Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Tác giả: Anmai

Home / Anmai
10Tháng Chín
2020

Tiếp kiến chung 09-09-2020: Đối phó với đại dịch bằng tình yêu không giới hạn

10/09/2020
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Tiếp kiến chung 09-09-2020: Đối phó với đại dịch bằng tình yêu không giới hạn

    Đức Thánh Cha tiếp kiến chung
    (09-09-2020)
    Đối phó với đại dịch bằng tình yêu không giới hạn và vì công ích

    Hồng Thủy

    Vì virus corona không biết đến rào cản, biên giới hay sự khác biệt về văn hóa và chính trị, Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu cũng không dựng nên rào cản, biên giới hay sự phân biệt cho tình yêu khi hành động vì công ích để giải quyết những vấn đề trầm trọng do đại dịch gây ra.

    Buổi tiếp kiến chung của Đức Thánh Cha Phanxicô vào sáng thứ Tư ngày 9 tháng 9 là buổi tiếp kiến thứ hai có sự tham dự của giáo dân kể từ khi đại dịch Covid-19 bùng nổ tại Ý, và được tổ chức tại sân Damaso của Vatican.

    Trong bài giáo lý, Đức Thánh Cha nói về đề tài “Tình yêu và công ích”. Ngài nhắc rằng học thuyết xã hội của Giáo hội dạy rằng công ích phải là mục tiêu của mọi nỗ lực cá nhân và tập thể để chữa lành thế giới bị thương tích. Sự dấn thân của các Ki-tô hữu chúng ta trong khía cạnh này được truyền cảm hứng bởi tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa; tình yêu này kêu gọi chúng ta không đặt giới hạn cho tình yêu của chúng ta đối với người khác và cho mối quan tâm của chúng ta đối với phúc lợi của họ.

    Chỉ có thể tốt hơn sau đại dịch nếu cùng tìm công ích

    Mở đầu bài giáo lý, Đức Thánh Cha nhắc rằng cuộc khủng hoảng mà chúng ta đang trải qua do đại dịch ảnh hưởng đến tất cả mọi người; chúng ta có thể trở nên tốt hơn sau khi thoát khỏi đại dịch nếu chúng ta cùng nhau tìm kiếm công ích. Thật không may, chúng ta đang đang chứng kiến ​​sự xuất hiện của các lợi ích đảng phái. Ví dụ, có những người muốn chiếm hữu các giải pháp khả thi, như trong trường hợp các vắc xin và rồi bán cho người khác. Một số lợi dụng tình hình để gây chia rẽ: để tìm kiếm lợi thế kinh tế hoặc chính trị, làm phát sinh hoặc gia tăng xung đột. Những người khác đơn giản là không quan tâm đến đau khổ của người khác, họ đi ngang qua và đi con đường của họ (x. Lc 10,30-32). Họ là các đệ tử của quan Ponzio Philato, rửa tay phủi trách nhiệm của mình.

    Cách đáp trả của Ki-tô giáo với đại dịch là tình yêu không giới hạn

    Đức Thánh Cha nhấn mạnh: Câu trả lời của Kitô giáo đối với đại dịch và những khủng hoảng kinh tế xã hội, hậu quả của đại dịch, được dựa trên tình yêu, trên hết là tình yêu của Thiên Chúa, Đấng luôn đi trước chúng ta (x. 1Ga 4,19). Người yêu thương chúng ta trước, Người luôn đi bước trước trong tình yêu và trong các giải pháp. Người yêu chúng ta cách vô điều kiện, và khi chúng ta đón nhận tình yêu này của Thiên Chúa, thì chúng ta cũng có thể đáp lại theo cách tương tự. Tôi không chỉ yêu những người yêu tôi như gia đình, bạn bè, nhóm của tôi, mà cả những người không yêu tôi, những người không biết tôi, hoặc những người ngoại quốc, và cả những người làm cho tôi đau khổ hoặc những người tôi xem là kẻ thù (x. Mt 5,44). Đây là sự khôn ngoan Ki-tô giáo, đây là thái độ của Chúa Giê-su. Và điểm cao nhất của sự thánh thiện là yêu kẻ thù và điều này không dễ dàng. Tất nhiên, yêu thương tất cả mọi người, kể cả kẻ thù, thì rất khó – tôi phải nói rằng đó là một nghệ thuật! Nhưng đó là một nghệ thuật mà người ta có thể học hỏi và cải thiện. Tình yêu đích thực, điều giúp chúng ta trở nên phong phú và tự do, luôn luôn mở rộng và bao gồm. Tình yêu này hàn gắn, chữa lành và tạo nên điều tốt. Rất nhiều lần, một sự nhẹ nhàng thì tạo nên điều tốt hơn là các cuộc tranh luận; một sự dịu dàng tha thứ chứ không phải là những tranh luận để tự vệ. Tình yêu bao gồm thì chữa lành.

    Tình yêu bao gồm, không giới hạn

    Đức Thánh Cha giải thích: Vì vậy, tình yêu không chỉ giới hạn trong các mối quan hệ giữa hai hoặc ba người, hoặc giữa bạn bè, hoặc gia đình. Nó bao gồm các mối quan hệ dân sự và chính trị (x. Giáo lý Giáo hội Công giáo [CCC], 1907-1912), bao gồm cả mối quan hệ với tự nhiên (TĐ. Laudato si’ [LS], 231). Vì chúng ta là những hữu thể xã hội và chính trị, một trong những biểu hiện cao nhất của tình yêu chính là biểu hiện xã hội và chính trị, có tính chất quyết định đối với sự phát triển của con người và để đối mặt với bất kỳ loại khủng hoảng nào (sđd, 231). Chúng ta biết rằng tình yêu thương làm cho gia đình và bạn bè trở nên phong phú, trổ sinh kết quả; nhưng thật tốt khi nhớ rằng nó cũng làm cho các mối quan hệ xã hội, văn hóa, kinh tế và chính trị trổ sinh kết quả, cho phép chúng ta xây dựng một “nền văn minh của tình yêu”, như thánh Phaolô VI[1] đã thích gọi và thánh Gioan Phaolô II cũng nói theo cách thức của ngài. Không có nguồn cảm hứng này, nền văn hóa ích kỷ, vô cảm, loại bỏ sẽ thắng thế; nghĩa là loại bỏ người tôi không thích, người tôi không thể yêu thương và người đối với tôi là vô ích cho xã hội.

    Đức Thánh Cha thuật lại một câu chuyện để minh họa: Hôm nay, khi đi vào, tôi gặp một đôi vợ chồng. Họ nói với chúng tôi: “Xin cầu nguyện cho chúng con bởi vì chúng con có một người con khuyết tật”. Tôi hỏi: “Cháu bao nhiêu tuổi?  Ông bà làm gì?” – Chúng con đồng hành và giúp cháu.” Đức Thánh Cha nhận định: Tất cả cuộc đời của cha mẹ dành cho đứa con khuyết tật đó. Đây là tình yêu. Và những kẻ thù, đối thủ, các nhà chính trị, ngay cả những người trái ngược với ý kiến của chúng ta, họ dường như là những người khuyết tật chính trị, xã hội. Chỉ có Thiên Chúa biết họ đúng như thế hay không. Nhưng chúng ta phải yêu mến họ, phải đối thoại với họ, phải xây dựng nền văn minh tình thương này, nền văn minh chính trị, xã hội, của sự hiệp nhất toàn nhân loại. Ngược lại là các cuộc chiến tranh, chia rẽ, ganh ghét, cả chiến tranh trong gia đình: bởi vì tình yêu bao gồm là xã hội, là gia đình, là chính trị… tình yêu chiến thắng tất cả.

    Công ích

    Đức Thánh Cha nói tiếp: Virus corona cho chúng ta thấy rằng thiện ích thực sự cho mọi người chính là công ích và ngược lại, công ích là điều tốt lành thực sự cho con người (x. CCC, 1905-1906). Nếu một người chỉ tìm ích riêng của mình thì đó là người ích kỷ. Ngược lại, con người cao thượng hơn, khi trao mở ích lợi của mình với tất cả, khi chia sẻ nó. Không chỉ là của cá nhân, sức khỏe cũng là một lợi ích chung. Một xã hội lành mạnh là một xã hội quan tâm đến sức khỏe của mọi người.

    Chữa trị virus không giới hạn bằng tình yêu không biên giới

    Và Đức Thánh Cha lưu ý: Một thứ virus không biết đến rào cản, biên giới hay sự khác biệt về văn hóa và chính trị phải được chữa trị bằng một tình yêu không rào cản, biên giới hay sự phân biệt. Tình yêu thương này có thể tạo ra các cấu trúc xã hội khuyến khích chúng ta chia sẻ hơn là cạnh tranh, cho phép chúng ta bao gồm những người dễ bị tổn thương nhất và không loại bỏ họ, và giúp chúng ta thể hiện điều tốt hơn của bản chất con người của chúng ta chứ không phải điều tồi tệ hơn. Tình yêu thật sự không biết đến văn hóa loại bỏ. Thật vậy, khi chúng ta yêu thích và tạo ra sự sáng tạo, tin tưởng và liên đới, thì các sáng kiến ​​cụ thể vì lợi ích chung sẽ xuất hiện ở đó[2]. Và điều này đúng cả ở cấp độ cộng đồng nhỏ và lớn, và ở cấp độ quốc tế. Điều mà chúng ta làm trong gia đình, làm trong khu xóm, trong làng, trong thành phố lớn và trên mức độ quốc tế và cho chính mình, là chính hạt giống mọc lên và sinh hoa trái. Nếu bạn bắt đầu trong gia đình, trong khu xóm với sự đố kỵ ganh ghét, với tranh chấp thì cuối cùng sẽ có chiến tranh. Ngược lại, nếu bạn bắt đầu với tình yêu thương, bằng chia sẻ tình yêu, tha thứ, thì sẽ có tình yêu và tha thứ cho tất cả.

    Nỗ lực cho công ích là truyền bá vinh quang của Thiên Chúa

    Ngược lại, nếu các giải pháp cho đại dịch mang dấu ấn của sự ích kỷ, dù là của con người, công ty hay quốc gia, có lẽ chúng ta có thể thoát khỏi virus corona, nhưng chắc chắn không thoát khỏi cuộc khủng hoảng xã hội và con người mà virus đã nêu rõ và nhấn mạnh. Vì vậy, hãy cẩn thận đừng xây trên cát (x. Mt 7, 21-27)! Để xây dựng một xã hội lành mạnh, hòa nhập, công bằng và hòa bình, chúng ta phải thực hiện nó trên nền đá của công ích.[3] Công ích là đá tảng. Và đây là công việc của tất cả mọi người, không chỉ một số chuyên gia. Thánh Tôma Aquinô nói rằng việc thăng tiến công ích là bổn phận công lý của mọi công dân. Mỗi công dân có trách nhiệm với công ích. Và đối với các Ki-tô hữu thì đó cũng là một sứ mệnh. Như thánh Inhaxiô thành Loyola dạy, hướng những nỗ lực hàng ngày của chúng ta đến công ích là một cách để tiếp nhận và truyền bá vinh quang của Thiên Chúa.

    Một nền chính trị tốt là có thể và cần phải có: đặt con người và công ích ở trung tâm

    Đức Thánh Cha nhận xét rằng chính trị thường không được tiếng tốt, và chúng ta biết tại sao. Điều này không muốn nói là tất cả các chính trị gia là xấu xa, tôi không muốn nói như thế. Tôi chỉ muốn nói rằng thật không may là chính trị thường không được tiếng tốt. Tại sao? Nhưng chúng ta không được cam chịu với cái nhìn tiêu cực này, mà hãy phản ứng bằng cách chứng minh bằng những sự việc rằng một nền chính trị tốt là có thể và cần phải có[4], một nền chính trị đặt con người và công ích ở trung tâm. Nếu anh chị em đọc lịch sử của nhân loại, anh chị em sẽ thấy có nhiều chính trị gia thánh thiện, họ đã theo con đường này. Đó là điều có thể được tùy theo mức độ mà mỗi công dân và đặc biệt, những có trách vụ xã hội và chính trị, đặt hành động của họ trên căn bản trên các nguyên tắc đạo đức và linh hoạt nó bằng tình yêu chính trị và xã hội. Các Kitô hữu, đặc biệt là các giáo dân, được mời gọi làm chứng tốt cho điều này và có thể làm được điều này nhờ nhân đức bác ái nuôi dưỡng chiều kích xã hội nội tại của nó.

    Mọi người đóng góp cho công ích

    Đức Thánh Cha kết thúc bài giáo lý với lời mời gọi: Vì thế đây là lúc làm tăng trưởng tình yêu thương xã hội của chúng ta, bằng sự đóng góp của mọi người, bắt đầu từ sự nhỏ bé của chúng ta. Công ích đòi hỏi sự tham gia của tất cả mọi người. Nếu tất cả mọi người đều góp sức của mình vào đó, và nếu không ai bị bỏ rơi, chúng ta sẽ có thể tái tạo mối quan hệ tốt đẹp ở cấp cộng đồng, quốc gia, quốc tế và cũng hài hòa với môi trường (x. LS, 236). Vì vậy, trong những cử chỉ của chúng ta, ngay cả những cử chỉ khiêm tốn nhất, làm cho điều gì đó của hình ảnh Thiên Chúa mà chúng ta mang trong mình trở nên hiển hiện, bởi vì Thiên Chúa là Ba Ngôi, Thiên Chúa là Tình Yêu. Đây là định nghĩa đẹp nhất về Thiên Chúa mà trong Kinh Thánh, thánh Gioan Tông đồ, người được Chúa Giê-su yêu thương rất nhiều, đã định nghĩa. Với sự giúp đỡ của Chúa, chúng ta có thể chữa lành thế giới bằng cách cùng nhau làm việc vì công ích, không chỉ vì ích lợi của tôi nhưng vì ích lợi của tất cả.

    [1] Sứ điệp Ngày Thế giới Hòa bình 01/01/1977: AAS 68 (1976), 709.

    [2] X. thánh GIOAN PHAOLÔ II, TĐ. Những mối quan tâm xã hội, 38.

    [3] Sđd, 10.

    [4] X. Sứ điệp Ngày Thế giới Hòa bình 01/01/2019 (08/12/2018).

    Read More
    10Tháng Chín
    2020

       Bang Queensland của Úc buộc linh mục tiết lộ bí mật tòa giải tội

    10/09/2020
    Anmai
    GH Hoàn Vũ, Tin tức
    0

    Ngày 8 tháng 9, cơ quan lập pháp của bang Queensland của Úc đã thông qua dự luật yêu cầu các linh mục vi phạm ấn tín tòa giải tội, phải báo cáo về các vụ lạm dụng tình dục trẻ em mà các ngài đã biết hoặc nghi ngờ. Nếu không làm như vậy sẽ bị phạt ba năm tù.

    Không giúp cho sự an toàn của người trẻ

    Đức Tổng Giám mục Mark Coleridge của Brisbane nói rằng việc đòi buộc báo cáo các vụ lạm dụng như vậy sẽ “không tạo ra sự khác biệt đối với sự an toàn của những người trẻ” và dự luật dựa trên “kiến thức nghèo nàn về cách thức bí tích thực sự có hiệu quả trong thực tế”. Ngài đưa ra những câu hỏi về vấn đề tự do tôn giáo.

    Tòa Thánh khẳng định tính bất khả xâm phạm của ấn tín bí tích giải tội

    Tuần trước, các giám mục Úc đã trao cho chính phủ liên bang những nhận định của Tòa thánh về 12 khuyến nghị của báo cáo năm 2017 về lạm dụng tính dục trẻ em trong các cơ sở giáo dục của nước này. Đáp lại một khuyến nghị liên quan đến ấn tín tòa giải tội và việc ban ơn tha tội, Tòa thánh nhắc lại tính bất khả xâm phạm của ấn tín và nói rằng việc tha tội không thể bị điều kiện bởi các hành động trong tương lai ở bên ngoài tòa giải tội.

    Dự luật gây nguy hiểm cho lòng tin của công chúng 

    Stephen Andrew, nghị sĩ Queensland duy nhất của tổ chức Pauline Hanson’s One Nation, nói rằng “dự luật thực sự gây nguy hiểm cho lòng tin của công chúng và sự gắn kết trong cộng đồng của chúng ta”. Ông đặt câu hỏi: “Người dân Queensland có thể tự tin đến mức nào khi họ đang sống trong một môi trường tự do và nền dân chủ mở được quản lý bởi nhà nước pháp quyền, nơi nhà nước giam giữ các giám mục của mình?”

    Các bang Victoria, Tasmania, Nam Úc và Lãnh thổ Thủ đô Úc cũng đã thông qua luật buộc các linh mục vi phạm ấn tín tòa giải tội, trong khi các bang New South Wales và Tây Úc ủng hộ luật đó.

    Vào tháng 11 năm 2019, các Tổng chưởng lý trong các chính phủ liên bang và tiểu bang của Úc đã đồng ý về các quy tắc báo cáo, theo đó, các linh mục được yêu cầu hoặc vi phạm ấn tín tòa giải tội, hoặc vi phạm các quy tắc bắt buộc báo cáo lạm dụng. Hơn nữa, các linh mục sẽ không thể sử dụng biện pháp bảo vệ thông tin liên lạc đặc quyền trong ấn tín tòa giải tội để tránh đưa ra bằng chứng chống lại bên thứ ba trong các thủ tục tố tụng hình sự hoặc dân sự. (CNA 08/09/2020) Hồng Thủy

    Read More
    10Tháng Chín
    2020

    Khái niệm giáo dục, huấn luyện và đồng hành trong tiến trình đào tạo ơn gọi linh mục và thánh hiến

    10/09/2020
    Anmai
    Chia sẻ, Giáo dục
    0

    Khái niệm giáo dục, huấn luyện và đồng hành

     

    Khái niệm giáo dục, huấn luyện và đồng hành trong tiến trình đào tạo ơn gọi linh mục và thánh hiến

    Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương

    WGPHT – Đào tạo ơn gọi linh mục và thánh hiến là một tiến trình mang tính năng động, tiệm tiến và sư phạm. Tiến trình này phải được thực hiện qua các giai đoạn giáo dục, huấn luyện và đồng hành. Giáo dục, huấn luyện và đồng hành là ba khái niệm nền tảng quan trọng của một tiến trình huấn luyện. Đào tạo phải có giai đoạn giáo dục và giai đoạn huấn luyện kết hợp với sự đồng hành. Để hiểu rõ về tiến trình năng động này, chúng ta tìm hiểu ba khái niệm nền tảng này.

    1. Giáo dục (Education)

    Theo nguyên từ, giáo dục trong tiếng Latinh – educere – có nghĩa là dẫn ra, phân biệt ra, làm cho rõ. Theo nghĩa đó, giáo dục là “đào bới,” “lôi ra,” hoặc đưa ra sự thật con người của mình lên bình diện ý thức, sự thật mà ta ý thức hay không ý thức. Giáo dục là giúp một người nhận biết chính mình, ý thức về sự thật chính mình, khám phá những tiềm năng và nhược điểm, đồng thời giúp người thụ huấn phát huy các tiềm năng con người một cách tối đa và tự thể hiện mình một cách đầy đủ.

    Giáo dục phải đụng chạm tới toàn bộ con người của người thụ huấn. Theo Tông huấn về Đời Sống Thánh Hiến, việc giáo dục “phải quan tâm đến toàn thể con người, tức là mọi khía cạnh trong nhân cách, hành vi và ý hướng của người thụ huấn.”[1]

    Nếu một nền giáo dục chỉ nhấn mạnh hay chỉ tập trung vào việc huấn luyện các kỹ năng và cung cấp kiến thức, hoặc chỉ chú trọng giáo dục phần bên ngoài con người thụ huấn, thì nền giáo dục đó có nguy cơ bị giảm thiểu, thiếu tính toàn vẹn và không mang lại sự biến đổi bên trong con người của người thụ huấn. Công cuộc đào tạo linh mục – tu sỹ không phải là đào tạo các ‘công chức’ hay các ‘chuyên viên’ cho Giáo Hội, mà là đào tạo những “con người của Thiên Chúa và của Giáo Hội.”

    Giáo dục phải là một quá trình giúp người thụ huấn biến đổi toàn bộ con người mình: Từ hành vi, thái độ, tình cảm, động lực thúc đẩy và cả chiều sâu thẳm của lòng họ. Theo tiến trình này, giáo dục là giúp người thụ huấn khám phá và nhận thức một cách chính xác các hành vi, cử chỉ, lời nói, sở thích, tập quán, thói quen, thái độ sống, lối phản ứng trước một hoàn cảnh, trước một sự kiện. Những hành vi và thái độ sống này có phù hợp với các giá trị và lý tưởng tu trì không?

    Không dừng lại ở bên ngoài và hài lòng với những gì thay đổi ở bên ngoài, người thụ huấn phải được giáo dục từ bên trong là chính con tim của mình, nghĩa là họ được giúp đỡ để nhận biết tình cảm và cảm xúc sâu xa bên trong, kể cả những cảm xúc mà mình không ý thức. Giáo dục là giúp họ nhận ra trong họ những tình cảm “hỉ, nộ, ai, cụ, ái, ố, dục” có phù hợp với đời tu không, từ đó giúp họ thay đổi, trưởng thành về tình cảm và cảm xúc của mình.

    Sâu hơn nữa, người thụ huấn cũng phải được giáo dục cả về động lực thúc đẩy. Việc giáo dục không dừng ở chỗ hướng dẫn họ “làm gì” mà còn phải giáo dục họ nhận thức được “tại sao tôi làm,” “động lực nào thúc đẩy tôi hành động?” Từ việc nhận biết các động lực thúc đẩy, người thụ huấn nhận ra những khuynh hướng đang lèo lái đời sống của họ: Khuynh hướng quy ngã, quy xã hội, cá nhân chủ nghĩa, lập dị, thích tiền hay quyền lực, gây hấn, hay quá khích, ấu trĩ hay nhu nhược… và cả sự mơ hồ trong chọn lựa căn bản.

    Việc giáo dục phải quan tâm đến tất cả những yếu tố làm nên “con người thật” của ứng sinh. Theo ngôn ngữ chuyên môn, các nhà tâm lý giáo dục gọi đây là “cái tôi hiện tại – actual self” của ứng sinh. Do đó, việc huấn luyện phải can thiệp trực tiếp vào cái tôi hiện tại của người thụ huấn. Giáo dục là lôi ra ánh sáng những gì không phù hợp, những gì là “ấu trĩ” và thiếu trưởng thành của người thụ huấn.

    Quả thế, đây là một quá trình trở về với chính bản thân, nhận biết mình, khám phá bản thân, chấp nhận chính mình và thay đổi chính mình. Tiến trình này được thực hiện trong khó khăn, dài thăm thẳm, tiệm tiến và rất năng động. Theo nghĩa này, công cuộc đào tạo không phải là một cuộc dạo chơi trong công viên mà là một hành trình đầy gian khó đi về Giêrusalem như hành trình của Đức Giêsu. Và đây là logic mầu nhiệm thập giá xảy ra trong việc huấn luyện: Phải qua đau khổ để tới Phục Sinh vinh quang. Giáo dục phải đi qua kinh nghiệm của ngày Thứ Sáu để tới ngày Chúa Nhật phục sinh. Nếu ai muốn bước vào quá trình siêu việt chính mình và hoàn thiện bản thân, có nghĩa người đó phải chấp nhận bị tổn thương, gột rửa và lột xác con người của mình. Chấp nhận thay đổi cấu trúc con người, động lực, tình cảm, lối suy nghĩ và cách hành động của mình để có thể tới một giai đoạn khác mà ta gọi đó là giai đoạn huấn luyện.

    1. Huấn luyện (Formation)

    Giáo dục mà thôi thì chưa đủ. Cần có huấn luyện. Trong tiếng Latinh động từ formare có một ý nghĩa đặc biệt: “Đưa ra một khuôn mẫu, tạo một hình thức.” Theo đó, việc huấn luyện là đưa ra một gương mẫu rõ ràng mà người thụ huấn được mời gọi phải hướng tới và cưu mang trong lòng. Đó là một thể thức hay một lối sống mới mà họ chưa có, nhưng họ phải đạt tới một cách tiệm tiến và đó cũng là yếu tố làm nên căn tính mới nơi họ. Theo nghĩa này, huấn luyện không chỉ là năng động tự thể hiện (self-realization), mà còn là năng động tự siêu việt (self-transcendence) theo một khuôn mẫu hoặc một lý tưởng. Huấn luyện không chỉ dừng lại ở việc biết mình hay chiêm ngắm bản thân, mà còn phải hướng tới việc khám phá và hình thành cái tôi lý tưởng (ideal self) mới mẻ và đích thật của mình.

    Chính vì thế, trong các tài liệu về đào tạo linh mục và tu sỹ,[2] Giáo Hội chọn mô hình Chúa Con làm khung quy chiếu cho dự phóng huấn luyện. Theo đó, Đức Giêsu Kitô là khuôn mẫu lý tưởng mà người thụ huấn luôn được mời gọi để trở nên đồng hình đồng dạng với Người.[3]

    Nói cách khác, việc huấn luyện là một tiến trình xây dựng nơi người thụ huấn con người mới trong Đức Kitô, hình thành nơi họ cách sống mới, thái độ mới, lối suy nghĩ mới, tâm tình và ước muốn của chính Đức Kitô. Vì thế, việc huấn luyện không được hiểu như là một sự bắt chước bên ngoài, nhưng là sự trở nên giống từ bên trong, là “mặc lấy những tâm tình của Chúa Kitô như Người đã biểu lộ với Chúa Cha.”[4]

    Nếu nói quá trình giáo dục là chết đi con người cũ, thì quá trình huấn luyện là phục sinh con người mới trong Đức Kitô. Nếu trong cuộc đời Đức Giêsu, Mầu Nhiệm Tử Nạn gắn liền với Mầu Nhiệm Phục Sinh, thì trong quá trình huấn luyện đau khổ và vinh quang cũng rất gắn bó với nhau. Phải chấp nhận thay đổi, tự hủy, chết đi thì mới phục sinh con người mới, con người nhân đức và thần khí.

    Việc huấn luyện chỉ có hiệu quả thực sự khi có sự biến đổi nơi ứng sinh. Việc huấn luyện giúp ứng sinh nhận ra căn tính của mình nơi Chúa Kitô. Chân – thiện – mỹ của giá trị dần dần trở thành chân – thiện – mỹ của chủ thể. Tâm tình của Chúa Kitô ngày càng trở nên tâm tình của người thụ huấn. Huấn luyện là để cho Thiên Chúa uốn nắn thái độ, lời nói, ý nghĩ và ước muốn của mình mỗi ngày nên giống Chúa Kitô.

    Chính việc huấn luyện này tác động trên trái tim, để họ say mê Thiên Chúa; tác động trên trí tuệ, để họ có thể chiêm ngắm và tìm kiếm Thiên Chúa và tác động trên ý chí, để họ biết khát khao như Thiên Chúa khao khát.

    III. Đồng hành (accompagnement)

    Từ thời Trung Cổ, hạn từ đồng hành trong tiếng Latinh là cum-panio, có nghĩa là “chung một tấm bánh.” Tự bản chất, đồng hành có nghĩa là chia sẻ. Vì thế, việc đồng hành với người thụ huấn muốn sống đời sống tu trì không chỉ là hướng dẫn họ trong đời sống tâm linh, dạy dỗ, hay thiết lập tương quan một chiều với họ, nhưng là cùng nhau thực hiện hay cử hành và chia sẻ kinh nghiệm đức tin. Đồng hành không chỉ có nghĩa là đi bên cạnh người khác trên một quãng đường nhất định, mà là cùng nhau bước đi trên đường, cùng nhau chia sẻ “của ăn đàng” là đức tin, kinh nghiệm về Thiên Chúa và sự khôn ngoan của Thánh Thần.

    Theo nghĩa đó, toàn thể tiến trình huấn luyện không chỉ là truyền đạt hay chỉ cho biết con đường phải đi, mà là một kinh nghiệm dấn thân và “tuyên xưng” đức tin của nhà huấn luyện với người thụ huấn.

    Lối đồng hành này là hình thức mà Chúa Giêsu đã thực hiện trên đường Emmaus và là hình tượng của mọi việc đồng hành trong đức tin. Chúa Giêsu gặp gỡ, cùng bước đi với họ, trò chuyện với họ, nói cho họ nghe những chuyện xảy ra và giải thích cho họ hiểu các sự kiện dưới ánh sáng Lời Chúa. Rồi sau đó, cùng với họ Người “bẻ bánh,” họ nhận ra Người, lòng họ bừng lên, mắt họ sáng ra và liền quay trở về Giêrusalem để loan báo cho mọi người biết Chúa đã sống lại (Cf. Lc 24, 13-35).

    Người đồng hành không phải là người quyết định ơn gọi của người thụ huấn, cũng không phải là người nắm giữ mọi “bí mật” về tương lai của ứng sinh. Người đồng hành đóng vai trò của Gioan Tẩy Giả, người đưa môn đệ mình tới gặp Chúa, giới thiệu họ với Chúa, rồi từ từ rút vào bóng tối, để “Người lớn lên, còn tôi nhỏ lại” (Ga, 3,30).

    Tuy nhiên, việc đồng hành tiên vàn là phương thức hành động của Chúa Thánh Thần, “vị khách dễ thương của linh hồn,” người bạn đường thần linh của chúng ta và là nhà điêu khắc nội tâm, Đấng uốn nắn khuôn mặt mỗi người theo hình ảnh Chúa Kitô một cách vô cùng sáng tạo.

    Do đó, điều cơ bản là người thụ huấn phải cảm nhận Chúa Thánh Thần như là bạn trung tín của mình, như là Đấng sẽ giúp họ am hiểu toàn vẹn và sự khôn ngoan của trái tim, như một người dẫn đường đăm đăm nhìn về Chúa Giêsu và những kẻ được kêu gọi, để làm cho họ trở thành chứng nhân của Chúa Giêsu.

    Một khi người thụ huấn nhận biết và cảm nghiệm Chúa Thánh Thần như là “bạn đường,” họ sẵn sàng đón nhận những người đồng hành mà không đòi hỏi người đồng hành phải hoàn hảo; họ dễ dàng đón nhận những phương tiện, điều kiện và cả những giới hạn nhân loại của người đồng hành. Hễ ai tin cậy Chúa Thánh Thần thì cũng tin cậy những trung gian của Người. Hễ ai biết phó mình trong tay Chúa Thánh Thần thì không lo sợ khi chia sẻ lịch sử đời mình với người đồng hành trong sự cởi mở, tin tưởng và phó thác.

    Kết luận

    Theo đường hướng mà chúng ta vừa suy nghĩ, nếu giáo dục có nghĩa là đào bới sự thật của chủ thể, huấn luyện là hình thành con người mới của chủ thể, thì đồng hành là quy tụ của chủ thể. Người thụ huấn được mời gọi hướng tất cả cơ cấu nội tâm, con tim, lý trí và ý chí lại với nhau để đáp lại tiếng gọi của Chúa Thánh Thần. Có thể ví quá trình huấn luyện bằng một hình ảnh bình dị hơn của nhà nông làm ruộng, thì giáo dục được ví như là vun xới đất đai, huấn luyện là gieo hạt giống tốt vào lòng đất, còn đồng hành là sự chăm sóc, vun tưới, bón phân cho cây lớn lên, trổ bông và kết trái.

    Tài liệu tham khảo

    1. A. Cencini, I Sentimenti del Figlio. Il cammino formativo nella vocazione presbiterale e consolata, EDH, Bologna 2005.
      2. Pontificia Opera per le Vocazioni Ecclesiastiche, Nuove vocazione per una nuova Europa. Documento finale del Congresso sulle Vocazioni al Sacerdozio e alla vita Consecrata in Europa, Roma 5-10 Maggio 1997.
      3. Giovanni Paolo II, Apostolic Esortazione Apostolica Vita ConsecrataMarch 25, 1996.
      4. Giovanni Paolo II, Apostolic Esortazione Apostolica Pastores dabo vobis, December 25, 1992.

    [1] Vita consecrata, 65
    [2] Vita consecrata, op. cit.
    [3] Pastores dabo vobis, số 3 tt.
    [4] Vita consecrata, op. cit.

    Read More
    10Tháng Chín
    2020

    Tự biết mình

    10/09/2020
    Anmai
    Chưa phân loại
    0

    11.9 Thứ Sáu

    1Cr 9, 16-19. 22b-27; Lc 6, 39-42

    TỰ BIẾT MÌNH

              “Hãy tự biết mình” là lời khuyên có ý nghĩa rất sâu xa từ ngàn xưa của các bậc minh triết. Đức Lão Tử sinh khoảng thế kỷ thứ VI trước CN, từng viết trong Đạo Đức Kinh : ” Tri nhân giả trí; tự tri giả minh.” (Biết người là trí (khôn); biết mình là sáng suốt), nhằm đề cao đức tính tự biết bản thân, thành thật nhận định trung thực phẩm chất của chính con người mình, nên được gọi là “minh”.

              Còn cái biết về kẻ khác là cái tri thức của giác quan hay kinh nghiệm, không cần có bản lãnh sáng suốt vượt trên tư ngã.. Triết gia Hy lạp Socrates (399 – 470 TCN) cũng nổi tiếng với phương ngôn “Hãy tự biết mình” và tự khẳng định rằng : ” Có một điều tôi biết chắc chắn là tôi không biết gì cả”, ý nói cái biết thế giới hiện tượng không phải là cái biết đích thật, tức không phải chân lý. Vậy tự biết mình có nghĩa là:
    Biết bản thể thiêng liêng của mình:
    “Con biết con là ai đó chăng?
    Con ôi, lý đạo ráng tầm phăn;
    Con là không phải tâm phàm xác,
    Con vốn chơn thần Thượng Đế ban.”

              Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy trở về với nội tâm để có thể nhận ra những ý nghĩ, tư tưởng, tình cảm, những đam mê, những ham muốn đang điều khiển con người mình hầu mỗi ngày biết “lấy cái xà ra khỏi mắt mình”, để cảm thông, tha thứ cho nhau và nhất là có thể “thấy rõ và lấy cái rác ra khỏi mắt của anh em” mình.

              Chỉ là thụ tạo mà muốn làm Thượng đế, đó là ảo tưởng muôn đời của con người. Ngay từ đầu lịch sử nhân loại, Ông Bà nguyên tổ của loài người đã trải qua cơn cám dỗ ấy. Ma quỉ nói với Ông Bà: Các ngươi hãy ăn trái cấm, các ngươi sẽ trở thành Thiên Chúa, nghĩa là các ngươi hãy chối bỏ Thiên Chúa và tự tôn mình thành Thiên Chúa để sống mà không cần có Thiên Chúa. Ðó là cơn cám dỗ triền miên của con người: sống không cần Thiên Chúa, loại trừ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống, để tự tạo cho mình một bậc thang giá trị và trở thành thẩm phán tối cao cho mọi hành động của mình cũng như của người khác.

              Có nhận ra mối tương quan đích thực với Thiên Chúa, con người mới thấy được tương quan của mình với tha nhân. Thật thế, chối bỏ và cắt đứt mối tương quan với Thiên Chúa, con người cũng đi đến chỗ chối bỏ tha nhân. Ngược lại, nhận ra Thiên Chúa là Chủ tể, con người cũng sẽ nhận ra thân phận thụ tạo yếu hèn của mình và tình liên đới với tha nhân.

              Thực tế,  ta rất dễ dàng phê phán và nhìn thấy những khuyết điểm của người khác nhưng thật khó nhận ra những lầm lỗi thiếu sót của bản thân. Bởi vì, mang thân phận con người chúng ta rất dễ bị các yếu tố tình cảm chi phối, nên cái nhìn rất dễ lệch lạc. Khi vui ta nhìn mọi cái theo lăng kính màu hồng, khi buồn ta nhìn mọi thứ đều màu xám, khi hứng khởi thì mọi thứ đều màu xanh… Khi nhìn vào chính lòng mình ta lại bị lăng kính cái “tôi” chi phối. Do đó “cái tôi” càng lớn ta càng thấy mình tốt đẹp, trong sáng, hoàn hảo. Càng có địa vị, có uy tín ta càng khó nhìn ra và chấp nhận những lầm lỗi khuyết điểm của  mình.

              Để biết mình cần chúng ta đi sâu vào thinh lặng nội tâm để nhận ra sự hiện diện diện của Thiên Chúa, để lắng nghe sự dạy dỗ của Ngài, để được Ngài soi sáng tâm can hầu nhận ra những tội lỗi, những khuynh hướng xấu đang đè nặng tâm hồn, làm mờ mắt tâm linh, làm ta phải xa cách Thiên Chúa, xa cách tha nhân và xa lạ với chính mình. Biết mình giúp ta nhận ra những ưu điểm để phát huy và những nhược điểm để khắc phục. Biết những giới hạn của mình sẽ giúp ta bao dung, cảm thông trước những giới hạn của người khác, nhìn nhận và tôn trọng những tài năng và khác biệt của tha nhân để giúp nhau thăng tiến, cùng nhau kiến tạo cuộc sống tươi đẹp, tràn ngập yêu thương. Sự biết mình chân thực sẽ giúp ta đủ sáng để nhìn đúng những thiếu sót của tha nhân; giúp ta đủ chân thành, khiêm tốn và yêu thương giúp nhau hoán cải để trở nên hoàn thiện mỗi ngày.

              “Hỡi người, hãy tự biết mình”, đó là khẩu hiệu mà nhà hiền triết Hy Lạp là Socrate thường đề ra như bài học vỡ lòng cho các môn sinh, có lẽ cũng được Chúa Giêsu nhắc lại theo một công thức khác: “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”. “Hãy sám hối” trước tiên là nhận ra thân phận bất toàn của mình, để từ đó sống cảm thông, kiên nhẫn, bao dung và tha thứ đối với người khác. Sống như thế, con người mới đạt được cùng đích của mình là trở nên giống Thiên Chúa, chứ không phải trở thành Thiên Chúa để gạt bỏ chính Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống.

              Tin Mừng hôm nay không chỉ là một bài học có tính cách luân lý. Chúa Giêsu không chỉ khuyên chúng ta không nên xét đoán người khác, Ngài còn mời gọi chúng ta tự đặt mình vào mối tương quan với Thiên Chúa: Chỉ có Thiên Chúa, Ðấng thấu suốt lòng con người mới có thể xét xử con người. Nhìn nhận quyền xét xử của Thiên Chúa, con người cũng sẽ nhận ra thân phận tội lỗi yếu hèn của mình. “Hãy lấy cái dằm ra khỏi mắt ngươi trước đã”, nghĩa là hãy nhận ra thân phận bất toàn của mình trước.

    Read More

    Điều hướng bài viết

    • Previous page
    • Page 1
    • …
    • Page 1.474
    • Page 1.475
    • Page 1.476
    • …
    • Page 2.056
    • Next page
    Bài viết mới nhất
    ĐỨC THÁNH CHA: CÁC CỘNG ĐOÀN GIÁO HỘI PHẢI LÀ NHỮNG NƠI AN TOÀN CHO MỌI NGƯỜI
    22/06/2026
    CÔNG NGHỊ HỒNG Y BÀN VỀ THẾ GIỚI, THÔNG ĐIỆP VÀ THƯỢNG HỘI ĐỒNG
    12/06/2026
    GIỚI THIỆU SỔ TAY HÀNH HƯƠNG “CON ĐƯỜNG TRÁI TIM - HÀNH HƯƠNG VÀO TRÁI TIM SỨ MẠNG LOAN BÁO TIN MỪNG”
    12/06/2026
    Video nổi bật
    https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
    Sự kiện sắp tới

    There are no upcoming events at this time.

    Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

    Liên hệ

    72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

    Phone: +84 931 436 131

    Email: [email protected]

    Ban chuyên môn
    • Ban Tài liệu và Truyền thông
    • Ban Giáo chức
    • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
    • Ban Khuyến học
    • Ban Học viện Thần học
    • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
    Chuyên mục
    • Tin tức
    • Thư chung
    • Giáo dục
    • Phụng vụ
    • Thư viện
    Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.