2020
Tín thác
19 05 X Thứ Năm tuần 33 Mùa TN.
Kh 5,1-10; Lc 19,41-44
TÍN THÁC
Trang Tin Mừng hôm nay nằm ngay sau biến cố Chúa Giêsu lên Giêrusalem lần cuối. Giữa bầu khí tung hô nồng nhiệt của dân chúng, Chúa Giêsu lại tỏ ra sầu buồn, thương khóc cho thành Giêrusalem.
Thánh Luca thuật lại việc Chúa Giêsu khóc thương họ vì hai lý do: một là vì họ đã “không nhận ra những gì đem lại bình an” cho họ ; hai là vì họ đã “không nhận biết thời giờ họ được Thiên Chúa viếng thăm”. Quả vậy, việc nhận ra được hồng ân và bình an của Thiên Chúa tuôn đổ trên cuộc đời từng người và việc nhận biết ơn Cứu Độ của Thiên Chúa đó là một hồng ân lớn về đức tin.
Điều xảy ra cho thành Giêrusalem cũng có thể xảy đến cho mỗi người ở mọi thời: mỗi người đều có những giây phút hồng phúc được Chúa viếng thăm đem lại ơn lành. Theo quan niệm Kinh thánh, giây phút Thiên Chúa viếng thăm là giây phút Ngài thực hiện lòng nhân từ. Thánh Luca đã nhấn mạnh ý nghĩa này trong hai bài thánh ca ở đầu sách Tin mừng của Ngài, đó là bài ca của ông Dacaria và của Đức Maria.
Thiên Chúa quyền năng không đầu hàng trước sự khước từ của con người, bởi vì cái chết của Chúa Giêsu trên Thập giá đã trở thành nguồn ơn cứu thoát cho nhân loại. Chúng ta có thể nhận thấy bàn tay quan phòng ấy của Chúa trong sự sụp đổ của Yêrusalem vào năm 70. Do biến cố này, các tín hữu tiên khởi tản mác đi khắp nơi và nhờ thế Tin mừng được loan báo cho mọi dân tộc khác. Nhìn lại sự sụp đổ của Yêrusalêm và Tin mừng được loan đi khắp nơi, chúng ta lại càng xác tín hơn vào tình yêu quan phòng của Thiên Chúa. Thiên Chúa yêu thương con người đến độ ngay cả sự khước từ của con người cũng có thể biến thành khởi điểm cho một hồng ân cao cả hơn.
Giáo Hội đã chẳng gọi tội nguyên tổ là tội hồng phúc sao ? Đó phải là xác tin của chúng ta khi nhìn vào các biến cố lịch sử. Gặp thời thuận tiện hay không thuận tiện, cùng với thánh Phaolô, chúng ta hãy kiên vững trong sứ mệnh loan báo Tin mừng vì xác tín rằng không một sức mạnh trần thế nào có thể tiêu diệt được Giáo Hội.
Trong bài ca chúc tụng của mình, Dacaria đã nêu bật lòng nhân nghĩa của Thiên Chúa: chính vì lòng nhân nghĩa mà “Thái dương từ cao xanh khấng viếng thăm ta”. Còn về phần mình, ý thức giờ Thiên Chúa viếng thăm đang xảy ra không những cho bản thân, mà còn cho cả dân tộc và toàn thể nhân loại, Đức Maria đã nhận định về ý nghĩa sâu xa của việc Thiên Chúa viếng thăm: “Lòng nhân nghĩa của Người suốt đời nọ đến đời kia, trên những kẻ kính sợ Người”. Chỉ có một lý do cho cuộc viếng thăm của Thiên Chúa, đó là thể hiện lòng nhân nghĩa đối với những người được Ngài viếng thăm. Do đó, nếu không đón nhận giờ Chúa viếng thăm, con người không những gây thiệt hại cho chính mình, mà còn cho cả người khác nữa.
Chúng ta có dám tin Thiên Chúa điều khiển cuộc đời chúng ta không? chúng ta có dám tin Thiên Chúa đem lại suối nguồn bình an cho cuộc đời chúng ta không? Chúa vẫn viếng thăm và hiện diện nơi mỗi hoàn cảnh sống, nơi mỗi người chúng ta gặp gỡ nhưng chúng ta có nhận ra Ngài hay không? Chúng ta có sẵn sàng mở lòng đón nhận thời giờ ân sủng mà Thiên Chúa vẫn hằng tuôn đổ trên cuộc đời mỗi người chúng ta hay không? Làm sao mỗi chúng ta nhận ra thời điểm Thiên Chúa đến thăm mình?
Thế giới hôm nay đang có khuynh hướng loại trừ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống của họ. Họ nhân danh tự do tôn giáo để loại trừ Thiên Chúa ra khỏi đời sống xã hội. Nhưng thử hỏi không có Thiên Chúa thì ai ở được với ai ! Nhân loại sẽ bị kéo vào những cuộc chiến tranh, thù hận không lối thoát.
Và rồi nhìn lại mỗi người, ta thấy ta đang sống trong một thế giới đầy hận thù, chiến tranh sắc tộc, chiến tranh tôn giáo nổ ra khắp nơi. Cũng bởi vì con người chưa nhận ra Thiên Chúa tình thương, chưa nhận ra sự hiện diện của Chúa Giêsu trong mỗi người cũng như trong lịch sử thế giới hôm nay.
Sẽ tới ngày quân thù ngươi . . sẽ đè bẹp ngươi và con cái đang ở trong ngươi, và sẽ không còn hòn đá nào trên hòn đá nào nữa vì ngươi đã không nhận biết thời giờ Thiên Chúa đến viếng thăm người.
Chúa báo trước cảnh Giêrusalem sụp đổ bình dịa xảy ra vào năm 70 dưới gót giày của quân Rôma. Sự sụp đổ của Giêrusalem báo trước ngày phán xét. Giêrusalem và con cái thành nầy được Chúa chọn nhưng đã bất trung, không nhận biết Chúa nên phải chịu một hình phạt ghê gớm.
Hãy để Thiên Chúa đi vào đời chúng ta và Ngài sẽ chi phối những chọn lựa của chúng ta. Chỉ trong Thiên Chúa mọi sự mới có nền tảng vững bền. Nếu không, như Giêrusalem, chúng ta chỉ còn là những bức tường than khóc. Nếu không thì nước mắt của Chúa Giêsu vẫn còn rơi trước sự cứng lòng tin của nhân loại hôm nay. Và nước mắt tình yêu, tha thứ của Chúa vẫn còn nhỏ xuống trên sự phản bội, bất trung của con người.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy mau mắn đón nhận lời giáo huấn của Chúa và ra sức thi hành để được cứu độ. Cần loại bỏ sự tự kiêu, ích kỷ và thay vào đó là thái độ khiêm nhường để nhận ra vai trò, trách nhiệm của mình. Có thế, chúng ta mới mong được ơn cứu độ của Thiên Chúa.
2020
Lời tuyên tín
18 04 X Thứ Tư tuần 33 Mùa TN.
Kh 4,1-11; Lc 19,11-28
Cung hiến thánh đường thánh Phêrô
và thánh Phaolô.
Cv 28,11-16.30-31; Mt 14,22-33
LỜI TUYÊN TÍN
Hai ngôi đền thờ vĩ đại Thánh Phero và Thánh Phaolo ở Roma không chỉ to lớn bề thế về công trình lối kiến trúc đồ sộ vững chắc, và những trang hoàng ấn tượng mang dấu ấn rất nghệ thuật thời trung cổ có một không hai từ xưa nay. Nhưng hai ngôi đền thờ còn là hình ảnh nói lên dấu chỉ về Thiên Chúa vô hình đang hiện diện giữa con người, với những hàng cột cao trong ngoài thán đường, những vòm chỏm tháp vươn cao lên không trung giữa thiên nhiên, những mầu sắc hài hoà của những tảng đá cẩm thạch cùng đường vân thiên nhiên hòa hợp với ánh sáng chiếu tỏa sự trong sáng nét đẹp của thiên nhiên.
Có thể nói được những ý tưởng mà các vị Kỹ sư và các vị danh Họa điêu khắc đã khắc ghi vào công trình gỗ đá xây dựng hai ngôi đền thờ này, bắt nguồn như thức ăn gợi hứng cho họ là con người, là người có lòng tin vào Chúa, là kỹ sư kiến trúc, là nhà danh hoạ chuyên môn, từ ba cuốn sách về thiên nhiên, cuốn sách Kinh Thánh và cuốn sách về Phụng vụ.
Vì thế, hai ngôi đền thờ kết hợp được cả ba mặt kiến trúc trong thời đại trần gian, về lịch sử ơn cứu độ của Chúa phần thiêng liêng, như Kinh thánh thuật lại, và về phụng vụ, nơi con người trần thế cử hành lễ nghi thờ phượng Thiên Chúa.
Hai ngôi đền thờ được xây dựng để kính hai Thánh tông đồ Phero và Phaolo, nhưng họ không phải là nền tảng cho hai đền thờ này. Chính Chúa Giesu Kitô mới là đá nền tảng niềm tin cho đền thờ ( 1 cor 3,10-11). Vì nơi hai đền thờ này mỗi khi mọi tín hữu Chúa Kitô tụ họp đọc kinh cầu nguyện, cử hành nghi lễ phụng vụ , là tưởng niệm sự sinh ra, chịu chết và sống lại của Chúa Kitô. Đó là nền tảng đức tin của Kitô giáo.
Chúa Giêsu Kito là đá tảng nâng đỡ cho ngôi đền thờ đức tin của Giáo Hội được vững chắc. Nơi Chúa Giêsu chúng ta học và đọc được Lời của Chúa, cũng như từ nơi Ngài Giáo Hội nhận được sức sống, giáo lý và sự sai đi đến với con người.
Hai ngôi đền thờ này như hình ảnh biểu tượng cho Giáo Hội Công Giáo Roma, cũng đã trải qua những lần bị hư hại xuống cấp, bị hỏa hoạn cháy thiêu rụi, và được sửa chữa lại, xây dựng mới lại. Hai ngôi đền thờ kiến trúc công trình nghệ thuật đứng vững từ hàng bao thế kỷ nay là do luôn được quyét dọn, tân trang bảo trì sửa chữa liếp tục.
Đời sống trong Giáo Hội cũng vậy, có những giai đoạn thoái hóa lên xuống về mặt tinh thần đạo giáo cũng như tổ chức điều hành quản lý. Những khúc ngoặt hay bóng tối đó gây ra những tiếng tăm không tốt, hậu qủa tiêu cực.
Nhưng đồng thời đó cũng là dịp tốt để Giáo Hội nhìn ra biết mình mà điều chỉnh sửa chữa làm mới lại cho tốt lành đúng như ý Chúa muốn, cùng là nhân chứng cho Chúa giữa lòng xã hội con người trần thế. Có thế ngôi nhà đức tin Giáo Hội mới đứng vững được.
Tin Mừng hôm nay cũng bàn về an toàn cho sự sống con người trên biển cả. Đối với các môn đệ của Chúa Giêsu cũng như đối với dân Do Thái nói chung, biển cả tượng trưng cho sức mạnh của sự dữ. Sức mạnh ấy chính Thiên Chúa đặt dưới quyền năng vô song của Ngài (Tv 88,9-11). Và quyền năng vô song này cũng được tỏ hiện nơi Đức Giêsu, khi Ngài dẹp yên biển động hay khi Ngài đi trên biển sóng gió đến với các môn đệ đang hoảng sợ.
Riêng với biến cố Đức Giêsu đi trên mặt biển, điều được nhấn mạnh là: muốn được an toàn, các môn đệ phải hoàn toàn tin tưởng vào Thầy Giêsu. Nhưng trong Nhóm 12, người được chú ý hơn cả là Phêrô. Phêrô không những phải đặt niềm tin hoàn toàn nơi Thầy Giêsu mà còn phải duy trì niềm tin đó, không nao núng, không nghi ngờ. Thiếu niềm tin mạnh mẽ hơn sóng gió để đối phó với thử thách, thì cả đến Phêrô là người sốt sắng nhiệt thành đối với Thầy hơn mọi người trong Nhóm, cũng không thể đứng vững được, mà phải bị đắm chìm. Trái lại, bao lâu Phêrô vững vàng trong niềm tin, ông được tham dự vào quyền năng siêu việt của Thầy Giêsu.
Đức tin còn phải được những khó khăn, thử thách rèn luyện mới lớn mạnh trưởng thành. Đức tin nằm yên một chỗ, không phải đương đầu, đối chọi với sóng gió của cuộc đời, đức tin ấy sẽ luôn yếu mềm, ấu trĩ. Tin là phải như Phêrô, nhảy vào khoảng trống, phải bước ngay xuống nước để đến với Chúa. Con người không thể đi trên nước, và niềm tin cũng không tiêu diệt được sóng gió. Nhưng có Chúa đứng đó, cũng trên mặt nước và sóng gió, nên ông không ngần ngại nhảy ngay xuống nước để đến với Ngài. Tin là một sự liều lĩnh, nhưng không phải là sự liều lĩnh tuyệt vọng: nhảy xuống nước để tự tử! Trái lại, tin là một liều lĩnh tràn đầy hy vọng, vì nắm chắc sẽ gặp được Chúa đang đứng ở bên kia bờ tuyệt vọng: Ngài là Đấng Cứu Độ, là sự sống.
Bấy giờ, “những kẻ ở trong thuyền bái lạy Người và nói: “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa!” (c.33). “Những kẻ ở trong thuyền” tức là cộng đoàn Kitô hữu ở trong Hội Thánh. Cộng đoàn ấy bây giờ tin thật Đức Giêsu là Con Thiên Chúa và tuyên xưng lòng tin ấy.
Lời tuyên xưng này được đặt ở cuối trình thuật, tức là sau khi Đức Giêsu đã lướt đi trên mặt biển đồng thời tự mặc khải về mình bằng cách sử dụng chính biểu thức mà Thiên Chúa tự nói về Người trong Cựu Ước (“Ta là”), và sau khi Đức Giêsu đã can thiệp để cứu ông Phêrô khỏi tình trạng bị chìm xuống biển. Vì thế tước hiệu “Con Thiên Chúa” được áp dụng cho Chúa Giêsu ở đây vừa mang giá trị Kitô học, vừa mang ý nghĩa cứu độ học. Đồng một trật, Đức Giêsu chứng tỏ Người có quyền lực thần linh tuyệt đối và quyền lực ấy được thi thố để cứu các môn đệ.
Đó chính là xác tín đức tin vĩ đại mà Hội Thánh muốn công bố với chúng ta hôm nay, và đồng thời cũng là xác tín đức tin làm nền tảng cho cuộc sống của mỗi tín hữu và của tất cả Hội Thánh trong hiện tại.
Qua biến cố này, chúng ta thấy điểm chủ yếu là lòng tin. Lòng tin từ tình trạng yếu đuối tiến đến việc tuyên xưng mạnh mẽ, nhờ cảm nghiệm được sự hiện diện đầy quyền năng của Chúa Giêsu trong chính hoàn cảnh thách đố lòng tin của các môn đệ. Điều này gợi lên cho chúng ta vài suy nghĩ về lòng tin của chúng ta và sự dấn thân với lòng tin trong những hoàn cảnh sống khó khăn, thử thách. Lòng tin của chúng ta là gì, nếu không phải là tin vào Thiên Chúa toàn năng và ơn cứu độ của Ngài.
2020
Tín hữu có thể viếng nhà thờ thánh Gioan Tẩy Giả ở sông Jordan
Nhà thờ thánh Gioan Tẩy Giả ở vùng Qasr Al-Yahud, nơi Chúa Giê-su chịu phép rửa, trên bờ sông Jordan, đã được chính quyền Israel trao lại cho dòng Phanxicô ở Thánh Địa và trong tương lai gần, tín hữu có thể đến kính viếng và cầu nguyện tại đây.
Sông Jordan
Từ năm 1967, tín hữu không thể đến khu đất nơi có nhà thờ và một đan viện vì nó bị biến thành một cánh đồng mìn và sau đó thành khu vực quân sự có rào bao quanh.
Nhưng với thỏa thuận giữa chính quyền Israel và Palestine, tổ chức Halo Trust, một tổ chức của Anh chuyên rà phá bom mìn, đã khởi động một dự án khai hoang trong khu vực nơi Chúa Giêsu chịu phép rửa và khoảng 4.000 quả mìn đã được gỡ bỏ. Điều này cho phép 8 Giáo hội trong vùng: Công giáo, Chính Thống Hy Lạp, Armeni, Copte, Etiopia, Rumeni, Syria và Nga, sở hữu lại các tài sản của mình.
Tu sĩ Ibrahim Faltas cho biết rằng các tu sĩ dòng Phanxicô đã bắt đầu tổ chức các cuộc hành hương đến sông Jordan vào năm 1641. “Đầu những năm 1920, họ bắt đầu mua đất và lên kế hoạch xây dựng nhà thờ. Năm 1933, họ xây dựng một nhà nguyện mà hiện nay thực tế là nằm giữa sông”. Tu sĩ này nói rõ rằng nhà thờ thánh Gioan Tẩy Giả có từ năm 1935.
Leonardo Di Marco, giám đốc Văn phòng kỹ thuật của dòng ở Thánh Địa cho biết, tín hữu sẽ có thể đến nhà thờ và nhà thờ sẽ có thể sử dụng được. Trong những tháng tới, người ta sẽ bắt đầu công việc khôi phục và nới rộng toàn bộ cơ sở thông qua việc tạo ra các không gian cầu nguyện để những người hành hương có thể sống một kinh nghiệm sâu sắc hơn. Sẽ có những nơi để cầu nguyện và suy niệm. (CSR_8378_2020)
Hồng Thủy
2020
Dư âm của Phúc trình về cựu Hồng Y Mc Carrick
Dư âm của Phúc trình về cựu Hồng Y Mc Carrick
Phúc trình công bố những điều tra về cựu Hồng y McCarrick đã khơi dậy nhiều ý kiến khác nhau, cáo buộc các vị bị xem là có trách nhiệm trong bi kịch do ông tạo nên. Vết thương do vị cựu Hồng y này để lại còn mở toang, điều quan trọng là mọi thành phần Giáo Hội không làm cho vết thương ấy sâu rộng hơn bằng những hành động lên án và cáo buộc nhau, nhưng sớm chữa lành bằng những quyết tâm tránh tái diễn lầm lỗi.
Sau 2 năm soạn thảo theo lệnh của Đức Thánh Cha Phanxicô, tài liệu dài 460 trang của Phủ Quốc vụ khanh Tòa Thánh được công bố hôm 10/11 vừa qua với tựa đề ”Phúc trình về việc nhận biết theo các cơ chế và về tiến trình quyết định của Tòa Thánh liên quan đến cựu Hồng y Theodore Edgar McCarrick” từ năm 1930 đến 2017”.
Những cột mốc trong cuộc đời của cựu Hồng y McCarrick
Cựu Hồng y McCarrick năm nay 90 tuổi (1930), vốn là nhân vật thuộc hàng nổi tiếng và ảnh hưởng nhất trong Giáo Hội Công Giáo tại Mỹ với một sự nghiệp ”rạng rỡ”. Ông chịu chức linh mục năm 28 tuổi tại New York, 19 năm sau đó được Đức Phaolo VI bổ làm Giám mục phụ tá tổng giáo phận New York; 4 năm sau, năm 1981, ông trở thành Giám mục chính tòa Metuchen bang New Jersey lân cận, và chỉ 5 năm sau đó, năm 1986, được thăng Tổng giám mục giáo phận Newark có gần 1 triệu rưỡi tín hữu Công Giáo. Tháng 11 năm 2000, ông được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II bổ nhiệm làm Tổng giám mục giáo phận thủ đô Washington và năm sau đó được phong Hồng Y.
Mùa hè năm 2005, khi Hồng y McCarrick tròn 75 tuổi, Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI đã lưu nhiệm ông thêm 2 năm, nhưng 1 năm sau đó, sau khi có tin về những vụ lạm dụng tính dục của vị Hồng Y này, ngài đã cho ông từ chức. Tháng 6 năm 2017, lần đầu tiên Tổng giáo phận New York nhận được thư cáo buộc cụ thể về việc Hồng y McCarrick lạm dụng tính dục 1 trẻ vị thành niên, nên đã chính thức tiến hành thủ tục điều tra theo giáo luật và 1 năm sau, tháng 6/2018, tổng giáo phận xác nhận những lời tố cáo là đáng tin, nên Tòa Thánh cấm ông không được thi hành chức vụ thánh. 1 tháng sau đó, Đức Thánh Cha Phanxicô rút tước vị Hồng Y của Hồng y McCarrick và buộc ông hồi tục. Nói chung, đương sự bị cáo là lợi dụng tính dục các chủng sinh và linh mục trẻ từ năm 1970 đến 1990, lạm dụng quyền bính và lạm dụng tính dục trẻ vị thành niên ít là 2 lần.
Một số điểm quan trọng rút ra từ Phúc trình
Phúc trình cho thấy một số điểm quan trọng: trước tiên là những sai lầm trong vụ cựu Hồng y McCarrick đã thúc đẩy Giáo Hội đi đến chỗ thông qua những quy luật mới để tránh tái diễn những vụ như vậy. Thứ hai là cho đến năm 2017, không hề có những cáo buộc với chi tiết rõ ràng về những lạm dụng của ông. Lời cáo buộc đích thị đầu tiên về sự lạm dụng của cựu Hồng y McCarrick đối với trẻ vị thành niên chỉ được trình báo năm 2017 và giáo quyền đã hành động ngay.
Phúc trình của Phủ Quốc vụ khanh dựa trên các tài liệu có được từ tòa Sứ Thần Tòa Thánh ở Washington cũng như tại Văn khố của bộ Giám mục và Phủ Quốc vụ khanh, cùng với chứng từ của hơn 90 người được lấy cung trong các cuộc điều tra.
Phúc trình cho thấy từ khi cứu xét việc đề nghị McCarrick làm Giám mục Phụ tá New York vào năm 1977, rồi tới các nhiệm sở khác cho tới Tổng giám mụcTổng giám mục Newark năm 1986, không có người nào được tham khảo ý kiến cung cấp những nhận xét tiêu cực về cuộc sống luân lý của cựu Hồng y McCarrick. Trong thập niên 1990 có vài thư nặc danh chống Tổng giám mục này được gửi đến các Hồng Y và tòa Sứ thần Tòa Thánh ở Washington, nhưng không được coi là đáng tin vì thiếu các yếu tố cụ thể. Một điểm quan trọng trong vụ này là việc bổ nhiệm ông làm Tổng giám mục Washington. Có nhiều ý kiến thuận, nhưng cũng có ý kiến chống của Đức Hồng y O’Connor Tổng giám mục New York, vì Đức Hồng y nói có nguy cơ gương mù, theo những tiếng đồn Đức Hồng y đã nghe trong quá khứ, theo đó McCarrick ngủ chung giường với những thanh niên trong nhà xứ, và với các chủng sinh trong 1 nhà ở biển.
Các phản ứng sau khi Phúc trình được công bố
Sau khi Phúc trình được công bố, rất nhiều phản ứng được ghi nhận, đặc biệt tại Mỹ. Có những người qui trách cho Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô 2, hoặc Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI và cả Đức Thánh Cha đương kim, cho rằng các vị biết mà không ra tay hành động. Trong thời gian qua, Đức Tổng giám mục Viganò, nguyên Sứ Thần Tòa Thánh tại Washington, tố cáo rằng Đức Thánh Cha Phanxicô biết những lạm dụng của cựu Hồng y McCarrick mà không xử lý đương sự ngay, và yêu cầu ngài từ chức. Đức Tổng giám mục Viganò cũng tố cáo Đức Hồng y Ouellet, Tổng trưởng Bộ Giám mục, trong vụ này, nhưng Đức Hồng y Ouellet đã công bố thư ngỏ bác bỏ những lời cáo buộc của Đức Tổng giám mụcViganò.
Tại Ba Lan cũng có những tranh luận và 1 đài truyền hình tại đây tố cáo Đức Hồng y Dziwisz, nguyên bí thư của Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II, đã ém nhẹm việc thông báo cho Đức Giáo hoàng về hành tung của cựu Hồng y McCarrick, nhưng Đức Hồng y Dziwisz bác bỏ lời cáo buộc này là vu khống. Đức Hồng y ủng hộ đề nghị của Đức Tổng giám mụcChủ tịch Hội đồng Giám mục Ba Lan về việc thành lập một Ủy ban độc lập để điều tra nghiêm túc về vai trò của ngài trong tất cả vụ này.
Đức Hồng y Parolin: cần hoán cải nội tâm
Vụ McCarrick là một trang đau thương mà toàn thể Giáo Hội phải rút ra bài học. Đức Hồng yParolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, nói rằng: ”Chúng tôi công bố Phúc Trình, đau lòng vì những vết thương mà vụ này gây ra cho các nạn nhân, thân nhân họ, cho Giáo Hội tại Mỹ, Giáo Hội hoàn vũ. Như Đức Thánh ChaPhanxicô đã làm, tôi cũng đã có thể đọc các chứng từ của các nạn nhân từ các tài liệu. Sự đóng góp của họ rất quan trọng. Cùng với đau khổ, có một cái nhìn hy vọng. Để những hiện tượng này không được tái diễn, cạnh những qui luật hiệu năng hơn, chúng ta cần có một sự hoán cải nội tâm. Cần có những mục tử đáng tín nhiệm để loan báo Tin Mừng, tất cả chúng ta phải ý thức rằng điều đó chỉ có thể có nhờ ơn thánh của Chúa Thánh Linh, xác tín nơi lời Chúa Giêsu: ”Nếu không có Thầy, các con không thể làm gì được”.
Thông cáo của Chủ tịch Hội đồng giám mục Hoa Kỳ
Về phần Đức Tổng giám mục José Gomez, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ, trong thông cáo ngày 10/11, ngài viết: “Đây là một chương bi thảm được thêm vào trong cuộc tranh đấu lâu dài của Giáo Hội chống lại các tội ác giáo sĩ lạm dụng tính dục. Đối với các nạn nhân của cựu Hồng y McCarrick và gia đình họ, cũng như đối với mỗi nạn nhân sống sót trong các vụ giáo sĩ lạm dụng, tôi bày tỏ sự đau buồn sâu đậm và hết lòng xin lỗi. Xin hãy biết rằng các anh em Giám mục của tôi và bản thân tôi đang dấn thân làm tất cả những gì có thể trong quyền hạn để giúp anh chị em tiến bước và bảo đảm sao cho không người nào chịu đau khổ như anh chị em đã phải chịu.. Phúc trình này nhấn mạnh rằng chúng tôi cần phải thống hối và cần tăng trưởng trong quyết tâm phục vụ Dân Chúa. Chúng ta hãy tiếp tục cầu nguyện và cố gắng hoán cải tâm hồn và để chúng ta có thể theo Chúa Giêsu Kitô với lòng chính trực và khiêm tốn”.
Tuyên bố của Đức Thánh Cha
Những người chống đối Giáo Hội có thể sẽ tìm được trong Phúc trình những chi tiết để hỗ trợ cho lập trường của họ. Điều chắc chắn là từ chương đau thương này trong lịch sử của mình, Giáo Hội càng được thúc đẩy để quyết tâm bài trừ tội ác giáo sĩ lạm dụng tính dục, như Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói trong buổi tiếp kiến chung sáng thứ Tư, 11/11 vừa qua: ”Hôm qua (10/11), Phúc trình về trường hợp đau thương cựu Hồng Y Theodore McCarrich đã được công bố. Tôi tái bày tỏ sự gần gũi với các nạn nhân của mọi thứ lạm dụng và quyết tâm của Giáo Hội nhổ bỏ sự ác này”.
Giuse Trần Đức Anh O.P.
