Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Tác giả: Anmai

Home / Anmai
11Tháng Chín
2020

Thánh giá – Ánh sáng cuộc đời

11/09/2020
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

“Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì ngoài Thập Giá của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”(Gl 6,14).

Thập Giá của Đức Giêsu, biểu tượng của tình yêu, một tình yêu hiến thân vì người mình yêu (x. Ga 15,13). Chính trong tình yêu ấy chất chứa cả một thế giới diệu kì. Với cây Thánh Giá, sức mạnh của tình yêu, như một chìa khóa vạn năng, có thể giải cứu mọi vấn đề, mở ra mọi cánh cửa cuộc đời để dẫn con người vào con đường hạnh phúc. Tuy nhiên, trong cuộc sống, con người vẫn mãi tìm đến chìa khóa của thành công khác như: tiền bạc, danh vọng, địa vị và nhu cầu xác thịt. Vậy hạnh phúc thật sự bắt nguồn từ đâu? Phải chăng những hạnh phúc chóng qua cõi tạm trần gian có giúp con người thoát khỏi đau khổ không?

Nhìn vào lịch sử cứu độ, cho ta thấy: Dân Israel, một dân được tuyển chọn, một dân được gọi là dân riêng của Thiên Chúa và một dân tộc sống bằng nghề du canh du cư, nay đây mai đó. Trải qua năm tháng du mục, dân tộc Israel đã viết lên một trang sử oai hùng và hào kiệt.

Trong suốt dòng lịch sử đi về đất hứa, đoàn dân riêng của Chúa đã đi qua biết bao cuộc hành trình dài ngắn, song song bên các cuộc hành trình này dân Chúa đã để lại đằng sau những bước chân lên đường là vật chất, tinh thần và cả các bậc tổ tiên của họ. Trong tất cả những khó khăn gian khổ mà dân phải đối diện trong cuộc hành trình về đất hứa ấy, dân Israel đã tin vào ai? Họ đã đi tìm sức mạnh nơi đâu để vượt qua những khó khăn? Câu trả lời nào cho sự sống còn của một dân tộc? Thứ thuốc nào để chữa lành các dịch bệnh và đau khổ mà họ gặp phải?

Phải chăng câu trả lời đó chính là “Ngươi hãy làm một con rắn đồng và treo lên một cây cột. Tất cả những ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đó, sẽ được sống” (Ds 21,8). Tại sao lại nhìn lên con rắn đồng treo trên cây gỗ thì ngươi được sống, cả dân tộc ngươi được tồn tại thịnh vượng. Nhìn lên con rắn đồng treo trên cây gỗ, cả dân tộc ngươi đủ sức đi về đất hứa. Tại sao ngươi không phải nhìn vào mặt trời, mặt trăng, các tinh tú, hay Môsê người dẫn đường?

Nhìn lên con rắn đồng treo trên cây gỗ trở thành ánh sáng tình yêu chiếu soi vào cuộc đời của dân Chúa, trở thành sức mạnh, trở thành loại thuốc chữa lành và đem đến sự sống cho dân tộc Israel. Chính từ đây, Thiên Chúa đã làm cho Israel trở thành một nước hùng mạnh cho đến ngày hôm nay: “Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu” (x. Ga 19,37).

Hình bóng con rắn đồng treo lên cây cột đã cứu dân Israel trong thời Cựu Ước. Hình bóng đó đã được làm sáng tỏ nơi chính Đức Giêsu trong Tân Ước, khi Ngài mời gọi con người “nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu”. Nhìn lên Đấng họ đâm thâu trên cây gỗ giá, nhân loại nhìn ngắm gì trên đó? Phải chăng nhìn ngắm một con người trần trụi không miếng vải che thân, xác thịt bê bết máu me và kiệt sức. Hay nhìn lên Đấng bị đâm thâu trên cây gỗ giá để thấy tội của nhân loại mà Đức Giêsu phải chấp nhận bị treo trên cây khổ giá ấy. Đây chính là “Giá Chuộc” trần gian khi Con Thiên Chúa vâng phục và tự hủy chính mình trên cây khổ giá!

Ẩn sau tất cả những đau khổ, lên án, nhạo báng, đòn roi, gai nhọn, hy sinh và tội lỗi của nhân loại mà Đấng treo Mình trên cây gỗ giá đã oằn mình gánh chịu, đó chính là tình yêu đến cùng, tình yêu hiến dâng, tình yêu cứu độ, và là sự vâng phục ý Cha đến tột cùng mà Đức Giêsu dành tặng cho Chúa Cha và nhân loại.

Chính từ điểm quy tụ “nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu” trên cây gỗ giá mở ra một luồng ánh sáng vĩnh hằng, ánh sáng chiếu vào mọi ngóc ngách của đời sống nhân loại và trao ban một sự sống mới, sự sống viên mãn cho toàn thể vũ trụ, là cửa ngõ dẫn vào sự sống đời đời.

Với thân phận con người, ai trong chúng ta cũng mang những thập giá riêng đời mình: Thập giá của mưu sinh, thập giá của bệnh tật, thập giá của gia đình, thập giá của học hành, thập giá của tính nết… và biết bao những thập giá nhỏ bé, không tên nhưng không kém phần nặng nề. Và chúng sẽ trở thành khổ giá cho những ai mất niềm tin và mất hy vọng vào Đức Kitô. Chúng sẽ là thánh giá cho những ai biết kết hợp đời mình và sống thân tình với Chúa Giêsu Kitô.

Sống Mầu Nhiệm Thánh Giá Đức Kitô, mời gọi mỗi người Kitô hữu hãy chiêm ngắm Đức Giêsu Kitô Chịu Đóng Đinh vì nhân loại. Đây cũng là lời mời gọi mỗi Kitô hữu nhìn lên Đấng Chịu Đóng Đinh mỗi ngày.

Nhìn lên “Đấng họ đã đâm thâu” để thân thưa với Ngài biết bao chuyện vui buồn của nhân loại, của Giáo Hội và của mỗi người chúng ta.

Nhìn lên “Đấng họ đã đâm thâu” để học yêu như Ngài đã yêu, để học biết vâng phục ý Cha như Ngài đã vâng phục và thi hành trọn vẹn.

Nhìn lên “Đấng họ đã đâm thâu” để xin Ngài chữa lành và tha thứ cho tội của nhân loại và tội của mỗi người chúng ta.

Nhìn lên “Đấng họ đã đâm thâu” để xin Ngài ban ơn, giúp sức cho chúng ta biết chu toàn bổn phận hằng ngày.

Nhìn lên “Đấng họ đã đâm thâu” để chúng ta kín múc ánh sáng tình yêu từ trên cao và soi chiếu vào mọi vấn nạn của trần gian.

Cuối cùng, chiêm ngắm Mầu Nhiệm Thập Giá để chúng ta hiểu thấu đáo: Chúa Cha là tình yêu sáng tạo; Chúa Con là tình yêu cứu chuộc; và Chúa Thánh Thần là tình yêu thánh hóa và canh tân chúng ta mỗi ngày nơi những thập giá của phận người.

Cứ mỗi khi nhìn lên Thánh Giá Đức Kitô, dõi theo từng vết thương của Người, ta như thấy mình được vơi đi với những nỗi khổ đau mà ta đang trải qua. Cũng chính từ nơi Thánh Giá Chúa Kitô, ta mới nghiệm thấy quyền năng Thiên Chúa thật lớn lao dường nào! Quyền năng của Thiên Chúa được biểu hiện ở nơi Ngài và làm cho những khổ đau của chúng ta được bừng lên vị ngọt tình yêu. Nơi Thánh Giá Đức Kitô: Một tình yêu chỉ biết cho đi, một tình yêu quên cả mạng sống. Nơi Thánh Giá Đức Kitô cho ta một niềm tin, niềm hy vọng và lòng mến. Tuy nhiên, chúng ta có đủ tin yêu và có dám vác thập giá mình, đi lên đỉnh đồi “Calve cuộc đời” cùng với Chúa Kitô Chịu Đóng Đinh không?

Lạy Chúa Giêsu, Đấng đã treo mình trên Thánh Giá, xin cho con luôn qui chiếu cái nhìn của con vào Chúa, để khi nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu trên Thánh Giá mỗi ngày, con được kín múc tình yêu, sức mạnh, ánh sáng từ Thánh Giá Chúa tuôn trào. Xin giúp con luôn hân hoan, hạnh phúc, bình an để đem Tin Mừng Chúa đến cho mọi người con gặp và xin Thánh Giá Chúa luôn là ánh sáng soi vào cuộc đời con và là ánh sáng soi đường cho toàn nhân loại  Amen. Lm. Phêrô Nguyễn Trọng Đường, SVD

Read More
11Tháng Chín
2020

   Bộ Giáo dục Công giáo gửi thư cho các trường Công giáo

11/09/2020
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Bộ Giáo dục Công giáo gửi thư cho các trường Công giáo

    Bộ Giáo dục Công giáo gửi thư cho các trường Công giáo

    Thứ Tư 09/9, Bộ Giáo dục Công giáo đã gửi thư cho các trường học Công giáo, mời gọi những người có trách nhiệm trong lĩnh vực này, khi giáo dục cần tập trung vào mối tương quan với con người cụ thể và thực tế.

    Trong thư, trước hết, Bộ Giáo dục Công Giáo nói đến việc các hệ thống giáo dục trên khắp thế giới đã bị ảnh hưởng như thế nào bởi đại dịch, cũng như những nỗ lực của các trường trong việc mau chóng thích ứng dạy học từ xa. Tuy nhiên, với cách học này đã làm cho nhiều học sinh không thể tiếp tục học do không có các phương tiện theo học từ xa. Hơn nữa, theo Thánh Bộ, trong lĩnh vực giáo dục, học sinh cần một môi trường, vì môi trường giáo dục không chỉ đơn giản là một bối cảnh phụ cho hoạt động giáo dục, nhưng là chính bản chất của mối tương quan trao đổi và đối thoại, điều không thể thiếu cho việc hình thành con người và cho sự hiểu biết thực tế.

    Tiếp đến, Bộ Giáo dục Công giáo hướng đến việc đào tạo các nhà giáo dục. Về điểm này, Thánh Bộ nhận định rằng, đại dịch đã  gây bất an trong ngành giáo dục. Vì thế, các nhà giáo dục cần được hỗ trợ qua một sự đào tạo vững chắc, biết cách đáp ứng các nhu cầu của thời đại, không làm mất đi sự tổng hợp giữa đức tin, văn hóa và đời sống, là nền tảng đặc biệt cho sứ vụ giáo dục trong các trường Công giáo.

    Điều quan trọng trong giáo dục là phải đặt con người ở trung tâm trong các hoạt động giáo dục. Con người cụ thể và thực tế là linh hồn của các giai đoạn giáo dục, cũng như là nguồn sống vô tận, do bản chất tương quan cộng đoàn luôn hướng đến việc mở ra hiệp thông với Thiên Chúa và với người khác.

    Liên quan đến mục đích của giáo dục, Thánh Bộ nhắc các trường Công giáo phải hướng các học sinh đến sự phục vụ. Bởi vì, tình hình hiện nay đã cho thấy rõ nhu cầu mạnh mẽ về một nền giáo dục mang tính cộng đồng và chia sẻ. Các nhà giáo dục sẽ tìm được điều này từ Tin Mừng và các giáo huấn của Giáo hội Công giáo.

    Điểm cuối cùng được Bộ Giáo dục Công giáo nói đến đó là cần phải có sự liên kết với nhau trong các hoạt động giáo dục, nhờ đó mọi người có thể tìm ra hướng đi chung trong khủng hoảng. (CSR_6494_2020) Ngọc Yến

    Read More
    11Tháng Chín
    2020

    Tản mạn “thuyền, biển” và đời tu

    11/09/2020
    Anmai
    Chia sẻ, Giáo dục
    0

    Tản mạn “thuyền, biển” và đời tu

    Từ lâu, hình ảnh thuyền và biển luôn là nguồn cảm hứng bất tận trong thi ca với những áng thơ tình giàu cảm xúc và là nỗi niềm chan chứa yêu thương của các đôi nam nữ. Từng cơn sóng biển dạt dào cứ cuộn trào như tình yêu đôi lứa dành cho nhau và mãi mãi khát khao đợi chờ. Chính những hình ảnh đó đã làm nên vẻ thi vị cho ngôn ngư thi ca.

    Với Xuân Quỳnh thì:
    …………………………….
    Chỉ có thuyền mới hiểu
    Biển mênh mông nhường nào
    Chỉ có biển mới biết
    Thuyền đi đâu, về đâu.

    Đối với Xuân Thắng:

    Biển nhấp nhô, gió giăng buồm gợn sóng

    Hoàng hôn tà dựng bóng mái chèo nghiêng

    Thuyền ta về ươm đầy mình hy vọng

    Biển và thuyền lưu luyến nỗi niềm riêng.

    Sơn Ca Linh lại nhìn thấy thân phận con người nơi “biển” và “thuyền”:

    Có ai biết cái thuở nào duyên nợ,

    “Biển” và “Thuyền” đã khắng khít cùng nhau.

    Thuyền chắp cánh dệt mộng ước ngàn sau,
    Biển xanh ngát bao la trời tít tắp !
    …

    Có những ngày thuyền nổi cơn gan góc,

    Quyết đương đầu khi biển nổi cuồng phong.

    Mang kiếp “thuyền” đành chấp nhận long đong,

    Bạn với “biển” tử sinh là chuyện nhỏ !…[1]

    Trải qua bao nghìn năm gắn chặt với nền “văn hoá sông nước”, con người Việt nam, cuộc sống Việt Nam gần như luôn thấp thoáng hình ảnh chiếc thuyền đâu đó, gắn chặt với “ngang dọc đời thường trong thô sơ mộc mạc” hay tồn tại đậm nét trong ký ức xa xăm nhưng chất chứa cả kho tàng lịch sử !

    Ngược dòng thời gian nhìn lại lịch sử hơn 400 năm Loan báo Tin Mừng tại Việt Nam, cách riêng Giáo phận Qui Nhơn, có thể nói được, hạt giống đức tin đã “trôi dạt” đến với con dân Việt Nam trên những chiếc thuyền nhỏ bé lênh đênh giữa một thời loạn ly cấm cách. Thật vậy, chính những chiếc thuyền, có khi thật mỏng manh, đã chuyên chở các vị thừa sai đầy nhiệt huyết xuôi ngược vô Nam ra Bắc, bất kể những mùa biển động, len lỏi men theo những con sông dài thâm u khuất nẻo để tung gieo hạt giống Tin Mừng.

    Trên những cuộc hải hành vượt trùng dương đầy khó khăn tưởng chừng như vô định, hình bóng những chiếc thuyền bị vùi dập mất hút giữa đại dương đã khắc hoạ rõ nét những gian nan thách đố và khó khăn dường nào của công cuộc truyền giáo. Đúng là “Chỉ có biển mới biết. Thuyền đi đâu về đâu”. Chuyến vượt biển đến Đàng Trong lần đầu tiên của Đức cha Lambert cách đây 350 năm trong ký sự của Cha Vachet, người bạn đồng hành với ngài, sẽ cho chúng ta thấy rất rõ điều đó:

    “Chúng tôi lên thuyền ngày 20/7/1671. Đó là một thứ thuyền mà tiếng Đàng Trong gọi là thuyền bầu. Con thuyền được lèo lái bởi duy nhất bốn dân chài người Đàng Trong. Nói cho thực, chớ có kém lòng tin vào Thiên Chúa khi ra đi trên một con thuyền như vậy. Bạn hãy cứ tưởng tượng một con thuyền không đinh, không rợ, không mảnh sắt, không vải buồm và không hoa tiêu, mà dám rời xa đất liền. Bạn hãy hình dung một mớ vài ba mảnh ván nối lại với nhau cách sơ sài và buộc chung lại với nhau bằng những sợi giây tựa như những sợi mây thô thiển, những mỏ neo thì làm bằng gỗ, những cánh buồm là các mảnh chiếu gắn vào những cái cột là mấy thân cây tre, và bánh lái thuyền nằm ở một cái lỗ phía sau con thuyền, chỗ ấy nước dạt ra dạt vào rất dễ dàng. Chính là với những trang thiết bị như vậy mà chúng tôi khởi hành một chuyến đi xa cả hai trăm dặm đường vào một mùa đã thật cuối kỳ đi biển, đến một xứ sở đang lúc chiến tranh, và trên một vùng biển bão tố lúc nào không hay và đầy dẫy hải tặc. Nếu chỉ lấy cái khôn ngoan của con người làm mẫu mực trong những tình huống như thế, thì rất nhiều kẻ sẽ kết án là liều lĩnh dại dột mà ra đi như vậy. Một ông khu trưởng người Anh quốc, là người mà tôi chỉ cho thấy con thuyền của chúng tôi, đã quả quyết với tôi rằng dù người ta hứa với ông cho ông ăm ắp những vàng ròng chất đầy con thuyền người Đàng Trong đó, thì ông cũng chẳng hề ao ước sự gì hơn trên cõi đời này là đừng phải bước chân lên con thuyền đó. Ông tuyên bố vậy cho dù chính ông đã tìm tới vùng Ấn Độ Dương này là chỉ để lo làm giầu mà thôi. Nhưng đấy không thể nào là lời ăn tiếng nói, cũng không thể nào là tư tưởng của một thừa sai giảng đạo được. Vì chẳng được liều mạng cách vô lý, ta chẳng phải lo sợ quá đáng khi đưa mình vào nguy nan nào đó hầu lo cho việc đạo được phát triển. Ta phải luôn luôn sắp sẵn một con thuyền thiêng liêng nhỏ mà thân thuyền là đức tin, bánh lái thuyền là lòng bác ái, cột buồm là đức cậy, cánh buồm là lòng nhiệt thành, giây dợ, mỏ neo và mái chèo là lòng tin tưởng nơi Thiên Chúa. Linh hồn đã có sẵn những nhân đức ấy thì dập dềnh lướt sóng trên một con thuyền bầu nhỏ cũng an toàn như trên một con tàu to lớn nhất, điều mà ngừi ta nhận thấy qua chuyến đi biển thành công nhất của chúng tôi”.[2]

     

    Vâng, hành trình gieo vãi hạt giống đức tin là thế, đầy hiểm nguy và thử thách, nếu không kiên vững niềm tin sẽ không thể nào vượt qua được. Người xưa vẫn nói: “Vạn sự khởi đầu nan”. Cái gì mới bắt đầu mà chẳng mong manh, gian khó và nhiều chướng ngại; nhưng nếu chúng ta có một niềm tin cùng với ý chí kiên cường, vững chắc và một niềm trông cậy phó thác hoàn toàn cho tình yêu quan phòng của Chúa, chắc chắn “thuyền đời sẽ tới bến thành công”. Và như thế, hình ảnh những chiếc thuyền nan mong manh nhỏ bé kia lại bừng sáng lên như “những con thuyền vĩ đại”, chở đầy những thế hệ tông đồ, chứng nhân ra đi với tâm hồn đầy lòng yêu mến Chúa.

    Nếu ai đó có dịp đi về Miền Tây ta có thể thấy được hình ảnh chiếc thuyền quan trọng như thế nào đối với người dân ở đây. Thuyền là nhà, là phương tiện đi lại và mưu sinh hằng ngày của họ. Trải qua bao thăng trầm dâu bể, chiến tranh, ly loạn…, hình bóng con thuyền luôn “nhấp nhô trong ký ức Việt Nam”. Có thể nói được, khái niệm “thuyền” và “biển” luôn chuyên chở một nét đẹp nhân văn cao cả đầy ắp nghĩa tình: tình cha, tình mẹ, tình chị, tình em, tình làng nghĩa xóm, tình yêu nam nữ…

    Người ta còn nhận ra nơi hình ảnh chiếc thuyền và biển cả là “biểu tượng” của cả một “trời tâm trạng”: Có khi là sự lãng mạn của tình yêu với hạnh phúc ngập tràn, có khi là một sự đợi chờ hồi hộp với trăm ngàn mối nghi nan, thất vọng, có khi lo sợ trước giông tố bão bùng, sóng to biển động, có khi chứng kiến bao cảnh thương tâm cho những mảnh đời nghiệt ngã vì cuộc sống mưu sinh… Lúc này biển rộng mênh mông lòng thuyền không sao hiểu thấu và biển như đi vào cõi bất tận, vô biên mang theo nhiều nỗi khổ cho riêng mình. Phải chăng cuộc đời này quá nhiều nỗi truân chuyên sầu muộn mà con người phải đối diện từng ngày?

    Biển giận hờn khoét thuyền sâu đau điếng,

    Hay điên cuồng, thuyền vỡ nát tan hoang.

    Sóng dâng cao dập dìu những khăn tang,

    Thuyền gác mái thâu đêm chờ vô vọng…![3]

    Sống trên thế gian này hầu như ai ai cũng có nỗi khổ. Người giàu có nỗi khổ của người giàu và người nghèo cũng có nỗi khổ của riêng mình. Không ai nói rằng tôi không khổ cả. Đức Phật Thích Ca đã nói: đời là bể khổ. Và nguyên nhân của nỗi thống khổ ấy chính là dục vọng, là Tham – Sân – Si, ba kẻ thù lớn nhất có thể phá hủy và đưa chúng ta vào con đường lầm lạc và mê muội, khiến con người có thể mất hết lý trí và bất chấp tất cả khi có thể để đạt được mục đích của mình… Để nhận ra mình, biết mình sống trong tình trạng đó đã là một vấn đề rất khó huống chi quyết tâm chống trả và diệt trừ thì khó biết bao.

    Cuộc đời mỗi người chúng ta tựa như “chiếc thuyền đang vượt biển trần gian”, đang đối mặt với biết bao cơn giông tố bão bùng; chúng ta phải cật lực chèo chống từng ngày để chinh phục bến bờ hạnh phúc. Chúng ta, như người cầm chắc tay chèo, cố gắng chống chọi với phong ba bão tố để lèo lái “con thuyền đời mình” tiếp tục đi về phía trước, bất chấp mọi hiểm nguy đang chờ đón. Mỗi một cuộc đời trên dương gian đều như thế, một cuộc “vượt qua” không ngừng để thực hiện dự phóng và ước mơ dẫu chân trời tương lai xán lạn hay đường dài phía trước mờ mịt, tối tăm…,  ta vẫn cứ đi.

    Đời ta đã bao mùa biển động,

    Ngã nghiêng theo đợt sóng xô bờ.

    Một chút xôn xao rồi mặc sóng,

    Thuyền vẫn bình yên dẫu chơ vơ.[4]

     

    Có những lúc biển dữ dội làm cho thuyền đến mức phải bất lực nhưng không thiếu những lúc biển dịu dàng, nhẹ nhàng, lăn tăn gợn sóng như hiểu thấu nỗi âu lo, mệt mỏi của thuyền trước những thách đố, và:

    Trong bài ca của muôn trùng sóng vỗ

    Em có là nốt nhạc của tình yêu

    Để biển xanh thành phố những buổi chiều

    Hòa khúc hát bài tình ca thương nhớ

    Ôi con đường hạnh phúc như trong mơ

    Thuyền và biển hai tâm hồn say đắm

    Qua tháng năm, qua mưa gió thăng trầm

    Nỗi nhớ tình yêu viết bài ca thuyền biển[5]

     

    Quả thật, hình ảnh thuyền và biển đã khắc hoạ nhiều “chiều kích nhân sinh”. Con thuyền của thế giới hôm nay như đang chống chọi từng ngày, từng giờ với làn sóng của đại dịch Covid- 19 đang hoành hành và cướp đi nhiều sinh mạng của người dân ngay tại Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới. Cuộc đời chúng ta không ai biết trước được ngày mai mình sẽ như thế nào, còn sống hay chết, bao nhiêu kế hoạch và dự tính sẽ đi về đâu?

    Hơn lúc nào, cuộc sống hôm nay giống như người lữ khách đang ngồi trên chiếc “thuyền nan” để vượt biển trần gian đầy khó khăn thử thách và trôi dạt về những bến bờ vô định. Cũng như biển khơi, lúc dâng cao sóng vỗ, lúc gió dịu trời êm…, biển đời cũng không thiếu những cung điệu buồn vui, những thăng trầm hạnh phúc, đau thương và khổ luỵ… Làm sao khi sống ở trần gian này mà tránh khỏi những “nhịp điệu, cung đàn” như thế…!

    Nếu như “thuyền và biển” là nét đẹp thơ mộng trong “ngôn ngữ thi ca” dành cho những chuyện tình nam nữ:

    Những ngày không gặp nhau

    Biển bạc đầu thương nhớ

    Những ngày không gặp nhau

    Lòng thuyền đau – rạn vỡ

    Nếu từ giã thuyền rồi

    Biển chỉ còn sóng gió “

    Nếu phải cách xa anh
    Em chỉ còn bão tố! (Xuân Quỳnh. Thuyền và Biển)

     thì “thuyền và biển đời” cũng mang lại rất nhiều cảm xúc cho cuộc đời những người tu sĩ.

    Thật vậy, khi tình yêu và lòng trung thành với lý tưởng, với ơn gọi còn ngự trị trong tâm hồn thì “sóng biển thế tục” cũng lặng êm; lúc đó “thuyền đời” lướt đi nhẹ nhàng trong rạng rỡ tin yêu hy vọng và cuộc đời đầy hạnh phúc. Nhưng khi “tình yêu phai nhạt”, thất tín, bất trung… thì “những cơn sóng thế tục” bủa vây giăng mắc; cuộc sống như bị dập vùi trong những trận cuồng phong dữ dội. Chính những lúc như thế, người tu sĩ mới thấy được con người thật quá mỏng manh yếu đuối, và việc bám víu vào hoa tiêu vững chắc là Đức Kitô chính là con đường bảo vệ, là điểm tựa an toàn nhất.

    Chúng ta đừng quên, với chiếc thuyền của Phêrô, Chúa đã cho các môn đệ nhận ra quyền năng của Thiên Chúa và cũng là dịp để các ông thể hiện niềm tin của mình “Hãy ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá” (Lc 5,4). Với khả năng hữu hạn của con người, Phêrô chỉ có thể làm theo lệnh truyền của Chúa vì lòng vâng phục.  “Vì lời Thầy, con xin thả lưới”. Thuyền của các môn đệ đang cùng với Thầy Giêsu vượt trùng khơi mịt mù trong cuồng phong bão táp xô đẩy “Đang khi các ngài đi thuyền, thì Đức Giêsu thiếp ngủ. Một trận cuồng phong ập xuống, các ngài bị ngập nước và lâm nguy”(Lc 8, 23), “Đức Giêsu xuống thuyền, các môn đệ đi theo Người. Bỗng nhiên biển động mạnh khiến sóng ập vào thuyền, nhưng Người vẫn ngủ”(Mt 8, 24).

     

    Khi con thuyền chơi vơi giữa dòng bị sóng đánh chập chờn, sóng ập vào thuyền, bị giông tố dập vùi… cũng là lúc lòng người lữ khách âu lo, sợ hãi, chao đảo, nghi ngờ sự hiện diện của Chúa trong đời. Nhưng trải qua bao giông tố cuộc đời, dù thế nào đi nữa thì chỉ còn một niềm hy vọng, một điểm tựa và một phao cứu hộ duy nhất là Chúa Giêsu, dù Ngài ngủ hay thức nhưng có Ngài hiện diện trên chiếc thuyền đời của ta thì chúng ta tin rằng mọi sự sẽ bình yên.

    Cũng đừng quên, như những ngư phủ thường trông lên vì sao “Bắc Đẩu” để định vị và định hướng cho những cuộc hải hành, nhất là những khi trôi dạt lạc đường khi bão tố, những người tu sĩ cần ngước trông về một “Vì sao Bắc Đẩu” khác, như lời thơ:

    Nên chỉ biết khi sang mùa biển động,

    Thuyền có ra khơi xin nhớ hướng lên trời.

    Có một vì sao Bắc Đẩu rạng ngời,

    “Maris Stella”, Mẹ Maria chính là vì sao ấy ![6]

    Như chiếc thuyền nan chòng chành trên sóng nước, như biển cả bao la với muôn ngàn con sóng vỗ…, cuộc sống đời tu luôn đối diện với những khó khăn trở ngại, thất bại lo âu, thiếu cảm thông, thiếu cậy trông tin tưởng vào Chúa, và lắm lúc cũng ngả nghiêng theo từng cơn sóng… Chính trong những lúc như thế, người tu sĩ luôn biết nhận ra sự hiện diện của Chúa, và hãy để cho Chúa dẹp yên những giông tố bão bùng trong biển lòng của mình. Có như thế, mỗi ngày chúng ta sẽ bình yên bước đi trên sóng nước bằng chính chiếc thuyền đời của mình với một niềm tin yêu phó thác vào tình yêu thương quan phòng của Chúa.

     

    Nt. Anna Hiền Linh – MTGQN

    [1] Sơn Ca Linh. Bài thơ: Thuyền, biển và “Vì Sao Mẹ”.

    [2] Trích ký sự của cha Vachet viết về cuộc hành trình của Đức cha Lambert thăm viếng Đàng Trong lần đầu từ Xiêm La đến Đàng Trong.

    [3] Sơn Ca Linh. Bài thơ: Thuyền, biển và “Vì Sao Mẹ”.

    [4] Sơn Ca Linh: Bài thơ Mùa biển động và em.

    [5] Trích chùm thơ Thuyền và Biển của nhiều tác giả

    [6] Sơn Ca Linh. Bài thơ: Thuyền, biển và “Vì Sao Mẹ”

    Read More
    11Tháng Chín
    2020

    Cha Andrej Matis, từ nhạc sĩ chuyên nghiệp nổi tiếng thế giới đến chức linh mục

    11/09/2020
    Anmai
    GH Hoàn Vũ, Tin tức
    0

    Cha Andrej Matis, từ nhạc sĩ chuyên nghiệp nổi tiếng thế giới đến chức linh mục

    Thứ Bảy ngày 5 tháng 9 năm 2020, Đức Hồng Y Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, đã phong chức cho 29 linh mục thuộc hội Opus Dei tại Vương cung Thánh đường Thánh Eugenio, ở Rôma.

    Trong số các tân chức có Andrej Matis, 32 tuổi, linh mục đầu tiên thuộc hội đến từ Slovakia. Trước khi theo học Thần học ở Rôma, cha Andrej là một nhạc sĩ chuyên nghiệp, đã làm việc nhiều năm với tư cách là nghệ sĩ vĩ cầm cho nhóm Mucha Quartet, đã từng biểu diễn tại các nước như Thụy Sĩ, Cộng hòa Séc, Ý, Ba Lan, Pháp, Áo và Luxembourg.

    “Con đường đến với chức linh mục của tôi không trực tiếp như những trường hợp khác. Tôi đã làm việc như người nghệ sĩ chuyên nghiệp trong nhiều năm. Khi còn bé, tôi đã đam mê âm nhạc và tôi biết ơn sự ủng hộ của cha tôi, người rất say mê âm nhạc. Nhờ cây vĩ cầm mà tôi đã khám phá ra Opus Dei ”.

    “Tôi đã khám phá ra rằng âm nhạc có thể là cách thế để tôi đến gần Chúa và bạn bè của tôi. Bằng cách dâng lên Chúa, âm nhạc có thể trở thành việc tông đồ. Có những người làm việc vì kế sinh nhai hay để trở thành người nổi tiếng, nhưng tôi đã thấy rằng làm việc có thể là một con đường để đạt đến sự thánh thiện”.

    “Chúa Giêsu đã trải qua phần lớn cuộc đời mình để làm việc như người thợ mộc. Cuộc đời của tôi đã được thay đổi từ khi tôi gia nhập vào Opus Dei như một thành viên. Nó giống như một cuộc phiêu lưu mà bạn sẽ không biết nó sẽ kết thúc ở đâu nhưng nó khiến bạn hạnh phúc”.

    Cha Andrej Matis cho biết, ngài đã dành ra 11 năm cuộc đời để luyện tập vĩ cầm và nghiên cứu các tác giả vĩ đại của nền âm nhạc cổ điển như Händel, Sibelius, Tchaikovsky hay Mendelssohn, và khẳng định rằng con đường dẫn ngài đi từ âm nhạc đến chức linh mục là trạng thái tự nhiên, một quyết định chín chắn từng chút một trong cuộc đối thoại với Chúa. Chính bạn bè của cha Andrej Matis cũng lo cho ngài: “Họ hỏi tôi rằng liệu việc thay đổi hướng đi trong cuộc sống sau rất nhiều nỗ lực để đạt đến một trình độ chuyên môn nhất định có phải là một quyết định đúng đắn hay không?”.

    “Nhờ Opus Dei mà tôi đã bắt đầu sống cách nghiêm túc đời sống Kitô hữu của tôi. Tôi tăng cường đời sống cầu nguyện, và Chúa đã gợi ý cho tôi điều mà tôi chưa từng thấy xưa nay: Ngài muốn tôi trở thành linh mục. Tiến trình chuyển đổi từ nghệ sĩ vĩ cầm sang chức linh mục không có gì ấn tượng. Công việc chuyên môn, trong trường hợp âm nhạc của tôi, là điều khiến tôi gần Chúa hơn và mang Ngài đến với bạn bè của tôi. Giờ đây tôi muốn làm việc đó với tư cách là linh mục, ngay cả khi các phương tiện hoàn toàn khác nhau”.

    “Vẻ đẹp sẽ cứu rỗi thế giới” đó là câu nói của Dostoevsky mà Đức Bênêđictô XVI rất yêu thích. Cha Andrej Matis nói: “Nó rất thực tế”. “Xã hội ngày nay rất xu thời, thường để trực giác hoặc cảm tính lôi kéo mình, và vẻ đẹp là thứ trực tiếp thách thức bạn, lôi cuốn các cảm xúc của bạn”. “Về điều này, tôi cho rằng vẻ đẹp là phương tiện để giao tiếp với Chúa, bởi vì mọi người luôn nhạy cảm đối với Ngài. Vẻ đẹp đích thực có thể được tặng ban, và qua đó con người có thể đến với vẻ đẹp đích thực của Chúa Kitô trên thập giá, ngay cả khi thoạt nghe nó có vẻ nghịch lý. Tuy nhiên, khi bạn khám phá ra nó, thì đây là vẻ đẹp cứu rỗi thực sự”.

    Vị linh mục nhạc sĩ nhận xét: “Xin mọi người hãy cầu nguyện cho các ơn gọi giáo dân, các gia đình Kitô hữu và các nam nữ tu sĩ. Thiên Chúa mời gọi tất cả mọi người hướng đến sự thánh thiện, Ngài mời gọi từng người chúng ta. Nếu chúng ta cầu nguyện Ngài sẽ hướng dẫn chúng ta trong ơn gọi mà Ngài đã mời gọi chúng ta và sẽ làm cho chúng ta thêm phần hạnh phúc”. Đối với một số phương tiện truyền thông và dư luận quần chúng, hạnh phúc đôi khi gắn liền với danh tiếng, sự giàu có và quyền lực.

    Tác giả: Ary Waldir Ramos Díaz
    Chuyển ngữ: G. Võ Tá Hoàng

    Read More

    Điều hướng bài viết

    • Previous page
    • Page 1
    • …
    • Page 1.472
    • Page 1.473
    • Page 1.474
    • …
    • Page 2.056
    • Next page
    Bài viết mới nhất
    ĐỨC THÁNH CHA: CÁC CỘNG ĐOÀN GIÁO HỘI PHẢI LÀ NHỮNG NƠI AN TOÀN CHO MỌI NGƯỜI
    22/06/2026
    CÔNG NGHỊ HỒNG Y BÀN VỀ THẾ GIỚI, THÔNG ĐIỆP VÀ THƯỢNG HỘI ĐỒNG
    12/06/2026
    GIỚI THIỆU SỔ TAY HÀNH HƯƠNG “CON ĐƯỜNG TRÁI TIM - HÀNH HƯƠNG VÀO TRÁI TIM SỨ MẠNG LOAN BÁO TIN MỪNG”
    12/06/2026
    Video nổi bật
    https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
    Sự kiện sắp tới

    There are no upcoming events at this time.

    Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

    Liên hệ

    72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

    Phone: +84 931 436 131

    Email: [email protected]

    Ban chuyên môn
    • Ban Tài liệu và Truyền thông
    • Ban Giáo chức
    • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
    • Ban Khuyến học
    • Ban Học viện Thần học
    • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
    Chuyên mục
    • Tin tức
    • Thư chung
    • Giáo dục
    • Phụng vụ
    • Thư viện
    Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.