2024
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG LỄ CHÚA GIÁNG SINH 2024
ỦY BAN GIÁO DỤC CÔNG GIÁO
trực thuộc
Hội Đồng Giám Mục Việt Nam
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO
NHÂN DỊP MỪNG LỄ CHÚA GIÁNG SINH 2024
Các con thân mến,
Cha gửi đến các con lời chào yêu mến, nhân dịp lễ Giáng Sinh 2024. Tạ ơn Chúa vì thêm một cơ hội nữa, tất cả chúng ta được vui mừng cử hành và sống Mầu Nhiệm Thiên Chúa Giáng Sinh làm người, như lời loan báo của sứ thần Thiên Chúa: “Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa” (Lc 2, 11). Trong mầu nhiệm cứu độ, sự hiện diện của Chúa Giêsu được mô tả thật phong phú. Các Thánh Tông đồ công bố Người là viên đá bị các thợ xây loại bỏ nhưng đã trở thành viên đá góc tường (x. Cv 4, 11), là viên đá trung tâm của một Đền thờ sống động, để quy tụ những ai tin vào Người. Chúa Giêsu cũng là hình ảnh của hạt lúa mì được gieo vào lòng đất, mà cuộc khổ nạn Người phải chịu sẽ làm trổ sinh nhiều bông hạt khác (x. Ga 12, 23-24). Đặc biệt nhất, Đức Giêsu được gọi là “Ánh Sáng cho muôn dân”. Danh xưng này không phải do Giáo Hội gán ghép cho Người, nhưng đây là lời tuyên bố của Đức Chúa trong sách Ngôn sứ Isaia: “Này Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất” (Is 49, 6). Tất cả những hình ảnh thật ý nghĩa ấy, đều khởi nguồn từ Mầu nhiệm Giáng Sinh, một mầu nhiệm mà chúng ta cùng sốt sắng cử hành trong những ngày sắp tới.
- Những lời loan báo thánh thiêng
“Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới” (Gal 4, 4). Chúng ta có thể nhìn thấy cách rõ nét điều này qua những lời loan báo thánh thiêng được mô tả lại trong Thánh Kinh.
- Loan báo qua các Tiên tri
Một câu chuyện đầy nuối tiếc đã xảy ra trong buổi bình minh của nhân loại: Adam và Eva dùng tự do Chúa ban cho mình, không vâng lời Thiên Chúa, từ chối hạnh phúc tốt đẹp từ ban đầu mà Người muốn trao tặng cho con người (x. St 3, 1-19). Nhưng Chúa hứa sẽ cứu chuộc nhân loại: một người nữ sẽ xuất hiện và dòng giống người nữ ấy sẽ chiến thắng (x. St 2, 15). Để thực hiện chương trình cứu chuộc này, Thiên Chúa đã gửi đến cho dân mà Người tuyển chọn nhiều sứ giả nổi bật: Ápraham, cha của các tín đồ (St 12-18); Môisen, người được cứu thoát cách lạ lùng (Xh 2, 1-10); Đavít, một người như lòng Chúa ước mong (x. 1Sm 13,14). Bên cạnh đó là các Ngôn sứ và Tiên tri, những người được tuyển chọn để tiếp tục nói Lời của Đức Chúa cho mọi người. Dù là ở những giai đoạn và hoàn cảnh khác nhau, nhưng tất cả đều hướng đến một mục đích chung: loan báo cho mọi người về sự xuất hiện của Đấng Cứu Thế. Isaia, một trong những khuôn mặt được nhắc đến nhiều trong Mùa Vọng, ông đã nói đến một thời kỳ mà ánh sáng sẽ chiếu rọi trên những người ở trong bóng tối. Đấng Cứu Thế, “Người gánh vác quyền bính trên vai, danh hiệu của Người là Cố Vấn kỳ diệu, Thần Linh dũng mãnh, người Cha muôn thuở, Thủ Lãnh hoà bình” (x. Is 9, 1-7). Lời loan báo ấy càng trở nên gần gũi hơn nữa khi ông nói với mọi người rằng:“Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en” (Is 7, 14).
- Loan báo cho Đức Mẹ
Theo truyền thống của Giáo hội, người thiếu nữ mà Isaia đã nói ở trên chính là Đức Maria, một thiếu nữ thôn quê hiền lành đạo đức, cũng nhận được những lời loan báo thiêng thánh từ trời cao, nơi môi miệng của sứ thần Thiên Chúa. Chúng ta hãy nhớ lại sự chuyển động thật hợp lý của Phụng vụ Giáo hội. Với bậc lễ trọng của ngày 25.3, chúng ta được kêu gọi bày tỏ niềm vui trước một sự kiện trọng đại trong lịch sử Cứu độ nhân loại: Sứ Thần của Thiên Chúa đã đến ngỏ lời với Đức Maria, như ước mong cho trần thế mở lòng đón nhận Đấng Cứu Độ của mình (x. Lc 1, 26-38). Cho dù có một chút phản ứng của tâm trạng ngỡ ngàng, nhưng với câu trả lời “Xin Vâng” đầy khiêm nhường và tín thác của Đức Mẹ, việc Nhập Thể được thực hiện: Chốc ấy Ngôi Thứ Hai xuống thế làm người (Kinh Truyền Tin). Tiếng “Xin Vâng” của Mẹ Maria có một giá trị đáng ngưỡng mộ, đến nỗi thánh Bênađô đã viết: lời xin vâng của Mẹ Maria đã làm cho triều thần thiên quốc đang nín thở đợi chờ, được hân hoan vui sướng, cho hoa lá reo mừng, cho Mùa Xuân Cứu Độ được mở ra. Niềm vui ấy đã nhanh chóng lan tỏa vào thế gian, khi trẻ Gioan Baotixita lúc còn ở trong lòng mẹ, đã cảm nhận được Ơn Cứu Độ của mình: “Bà Êlisabét vừa nghe tiếng bà Maria chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên, và bà được đầy tràn Thánh Thần” (Lc 1, 44).
- Loan báo cho các Mục đồng
Ngày 25.12, tức là 9 tháng sau biến cố truyền tin, Phụng vụ đầy ánh sáng của ngày lễ Chúa Giáng Sinh, đã làm cho những lời loan báo thiêng thánh một lần nữa lại được vang lên trong nhân thế đầy niềm vui và hy vọng, Sứ thần Thiên Chúa đã đánh thức sự im lặng trong bóng đêm của trần thế: “Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại…Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ” (Lc 2, 10-12). Đọc chậm lại lời loan báo này, một cách cá nhân, cha cảm nhận một tình thương quá đặc biệt mà Thiên Chúa đã dành cho con người. Có thể sự nghèo nàn làm cho người ta phải đối diện với nhiều khó khăn, nhưng có lẽ trong nhân gian thiên hạ, chưa có một trẻ sơ sinh nào phải nằm trong máng cỏ, chưa có một sinh linh nào phải chào đời trong nơi trú ngụ của đàn súc vật. Thế nhưng, đó lại là con đường mà Thiên Chúa quyền năng đã chọn để đi vào trần thế. Thánh Phaolô còn nhận ra và nói với chúng ta rằng: Người đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có (x. 2 Cr 8, 9). Ước gì tất cả chúng ta, tất cả những người đứng trước Hang đá Máng cỏ Chúa Hài Đồng trong đêm cực thánh mừng Chúa Giáng sinh, đều cảm nhận được tình thương Chúa đang ở gần và luôn hiện diện trong chính cuộc sống hàng ngày của mình.
- Giáng sinh, huyền nhiệm của Tình Yêu
Nếu theo xác tín của Thánh Gioan: Thiên Chúa là Tình Yêu (1 Ga 4, 16a), thì ta có thể tìm thấy một mệnh đề kết luận rằng: Giáng Sinh, Tình Yêu ở cùng chúng ta. Đây quả thật là một món quà chưa ai dám hay có thể nghĩ đến, nhưng Thiên Chúa lại ban tặng cách vô điều kiện cho nhân loại. Bằng con đường nhập thể làm người, tình yêu Thiên Chúa không ở xa hay ở trên, để chúng ta phải níu kéo hoặc hướng nhìn nữa, nhưng là ở cùng và ở với chúng ta mỗi ngày trong cuộc đời của mình. Cách đây một năm 15/12/2023, khi gặp gỡ các bạn trẻ Công giáo Tiến hành ở Ý, Đức Thánh Cha Phanxicô đã chia sẻ một đề tài ngắn về mầu nhiệm Giáng Sinh, qua đó, ngài nói lên ước mong của ngài cho các bạn khi mừng lễ trọng đại này. Hôm nay cùng với các con, cha muốn đọc lại các ý tưởng của Đức Thánh Cha. Đối với Đức Thánh Cha, Giáng Sinh là lễ kỷ niệm tình yêu Thiên Chúa: Thiên Chúa luôn yêu thương chúng ta và ở bên chúng ta, tình yêu người khác và tình yêu công trình sáng tạo, nhờ đó, chúng ta được ở lại trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở lại trong chúng ta (x. 1 Ga 4, 16b).
- Giáng sinh, tình yêu dành cho nhau
Đức Thánh Cha nhận xét, ngày nay món quà tình yêu của Chúa Giáng sinh đang thiếu trầm trọng, từ đó gây ra chiến tranh khiến rất nhiều người và trẻ em phải đau khổ. Người đề cập đến con số đáng kinh ngạc của sinh mạng trẻ em bị cắt ngắn trong ba cuộc xung đột đang diễn ra: hơn 3.000 trẻ em đã chết ở Gaza, ở Ukraine có hơn 500 trẻ em, và ở Yémen, sau nhiều năm chiến tranh, có hàng nghìn trẻ em đã chết. Thật khó tin nhưng đó là sự thật; một sự thật mà các nhà lãnh đạo trên thế giới, những người có thể ngăn chặn được bạo lực, không được phép coi thường trong vai trò của mình; một tiếng kêu xé lòng cho tất cả mọi người khi nhìn ngắm Chúa Hài Đồng nơi Hang đá Máng cỏ đầy thinh lặng. Từ viễn cảnh đó, bắt đầu từ những môi trường mình đang sống, Đức Thánh Cha khuyến khích chúng ta thể hiện tình yêu thương trong gia đình, giáo xứ, trường học và mọi nơi khác trong cuộc sống hàng ngày. Người nói, đó là lý do mà Chúa Giêsu đã sinh ra, trở nên nhỏ bé, sống trong một gia đình với Đức Maria và Thánh Giuse, và tiếp tục hiện diện bên cạnh mỗi người chúng ta.
- Giáng sinh, tình yêu cho môi trường
Đức Thánh Cha nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chăm sóc Ngôi nhà chung là thế giới mình đang sống. Người nói: “Thiên Chúa kêu gọi chúng ta nhận ra và tôn trọng vẻ đẹp chung quanh chúng ta, trong thiên nhiên và con người, và do đó phát triển trong sự chia sẻ và tình huynh đệ”. Cuối cùng, người khuyến khích các bạn trẻ hãy dấn thân cho cuộc hành trình này. Chúa Giáng sinh cho trần thế, trong đó có con người, có tạo vật. Vậy, bằng những công việc có thể làm được trong ý thức bảo vệ môi sinh, các con hãy chung tay giúp cho môi trường mình đang sống trở nên sạch đẹp hơn như thuở ban đầu của tạo dựng: “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp” (St 1, 31). Hãy cầu nguyện với Chúa Hài Đồng những lời này cho chúng ta và tất cả mọi người trên thế giới: “Lạy Thiên Chúa toàn năng, Chúa luôn hiện diện trong vũ trụ và ngay trong những thụ tạo nhỏ bé nhất của Chúa. Chúa đã phủ đầy lòng từ ái trên tất cả những gì hiện hữu, Xin gieo vào lòng chúng con sức mạnh của tình yêu Chúa, để chúng con bảo vệ cuộc sống và vẻ đẹp muôn loài…” (Laudato Si số 246)
Các con thân mến,
Trong nhiều hình ảnh của Mùa Vọng, cha đọc thấy mỗi Chúa nhật có một ngọn nến được thắp sáng, với ý nghĩa của tượng trưng cho bốn món quà: HY VỌNG, TÌNH YÊU, NIỀM VUI và HÒA BÌNH. Những món quà này được trao tặng cho từng người chúng ta một cách tự do và phong phú bởi Chúa Hài Đồng Giêsu, Chúa chúng ta. Chính vì thế, với tất cả lòng yêu mến và tạ ơn, cha mến chúc các con nhận được các món quà nầy từ đêm mừng Chúa Giáng Sinh. Các con cũng đừng giữ riêng cho mình, mà hãy chia sẻ những món quà thật ý nghĩa này cho người khác.
Cùng với toàn thể Giáo Hội chúng ta sẽ mừng Năm Thánh Thường lệ 2025, chúng ta hãy là “những người hành hương của hy vọng”. Mến chúc các con và gia đình một Mùa Giáng Sinh an bình và một Năm Thánh tràn đầy ân sủng của Chúa.
Vĩnh Long, ngày 20 tháng 12 năm 2024.
Phêrô Huỳnh Văn Hai
Giám mục Giáo Phận Vĩnh Long
Chủ tịch Ủy Ban Giáo Dục Công Giáo
2024
Cầu nguyện liên
Cầu nguyện liên
ANRÊ tiếng Hy lạp có nghĩa là mạnh mẽ can đảm. Thánh ANRÊ được vinh dự làm một trong số 12 tông đồ của Chúa Giêsu. Con của Gioana. Như anh mình là Phêrô, Ngài làm thuyền đánh cá và không có gì khác ngoài chiếc thuyền. Như thế Ngài thuộc lớp người khiêm tốn được Chúa Giêsu yêu thương đặc biệt. Ngài vẫn sống tại làng Bethsaida nhỏ bé bên bờ biển Galilêa cũng gọi là hồ Giênezareth. Ngày ấy đang khi cùng với Phêrô đi thả lưới, Chúa Giêsu đã đi ngang qua và đưa lời gọi sẽ quyết định cuộc đời các Ngài:
– Hãy theo tôi, tôi sẽ làm các anh thành các ngư phủ lưới người ta.
Đây không phải lần đầu ANRÊ đã gặp đấng cứu thế. Thỉnh thoảng Ngài có tới nghe Gioan Tẩy giả rao giảng trong sa mạc. Khi ấy Chúa Giêsu xuống Galilea và Gioan tẩy Giả đã nói:
– Đây là Chiên Thiên Chúa.
Và ANRÊ có mặt ở đó với Gioan, đã biết được Người là Đấng thiên sai mong chờ. Gioan và ANRÊ lên đường theo Người xa xa vì họ cảm động và không dám tới gần. Nhưng Chúa Giêsu quay lại và nói với họ:
– Các anh tìm chi vậy ?
Họ, những người chỉ tìm, chỉ muốn Chúa thôi đã thưa lại:
– Thưa Thầy, thày ở đâu ?
Chúa Giêsu nói:
– Hãy đến mà xem.
Và cả hai đã ở với Chúa hôm ấy.
Khi trở về nhà ANRÊ đã nói với anh mình:
– Chúng tôi đã gặp được Đấng thiên sai.
Từ đó hai anh em đã bỏ chài lưới để tới gần Chúa Giêsu. Họ nghe Người và thần tính của Người dần dần rọi sáng tâm hồn họ. Họ đã tông thờ Đấng cứu thế ở trong lòng rồi.
Ở tiệc cưới Cana, ANRÊ đã thấy Chúa Giêsu biến nước thành rượu và lần đầu tiên thấy tỏ lộ vinh quang thần linh của Ngài. Thế là sau biến cố ấy Chúa Giêsu đã gọi hai anh em bên bờ biển Galilea và họ đã bỏ mọi sự mà theo Chúa.
ANRÊ đã rạng rỡ trong lòng mà tham dự vào cuộc chữa lành các bệnh nhân gặp thấy trên đường đi, việc Phúc âm những kẻ chết, việc Chúa hóa bánh ra nhiều để nuôi đoàn người đói lả vây quanh Chúa Giêsu. Chính ANRÊ đã nói:
– Có một bé trai có năm chiếc bánh và hai con cá, nhưng bằng ấy thì thấm vào đâu đối với ngần này người (Ga 6,8 -9) .
Và Ngài được thấy Chúa Giêsu tăng gấp số thực phẩm. Ở Gierusalem, Ngài còn cho Chúa biết rằng: lương dân đã xin với Philipphê cho được gặp Người. Ngài đã nghe loan báo các chân phúc, các dụ ngôn. Ngài đã có mặt trong bữa tiệc ly. Sau phục sinh, Ngài đã sung sướng gặp lại Thày chí thánh. Ngày lên trời, Ngài thấy Người tiến lên mây trời. Ngày hiện xuống, Ngài đón nhận Chúa Thánh Thần.
Sau những tường thuật trên của Phúc âm, người ta không biết gì chắc chắn nữa về ANRÊ. Các bản văn không có thẩm quyền nói rằng: Ngài đã góp phần Phúc âm hóa dân chúng miền Bithynia, Bontê và Galitia. Ngài bị bắt bên bờ Bắc hải và kết thúc cuộc đời tại Achaia. Lửa đức ái rực cháy trong lòng vị tông đồ. Người ta nói rằng: để cải hóa một tâm hồn, Ngài ăn chay 5 ngày. Đây là tục truyền kể lại cuộc tử đạo của thánh ANRÊ ở Taurida.
Egêa, tổng trấn tỉnh đó cho biết vị tông đồ có mặt ở Patras, thủ phủ của ông, ông liền vội vã tới nơi: kẻ ngoại lai này muốn phá hủy đền thờ các thần minh ư ? Nhưng ANRÊ không sợ gì Egêa. Ngài đã nắm vững được chân lý. Ngài nói:
– Tôn thờ loài người chỉ là dị đoan điên khùng. Ong đã lãnh quyền xét xử người ta, trước hết ông phải biết đến vị thẩm phán xét xử mọi người chúng ta ở trên trời và ông phải tôn kính ca ngợi Người.
Egêa vặn lại:
– Vị thẩm phán anh nói là Chúa Giêsu mà lời ông ta thường giảng dạy đã làm cho ông ta phải chết trên thập giá chứ gì ? Vậy nếu anh không dâng hương tế thần, anh cũng sẽ phải chết trên thập giá như vậy.
Không hề sợ sệt, ANRÊ như rạng rỡ vì hạnh phúc: làm sao Ngài để mất danh dự được đóng đinh vào cùng một đau khổ giá như thày mình được ? Khi bắt đầu những tra tấn đầu tiên, lòng dũng cảm còn tăng thêm, Ngài nói với Egêa:
– Cực hình cuối cùng ông đe dọa sẽ được tiếp liền bằng vinh quang bất diệt.
Khi thấy thập giá mình sẽ phải chết trên đó, thánh nhân hớn hở chào kính mà người ta thích lập lại lời chào ấy:
– Ôi thánh giá tốt lành, thánh giá bấy lâu mong chờ, thánh giá nhiệt tình yêu mến, hãy đưa ta tới thầy chí thánh là Đấng đã nhờ Người mà cứu chuộc Ta.
Dịu dàng ANRÊ giang tay ra. Ngài bị cột bằng giây để cái chết tới chậm hơn. Hình phạt sẽ kéo dài hai ngày và người ta còn nghe Ngài tiếp tục rao truyền đức tin vào Chúa Giêsu Kitô. Dân chúngvây quanh Ngài với niềm thán phục đã xin quan tổng trấn tháo giây cho Ngài. Họ nói:
– Hãy trả con người thánh thiện cho chúng tôi. Đã hai ngày bị treo, Ngài không ngừng nói những lời tốt lành, đừng giết con người yêu quí của Thiên Chúa.
Nhưng ANRÊ không muốn được trả về cuộc sống khốn cực trần gian này. Ngài cầu nguyện:
– Lạy Chúa Kitô hãy đón nhận con, ôi thầy con yêu, con biết con ước ao được gặp thầy, trong Thày mà con được thế này. Hãy nhận lấy hồn con, lạy Chúa Giêsu Kitô.
Và những người tham dự thấy linh hồn vị tông đồ trong hào quang đã bay về với Chúa tạo thành và cứu chuộc của mình.
Tương truyền thánh ANRÊ đã bị cột vào thánh giá đã có từ thế kỷ XII và chỉ vào thế kỷ XIV… người ta mới tưởng tượng thánh giá đó hình chữ X. Dụng cụ cực hình ấy được mệnh danh là thánh giá thánh ANRÊ .
Sau khi đã trình bày và xác quyết về việc Chúa đến, hôm nay Đức Giê-su trình bày cho chúng ta thái độ phải có để chờ đợi Chúa đến: đó là tỉnh thức và cầu nguyện. Chúng ta còn phải hiểu rộng ra việc Chúa đến: đó là Chúa đến trong hiện tại bằng ơn thánh, trong giờ chết của mỗi người và trong ngày cánh chung của toàn thể nhân loại. Trong ngày đó, người khôn ngoan đích thực sẽ cho là một ngày an vui hạnh phúc. Còn người khờ dại thì coi ngày đó là ngày báo oán. Chúng ta khôn hay dại? Hãy dùng quyền tự do mà định đoạt ngay từ bây giờ.
Đức Giê-su báo trước một điều bất ngờ: Ngày Con Người quang lâm và mỗi người sẽ ra trình diện với Người. Ngày đó là ngày nào? Không ai biết được vì chỉ có Chúa Cha mới biết. Để chuẩn bị cẩn thận cho ngày phán xét, Đức Giê-su kêu gọi chúng ta hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn: phải thường xuyên canh phòng tâm hồn mình cho khỏi mọi chước cám dỗ; phải liên lỉ cầu xin Chúa giúp sức cho mình được trung thành bền đỗ làm tôi Chúa, sống đẹp lòng Chúa đến giây phút cuối cùng. Vì ai bền đỗ đến cùng sẽ được cứu thoát.
Vì lý do Chúa đến cách bất ngờ và việc phán xét có tính cách nghiêm minh, không ai có thể thoát được như chiếc lưới bất ngờ chụp xuống, nên Chúa truyền lệnh phải đề phòng bằng cách tiêu cực và tích cự: tỉnh thức và cầu nguyện.
Chúa bảo chúng ta phải đề phòng vì cái chết luôn luôn đến bất ngờ: ”Chúng con hãy tỉnh thức vì chúng con không biết ngày nào giờ nào”. Đúng như vậy, tuy bất ngờ nhưng không hoàn toàn bất ngờ vì Chúa thương chúng ta, Chúa luôn ban cho chúng ta nhiều tín hiệu báo trước cái chết để chúng ta kịp thời chuẩn bị.
Mỗi khi chúng ta thấy một người khác chết, đó là một tín hiệu; mỗi khi chải đầu thấy mái tóc mình bạc hơn, đó cũng là một tín hiệu; mỗi chiếc răng bị hư, đôi mắt mờ xuống, tay chân yếu đi, một chứng bệnh xuất hiện… tất cả đều là những tín hiệu.
Và quan trong hơn nữa, đó là những tín hiệu mà Chúa gửi trước cho chúng ta vì Chúa thương chúng ta. Vì thế, chúng ta đừng giả mù giả điếc trước những tín hiệu tình thương ấy. Tốt nhất là đón nhận chúng, nhận ra ý nghĩa của chúng và chuẩn bị sẵn sàng.
Chúa đang đến trong từng biến cố cuộc sống, chứ không chỉ đến trong uy nghi của giáo đường; Ngài đến trong từng sinh hoạt hằng ngày của chúng ta, chứ không chỉ đến trong những phút cầu kinh, nguyện ngắm; Ngài nói qua những biến cố cuộc sống, Ngài hành động ngay cả khi chúng ta không tưởng nhớ đến Ngài. Ngài yêu thương dù chúng ta phản bội Ngài, Ngài tha thứ dù chúng ta quay mặt làm ngơ với Ngài. Ngài luôn có đó trong từng hơi thở của chúng ta. Xin Ngài cho chúng ta luôn tỉnh thức để nhận ra Ngài
2024
THÁNH AN-RÊ, TÔNG ĐỒ
Ngày 30 tháng 11
THÁNH AN-RÊ, TÔNG ĐỒ
lễ kính
Ca nhập lễ
- Mt 4,18-19
Đang đi dọc theo biển hồ Ga-li-lê, Chúa Giê-su thấy hai anh em kia là Phê-rô và An-rê. Người gọi họ và bảo : “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá.”
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa, hôm nay chúng con mừng kính thánh An-rê, người ngư phủ đã tin Ðức Giê-su là Ðấng Mê-si-a và mau mắn giới thiệu cho em mình. Xin nhận lời thánh nhân cầu thay nguyện giúp mà củng cố miềm tin của chúng con để chúng con cũng chia sẻ niềm tin của mình cho những người chúng con gặp gỡ. Chúng con cầu xin…
Bài đọc 1
Rm 10,9-18
Có đức tin là nhờ nghe giảng, mà nghe giảng là nghe công bố lời Đức Ki-tô.
Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Rô-ma.
9 Nếu miệng bạn tuyên xưng Đức Giê-su là Chúa, và lòng bạn tin rằng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại từ cõi chết, thì bạn sẽ được cứu độ. 10 Quả thế, có tin thật trong lòng, mới được nên công chính ; có xưng ra ngoài miệng, mới được ơn cứu độ. 11 Kinh Thánh nói : Mọi kẻ tin vào Người sẽ không phải thất vọng. 12 Như vậy, không có sự khác biệt giữa người Do-thái và người Hy-lạp, vì tất cả đều có cùng một Chúa, là Đấng quảng đại đối với tất cả những ai kêu cầu Người. 13 Vì : Tất cả những ai kêu cầu danh Đức Chúa sẽ được cứu thoát.
14 Thế nhưng làm sao họ kêu cầu Đấng họ không tin ? Làm sao họ tin Đấng họ không được nghe ? Làm sao mà nghe, nếu không có ai rao giảng ? 15 Làm sao mà rao giảng, nếu không được sai đi ? Như có lời chép : Đẹp thay bước chân những sứ giả loan báo tin mừng ! 16 Nhưng không phải mọi người đều đã vâng theo Tin Mừng ; chính ngôn sứ I-sai-a đã nói : Lạy Đức Chúa, ai đã tin khi nghe chúng con giảng ? 17 Ấy vậy, có đức tin là nhờ nghe giảng, mà nghe giảng là nghe công bố lời Đức Ki-tô.
18 Nhưng tôi xin hỏi : Phải chăng họ đã không được nghe giảng ? Có chứ !
Tiếng các ngài đã dội khắp hoàn cầu,
và thông điệp loan đi tới chân trời góc biển.
Đáp ca
Tv 18A,2-3.4-5ab (Đ. x. c.5a)
Đ.Tiếng các ngài đã vang dội khắp hoàn cầu.
2Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa,
không trung loan báo việc tay Người làm.3Ngày qua mách bảo cho ngày tới,
đêm này kể lại với đêm kia.
Đ.Tiếng các ngài đã vang dội khắp hoàn cầu.
4Chẳng một lời một lẽ,
chẳng nghe thấy âm thanh,5abmà tiếng vang đã dội khắp hoàn cầu
và thông điệp loan đi tới chân trời góc biển.
Đ.Tiếng các ngài đã vang dội khắp hoàn cầu.
Tung hô Tin Mừng
Mt 4,19
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Chúa nói : Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng
Mt 4,18-22
Lập tức, các ông bỏ chài lưới mà đi theo Người.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
18 Khi ấy, Đức Giê-su đang đi dọc theo biển hồ Ga-li-lê, thì thấy hai anh em kia, là ông Si-môn, cũng gọi là Phê-rô, và người anh là ông An-rê, đang quăng chài xuống biển, vì các ông làm nghề đánh cá. 19 Người bảo các ông : “Các anh hãy đi theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá.” 20 Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà theo Người.
21 Đi một quãng nữa, Người thấy hai anh em khác con ông Dê-bê-đê, là ông Gia-cô-bê và người em là ông Gio-an. Hai ông này đang cùng với cha là ông Dê-bê-đê vá lưới ở trong thuyền. Người gọi các ông. 22 Lập tức, các ông bỏ thuyền, bỏ cha lại mà theo Người.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Thiên Chúa toan năng hằng hữu, xin thương chấp nhận của lễ chúng con dâng trong ngày lễ kính thánh An-rê tông đồ, và ban cho chúng con luôn làm đẹp lòng Chúa. Ước chi của lễ này cũng đem lại cho chúng con chính sự sống thần linh của Chúa. Chúng con cầu xin…
Lời Tiền Tụng
Lạy Chúa là Cha chí thánh, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc, nhờ Ðức Ki-tô, Chúa chúng con, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Vì Chúa đã cho Hội Thánh được đứng vững trên nền tảng các Tông Ðồ, để Hội Thánh luôn là dấu chỉ trường tồn sự thánh thiện của Chúa nơi trần gian, và trình bày giáo lý bởi trời cho mọi người.
Vì thế, giờ đây và cho đến muôn đời, cùng với toàn thể đạo binh thiên quốc, chúng con sốt sắng chúc tụng và tung hô Chúa rằng:
Thánh! Thánh! Thánh!…
Ca hiệp lễ
Ga 1,41-42
Ông An-rê nói với em mình là ông Si-mon : “Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a, nghĩa là Đấng Ki-tô.” Rồi ông dẫn em mình đến gặp Đức Giê-su.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, chúng con vừa hiệp thông với bí tích Thánh Thể. Xin cho bí tích này tăng thêm sức mạnh cho chúng con, nhờ đó chúng con có thể noi gương thánh An-rê: vác thập giá mình đi theo Ðức Kitô và được vào thiên quốc hưởng vinh quang muôn đời. Chúng con cầu xin…
2024
Dấu Chỉ Thời Ðại
Dấu Chỉ Thời Ðại
Người ta vẫn thường nói: có nguyên nhân mới phát sinh ra hậu quả. Trong thế giới vật chất này, chẳng có gì là ngẫu nhiên, có lửa thì có khói, các vật rắn chạm vào nhau sinh ra tiếng động.
Khi ấy, Chúa Giêsu cùng các môn đệ trên đường đi về Giêrusalem, Ngài nhìn thấy cây vả bên vệ đường. Ngài lên tiếng nguyền rủa cây vả không có trái để nói về tác động linh nghiệm của đức tin. Nhưng điều đặc biệt nhất của cây vả là khi thu đông về thì lá vả rụng hết trơn, cành khô cứng trơ cọng trông như đã chết khô không còn chút sức sống nào, nhưng bắt đầu mùa xuân sang, cây vả lại trổ lá sớm và cành lá sum suê nhất, hơn nữa nó lại sai trái và trái nó ra rất sớm, đàn chim trời hợp lại líu lo trên cành mang lại sinh khí và vui tươi trong thôn xóm.
Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cũng nhắc đến nguyên lý đó. Ngài dạy chúng ta phải biết nhìn vào các biến cố xẩy ra trong thời đại để nhận biết rằng Chúa đang đến: “Các con hãy xem cây vả cũng như các cây khác, khi cây đâm chồi, các con biết rằng mùa hè đã gần đến. Cũng vậy, khi thấy những điều đó xẩy ra, các con hãy biết rằng Nước Thiên Chúa đã gần đến”.
Cây vả là một loại cây rất thường thấy khắp nơi tại Thánh Ðịa, là một loại cây có tàn che mát, sai trái và thường được trồng trong vườn nho hoặc cũng để mọc cả những nơi đất cát sỏi đá bên vệ đường. Trong Tân Ước, chúng ta thấy cây vả nhiều lần được Chúa Giêsu nhắc tới, như Chúa đã thấy Nathanael ngồi dưới gốc cây vả trước khi Philipphê dẫn đến gặp Ngài, hoặc ví dụ về cây vả trồng trong vườn nho đã ba năm mà không sinh trái. Thánh Mátthêu cũng ghi lại bài giảng trên núi có đoạn viết như sau: “Cứ xem quả thì biết cây, có ai hái được quả nho trong bụi gai hay trái vả trong khóm nho sao?”
Đức Giêsu dùng lối văn khải huyền của Do thái tả cảnh tàn phá thành như những tai họa vũ trụ. Dùng thể văn này. Lu-ca không muốn nói với chúng ta về ngày tận thế. Ông muốn trình bày cho chúng ta về ngày sụp đổ của Giê-ru-sa-lem và thay thế Giê-ru-sa-lem là thời kỳ lên ngôi của nước trời. Sau khi đền thờ sụp đổ, thời đại Hội thánh bắt đầu, thời đại của nước trời bất diệt không bao giờ bị thay thế nữa, thời đại của giao ước mới và đời đời.
Mỗi khi có ngôn sứ đến loan báo tận thế, có lẽ vì chúng ta cần một sứ giả mới. Lúc đó mỗi người hoàn toàn phải tính toán “khi thấy cây cối đâm chồi”, mình phải xem “mùa hè đã đến gần” với mình chưa, vì không có ai khác tính toán thay cho mình được. Vả lại, mỗi người cư xử theo cách riêng của mình, chúng ta không có thể cư xử như họ. Chúng ta cũng không cần biết khi nào mặt trời và các tinh tú rơi xuống đầu chúng ta. Nhưng chúng ta biết chắc mỗi người là một vệ tinh, và dại dột thay, nếu tự mình lại làm cho mình bị nổ tung! Chúng ta còn có một sức mạnh tự động phá hủy khác vượt trên sức rung động của trái đất. Nhưng biết được khi nào những biến cố cuối cùng đó đến thì không quan trọng. Điều quan trọng là chắc chắn chúng sẽ xảy ra, và thế kỷ này chưa hết, thì đa số chúng ta đã qua đi theo với vòng quay của trái đất.
Điều cần thiết phải nhớ là chúng ta sẽ qua đi, nhưng lời Chúa nói không bao giờ qua đi. Nếu lời Chúa tồn tại đời đời, thì chúng ta phải cố gắng lắng nghe để được sống chứ đừng giả điếc làm ngơ kẻo chúng ta phải chết đời đời.
Nếu biết nhớ kỹ bài diễn văn này, một bàigiáo thuyết loan báo cho chúng ta biết tất cả mọi sự hiện tại sẽ có ngày chấm dứt. Vậy tốt nhất chúng ta hãy hết lòng trông cậy và đặt lời Chúa vào tận con tim của mình để sinh nhiều hoa trái trong khi đợi chủ về thu hoạch. Chủ sẽ thưởng công cho chúng ta: “Quả thật, quả thật, Tôi bảo thật các anh em, đến giờ và chính bây giờ những người chết nghe tiếng Con Thiên Chúa, và ai nghe thì sẽ được sống đời đời” (Ga. 5, 25)
Chúa Giêsu mượn một hình ảnh tiên báo mùa hè sắp tới khi thấy cây vả cùng các loại cây khác nẩy lộc. Cây vả và những cây khác đâm chồi nẩy lộc là chuyện thường đối với dân cư trong thôn làng, nhưng thật ra nó đã gói ghém một niềm vui tràn trề của một mùa mới sắp đến. Những biến động trong xã hội và thế giới là những dấu chỉ của Nước Chúa đổi mới mọi sự, như chúng ta đã suy niệm trong bài Tin Mừng hôm qua. Nếu từng giây phút của một năm qua chúng ta đã nhớ lại dấu ấn của hồng ân và tình thương của Chúa, thì chúng ta sẽ thấy hồng ân và tình thương ấy lớn lao đến chừng nào.
Ngày cuối cùng của năm phụng vụ sắp kết thúc và chúng ta sắp bước vào mùa Vọng, mùa trông chờ Chúa đến với ta, với vũ trụ và với nhân loại, một trời mới đất mới sẽ đến. Nước Thiên Chúa đang đến gần, mọi sự sẽ qua đi, chỉ có Chúa và tình thương của Ngài mới bền vững muôn đời.
Thiên Chúa nói với chúng ta bằng hai cách: hoặc bằng Lời Chúa trong Kinh Thánh, hoặc qua các biến cố xẩy đến trong đời sống thường ngày. Ðiều quan trọng là chúng ta phải quan tâm để nhận ra lời nhắn nhủ của Chúa. Tuy nhiên, chúng ta thường dễ nhận ra Kinh Thánh là Lời Chúa, là giáo huấn của Chúa, mà ít nhận ra các dấu chỉ thời đại cũng là Lời Chúa, là thánh ý Chúa, nói khác đi, chúng ta ít nghe được tiếng Chúa nói với chúng ta qua các tạo vật, qua niềm vui, nỗi buồn, qua cả những lầm lỗi của chúng ta.
Do đó, để có thể nhận ra tiếng Chúa qua các biến cố, chúng ta cần phải có thái độ lắng nghe và yêu mến. Có những người không bao giờ đặt vấn đề: Tại sao tôi sống? Sống để làm gì? Chết rồi đi đâu? Người Kitô hữu chúng ta biết rõ ý nghĩa của cuộc đời, nhưng cũng cần chăm chú lắng nghe để nhận ra ý Chúa trong mọi biến cố cuộc sống, vì đó là tiếng gọi của tình yêu mà chỉ những ai yêu mến Chúa mới nhận ra được.
Xin cho chúng ta nhận ra Chúa luôn hiện diện trong cuộc đời chúng ta, để chúng ta luôn hân hoan tiến bước và chu toàn thánh ý Chúa mỗi ngày, cho đến ngày chúng ta hưởng nhan Chúa trên Nước Trời.
