2020
Đức tính cao cả của các cuộc chiến gay go với chính mình
Đức tính cao cả của các cuộc chiến gay go với chính mình
Một ảo tưởng cần tránh: đó là nghĩ mình có sức khỏe tâm hồn tốt, để tránh không làm nặng thêm và không rơi vào nguy cơ bị đắm.
Tôi biết một số người này, ngay cả một số người chung quanh tôi, họ không bao giờ dám đối diện với ánh sáng, mặt tối trong họ quá nổi bật, nó phát triển mạnh để cuối cùng như cây thường xuân không bao giờ cắt tỉa, che khuất luôn họ. Bên ngoài, chúng ta không thấy gì khác. Họ có vẻ giống như tất cả mọi người. Thậm chí tôi còn biết một số người có “khuôn mặt tốt”, họ lừa gạt được những người họ gặp. Trên thực tế, nếu có bộ máy đo bức xạ bóng tối Geiger dùng để đo các i-ông ác tính tâm hồn thì chúng ta thấy những người này sẽ có tỷ lệ bức xạ cao, chúng ta sẽ phải cách ly họ như trong trường hợp có dịch. Các tâm hồn này bị bóng tối che phủ. Trong ngôn ngữ tâm lý học hoặc tâm thần học, chúng xuất hiện với một tập hợp các quy định rõ ràng: tâm thần phân liệt, thích thao túng tinh thần, tự mê bệnh lý, tự mê đồi bại, thờ ơ với đau khổ của người khác và có một dịu dàng vô hạn đối với các tổn thương tâm lý của chính mình, phịa ra một thực tế sai lầm đến mức trở thành giả dối, xa vời với bất cứ một thực tế được chia sẻ nào, nhắc đi nhắc lại hoài các sự việc cũ, nhai đi nhai lại để trở thành không thể chữa khỏi, giống như vết thương đầy mũ không bao giờ thành sẹo.
Các tâm hồn đen tối này giống như những con ma cà rồng hút máu, cẩu thả đi giữa đám đông để kiếm các con mồi mới. Họ đánh hơi được. Sau khi tìm thấy, họ triển khai chiến lược, chiến lược nào cũng hấp dẫn để họ được thỏa thích hơn và cuối cùng là hút máu những người ngây thơ! Và nếu chúng ta nói rõ: chúng ta bị “ma cà rồng” vây bủa, ma cà rồng tâm hồn, ẩn nấp trong bóng tối, rình chực để tha hóa các tâm hồn ngây thơ. Chúng liên tục quan sát, rình rập và hành động đúng lúc để chống lại con mồi mong manh!
Vì thế chúng ta phải xem phần đen tối này. Làm thế nào để chiến đấu chống nó, chống nó đang ở trong chúng ta?
Chúng ta được tạo ra từ sáng-tối, từ đầy ắp và trống rỗng, từ kiến thức một phần và hố thẳm u minh. Các chứng cứ cho thấy vực thẳm là không đáy.
Càng lớn tuổi, tôi càng ghi nhận, đức tính cao cả và cần thiết của các cuộc chiến đấu với bản thân này. Tôi không còn mong muốn chiến đấu bằng mọi giá. Tôi sẽ không khiêu khích ai tranh đấu, tôi sẽ không uốn nắn ai. Ồ, không! Những người không thể thay đổi, những người không có một ý muốn nào thay đổi, những người ngay cả họ cũng không thấy đâu là vấn đề, những người này phải được để yên.
Tôi không muốn đi trước chuyện gì – như thử tôi nghĩ mình mang một sứ mệnh. Tôi chỉ cần chờ, tăng lòng tin tưởng chiến đấu và biết đấu thủ – họ đã ở đó.
Đúng! Họ ở đó, trong tôi, sâu thẳm, tận sâu thẳm, ẩn mình trong bóng tối. Không cần thiết phải đi tìm nó hoặc khiêu khích nó. Nó ở đó, làm việc trong âm thầm để gỡ ra những gì đã được làm, để thoa xà phòng lên sàn, để làm chúng ta trượt về phía sai.
Nó hy vọng gì? Hy vọng cuộc sống chúng ta thành trống rỗng. Bôi bẩn cảm nhận chúng ta. Làm nhiễm trùng cảm xúc chúng ta. Bôi đen mọi thứ có thể. Và một khi nội tâm đã làm cho trống rỗng, bạc nhược, ngập trong nỗi lo âu chết người, chúng ta sẽ phải xin nó cho chúng ta một ân huệ, mà nếu nó không cho, thì chúng ta chỉ còn xin nó một “ân xá cuối cùng” là chất đá đầy túi để giúp chúng ta đi tự tử ở một cái hồ nào đó gần nhất.
Bài tập nho nhỏ về vệ sinh thiêng liêng
Nếu kẻ thù ở đó, điều quan trọng là nhận ra nó. Vì hắn muốn gì? Muốn làm hại tôi, kéo tôi về “phía xấu” của thế giới và của chính tôi. Hận thù đánh thức hận thù. Cái ác đánh thức cái ác. Vì vậy chúng ta phải cẩn thận với những người dữ. Chúng ta hãy để chúng cách ly khỏi quả tim. Chúng ta phải dám làm. Chúng ta sẽ dám không?
Nó là tiêu cực, phát ra các làn sóng độc hại, nó làm tôi kiệt sức và làm cho tôi thêm mệt mỏi. Vậy làm sao để giữ khoảng cách với nó? Làm sao bảo vệ mình khỏi các bức xạ có hại? Làm thế nào để tránh xa những người, cố ý hoặc ngoài ý muốn của họ, phát các “bức xạ đen tối, các i-ông ác tính?”
Làm sao chúng ta có thể tự bảo vệ mình khỏi những người muốn kéo chúng ta về “phía xấu.” – của chính họ và sau đó là của chính chúng ta? Làm thế nào để có thể cự lại với quyền lực thu hút đen tối của con người?
Đừng nghĩ mình có sức khỏe nội tâm tốt
Tự xem xét bản thân là nhận ra phần sức khỏe không tốt của mình. Không cần phải ở trong tư thế “bệnh tưởng tâm linh” nhưng phải xa các tư thế anh hùng và ý tưởng bắt buộc phải có sức khỏe tốt. Đâu là các bệnh tâm hồn cần phải canh chừng? Làm sao định lượng được sức khỏe quả tim tôi? Và sức khỏe tinh thần tôi? Và sức khỏe tâm hồn tôi? Tất cả đều liên hệ với nhau.
Thu mình lại đôi khi cũng là một cách để sống còn
Khi cuộc chiến chống những kẻ muốn làm hại mình dường như không thể, nếu tôi cần những lực vô nhân đạo mà tôi không có thì sao?
Tốt hơn là bỏ cuộc chiến, đi nơi khác, bỏ đi xa. Thà từ bỏ cuộc chiến còn hơn là đi từ xấu ít đến xấu nhiều, đi vào đầm lầy đen của nó. Có một màu đen khác trong bức tranh. Và màu đen này đẹp. Cũng có một màu đen trong nhân loại. Và nó độc hại. Làm thế nào để phát hiện nó? Làm sao tôi có thể tin tưởng vào “lý trí” của tôi? Phải làm gì với “cảm nhận” này khi một số người phát nhiều bóng tối hơn ánh sáng, phát hận thù nhiều hơn niềm vui?
Đừng quá tốt bụng cũng đừng ngây thơ
Những người là ma cà rồng tâm hồn vẫn luôn có đó, họ khi nào cũng còn. Phải biết dứt khoát cắt một số quan hệ nào đó – như người ta nói đôi khi phải cưa một cánh tay để cơ thể không bị ung hoại hoàn toàn. Sự thương hại, thói quen, lo duy trì các mối quan hệ đôi khi là các cố vấn tồi. Tôi có quá tốt với người này hay người kia không? Sự hiện diện này bên cạnh tôi có quá tiêu cực không?
Marta An Nguyễn dịch
2020
Lần đầu tiên Đức Phanxicô mang khẩu trang trong một sự kiện công cộng ở Rôma
Lần đầu tiên Đức Phanxicô mang khẩu trang trong một sự kiện công cộng ở Rôma

Đức Phanxicô mang khẩu trang trong buổi họp đại kết ngày 20 tháng 10 tại Rôma (Ảnh từ màn hình NCR / Vatican Media)
Tham dự buổi họp đại kết đầu tiên kể từ đầu đại dịch với các nhà lãnh đạo tôn giáo khác ở Rôma, Đức Phanxicô đến buổi cầu nguyện liên tôn giáo gần tòa thị chính Rôma ngày 20 tháng 10 với chiếc khẩu trang trắng.
Đây là lần đầu tiên ngài mang khẩu trang trong một sự kiện công cộng. Ngài đã dùng khẩu trang tương tự trong buổi tiếp kiến chung hàng tuần ở Vatican, nhưng ngài bị chỉ trích, đặc biệt trên các trang mạng xã hội khi ngài tháo khẩu trang ra để đến với giáo dân.
Trước đó Vatican cũng cho biết, tuy ngài không dùng khẩu trang nhưng ngài giữ giãn cách xã hội khi tiếp xúc với giáo dân, số lượng giáo dân cũng đã ít lại để tuân thủ các quy trình phòng chống coronavirus nghiêm ngặt của Ý.
Sự kiện ngày 20 tháng 10 là sự kiện hàng năm của Cộng đồng Sant’Egidio tổ chức, bắt đầu bên trong Vương cung thánh đường Santa Maria ở Aracoeli của Rôma trước khi chuyển đến Quảng trường Campidoglio gần đó.

Đức Phanxicô và các nhà lãnh đạo tôn giáo khác ngày 20 tháng 10 tại Rôma. (Ảnh từ màn hình NCR / Vatican Media)
Trong số các nhà lãnh đạo tôn giáo tham dự có Thượng phụ Đại kết Bartholomew I; Đức Giám mục Heinrich Bedford-Strohm, chủ tịch Hội đồng Giáo hội Tin lành ở Đức; giáo sĩ Hạm Korsia, thượng giáo sĩ của Pháp, thượng tọa Shoten Minegishi, thuộc Thiền phái Soto.
Một số các chức sắc khác cũng có mặt, Tổng thống Ý Sergio Mattarella và Thị trưởng thành phố Rôma, bà Virginia Raggi.
Tất cả người tham dự đều mang khẩu trang, hiện nay luật pháp Ý buộc phải mang khẩu trang khi ra khỏi nhà, ngoại trừ những người có nhu cầu y tế cụ thể.
Như nhiều quốc gia khác ở châu Âu, tuần vừa qua nước Ý đã tăng các trường hợp nhiễm coronavirus một cách bất ngờ, với số lượng nhiễm hàng ngày vượt con số lúc cao điểm tháng ba. Ngày 20 tháng 10, Cơ quan bảo vệ dân sự Ý thông báo có 10.874 ca nhiễm mới trên toàn quốc.

Đức Phanxicô và Thượng phụ Đại kết Bartholomew vào cuối buổi lễ ngày 20 tháng 10 tại Rôma (Ảnh từ màn hình NCR / Vatican Media)
Trong bài giảng, Đức Phanxicô không nhắc đến đại dịch nhưng ngài suy gẫm về sự cám dỗ cố gắng “tự cứu mình” mà không nghĩ đến nhu cầu của người khác.
Ngài nói: “Đây là một cám dỗ lớn không trừ một ai, kể cả tín hữu kitô chúng ta. Cám dỗ chỉ nghĩ đến việc cứu lấy bản thân và trong vòng thân cận của mình. Chỉ tập trung vào lợi ích bản thân, như thể không có gì khác quan trọng. Đó là bản năng rất con người nhưng không đúng.”
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
2020
Đại diện Hội đồng Giám mục Việt Nam thăm vùng lũ lụt
Sáng 20.10.2020, đoàn đại diện Hội đồng Giám mục Việt Nam (HĐGMVN), do Đức Tổng Giám mục Giuse Nguyễn Chí Linh – Chủ tịch HĐGMVN – làm trưởng đoàn, đã đến viếng thăm và trao quà cho những nạn nhân lũ lụt vừa qua tại các giáo xứ thuộc Tổng Giáo phận Huế và Giáo phận Đà Nẵng.
Phái đoàn tháp tùng Đức Tổng Giuse gồm Đức Cha Emmanuel Nguyễn Hồng Sơn – Giám mục GP. Bà Rịa, Đức Cha Giuse Đặng Đức Ngân – Giám mục GP. Đà Nẵng, Đức Cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp – Giám mục GP. Hà Tĩnh, cha Giám đốc Đại chủng viện Huế, Cha Gioan Baotixita Vũ Văn Kiện – đại diện Caritas giáo tỉnh miền Bắc, Cha Marcello Đoàn Minh – đại diện Caritas Giáo tỉnh Huế, Anh Giuse Hoàng Thượng Vương – Trưởng ban cứu trợ Caritas Việt Nam cùng một số linh mục, tu sĩ của TGP. Huế và GP. Đà Nẵng.
Điểm đến đầu tiên là Giáo xứ Hà Tân – GP. Đà Nẵng, một giáo xứ vùng sâu, vùng xa được bao quanh bởi hai con sông Vu Gia và sông Kôn nằm trên địa bàn xã Đại Lãnh, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Nơi đây đã xảy ra một trường hợp tử vong do điện giật, 5 nhà bị sập, một số vật nuôi và cá bị lũ cuốn trôi.
Điểm đến thứ hai là Giáo xứ Ái Nghĩa, cũng nằm trên địa bàn huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, bên cạnh sông Vu Gia.
Điểm đến cuối ngày là giáo xứ Lương Văn, TGP. Huế, thuộc xã Thủy Lương, huyện Hương Thuỷ, TP. Huế.
Các vị Giám mục đã trao đến các nạn nhân lũ lụt những món quà, trích từ quỹ dự phòng thiên tai của Ủy ban Bác ái Xã hội – Caritas Việt Nam trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam. Những món quà tuy nhỏ bé, nhưng phát xuất từ tấm lòng của nhiều người hướng về đồng bào ruột thịt thân yêu đang chịu nhiều khó khăn thử thách vì thiên tai…
2020
Vấn đề sách giáo dục ở Việt Nam: cần bắt đầu lại từ đâu?
Vấn đề sách giáo dục ở Việt Nam: cần bắt đầu lại từ đâu?
Thời gian vừa qua, một trong những vấn đề xã hội nổi cộm ở Việt Nam là vụ việc lùm xùm quanh bộ Sách Tiếng Việt 1 trong bộ sách Cánh Diều. Dư luận xã hội và nhiều nhà chuyên môn đã chỉ ra những vấn đề bất cập của nó, như hình thức và các câu chuyện lộn xộn, rối rắm, phản giáo dục. Theo nhận xét của PGS.TS Nguyễn Hữu Đạt, Viện trưởng Viện Ngôn ngữ và Văn hóa phương Đông, bộ sách này “còn xa mới đáp ứng được các tiêu chuẩn cần có của bộ sách công cụ mà ta gọi là sách giáo khoa.”[1]
Một nền giáo dục thiếu triết lý
Tạm bỏ qua nghi vấn về khả năng ‘gian thương giáo dục’ như nhiều người đang e ngại, điều có thể thấy rất rõ đó là sự thiếu hụt một nền tảng triết lý mang tính nhất quán của hệ thống giáo dục nhân bản của đất nước. Chúng ta dễ dàng nhận ra những tư duy ‘khôn lỏi, ma lanh’ trong các cách diễn đạt và các câu chuyện ngụ ý từ những cuốn sách giáo khoa. Có thể chính những người biên soạn cũng không cố ý như vậy, nhưng chính điều đó lại phản ánh một thứ não trạng chung mang tính ích kỷ, tranh đua đã ăn sâu vào tiềm thức/vô thức của người Việt hiện nay, đến mức ngay cả các nhà giáo dục cũng không thoát ra được mạng lưới của nó.
Vì thế, việc suy nghĩ và nghiên cứu về triết lý giáo dục là điều cần phải làm trước khi tiến hành những kế hoạch tiếp theo. Theo thông tin mới nhất, Bộ Giáo Dục đã quyết định chỉnh sửa, cải cách bộ sách Tiếng Việt 1 nói trên.[2] Tất nhiên, điều này là cần thiết, nhưng chỉ mang tính tạm thời trong lúc cấp bách hiện nay. Thiết tưởng nếu không xây dựng một nền móng triết lý vững vàng thì mọi cải cách sẽ chỉ như xây nhà trên cát, và vài năm sau chúng ta lại phải ngồi với nhau để phàn nàn và hướng đến một cải cách khác, như vốn đã diễn ra mấy chục năm nay. Giáo sư Chu Hảo nhận xét cách xác đáng: “Sự cố này là kết quả tất yếu của các cuộc cải cách giáo dục hơn hai mươi năm gần đây nhằm đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, nội dung sách giáo khoa, phương pháp dạy học, cách thức thi tốt nghiệp phổ thông và tuyển sinh vào đại học…đều không dựa trên một triết lý, một tư tưởng hay một lý luận giáo dục rõ ràng và nghiêm chỉnh nào. Tất cả chỉ là các dự án, đổi mới mang tính chắp vá.”[3] Những cải cách kiểu đó không chỉ hoài phí tiền thuế và làm cạn kiệt niềm tin của người dân, mà quan trọng hơn là biến những thế hệ trẻ em ở đất nước này thành những chú chuột bạch.
Có thể xây dựng triết lý giáo dục như thế nào?
Để hình thành một hệ thống triết lý giáo dục với nền tảng siêu hình vững vàng là điều rất khó khăn, nhất là với một đất nước yếu về triết học như Việt Nam. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là chúng ta không thể tìm kiếm một phương hướng triết lý giáo dục cho mình được. Đơn giản vì chúng ta vẫn có thể thực hiện hai điều sau: (1) Nghiên cứu và học hỏi từ triết lý của các nền giáo dục tiên tiến khác; (2) xác định thêm những điểm triết lý đặc thù trong tâm thức và văn hoá người Việt Nam.
Về cơ bản, dù ở đâu, con người cũng chia sẻ những giá trị chung. Chúng ta hay nhấn mạnh đến khía cạnh khác biệt, đặc thù của mỗi dân tộc. Điều đó không sai, vì thực sự văn hoá ảnh hưởng rất lớn đến con người. Tuy nhiên, việc nhấn mạnh đó nhiều khi khiến ta quên rằng có những giá trị và nền tảng cốt lõi chung cho mọi người, ví dụ: ai cũng muốn được hạnh phúc, được yêu thương, được tôn trọng và trở nên hữu ích. Vì vậy, việc giáo dục con người ở mọi nơi đều có những điểm căn bản chung có thể áp dụng cho mọi dân tộc, mọi nền văn hoá.
Việc học hỏi, thậm chí là bắt chước, nền tảng triết lý và tri thức từ một hệ thống giáo dục tốt của nước khác chẳng có gì là xấu hổ. Ngay cả những nền giáo dục tiên tiến trên thế giới cũng không phải tự họ phát kiến và xây đắp bằng sức lực riêng của mình, mà chủ yếu là được phát triển trên nền tảng thừa kế và học hỏi từ bao nhiêu thành quả trước đó của nhân loại, đặc biệt là về mặt triết học. Hơn nữa, bản thân nền giáo dục Việt Nam hiện tại cũng đã chuyển đổi hệ hình theo nền học thuật Phương Tây (từ 1919), vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu và học hỏi, không chỉ từ những nước gần gũi về văn hoá và chủng tộc mà còn từ các nền giáo dục Phương Tây, là điều hết sức cần thiết.
Có nhiều điều chúng ta có thể học hỏi từ họ. Tuy nhiên, có một điểm mang tính cốt lõi cần phải chú trọng: một nền giáo dục được xem là tốt phải có tầm nhìn rằng giáo dục không chỉ để mở mang trí tuệ, mà quan trọng hơn là để mở rộng tâm hồn. Vì thế, các chương trình giáo dục tiên tiến này chú trọng việc giúp trẻ em nâng cao tâm thức quý trọng và yêu mến sự sống, nhất là sự sống con người. Một trong những phương thức giúp đạt điều này chính là cho các em tiếp xúc, chăm sóc và hoà mình vào môi trường thiên nhiên, để các em không chỉ vui chơi, mà còn biết tiếp xúc, trân quý, và chăm sóc sự sống của từng sinh mệnh bé nhỏ. Ví dụ, trẻ em mẫu giáo được cho gieo một hạt giống nào đó, rồi sau đó từng em sẽ quan sát và chăm sóc cây đó cho đến trưởng thành. Các em cũng được tạo điều kiện để tiếp xúc, chơi đùa với các con vật (trong công viên, nơi nông trại, vv.), và chăm sóc chúng. Đó là cách hiệu quả để các em thật sự có lòng quý trọng từng sinh mệnh, lẫn lòng tôn kính Đấng Tạo Hoá; và đó là cách để thiện tính trong tâm hồn các em được mở rộng. Một đứa trẻ biết yêu mến thiên nhiên, yêu mến sự sống của muôn loài, thì chắc hẳn cũng sẽ biết tôn trọng chính mình và yêu mến tha nhân; biết quý trong sự sống của họ, và có ý thức đóng góp xây dựng xã hội mãnh liệt hơn.
Còn về khía cạnh đặc thù trong triết lý giáo dục của Việt Nam: nếu nói rằng Việt Nam chưa có nền tảng triết lý giáo dục nào cũng không hẳn đúng, vì chúng ta từng theo hệ hình của Nho học trong một thời gian dài; rồi sau khi tiếp thu hệ hình Tây học, các nhà trí thức lớn thời đầu, như Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Văn Huyên, Tạ Quang Bửu, Đào Duy Anh,.. cũng đã xây dựng được các chương trình giáo dục quy củ và có nền tảng. Đặc biệt, cho đến trước khi kết thúc chiến tranh vào năm 1975, nền giáo dục Miền Nam Việt Nam đã kế thừa và phát triển chương trình của các vị học giả này, để xác lập một triết lý giáo dục khá hệ thống là ‘nhân bản – dân tộc – khai phóng’. Và điều quan trọng hơn cả: chúng ta có một truyền thống giáo dục nhân bản trong gia đình và làng xóm, với những hệ giá trị rất rõ nét được thừa nhận qua nhiều thế hệ.
Vì vậy, dù dường như chúng ta chưa từng có một nền triết lý được biện giải và phân tích cách có hệ thống và hoàn chỉnh, nhưng chúng ta lại có sẵn những giá trị triết lý mang tính quy chiếu rất rõ ràng trong gia sản của truyền thống văn hoá và tâm thức của dân tộc mình. Theo thiển ý người viết, chúng ta có thể liệt kê 5 giá trị nhân bản mang tính nền tảng đó như sau:
(1) Đạo hiếu. Trong tâm thức người Việt, đây là giá trị nền tảng trong tương quan với gia đình.
(2) Tự trọng. Đây là giá trị cốt lõi trong tương quan của một người với chính mình (‘tự trọng’ nghĩa là biết tôn trọng chính bản thân mình).
(3) Chân thành – Trung tín – Tương trợ. Đây là giá trị nền tảng trong tương quan với tha nhân và xã hội nói chung.
(4) Yêu quê hương, dân tộc. Đây là giá trị đặc trưng trong tương quan với đất nước.
(5) Hiền lành và thương người. Đây là giá trị quy chiếu trong tương quan với tâm thức thiêng liêng, tôn giáo.
Chính những giá trị đó đóng vai trò định hướng cách ứng xử và lối sống của từng cá nhân; và chúng trở thành các điểm quy chiếu để xác định đạo đức và luân lý của người Việt.
Cần giao cho ai nghiên cứu?
Sau khi xác định được phương hướng nghiên cứu về triết lý giáo dục, vấn đề quan trọng còn lại phải đặt ra: nhiệm vụ nghiên cứu này nên đặt vào những ai?
Một trong những vấn nạn ở Việt Nam là nhiều người làm việc theo ‘chức vụ’ và ‘nhiệm vụ chính trị’ thay vì ‘chuyên môn chuyên biệt’. Ông Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Tài Nguyên Môi Trường, đã can đảm chỉ ra, “tôi cho rằng lỗi lớn là ta đã ghép ‘giáo dục’ thế hệ trẻ và ‘đào tạo’ người lớn vào chung một bộ. Kể từ khi Bộ Giáo dục và Đào tạo được thành lập, tất cả bộ trưởng đều từ khu vực đại học, các việc lớn đều do bên đại học chủ trì. Một giáo sư ngữ văn, lịch sử hay địa lý có thể rất giỏi chuyên môn, nhưng sẽ trở thành vô nghĩa nếu không rành về tâm lý giáo dục trẻ em.”[4]
Vì vậy, trước hết, cần trao quyền nghiên cứu và làm việc độc lập cho các bộ/viện chuyên về giáo dục, với những người có chuyên môn chuyên biệt. Nhưng cũng cần lưu ý: nhiều người được xem là có ‘chuyên môn’, là ‘nhà sư phạm’ trong thế hệ hiện nay lại có nguy cơ là những ‘chuyên gia trong phòng máy lạnh’. Nghĩa là kết quả nghiên cứu của họ đến từ suy nghĩ chủ quan và mang nặng tính lý thuyết. Vì thế, cần phải có những nhà chuyên môn sư phạm có tâm và tầm thật sự trong sứ mạng này.
Chúng ta có rất nhiều người Việt tài năng, có chuyên môn hoặc tư chất về giáo dục, ở trong nước lẫn khắp nơi trên thế giới. Rất nhiều người trong số họ luôn có tâm huyết và nặng lòng với nước nhà. Vì vậy, tôi tin rằng chỉ cần mở ra một cơ chế thông thoáng, mời họ làm việc, đóng góp cho nền giáo dục nước nhà, thì hẳn nguồn nhân sự cần thiết cho sự mạng này không còn là vấn đề.
Giáo dục, xét cho cùng không phải là chuyện của riêng ai, hay của một nhóm người nào. Vì thế, ước mong không ai thờ ơ với giáo dục, không ai tìm cách trục lợi từ giáo dục, và cũng không ai tìm cách áp đặt ý thức hệ riêng của mình lên giáo dục!
[1] khoahocdoisong.vn . Cập nhật 18/10/2020.
[2] vietnamnet.vn . Cập nhật 18/10/2020.
[3] x. giaoduc.net.vn Đăng ngày 13/10/2020.
[4] vnexpress.net . Cập nhật 18/10/2020.
Khắc Bá, SJ
