhất của họ. Trong khi Curran thừa nhận rằng truyền thống luân lý của chúng ta có thể đã quá rộng rãi khi coi các giá trị đó có thể sánh với sự sống, và do đó, tương xứng về mặt luân lý với sự sống, thì ông đưa ra kết luận của mình về phá thai như sau: chắc chắn rằng việc phá thai có thể được coi là chính đáng để bảo vệ mạng sống của người mẹ hoặc để tránh hiểm họa trầm trọng về tâm lý hay thể lý cho người mẹ, với điều kiện nhận rõ hiểm họa thực sự trầm trọng đó sẽ kéo dài trong một thời gian dài, chứ không phải chỉ là một sự suy sụp nhất thời. Ngoài ra, Curran tin rằng trong tình trạng cực đoan, tất nhiên cũng hiếm thôi, thì những giá trị kinh tế-xã hội tự nhiên cũng có thể biện minh cho việc phá thai.[15]
Có những nguy hiểm và khó khăn không thể phủ nhận được trong việc thẩm định giá trị luân lý của việc phá thai dựa trên việc sử dụng nguyên lý tương xứng, cũng như trong việc xác định đâu là các giá trị quả thật có tương xứng về mặt luân lý so với mạng sống con người. Chủ nghĩa chủ quan (Subjectivism), lý sự cá nhân, Chủ nghĩa tương đối (Relativism) về văn hóa và các thành kiến xã hội đều có thể len lỏi vào tiến trình định giá luân lý; từ đó, các giá trị khác sẽ được ca ngợi nhiều, đến nỗi giá trị của mạng sống con người còn trong bào thai bị đánh giá thấp. Hậu quả là quyền được sống của thai nhi thực tế đã bị ngầm phá hủy và khước từ cách phi lý. Tuy nhiên, khi nhận rằng có những nguy hiểm trong việc sử dụng cách tiếp cận theo nguyên lý tương xứng, điều đó không có nghĩa là cách tiếp cận này phải bị coi là khiếm khuyết cố hữu. Nhưng những mối nguy hiểm đó chắc hẳn cũng nhắc ta phải thận trọng, khôn ngoan, lương thiện và suy nghĩ chín chắn khi cố gắng giải quyết cuộc xung đột giữa các giá trị, đặc biệt khi một trong các giá trị đó lại là mạng sống của một con người đang chỉ mới ở trong một tình trạng không thể nói và hành động nhân danh chính mình.
Theo cái nhìn của Curran, thì việc cho phép phá thai trong trường hợp ngoại trừ khi có lý do chính đáng và đủ, thì có thể được coi là thoáng hơn đối với luật cấm phá thai nói chung. Người ta thắc mắc rằng nếu danh sách các trường hợp mà Curran dự đoán có khả năng coi việc phá thai là hành vi hợp luân lý bị rút ngắn lại, thì liệu ông có còn nhấn mạnh sự kiện là – trong truyền thống Kitô giáo chúng ta – mạng sống con người không thể bị tước đoạt một cách dễ dàng, và khi không cần thiết, nhưng chỉ trong trường hợp, nêú đó là giải pháp cuối cùng. Trong khi người ta có thể đồng ý rằng sự phân biệt giữa phá thai trực tiếp và phá thai gián tiếp không phải là cách thức thích đáng cho tiến trình thiết lập những quyết định về tính cách luân lý của việc phá thai, thì Curran vẫn cho rằng việc sử dụng lý lẽ tương xứng (dựa vào học thuyết tỉ hiệu) sẽ bị giới hạn hoặc hạn chế hơn nhiều. Vì thế, trong nỗ lực nhằm giới thiệu thêm những phương thức hầu có thể có những quyết định thận trọng, lương thiện, khôn ngoan và chân thành về vấn đề phá thai, nguyên tắc lý lẽ tương xứng, có thể nên được khéo lồng vào khung cảnh những chuẩn mực thường được mô tả trong nỗ lực xác định tính chính đáng của giải pháp chiến tranh. Có lẽ quả là cực đoan khi gắn hành động chiến tranh với việc phá thai, song cả hai, cuối cùng đều kéo theo những hành vi bạo lực. Trong việc phá thai, cũng như trong chiến tranh, người ta bị bạo hành, và điều quan trọng là việc phá thai cũng như chiến tranh không được diễn ra cách tùy tiện, bừa bãi và vô lý.
Trải qua nhiều thế kỷ, các nhà thần học luân lý đã đề nghị rằng: bởi vì theo qui luật, chiến tranh và bạo lực luôn tất thiết gắn liền nhau, nên để có thể được coi là một cuộc chiến có chính nghĩa (A Just War Theory), thì mỗi tiêu chuẩn sau đây đều phải được xác định:
1. Chiến tranh phải được tuyên bố bởi một thẩm quyền hợp pháp;
2. Vì một nguyên do chính đáng (ví dụ bảo vệ tổ quốc);
3. Với một ý hướng ngay chính (ví dụ để bảo vệ nhân quyền, chứ không vì tham vọng, hận thù hay để báo oán);
4. Được coi là biện pháp sau cùng;
5. Với xác suất thắng lợi hợp lý;
Và chỉ sau khi đã đánh giá rằng, sự xấu xa do chiến tranh gây ra thì chắc chắn sẽ ít hơn, so với điều thiện ích mà người ta hy vọng đạt được nhờ cuộc chiến đó. Nói cách khác, nhờ vào cuộc chiến chính nghĩa đó mà dân tộc họ đã thoát khỏi ách nô lệ ngoại xâm và được hưởng tự do, độc lập, hạnh phúc.
Tôi không có ý áp dụng rộng rãi các tiêu chuẩn đó vào lãnh vực phá thai. Dẫu vậy, cần nêu lên một số chi tiết có thể làm sáng tỏ đôi chút cho vấn đề phức tạp này. Thêm vào đó, các tiêu chuẩn ở mục số hai và mục số năm tiêu biểu cho vấn đề nguyên tắc tỉ hiệu(Proportionalism):[16] liệu có lý do hoặc nguyên nhân đầy đủ để có thể biện minh cho hành động bạo lực trong việc sát hại thai nhi hay không? Nói cách khác, nếu có thì khi nào việc sát hại thai nhi được coi là sự ít xấu hơn, một sự xấu thể lý, hay tiền luân lý?
Lm. Trần Mạnh Hùng, STD.
Giáo sư thần học luân lý tại Đại học Công giáo Notre Dame Australia
The University of Notre Dame Australia.
Tác giả giữ bản quyền©2026
[1] Bài viết Vật ngữ thuyết luân lý là một phần trong loạt bài thảo luận về đề tài Vấn đề phá thai, đã được đăng trên trang web của HĐGMVN vàongày 27 tháng 02 năm 2026. Xem Lm. Phêrô Trần Mạnh Hùng, “Lập trường và giáo huấn của Giáo hội Công giáo về việc tôn trọng sự sống và quyền được sống của con người, Phần 3 – Vấn Đề Phá Thai.” Đăng ngày 27/02/2026https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/lap-truong-va-giao-huan-cua-giao-hoi-cong-giao-ve-viec-ton-trong-su-song-va-quyen-duoc-song-cua-con-nguoi-phan-3–van-de-pha-thai
[2]Xem Linh mục Phêrô Trần Mạnh Hùng, Phá Thai Trực Tiếp và Gián Tiếp – Phần 4 đã được đăng trên trang web của HĐGMVN vào ngày 15/03/2026. https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/pha-thai-truc-tiep-va-pha-thai-gian-tiep
[3] Vật ngữ thuyết (Physicalism): thuyết về qui luật tự nhiên, về đặc điểm tự nhiên của thế giới vật chất.
[4] Xem Bernard Hring, C.Ss.R., Medical Ethics, Third Revised Edition (United Kingdom: St. Paul Publication, 1991).
[5] Human act.
[6] Moral act.
[7] The moral act of murder differs from the physical act of killing.
[8] Charles E. Curran, Themes in Fundamental Moral Theology. (Notre Dame: University of Notre Dame Press, 1977), trang 43.
[9] Material act or Physical act: hành động chất thể hay hành vi thể lý. Cả hai từ này giống nhau.
[10] 1) Bắn chết một tội nhân có án tử hình, 2) Bắn chết người khác vì khả năng tự vệ, 3) bắt chết người khác vì cố sát. Xem Cornelius J. van de Poel, “The Principle of Double Effect,” trong Charles E. Curran, ed. Absolutes in Moral Theology? pp. 204 – 205.
[11] The Proportionalists also would agree that an action that is morally wrong cannot be changed into a good action by good intentions or the good results that may follow. Similarly, all would agree that an act that is morally wrong may not be done, even as a means to a good end. See Brian V. Johnstone, C.Ss.R., “The Encyclical Veritatis Splendor,” in The Ecumenical Review, 48(1996): 171.
[12] Pre-moral evil hoặc còn gọi là Physical evil, là sự xấu tiền luân lý hay sự xấuthể lý.
[13] Xem Nguyên tắc “chọn điều xấu ít hơn” (the principle of the lesser of two evils) là một nguyên tắc luân lý cho rằng: Khi con người buộc phải chọn giữa hai điều xấu không thể tránh, thì nên chọn điều gây thiệt hại ít hơn. Hiểu ngắn gọn
– Không phải là “làm điều xấu là tốt” ❌
– Nhưng là: trong hoàn cảnh không thể tránh khỏi điều xấu, ta chọn phương án ít gây hại hơn ✔️
Một vài ví dụ
1. Trong y khoa
Một bệnh nhân cần phẫu thuật cắt bỏ một bộ phận cơ thể để cứu mạng
→ Việc mất một phần cơ thể là điều xấu, nhưng tốt hơn là mất mạng.
2. Trong đạo đức xã hội
Chính phủ áp dụng một biện pháp hạn chế tự do (ví dụ: phong tỏa) để ngăn dịch bệnh lan rộng
→ Hạn chế tự do là điều xấu, nhưng ít nghiêm trọng hơn việc nhiều người tử vong.
3. Ví dụ cổ điển trong luân lý Kitô giáo
Khi không thể cứu tất cả mọi người trong một tai nạn, người ta ưu tiên cứu những người có khả năng sống sót cao hơn
→ Đây là lựa chọn đau đớn nhưng là giảm thiểu thiệt hại tổng thể.
* Lưu ý quan trọng
– Nguyên tắc này không cho phép cố ý làm điều xấu nếu có lựa chọn tốt hoàn toàn.
– Nó chỉ áp dụng khi:
1/ Không có lựa chọn hoàn toàn tốt
2/ Mọi lựa chọn đều có yếu tố xấu
3/ Ta buộc phải chọn
[14] Richard A. McCormick, S.J., “Notes on Moral Theology: Abortion Dossier,” Theological Studies, 35 (1974): 354.
[15] Charles E. Curran, Politics, Medicine, and Christian Ethics. (Philadelphia: Fortress Press, 1973), p. 131.
[16] Xem Bernard Hoose, “Proprotionalism: A Right Relationship Among Values.” Louvain Studies 24 (1999): 40-56; cũng như bài viết của thần học gia luân lý người Mỹ, Dòng Tên – James F. Keenan, S.J., “The Function of the Principle of Double Effect.” Theological Studies 54 (1993): 294-315.
