2021
Thứ Tư Tuần XVI – Mùa Thường Niên
Thứ Tư Tuần XVI – Mùa Thường Niên
Ca nhập lễ
Tv 53,6.8
Này con được Thiên Chúa phù trì,
thân con đây, Chúa hằng nâng đỡ.
Con tự nguyện dâng Ngài lễ tế,
lạy Chúa, con xưng tụng danh Ngài,
vì danh Ngài thiện hảo.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa xin tỏ lòng nhân hậu với các tín hữu Chúa và rộng tay ban phát mọi ơn lành để chúng con thêm lòng tin cậy mến và chuyên cần tuân giữ những điều Chúa truyền dạy. Chúng con cầu xin …
Bài đọc
Ta sẽ làm cho bánh từ trời mưa xuống cho các ngươi ăn.
Bài trích sách Xuất hành.
1 Con cái Ít-ra-en nhổ trại rời Ê-lim lên đường, và toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en tới sa mạc Xin, giữa Ê-lim và Xi-nai, vào ngày mười lăm tháng thứ hai kể từ khi họ ra khỏi đất Ai-cập. 2 Trong sa mạc, toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en kêu trách ông Mô-sê và ông A-ha-ron. 3 Con cái Ít-ra-en nói với các ông : “Phải chi chúng tôi chết bởi tay Đức Chúa trên đất Ai-cập, khi còn ngồi bên nồi thịt và ăn bánh thoả thuê. Nhưng không, các ông lại đưa chúng tôi ra khỏi đó mà vào sa mạc này, để bắt chúng tôi phải chết đói cả lũ ở đây !”
4 Đức Chúa phán với ông Mô-sê : “Này, Ta sẽ làm cho bánh từ trời mưa xuống cho các ngươi ăn. Dân sẽ ra lượm lấy khẩu phần cho mình, ngày nào cho ngày đó ; Ta muốn thử lòng chúng như vậy xem chúng có tuân theo Luật của Ta hay không. 5 Ngày thứ sáu, khi chúng dọn phần ăn đã đưa về, sẽ có gấp đôi phần chúng lượm mỗi ngày.”
9 Ông Mô-sê nói với ông A-ha-ron : “Xin anh nói với toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en thế này : Anh em hãy lại gần thánh nhan Đức Chúa, vì Người đã nghe thấy những lời anh em kêu trách.” 10 Trong khi ông A-ha-ron nói với toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en, họ quay mặt về phía sa mạc, và kìa, vinh quang Đức Chúa xuất hiện trong đám mây. 11 Đức Chúa phán với ông Mô-sê : 12 “Ta đã nghe tiếng con cái Ít-ra-en kêu trách. Vậy, ngươi hãy bảo chúng rằng : Vào buổi chiều, các ngươi sẽ được ăn thịt, và ban sáng, các ngươi sẽ được ăn bánh thoả thuê, và các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi.” 13 Thật vậy, buổi chiều, chim cút bay đến rợp cả trại. Và buổi sáng thì có lớp sương phủ quanh trại. 14 Rồi khi sương tan đi thì trên mặt hoang địa, có một thứ gì nho nhỏ mịn màng, nho nhỏ như sương muối phủ mặt đất. 15 Khi con cái Ít-ra-en thấy thế, họ liền hỏi nhau : “Man hu ?” Nghĩa là : “Cái gì đây ?” Vì họ không biết đó là cái gì. Ông Mô-sê bảo họ : “Đó là bánh Đức Chúa ban cho anh em làm của ăn !”
Đáp ca
Tv 77,18-19.23-24.25-26.27-28 (Đ. c.24b)
Đ.Chúa ban bánh bởi trời nuôi dưỡng họ.
18Họ chủ tâm thách thức cả Chúa Trời,
đòi được ăn cho vừa sở thích.
19Họ kêu trách Thiên Chúa rằng trong sa mạc này,
liệu Chúa Trời có thể dọn gì cho ta ăn ?
Đ.Chúa ban bánh bởi trời nuôi dưỡng họ.
23Chúa hạ lệnh cho mây tầng cao thẳm,
lại truyền mở rộng cánh thiên môn ;
24Người khiến man-na tựa hồ mưa đổ xuống,
và ban bánh bởi trời nuôi dưỡng họ.
Đ.Chúa ban bánh bởi trời nuôi dưỡng họ.
25Kẻ phàm nhân được ăn bánh thiên thần,
Chúa gửi đến cho họ dồi dào lương thực.
26Trên trời cao, Người giục gió đông thổi tới,
dùng sức mạnh đưa ngọn gió nam về.
Đ.Chúa ban bánh bởi trời nuôi dưỡng họ.
27Người cho mưa thịt xuống nhiều như bụi,
chim chóc ê hề như cát đại dương ;
28Người cho rớt vào ngay doanh trại,
chung quanh lều dân ở.
Đ.Chúa ban bánh bởi trời nuôi dưỡng họ.
Tung hô Tin Mừng
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a.
Hạt giống là lời Thiên Chúa,
người gieo giống là Đức Ki-tô.
Ai tuân giữ lời Người,
sẽ muôn đời tồn tại. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng
Mt 13,1-9
Hạt được gấp trăm.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
1 Khi ấy, Đức Giê-su từ trong nhà đi ra ngồi ở ven Biển Hồ. 2 Dân chúng tụ họp bên Người rất đông, nên Người phải xuống thuyền mà ngồi, còn tất cả dân chúng thì đứng trên bờ. 3 Người dùng dụ ngôn mà nói với họ nhiều điều.
Người nói : “Người gieo giống đi ra gieo giống. 4 Trong khi người ấy gieo, có những hạt rơi xuống vệ đường, chim chóc đến ăn mất. 5 Có những hạt rơi trên nơi sỏi đá, chỗ không có nhiều đất ; nó mọc ngay, vì đất không sâu ; 6 nhưng khi nắng lên, nó liền bị cháy, và vì thiếu rễ nên bị chết khô. 7 Có những hạt rơi vào bụi gai, gai mọc lên làm nó chết nghẹt. 8 Có những hạt lại rơi trên đất tốt, nên sinh hoa kết quả : hạt được gấp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục. 9 Ai có tai thì nghe.”
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa là Cha nhân từ, Chúa đã dùng hiến tế duy nhất của Ðức Kitô trên thập giá làm cho các hy lễ theo luật Môsê được đầy đủ ý nghĩa. Xin thánh hoá lễ vật chúng con dâng với cả tấm lòng thành, cũng như xưa Chúa đã vui lòng thánh hoá lễ vật của Aben. Nhờ đó, hiến lễ mỗi người chúng con dâng lên để tôn vinh Danh Thánh sẽ giúp mọi người đạt tới ơn cứu độ. Chúng con cầu xin …
Lời Tiền Tụng
Lạy Chúa là Cha chí thánh, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc, nhờ Ðức Ki-tô, Chúa chúng con, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Vì thương xót nhân loại lỗi lầm, Người đã chấp nhận sinh ra bởi Ðức Trinh Nữ, đã chịu khổ hình thập giá/ để cứu chúng con khỏi chết muôn đời. Và từ cõi chết sống lại, Người đã ban cho chúng con được hưởng phúc trường sinh.
Vì thế, cùng với các Thiên thần và tổng lãnh Thiên thần, các Bệ thần và Quản thần, cùng toàn thể đạo binh thiên quốc, chúng con không ngừng hát bài ca chúc tụng vinh quang Chúa rằng:
Thánh! Thánh! Thánh! …
Ca hiệp lễ
Tv 110,4-5
Chúa đã truyền tưởng niệm
những kỳ công của Người.
Chúa là Đấng từ bi nhân hậu.
Ai kính sợ Người, Người ban phát của ăn.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, xin phù trợ chúng con là đoàn dân Chúa. Chúa đã lấy bánh bởi trời và nuôi dưỡng chúng con, xin cũng giúp chúng con từ bỏ nếp sống cũ và hân hoan bước vào đời sống mới. Chúng con cầu xin …
2021
LỜI CHÚA CHỮA LÀNH TẤT CẢ
SUY NIỆM TĨNH TÂM LINH MỤC
LỜI CHÚA CHỮA LÀNH TẤT CẢ
(Kn 16,12)
Linh mục Giuse Cao Đình Phương
WHĐ (13.7.2021) – Thánh Giêrônimô nói: “Không biết Kinh Thánh là không biết Chúa Kitô“. Thật vậy, nếu không biết Chúa Kitô là ai, Người đã sống, đã dạy những gì, và cứu chuộc nhân loại cách nào, thì có lẽ chúng ta là những người dại dột nhất trên đời. Nhưng, thật hạnh phúc cho chúng ta vì được Đức Kitô Ngôi Lời của Thiên Chúa “trở nên người phàm” (Ga 1,14) đến trần gian mặc khải, chữa lành và cứu độ chúng ta.
1. Ngôi Lời Thiên Chúa chữa lành
Ngôi Lời của Thiên Chúa đã làm người để chữa lành các bệnh tật hồn xác cho con người. Sự chữa lành của Đức Giêsu thật đa dạng, Người chữa lành bệnh tật thể xác, tâm hồn, trừ quỷ, làm chủ thiên nhiên, củng cố đức tin, tha thứ tội lỗi, hồi sinh người chết. Hình thức chữa lành của Người cũng rất phong phú, Người dùng lời nói, chạm đến bệnh nhân hay đặt tay… Sự chữa lành của Đức Giêsu diễn tả tình thương và quyền năng của Người trên con người, trên muôn vật muôn loài, đặc biệt trên sự dữ, đau khổ và sự chết. Tất cả các phép lạ Đức Giêsu thực hiện trong sứ vụ rao giảng nhằm chuẩn bị cho phép lạ cả thể nhất, đó là việc Người chịu đau khổ, chịu chết và sống lại.
Qua việc chữa lành, Đức Giêsu hướng những người bệnh và những người chứng kiến đến sự chữa lành quan trọng hơn, là sự chữa lành tâm linh, trong tương quan giữa con người với Thiên Chúa, với tha nhân và với thế giới thụ tạo.
Với sự quan tâm ân cần, Người chữa lành chúng ta khỏi sự lãnh đạm. Với tình yêu vô điều kiện, Người chữa chúng ta khỏi hận thù. Với niềm tín thác vào Thiên Chúa Cha, Người chữa lành chúng ta khỏi nghi ngờ. Với lòng biết ơn Thiên Chúa, Người chữa lành chúng ta khỏi sự vô ơn. Với sự trung tín, Người chữa chúng ta khỏi sự phản bội. Bằng việc hy sinh từ bỏ chính mình, Người chữa trị chúng ta khỏi ích kỷ, tham lam. Với sự khiêm tốn, Người chữa lành chúng ta khỏi sự tự cao tự đại. Nhờ niềm hy vọng, Người chữa chúng ta khỏi thất vọng. Với niềm vui của Tin Mừng, Người chữa lành chúng ta khỏi sự buồn sầu trong cuộc sống. Mở mắt cho người mù loà, Người chữa chúng ta khỏi sự tối tăm tâm linh. Lúc bị treo trên thập giá, Người cứu chữa chúng ta khỏi tội lỗi. Khi sống lại, Người dẫn chúng ta vượt qua vực thẳm sự chết, đến chốn trường sinh. Khi mang lấy những yếu đuối của thế giới thụ tạo, Người đổi mới thế giới thụ tạo thành trời mới đất mới. Đức Giêsu Ngôi Lời làm người đã chữa lành nhân loại.
2. Lời Chúa chữa lành tất cả
Ngôi Lời Thiên Chúa làm người đã chữa lành nhân loại yếu đau và tội lỗi. Chúa Giêsu rao giảng Tin Mừng. Lời Người có sức chữa lành biến đổi vì: “Lời Chúa sống động và linh nghiệm” (Dt 4,12), “Lời Chúa là chân lý” (Lc 1,2-4), giúp ta hiểu biết chân lý, giải thoát chúng ta khỏi mê lầm, sai lạc (x. Lc 24,44-45). Lời Chúa là lời hằng sống (x. Ga 6,68), “là ánh sáng” (Ga 8,12), “là đèn soi đường dẫn lối chúng ta đi” (Tv 118,105). Lời Chúa làm phát sinh hoa trái cứu độ, Lời Chúa “một khi xuất phát từ miệng Ta, sẽ không trở về với Ta nếu chưa đạt kết quả, chưa thực hiện ý muốn của Ta, chưa chu toàn sứ mạng Ta giao phó” (Is 55,10-11).
Sách Khôn ngoan đã minh chứng quyền năng chữa bệnh của Lời Chúa: “Quả vậy, không phải lá cây, chẳng phải thuốc đắp đã chữa họ lành, nhưng lạy Đức Chúa, chính lời Ngài chữa lành tất cả!” (Kn 16,12). Khi kết thúc bài Tin Mừng trong Thánh lễ, thừa tác viên hôn sách và nói: “Nhờ những lời Phúc Âm vừa đọc, xin Chúa xóa tội chúng con”.
Kể lại câu chuyện của tiên tri Êlisa nói với Naaman đi tắm 7 lần tại sông Giođan để được chữa lành, Đức Hồng y Cantalamessa đã chú giải “những nước sông ở Israel” là những sách Kinh Thánh được Thiên Chúa linh ứng, tiếp tục chữa lành bệnh cùi tội lỗi ngày hôm nay[1].
Khi đọc đoạn thư thánh Phaolô gửi tín hữu Rôma: “Chúng ta hãy ăn ở cho đúng đắn như người đang sống giữa ban ngày: […] không chơi bời dâm đãng” (Rm 13,13), thánh Augustinô cảm thấy “một luồng sáng thanh thản” tràn ngập trái tim và đã được chữa khỏi cảnh nô lệ cho xác thịt[2].
Một người nghiện rượu rất nặng, không thể không uống rượu trong hai giờ, gia đình ông đang trên bờ vực tuyệt vọng. Ông và vợ được mời tham dự một cuộc chia sẻ Lời Chúa, ông nghe đoạn thư trên: “Chúng ta hãy ăn ở cho đúng đắn như người đang sống giữa ban ngày: […] không chè chén say sưa” (Rm 13,13). Lời Chúa đã tác động mạnh tới ông như lửa và ông cảm thấy mình được chữa lành. Sau đó, mỗi lần bị cám dỗ uống rượu, ông mở đoạn Kinh Thánh này và đọc, ông cảm thấy lại có được sức mạnh, cho đến khi ông được chữa lành hoàn toàn.
Lời Chúa “xuyên thấu chỗ phân cách tâm linh, cốt với tủy; lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người. Vì không có loài thọ tạo nào mà không hiện rõ trước Lời Chúa, nhưng tất cả đều trần trụi và phơi bày trước mặt Ðấng có quyền đòi chúng ta trả lẽ” (Dt 4,12-13). Lời Chúa trở nên nguồn dịu ngọt “ngọt hơn mật ong nguyên chất” (Tv 118,103), làm cho những người yêu mến, khi vừa gặp được đã nhanh chóng nuốt vào (x. Gr 15,16). Lời Chúa như là luật và những huấn lệnh để chỉ dẫn đường lối phải theo (x. Tv 118,97-98). Như thế, Lời Chúa có sức mạnh chữa lành, canh tân, biến đổi con người.
3. Để Lời Chúa chữa lành
3.1. Niệm suy Lời Chúa
Lời Thiên Chúa nói là lời nói vào tâm hồn. Thiên Chúa nói như Ngài viết: “Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng lề luật của Ta” (Gr 31,33). Tiên tri Hôsê diễn tả: “Này Ta sẽ quyến rũ nó, đưa nó vào sa mạc, để cùng nó thổ lộ tâm tình” (Hs 2,16). “Các Lời của Người, vừa gặp được, tôi đã ngốn lấy; Lời Người là sự sướng vui cho tôi, niềm hoan lạc của lòng tôi” (Gr 15,16; x. Ez 2,9-3,3; x. Kh 10,8-10). Chúa ghi Lời Ngài vào lòng dạ chúng ta, vì thế, “linh mục, trước tiên, phải tạo được một mối thâm tình sâu đậm giữa bản thân mình với Lời Chúa,… với một tấm lòng mềm mại và nguyện cầu để cho Lời Chúa thấm nhập đến tận sâu thẳm ý nghĩ và tình cảm của mình và làm nảy sinh nơi mình một tinh thần mới, làm nảy sinh ‘tư tưởng của Chúa’” (1Cr 2,16)[3].
Linh mục không chỉ là thừa tác viên phục vụ Lời Chúa mà còn phải là “người của Lời Chúa”[4]. Khi nói linh mục là thừa tác viên phục vụ Lời Chúa thì Lời Chúa còn là một thực tại khách quan ở ngoài con người linh mục. Khi nói linh mục là người của Lời Chúa thì Lời Chúa là một yếu tố xác định căn tính linh mục, Lời Chúa thấm nhuần vào da thịt và xương tủy của linh mục. Đây là kết quả của tiến trình lâu dài thực hiện qua việc suy ngắm và chiêm niệm Lời Chúa để Lời Chúa chiếu soi và hướng dẫn cuộc sống trong mọi hoàn cảnh cụ thể.
Niệm suy Lời Chúa trong cầu nguyện, Lời Chúa sẽ tác động trên tư tưởng của con người. Có thể nói tất cả tùy thuộc vào tư tưởng. Tư tưởng điều khiển hành động. Tư tưởng có một sức mạnh mãnh liệt đối với hành động của con người vì nó được hỗ trợ bởi tình cảm và ý chí. Nếu chúng ta muốn cho cuộc đời thấm nhuần tinh thần Chúa Kitô, chúng ta hãy suy nghĩ bằng chính Lời Chúa, hãy nuôi dưỡng trong tâm hồn những ý tưởng thánh thiện của Tin Mừng. Nếu chất chứa trong lòng những ý tưởng tiêu cực, xấu xa, cuộc đời của chúng ta sẽ xấu xa, héo tàn vì tư tưởng hướng dẫn hành động. Để Lời Chúa thấm nhuần tư tưởng, Lời Chúa sẽ dẫn đến hành động thánh thiện và có sức mạnh chữa lành “những vết thương tâm hồn”.
3.2. Yêu mến và sống Lời Chúa để định hướng cuộc đời
Một trong những món quà quý báu mà Chúa Giêsu mang đến cho con người là Lời Thiên Chúa. Bởi lẽ, đây không phải là lời của con người nhưng là tiếng nói của Thiên Chúa từ trời cao ban xuống. Lời Chúa như kim chỉ nam cho cuộc sống, như phương châm sống cho đời người. Chúa Giêsu đã nói đến tầm quan trọng của Lời Chúa: người nào xem thường Lời Chúa thì cũng giống như xây nhà trên cát, còn người biết lấy Lời Chúa định hướng cho cuộc đời mình thì tựa như xây nhà trên nền đá. Đối với đời sống đức tin, “Lời Chúa trở thành tiêu chuẩn mới cho việc phán đoán và lượng định con người và sự vật, các biến cố và các vấn đề”[5]. Lời Chúa đóng một vai trò rất quan trọng như ý lực sống cho con người.
Thế nhưng, ngày nay, Lời Chúa dường như vắng dần trong cuộc sống. Lời Ngài bị nhiều người từ chối và xem thường. Đó là những người có tâm hồn sỏi đá, khô cạn hay đầy gai góc bởi những đam mê trần tục, những ưu tư thế gian. Vì thế, phải chú tâm lắng nghe lời Chúa, đón nhận Lời Chúa để có thể gặp được Chúa: “Trong các Sách Thánh, Chúa Cha trên trời âu yếm đến gặp gỡ và trò chuyện với con cái của Ngài, vì trong Lời Thiên Chúa có uy lực và quyền năng lớn lao để mang lại sự nâng đỡ và sức sống cho Giáo hội, đồng thời đem đến cho đoàn con của Giáo hội sức mạnh của đức tin, lương thực của linh hồn, nguồn mạch tinh tuyền và trường tồn của đời sống thiêng liêng”[6].
Vì thế, người linh mục phải yêu mến Lời Chúa và làm cho các tín hữu yêu mến Lời Chúa, chú tâm, sốt sắng lắng nghe Lời Chúa, sống Lời Chúa như các giám mục Việt Nam đã nhắn nhủ: “Yêu mến Thánh Kinh không chỉ thể hiện qua việc phổ biến sách Thánh Kinh, mà còn là siêng năng đọc Lời Chúa trong đời sống và cho đời sống cụ thể của mình. Nói cách khác, đọc Lời Chúa không những để hiểu về Chúa mà còn để tìm hướng đi cho cuộc đời”[7].
3.3. Rao giảng Lời Chúa để chữa lành
Bài giảng trong Thánh lễ được gọi là homilia. Trong nguyên ngữ Hy Lạp, homilia có nghĩa là đàm thoại, hàn huyên tâm sự, chuyện trò thân mật. Thánh Luca thuật kể về hai người môn đệ trên đường Emmaus đang nói “homilia” (homilun) với nhau về những chuyện mới xảy ra ở Giêrusalem thì Chúa Kitô tiến đến và cùng đi với họ (Lc 24,14-15). Một nhà thần học định nghĩa sự cầu nguyện là một homilia với Chúa, thế nên bài giảng phải được diễn tả trong tâm tình thân thương[8] như Đức Phanxicô ghi nhận: “Bài giảng thực ra có thể là một trải nghiệm sâu đậm và vui sướng về Thần Khí, một cuộc gặp gỡ đầy an ủi với lời Thiên Chúa, một nguồn mạch canh tân và tăng trưởng thường xuyên”[9].
Trong Thánh lễ truyền chức linh mục tại giáo phận Qui Nhơn ngày 07/01/2021, Đức cha Matthêu Nguyễn Văn Khôi nhắn nhủ các tân linh mục: Để thi hành nhiệm vụ giáo huấn trong Đức Kitô là Thầy, các con hãy siêng năng đón nhận Lời Chúa bằng việc lắng nghe và suy niệm trong lòng, rồi đem phân phát cho dân Chúa bằng lời giảng dạy. Hãy chuẩn bị bài giảng Thánh lễ mỗi ngày thật chu đáo, để có thể làm cho Lời Chúa trở nên lương thực hằng ngày cho dân Chúa. Bài giảng Thánh lễ phải ưu tiên tập trung vào Lời Chúa và giáo huấn của Hội thánh, nếu có đề cập đến giáo huấn của các tôn giáo khác hay tư tưởng của các tác giả đời, như các triết gia, văn thi sĩ, nhạc sĩ hay chính trị gia, thì cũng chỉ để đối chiếu mà thôi. Không được tục hóa bài giảng bằng những nội dung và lời lẽ không phù hợp với sự thánh thiêng của phụng vụ Lời Chúa…. Để cho lời giảng dạy có sức đánh động lòng người, các con cần có gương sáng đời sống thánh thiện đi kèm, vì người ta thích nhìn thấy bài giảng hơn là chỉ nghe bài giảng. Về vấn đề này Hội thánh đã dạy: “Các con hãy chú tâm tin điều các con đọc, dạy điều các con tin và thi hành điều các con dạy”. Ngoài các bài giảng trong Thánh lễ, các con cũng hãy tận dụng những dịp khác để trình bày Lời Chúa cho anh chị em tín hữu và cả cho những người lương dân trong những cuộc gặp gỡ hằng ngày[10].
Thánh Augustinô khẳng định, nếu “Lời Chúa không được lắng nghe từ trong lòng thì họ, những người rao giảng, sẽ thành kẻ huênh hoang rao giảng Lời Chúa ngoài môi miệng”[11]. Việc suy gẫm Lời Chúa trong kinh nguyện cá nhân linh mục sẽ làm cho lời rao giảng của các ngài có tính thuyết phục, đi từ con tim đến con tim, đi từ tình yêu đến hành động và từ nguồn mạch này, linh mục kín múc được lòng nhiệt thành để rao giảng Tin Mừng.
Bài giảng lễ nhằm đến việc khơi dậy đức tin để cử hành Thánh lễ lúc đó, nhưng cũng cần phải nghĩ đến việc đào tạo giáo lý cho các tín hữu, để họ sống đức tin trong suốt cuộc đời. Tông huấn Catechesis Tradendae của Đức Gioan-Phaolô II, Sacramentum Caritatis, số 46 và Verbum Domini, số 60 của Đức Bênêđictô, đề nghị một chương trình quy mô cho các bài giảng, làm sao để cung cấp cho các tín hữu một nền tảng đạo lý có hệ thống, hoặc dựa theo sách Giáo lý Hội thánh Công giáo, hoặc dựa theo chu kỳ các bài đọc trong vòng ba năm.
3.4. Tránh những lời giảng gây thương tích
Cha Nhân Tài chia sẻ: “Tòa giảng là nơi công bố và giảng dạy Lời Chúa… Nơi tòa giảng ngôn từ của linh mục… không còn phải là lời của các ngài nữa, nhưng là lời của Chúa Thánh Thần nói qua miệng của các ngài… Lời Chúa trong bài Tin Mừng được vang ra từ miệng và từ tâm hồn của linh mục để đến nơi từng tâm hồn của các tín hữu… Thế mà một số linh mục đã lợi dụng tòa giảng để nói lời của mình…, các ngài đem những nỗi bực tức của mình trút lên đầu giáo dân… lời của các ngài không còn là Lời Chúa nữa… Ngôn từ của các ngài cần phải chừng mực, không la lối tại sao các ông, các bà không đi lễ,… không xin lễ cầu hồn…, không khen người này đã dâng cúng cho nhà thờ và cha sở tiền bạc vật chất, người kia quanh năm không thấy đi xin lễ… Nếu vậy thì, ngôn từ của các ngài nơi tòa giảng, đã trở thành những ngọn roi tra tấn tâm hồn những người yếu đức tin, làm nát tâm hồn những người ngoan đạo và làm chảy máu tâm hồn những người hết lòng yêu mến Giáo hội Chúa Kitô”[12].
Đức Tổng giám mục Giuse Nguyễn Chí Linh đã chia sẻ trong một buổi tĩnh tâm: “Bài giảng lễ thì lòng thòng và chủ yếu là mắng mỏ, hăm dọa, khiển trách, thậm chí bôi bác giáo dân giữa nhà thờ… Diễn đàn Lời Chúa là diễn đàn tình thương nhưng rất nhiều cha lợi dụng để trút hết căm hờn lên đầu giáo dân. Không gì mâu thuẫn bằng linh mục lại là thủ phạm gây chia rẽ trong giáo xứ bằng chính lời nói của chủ chăn. Chúng ta tìm cách trừng trị, triệt hạ những người đối lập. Không làm được gì thì chúng ta đem ra giữa nhà thờ để bêu riếu bôi bác”[13].
3.5. Giảng Lời Chúa bằng việc dạy giáo lý
Bộ Giáo luật 1983 ghi: “Để loan báo học thuyết Kitô giáo, người ta phải dùng những phương tiện khác nhau sẵn có, trước hết việc giảng thuyết và huấn giáo luôn chiếm vị trí chủ yếu”[14]. Vì thế, sau việc giảng thuyết, linh mục phải thực thi chức năng ngôn sứ của mình qua việc dạy giáo lý.
Trong Tông huấn Catechesi Tradendae, Đức Gioan-Phaolô II đã mô tả một vài nét đặc trưng của huấn giáo:
* Trình bày đạo lý Kitô giáo một cách có hệ thống mạch lạc, vì hướng đến trí tuệ hơn là tâm tình cảm xúc của người nghe. Mục tiêu của dạy giáo lý là sự hiểu biết đạo lý. Vì vậy, cần phải theo một thứ tự hệ thống mạch lạc, cũng như tôn trọng tính cách toàn bộ của đạo lý[15].
* Tuy nhiên, mục tiêu của việc huấn giáo không phải chỉ là nhồi một mớ kiến thức vào đầu óc, mà nhờ học biết giáo lý, sẽ giúp cho đức tin của Kitô hữu sống động, minh bạch và linh hoạt. Vì thế, huấn giáo không thể tách rời khỏi việc tham dự tích cực vào đời sống Kitô giáo, qua việc cử hành bí tích, cầu nguyện và chứng tá. Đối tượng của đức tin không phải là những chân lý trừu tượng nhưng là “mầu nhiệm của Đức Kitô”[16]. Nhờ huấn giáo, người tín hữu học biết về Đức Kitô, để uốn nắn tư tưởng, tâm tình, phán đoán, hành động của mình nên giống như Người, hầu trở nên người môn đệ chân chính của Người[17].
Đức Bênêđictô 16 nhắn nhủ: “Công việc dạy giáo lý luôn luôn hàm chứa việc kết hợp Kinh Thánh với đức tin và Truyền thống Giáo hội, sao cho những lời này được nhận thức là những lời hằng sống, y như hôm nay Đức Kitô vẫn đang sống ở nơi nào có hai hay ba người họp nhau lại nhân danh Người (x. Mt 18,20). Khoa giáo lý phải truyền đạt cách sống động lịch sử cứu độ và các nội dung đức tin của Giáo hội, ngõ hầu mọi tín hữu đều nhận ra rằng hoàn cảnh sống cá nhân của mình cũng thuộc về lịch sử này”[18].
Các linh mục phải chú tâm đến việc dạy giáo lý, tổ chức chương trình, lớp học giáo lý, cho tất cả các tín hữu, tùy theo hoàn cảnh, tuổi tác… để giúp họ tăng tiến trong đức tin.
4. Linh đạo cho thừa tác viên Lời Chúa
Để lời rao giảng là Lời Chúa có sức chữa lành, người phục vụ Lời Chúa phải có những nghĩa vụ trung thành[19]:
4.1. Trung thành với Lời Chúa.
Trung thành với Lời Chúa đòi hỏi phải học hỏi Lời Chúa để có thể giải thích đúng đắn, chính xác, không được phép nói điều gì trái ngược với Lời Chúa. Để có thể nói Lời Chúa, thừa tác viên Lời Chúa phải là người biết lắng nghe, lắng nghe Chúa nói trong thân tình, nơi sâu thẳm của cõi lòng, để có thể nói với dân Chúa: “Các môn đệ được lôi cuốn vào trong cuộc sống thân tình với Thiên Chúa do họ được đắm mình vào trong Lời Thiên Chúa. Có thể nói, Lời Thiên Chúa là bể tắm thanh tẩy, là quyền lực sáng tạo biến đổi họ và làm cho họ thuộc về Thiên Chúa”[20]. Lời Chúa không phải là những chữ chết nhưng được đồng hóa với Đức Kitô, Ngôi Lời của Thiên Chúa, để Người nói qua người rao giảng.
4.2. Rao giảng Lời Chúa như Tin Mừng với tâm tình mừng vui hân hoan.
Đức Thánh Cha Phanxicô đã đề cao nét đặc trưng này trong Tông huấn Evangelii Gaudium: “Tôi muốn khích lệ các tín hữu đi vào một chương mới của công cuộc loan báo Tin Mừng ngập tràn niềm vui”[21], “vì không một ai bị loại trừ khỏi niềm vui mà Chúa Giêsu đem đến”[22]. Chính vì thế, “người loan báo Tin Mừng không bao giờ được mang bộ mặt của một người vừa đi đưa đám về! Chúng ta hãy… đào sâu ‘niềm vui dịu ngọt và phấn khởi của việc loan báo Tin Mừng, cả khi chúng ta phải gieo trong nước mắt… Và chớ gì thế giới của thời đại chúng ta, một thế giới đang kiếm tìm, khi thì trong lo âu, khi thì trong hy vọng, có thể nhận được Tin Mừng không phải từ những người rao giảng rầu rĩ, chán nản, mất kiên nhẫn hay lo âu, nhưng từ những thừa tác viên Tin Mừng đang sống một cuộc đời đầy nhiệt huyết, những người trước đó đã nhận được niềm vui của Đức Kitô”[23].
4.3. Trung thành với Hội thánh.
Thừa tác viên Lời Chúa thực thi tác vụ rao giảng của Hội thánh, nên phải ở trong Hội thánh. Điều này hàm ngụ sự hiệp thông với Hội thánh, trung thành với lời dạy của Hội thánh, vì “nhiệm vụ chính thức giải thích Lời Chúa đã được ghi chép hay lưu truyền, đã được ủy thác riêng cho Huấn quyền sống động của Giáo hội, một quyền hạn được thi hành nhân danh Chúa Giêsu Kitô”[24].
4.4. Trung thành với con người.
Trong quá khứ, có lẽ người ta nhấn mạnh nhiều đến sự trung thành với Lời Chúa, với đạo lý, nhưng lại ít nói đến sự trung thành với con người. Sự trung thành với con người bao gồm nhiều khía cạnh. Thứ nhất là trung thành với sứ mạng: người rao giảng được sai đi mang Tin Mừng cứu độ cho loài người, vì thế phải trung thành với sứ mạng ấy, không được thoái thác, nhưng luôn hăng say rao giảng “khi thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện”. Thứ hai là trung thành với những đòi hỏi của người nghe: thừa tác viên Lời Chúa cần phải tìm hiểu những nhu cầu, những thao thức của người nghe, để giúp họ “khám phá ra rằng, duy một mình Thiên Chúa mới có thể đáp ứng cơn khát đang ở trong tim mỗi người”[25], đồng thời phải “công bố cho thế giới chính là Logos về niềm hy vọng (x. 1Pr 3,15), con người cần ‘niềm Hy vọng lớn lao’ để sống hiện tại của mình, niềm Hy vọng lớn lao là ‘vị Thiên Chúa có khuôn mặt con người và đã yêu thương chúng ta đến cùng’ (Ga 13,1)”[26].
4.5. Trung thành với chính mình.
Thừa tác viên Lời Chúa phải niệm suy Lời Chúa và cố gắng đem ra thực hành trong cuộc sống của mình, đừng để xảy ra sự khác biệt hay đối nghịch giữa lời nói và việc làm (x. Mt 23, 2). Phải ý thức rằng, người rao giảng không chỉ là cái “loa phát thanh” Lời Chúa mà còn được đồng hoá với chính lời ấy, nói lên điều mình đã cảm nghiệm, đã sống “từ lòng tràn đầy” trào vọt lên (x. Mt 12,34). Thừa tác viên Lời Chúa phải có sự khiêm nhường, tự xóa nhòa bản thân mình trước Lời Chúa, phải khước từ vinh quang cho chính mình, xem mình “chỉ là tiếng kêu” (x. Ga 1,23) và rao giảng với ý thức “không rao giảng bản thân, nhưng rao giảng Đức Giêsu Kitô”.
Xin được kết thúc suy niệm bằng tâm tình cầu nguyện dâng lên Mẹ Maria:
Maria, Trinh Nữ, Mẹ dấu yêu, bởi tác động
của Chúa Thánh Thần,
Mẹ đã đón nhận Lời Sự Sống, tự thẳm sâu đức tin khiêm cung của Mẹ:
Như Mẹ đã tự hiến hoàn toàn cho Đấng Hằng Hữu, xin giúp chúng con cũng biết thưa “vâng”
trước tiếng gọi ngày càng cấp bách,
đi rao giảng Tin Mừng của Đức Giêsu.
….
Ôi Ngôi Sao của cuộc Tân Phúc Âm hoá, xin giúp chúng con trở thành những chứng nhân rạng rỡ
cho tình hiệp thông và phục vụ, cho đức tin nồng cháy và quảng đại,
cho công lý và tình thương đối với người nghèo,
để niềm vui của Tin Mừng,
chạm đến tận cùng trái đất,
soi sáng cả những bờ rìa thế giới.
Lạy Mẹ của Tin Mừng sống động, suối hạnh phúc
cho những người hèn mọn của Thiên Chúa,
xin cầu cho chúng con. Amen. Allêluia![27]
5. Vấn tâm
- “Các giám mục, các linh mục, các phó tế không thể nào nghĩ rằng họ sống được ơn gọi và sứ vụ của mình nếu không cương quyết và liên tục nỗ lực nên thánh, mà một trong những trụ cột của nỗ lực là tiếp xúc với Kinh Thánh”[28].
Nguyện xin cho linh mục chúng con xác tín và nỗ lực tiếp xúc với Kinh Thánh để được nên thánh.
- “Linh mục phải đón tiếp Lời Chúa với một tấm lòng vâng phục và cầu nguyện, ngõ hầu Lời Chúa thấm nhuần sâu xa các tư tưởng và các tâm tình của ngài và làm phát sinh nơi ngài một tinh thần mới, ‘tư tưởng của Đức Kitô’” (1Cr 2,16)”[29].
Nguyện xin cho linh mục chúng con sốt sắng suy niệm Lời Chúa trong cầu nguyện để có “tư tưởng của Đức Kitô” mà chia sẻ với anh chị em chúng con.
- “Bài giảng lễ là một việc hiện tại hóa sứ điệp Kinh Thánh, sao cho các tín hữu được đưa đến chỗ khám phá ra sự hiện diện và tính hiệu năng của Lời Thiên Chúa trong cuộc sống hằng ngày của họ”[30].
Nguyện xin cho linh mục chúng con biết chuẩn bị bài giảng như “hiện tại hóa sứ điệp Kinh Thánh” giúp các tín hữu sống Lời Chúa trong cuộc sống hằng ngày.
- 4. “Thánh Giêrônimô, người hết sức ‘si mê’ Lời Thiên Chúa, đã tự hỏi: ‘Làm thế nào người ta có thể sống mà không hiểu biết Kinh Thánh, vì nhờ Kinh Thánh, ta mới học biết được chính Chúa Kitô, Đấng chính là sự sống của các tín hữu?’”[31].
Nguyện xin cho linh mục chúng con “si mê” Lời Chúa để có thể giúp các tín hữu “si mê” Lời Chúa, hầu học biết Đức Kitô và đón nhận được sự sống đời đời.
[1] CANTALAMESSA, Giảng cho giáo triều Mùa Chay năm 2021.
[2] Augustinô, Giải thích các Thánh vịnh 126,3.
[3] GIOAN-PHAOLÔ II, Pastores dabo vobis, số 26.
[4] GIOAN-PHAOLÔ II, Hồng ân và mầu nhiệm.
[5] GIOAN-PHAOLÔ II, Pastores dabo vobis, số 47, BÊNÊĐICTÔ 16, Verbum Domini, số 82.
[6] CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II, Dei Verbum, số 21.
[7] HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM, Thư chung 1980, số 8.
[8] X. PHAN TẤN THÀNH, Thần học về rao giảng Lời Chúa.
[9] PHANXICÔ, Evangelii gaudium, số 135.
[10] https://gpquinhon.org/q/giang-le/bai-giang-le-truyen-chuc-linh-muc-ngay-07-01-2021-4039.html
[11] Augustinô, Sermons, 179, 1 : PL 38, 966.
[12] NHÂN TÀI, Công Dung Ngôn Hạnh, Sài Gòn, 2004, tr. 49-52.
[13] NGUYỄN CHÍ LINH, Giảng tĩnh tâm cho linh mục giáo phận Đà Lạt, tháng 02 năm 2009.
[14] Giáo luật 1983, số 761, bản Việt ngữ, HĐGMVN, Tôn giáo, 2007, tr. 253.
[15] X. GIOAN-PHAOLÔ II, Catechesi Tradendae, số 21, 30.
[16] X. GIOAN-PHAOLÔ II, Catechesi Tradendae, số 5.
[17] X. GIOAN-PHAOLÔ II, Catechesi Tradendae, số 20, 22.
[18] BÊNÊĐICTÔ 16, Verbum Domini, số 74.
[19] PHAN TẤN THÀNH, Thần học về rao giảng Tin Mừng.
[20] BÊNÊĐICTÔ 16, Bài giảng, Lễ Dầu 2009; OR bản tiếng Pháp, 14-4-2009, tr. 4, trong Verbum Domini, số 80.
[21] PHANXICÔ, Evangelii Gaudium, số 1.
[22] PHAOLÔ VI, Gaudete in Domino, số 22. PHANXICÔ, Evangelii Gaudium, số 3.
[23] PHAOLÔ VI, Tông Huấn Evangelii Nuntiandi, số 80. PHANXICÔ, Evangelii Gaudium, số 10.
[24] CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II, Dei Verbum, số 10.
[25] BÊNÊĐICTÔ 16, Verbum Domini, số 23.
[26] BÊNÊĐICTÔ 16, Spe Salvi, số 31, Verbum Domini, số 91.
[27] PHANXICÔ, Evangelii Gaudium, số 124.
[28] BÊNÊĐICTÔ 16, Verbum Domini, số 78.
[29] BÊNÊĐICTÔ 16, Verbum Domini, số 80.
[30] BÊNÊĐICTÔ 16, Verbum Domini, số 59.
[31] GIÊRÔNIMÔ, Epistula 30, 7: CSEL 54, 246, trích trong BÊNÊĐICTÔ 16, Verbum Domini, số 72.
2021
Chủng Viện Giáo Phận Huế
Công cuộc đào tạo Linh mục luôn là một bận tâm lớn của các vị hữu trách trong Giáo hội và đóng vai trò quan trọng vào sự phát triển của Giáo hội địa phương trong quá khứ lẫn hiện tại, nhất là từ sau sắc lệnh của Công đồng Trento (Tridentinô 1543-1563) về việc thiết lập Chủng viện. Điều này đã thấy rõ tự khi Tin Mừng được các Thừa sai Tây phương truyền bá sang Việt Nam, đặc biệt từ lúc Hội Thừa sai Hải ngoại Paris được thành lập (giữa thế kỷ 17), trùng với thời kỳ nước Việt chia thành Đàng Trong và Đàng Ngoài.
GIAI ĐOẠN KHỞI THỦY
Có thể nói công việc đào tạo Linh mục tại Đàng Trong đã bắt đầu với việc 10 Thầy giảng tuyên thệ sống theo ba lời khuyên Tin Mừng vào ngày 31-7-1643 tại Quảng Nam[1]. Đây là những nam giáo dân (đa phần trẻ tuổi) từng được Cha Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) tuyển chọn, huấn luyện và lập thành đoàn thể, mang tên Hội Thầy giảng.
Sau khi hai Vùng Đại diện/Giáo phận Tông toà Đàng Ngoài và Đàng Trong được thiết lập năm 1658, thì vào năm 1664, Đức Cha Lambert de la Motte và Đức Cha François Pallu đã nhóm họp Công đồng địa phương tại Juthia (Yuthia, Ajuthia), Thái Lan, quyết định thiết lập Chủng viện tại chính nơi tổ chức Công đồng nhằm đào tạo hàng Linh mục bản địa cho vùng Đông Nam Á. Chủng viện này -do Hội Thừa sai Hải ngoại Paris điều khiển- được gọi là Chủng viện miền (Collège Général, Tổng Học viện), ban đầu đặt tại Juthia, Thái Lan (1665-1765), phiêu dạt sang Hòn Đất, Hà Tiên, Việt Nam (1765-1769), tạm cư ở Pondicherry, Ấn Độ (1770-1783), tạm thời đóng cửa (1783-1808) và cuối cùng định cư tại Penang/Pinang, Malaysia (1808-1970). Đây chủ yếu là Đại Chủng viện, nhưng cũng có lúc nhận tiểu chủng sinh[2].
Hoa trái cụ thể đầu mùa của các công việc trên đây là vào năm 1668, Cha Antoine Hainques (1637-1670), một trong hai thành viên tiên khởi của Hội Thừa sai Paris tại Đàng Trong, đã gửi hai Thầy giảng sang Juthia, gặp Đức Cha Lambert de la Motte để chịu chức Linh mục. Thày Giuse Trang chịu chức ngày 31-3-1668. Thày Luca Bền chịu chức sau đó vài tháng. Năm 1672, Đức Cha Lambert truyền chức Linh mục cho thày Manuen Bổn cũng tại Thái Lan. Lễ truyền chức cho thày Louis Đoan vào khoảng năm 1676 là lễ truyền chức đầu tiên tại Đàng Trong.
Hoa trái Việt Nam từ Chủng viện Penang: các Linh mục Tử đạo (hàng đứng) Philipphê Phan Văn Minh, Phêrô Đoàn Công Quý. (hàng ngồi) Gioan Đoạn Trinh Hoan, Phaolô Lê Văn Lộc, Phêrô Nguyễn Văn Lựu (tượng dựng tại vườn hoa Chủng viện Penang hiện nay)
Những năm sau đó, vì nhiều lý do, việc truyền chức cho người địa phương trở nên rất hiếm hoi. Đức Cha Francisco Pérez (1643-1687-1728) chỉ truyền chức cho 2 thầy Mátthêu và Phanxicô, Đức Cha Alessandro di Alexandris (1691-1725-1738) chỉ truyền chức cho 2 thầy Nicôla và Lôrensô[3]. Do vậy, đến khoảng năm 1740, Giáo phận Đàng Trong không còn một Linh mục địa phương nào.
TIỂU CHỦNG VIỆN
1- Chủng viện Thợ Đúc, Thừa Thiên (1740-1750)
Trong chuyến kinh lý vào năm 1739-1741, nhận thấy nhu cầu mục vụ quá lớn, vượt xa khả năng của các Thừa sai ngoại quốc, Đức Cha François-Elzéar des Achards de la Baume, Khâm sai Toà thánh cho rằng phải lập tức bắt tay vào việc đào tạo hàng Linh mục bản địa. Ngài đã cho xây Chủng viện thánh Carôlô (thời này cũng gọi collège) tại Giáo xứ Thợ Đúc, nay là Phường Đúc (30-09-1740), ở chân Thành Lồi (di tích Chàm) và đặt Cha Jean-Antoine de la Court (MEP, 1706-1746) làm Giám đốc tiên khởi. Khóa đầu khai mạc với 24 chủng sinh. Công việc mới khởi sự thì Đức Cha François-Elzéar đã qua đời vào ngày lễ Phục sinh 03-04-1741. Do khó khăn về nhiều mặt, dường như không có Linh mục bản địa nào xuất thân từ Chủng viện này cả. Chủng viện bị giải tán trong cuộc bách hại của Vũ vương Nguyễn Phúc Khoát vào năm 1750 dưới thời Đức Cha Armand Lefèbvre (1709-1743-1760[4]), vốn cũng là Giám đốc Chủng viện từ 1746. Bản thân Đức Cha thì bị trục xuất về Macao cùng với mọi Thừa sai khác (1750).
2- Chủng viện Di Loan, Quảng Trị (kỳ I: 1784-1798)
Thời kỳ tiếp theo, dù tình hình ở Huế khó khăn (1773-1786, thuộc chính quyền họ Trịnh; 1786-1801, thuộc chính quyền Tây Sơn), Đức Cha Jean Labartette An (1744-1784-1823) vẫn quyết định tái thành lập Chủng viện và lần này ở hai làng Hòa Ninh-Di Loan, tỉnh Quảng Trị (1784-1798). Nhưng từ năm 1787-1798, hoàn cảnh bó buộc Đức Cha và 2 Cha Giám đốc Benjamin Longer (1784-1790) rồi Pierre Gire (1791-1798) phải tổ chức Chủng viện di động, vì quân Tây Sơn bắt tất cả nam nhân từ 15 đến 60 tuổi nhập ngũ để hình thành lực lượng “Bắc tiến”. Từ năm 1798 cho tới tháng 2-1800, Đức Cha Labartette đã truyền chức Linh mục cho ba thầy người địa phương vốn đã học xong chương trình tại Đại Chủng viện miền Penang trở về. Cho tới tháng 11-1800, số Linh mục ở Đàng Trong là 20, gồm 8 Thừa sai ngoại quốc và 12 người Việt.
3- Chủng viện An Ninh, Quảng Trị (kỳ I: 1802-1928)
Từ năm 1802, lúc chúa Nguyễn Ánh khôi phục nhà Nguyễn và thống nhất sơn hà, Chủng viện được mở lại tại làng An Ninh, vùng Đất Đỏ, Cửa Tùng, tỉnh Quảng Trị. Mảnh đất Chủng viện là món quà vua Gia Long tặng cho Đức Cha Labartette, từng là phó của Đức Cha Pigneaux de Béhaine (Bá Đa Lộc), ân nhân của nhà vua và triều Nguyễn.
Trong hai năm đầu (1802-04), Thừa sai Jean André Doussain được Đức GM cử làm Giám đốc Chủng viện. Cơ sở nằm trong một khu vườn, có 4-5 căn nhà tranh, vách đất, làm Nguyện đường, phòng ngủ, lớp học, nhà cơm, nhà bếp và kho lương thực. Những năm đầu có khoảng 20 đến 50 tiểu chủng sinh với 2 lớp Latinh và Thần học. Chi phí gồm 1.200 quan Pháp mỗi năm và lúa gạo, mà một phần do các Linh mục Giáo phận đóng góp. Sau cha Doussain là các Giám đốc: François Girard (1804-1812), Jean Audemar (1814-1821), Balthasar Jarot (1821-1822), François Isidore Gagelin (1822-1824), Jean-Louis Taberd (1824-1827)[5]. Lúc này có thầy Gioan Đoạn Trinh Hoan từ Penang, Malaysia, về giúp (được ĐC Étienne Cuénot Thể truyền chức Lm năm 1836).
. Lúc này có thầy Gioan Đoạn Trinh Hoan từ Penang, Malaysia, về giúp (được ĐC Étienne Cuénot Thể truyền chức Lm năm 1836).
Từ 1825, vua Minh Mạng (1820-40) bắt đầu khắt khe với Công giáo. Tuy vậy, vào 1826, có thêm Cha François Jaccard (Phan) trốn từ miền Bắc vào giúp Chủng viện. Ngài tổ chức phòng đọc sách, dùng bảng đá (thạch bản) để in các sách đạo và các giáo trình. Tháng 7-1826 vì có tin lùng soát, nên chủng sinh phải giải tán và Cha Jaccard Phan chạy vào Nhu Lý. Sau đó tình hình khả quan hơn, Chủng viện mở cửa hoạt động lại. Nhưng đầu năm 1827, Cha Giám đốc Taberd Từ bị vua Minh Mạng triệu vào Huế và Cha Jaccard Phan cũng vào Phủ Cam 3 tháng giúp ngài, rồi lại trở ra lo Chủng viện. Tháng 9-1827, Cha Taberd Từ làm GM thay Đức Cha Labartette. Tháng 8-1828, vua Minh Mạng lại đòi Cha Jaccard Phan vào Huế để gọi là dịch sách nhưng cho ngài ở Dương Sơn, nên tháng 10-1828, Chủng viện An Ninh phải đóng cửa, kết thúc giai đoạn I với khoảng 30 thầy được Đức Cha Labartette phong chức Linh mục (sau khi đã học xong chương trình Đại Chủng viện tại Penang trở về).
4- Chủng viện Dương Sơn, Thừa Thiên (1829-1833)
Năm 1829, Đức Cha Jean-Louis Taberd (từ Tòa Giám mục ở Lái Thiêu) ra lệnh mở Chủng viện tại làng Dương Sơn, tỉnh Thừa Thiên, và đặt Cha François Jaccard làm Giám đốc kiêm Cha Chính (tức Tổng Đại diện) Giáo phận. Cha Jaccard cho thuyền ra An Ninh chở sườn nhà Chủng viện vào Dương Sơn, đồng thời đưa một số nữ tu Mến Thánh Giá Di Loan vào, lập thành Phước viện Mến Thánh Giá Dương Sơn (còn tồn tại đến nay) để lo việc phục vụ cho Chủng viện. Phụ giúp ngài giảng dạy vẫn là thầy Gioan Đoạn Trinh Hoan.
Năm 1829, xảy ra vụ hai làng Dương Sơn và Cổ Lão tranh chấp đất đai. Cha Giám đốc Jaccard bị nhà chức trách đổ lỗi, cho là có nhúng tay nên bị canh chừng. Tháng 6-1832, bộ Hình tuyên án và buộc ngài nhập đội quân bảo vệ Kinh đô, sau đưa vào Cung Quán để giam lỏng. Trước khi từ giã Dương Sơn, ngài bàn giao việc điều khiển Chủng viện cho Cha Gilles Delamotte, một Thừa sai từ Nhu Lý chạy vào trú ẩn. Ngày 06-01-1833, Minh Mạng lại ra sắc lệnh cấm đạo toàn diện, Chủng viện Dương Sơn đành phải giải tán.
5- Chủng viện Di Loan, Quảng Trị (kỳ II: 1837-1838)
Tháng 4-1837, Thừa sai Jean Jacob Candalh (Kim) từ miền Bắc mạo hiểm vào miền Trung và ở lại Di Loan theo chỉ thị của Giám mục Đàng Trong lúc ấy là Đức Cha Étienne Cuénot (Thể) để lập Tiểu Chủng viện. Sau đó hội ý với Cha Gioankim Lê Văn Tư, quản xứ An Ninh, Cha Candalh đã mua một thửa đất và nhà để thi hành mệnh lệnh Bản quyền Giáo phận. Cuối năm 1837, Chủng viện khai giảng với 6 chủng sinh. Mấy tháng sau, bị tố giác, Chủng viện phải đóng cửa. Cha Giám đốc, Cha Tư và các chủng sinh chạy ra Quảng Bình, ẩn tại Kim Sen, nơi một trang trại do trùm họ Antôn Nguyễn Hữu Quỳnh (Thánh Tử đạo tương lai) lập ra để tín hữu trốn trong thời kỳ bách hại.
Lúc bấy giờ Cha François Vialle đang ở Bố Chính, Quảng Bình, không biết Chủng viện đã giải tán nên biểu học trò của mình là chú Tôma Trần Văn Thiện vào tựu trường. Đầu tháng 6-1838, chú vào Di Loan, thấy Chủng viện chỉ còn vườn không nhà trống. Tiến thoái lưỡng nan, chú xin ở lại nhà một giáo dân để xem tình thế ra sao đã. Vài hôm sau, quan quân huyện Vĩnh Linh bao vây hai làng Di Loan và An Ninh. Chú Thiện bị bắt cùng với nhiều giáo hữu. Cuối cùng chú chịu tử đạo một lần với Cha Jaccard tại Nhan Biều, Quảng Trị ngày 21-09-1838.
6- Hai Chủng viện song song một thời: Kẻ Sen (Quảng Bình, 1847-1856) và Di Loan (Quảng Trị, kỳ III: 1849-1858)
– Chủng viện Kẻ Sen: Năm 1847, theo chỉ thị của Đức Giám mục Cuénot, Cha Jean Galy đang coi vùng Bắc Giáo phận Đàng Trong, đã lập Chủng viện tại Kẻ Sen, Quảng Bình. Ban giảng huấn gồm có Cha Galy, Giám đốc và hai vị giáo sư: Thầy Gioan Nguyễn Hòa Hưởng và thầy Têphanô Phạm Văn Cẩm (cả 2 gốc Phủ Cam và về sau đều làm Linh mục).
Năm 1853, Đức Cha Phó Joseph Sohier từ Di Loan ra Kẻ Sen làm Giám đốc Chủng viện. Nhưng giữa năm 1854, Kẻ Sen có báo động, Nhà trường bị triệt hạ, rồi được cất lên lại và tiếp tục sinh hoạt. Năm 1856, Đức Cha Chính Pellerin xuất ngoại nhằm vận động cho đạo được an lành, Đức Cha Phó Sohier buộc phải đóng cửa Chủng viện để vào Di Loan.
Trong số chủng sinh Chủng viện Kẻ Sen, có 5 người về sau làm Linh mục: Cha Inhaxiô Nguyễn Ngọc Tuyên, Cha Gioan Trần Minh Châu, Cha Giuse Dương Đức Thành, Cha Đôminicô Lê Xuân Biện, Cha GB Tống Viết Cơ.
– Chủng viện Di Loan: Tháng 3-1848, Đức Cha Phó Pellerin từ Đà Nẵng ra Huế, ở lại đây một năm. Ngài chủ yếu trốn ở Giáo xứ An Vân và có mở tại đó Chủng viện tạm. Sau 5 tháng, bị phát hiện, Đức Cha phải bỏ An Vân, xuống đò ra Di Loan và tái lập Chủng viện nơi này theo chỉ thị của Đức Cha Chính Cuénot cũng đang trốn ở Gò Thị, Bình Định.
Chủng viện Di Loan kỳ III này khai giảng với chủng sinh mới và cũ gồm 30 chú. Giám đốc là Cha Chính Sohier, giáo sư là Đức Cha Phó Pellerin và Cha Đôminicô Nguyễn Văn Thân (gốc Phủ Cam). Niên khóa 1850-1851 có 50 chủng sinh chia ra hai lớp: Latinh và Thần học.
Khi Tòa thánh lập Giáo phận Bắc Đàng Trong (tức Giáo phận Huế) năm 1850, thì năm sau Cha Chính Sohier được bổ nhiệm làm Giám mục Phó, còn Đức Cha Phó Pellerin lên Giám mục Chính. Hàng ngày hai Đức Cha thay nhau dạy vì thiếu giáo sư. Đầu năm 1853, Đức Cha Sohier ra làm Giám đốc Chủng viện Kẻ Sen, Đức Cha Pellerin lên Giám đốc Chủng viện Di Loan. Từ tháng 9-1855, cơn cấm đạo càng gắt gao, ngài phải ở luôn trong Chủng viện và năm sau thì trốn vào Huế, rồi vào Đà Nẵng và xuất ngoại. Đức Cha Phó phải đóng cửa Nhà trường Kẻ Sen để vào Di Loan điều hành Chủng viện còn lại. Tình hình tôn giáo ngày càng sôi động. Cuối năm 1958, Chủng viện phải giải tán. Trong số chủng sinh Chủng viện Di Loan kỳ này, có 12 người làm Linh mục.
7- Chủng viện An Ninh, Quảng Trị (kỳ II: 1864-1953)
Sau hòa ước Nhâm Tuất (5-6-1862), năm 1864, vua Tự Đức ra sắc dụ tha đạo. Linh mục Louis Étienne Dangelzer (Cố Đăng) được cử mở lại Tiểu Chủng viện An Ninh và làm Giám đốc (1864-70) kiêm giáo sư, thỉnh thoảng có cả ĐC Sohier Bình (nay lên Giám mục Chính) từ Huế ra giúp[6]. Về sau thêm 2 Cha Claude Bonin (Cố Ninh) và Ernest Girard (Cố Hòa) giúp giảng dạy.
Vào năm 1870, Cha Claude Bonin được bổ nhiệm làm Giám đốc Tiểu Chủng viện đồng thời giữ chức Quản hạt Đất Đỏ. Chủng viện có lũy tre bao bọc, nhưng nhà cửa còn rất thô sơ và ít ỏi. Ngài làm thêm hai nhà ngủ, một nhà cơm, một phòng học và một nhà cho các Cha, song cũng chỉ bằng tranh, tre. Mỗi năm có 2 kỳ tựu trường: một vào tháng Giêng và một vào tháng Tám.
Từ 1877, Cha Ernest Girard lên làm Giám đốc Chủng viện An Ninh hai nhiệm kỳ (1877-1890 và 1893-1924), tổng cộng 44 năm, một kỷ lục. Giữa thời gian đó, ngài có làm Giám đốc Đại Chủng viện Phú Xuân trong 3 năm (1891-1893) và được Cha Joseph Grosjean (Cố Gioang) -từng là giáo sư ở An Ninh 2 niên rưỡi từ cuối năm 1882- thay thế ở chức vụ Giám đốc Tiểu Chủng viện. Sau khi nhậm chức Giám mục Giáo phận Huế (tấn phong ngày 24-8-1880), Đức Cha Antoine Caspar Lộc chỉ thị chỉnh trang Tiểu Chủng viện, nên từ 1883, Cha Girard khởi công xây Nhà nguyện Trái Tim Chúa Giêsu bằng gạch, lợp ngói, với ngọn tháp cao, và, ở phía trước, từ cổng chính đi vào, có một Nhà nguyện nhỏ hơn kính Đức Mẹ Lộ Đức.
Tháng 9-1885, quân Văn Thân từ Quảng Trị kéo ra Cửa Tùng, đóng quân tại Tân Trại (Tân Sài), cách An Ninh chừng 3-4 cây số phía Tây Bắc rồi tiến đánh hai làng Công giáo Di Loan và An Ninh. Di Loan lúc ấy, với hai họ nhánh Hòa Ninh và Loan Lý, có khoảng 1.500 giáo hữu trên tổng số 5.000 toàn Giáo hạt Đất Đỏ, phải cầm cự với một đội quân rất hùng mạnh (2000 tên) và hết sức tàn bạo. Thừa sai Dangelzer, Cha Chính Giáo phận kiêm Quản sở Di Loan bấy giờ, huy động mọi người đương đầu với giặc. Văn Thân đánh liên tiếp ba ngày 8, 9 và 10 tháng 9 nhưng không thành công. Trưa 10-9, chúng kéo đến vây Tiểu Chủng viện An Ninh. Cố Chính Đăng bèn dẫn giáo hữu vào đó trợ chiến và hợp chiến, bỏ làng Di Loan cho quân giặc.
Ngày 13-9, dân Công giáo trong vùng rút cả vào Tiểu Chủng viện. Ngoài ba vị Thừa sai -các Cha Dangelzer, Girard, Jean Closset (giáo sư Chủng viện, Quản xứ An Ninh)- còn có các Cha Việt như Phêrô Võ Viết Liên, Quản xứ An Do, Tôma Nguyễn Ngọc Huệ, Quản xứ An Bằng, Têphanô Đặng Văn Hiệp, phó xứ An Ninh và Đôminicô Nguyễn Văn Cửu, Phó xứ Di Loan, cùng 7 chủng sinh, 60 nữ tu Dòng Mến Thánh Giá Di Loan và 4.000 giáo hữu. Hai bên đánh nhau 7 trận lớn, khi thắng khi thua, cho đến ngày 2-10 thì Tiểu Chủng viện An Ninh được quân đội Pháp từ Huế ra giải cứu. Báo cáo Thường niên 1885 của Đức Cha Caspar Louis Lộc cho biết số giáo dân bị thảm sát toàn Giáo hạt Đất Đỏ trong vụ này là 1.666 người, trong số đó, theo P. Jabouille và A. Delvaux, có đến 1.200 do không kịp chạy vào Tiểu Chủng viện[7].
Sau giặc Văn Thân, Cha Giám đốc Girard Hòa tiếp tục kiến thiết: cải táng mồ mả các vị tiền nhiệm ra sau Nhà thờ, xây thêm nhiều cơ sở bằng gạch ngói, bên cạnh việc lo đào luyện khoảng 100 Linh mục bản xứ. Vì theo các Báo cáo Thường niên của ĐGM Caspar, tại Tiểu Chủng viện An Ninh năm 1888 có 43 chú, năm 1891 có 40 chú, năm 1894 có 114 chú. Phụ giúp ngài có Cha Marcellin Maillebuau, dạy từ 1890 đến 1902, Cha Pierre Etchebarne dạy từ 1894 đến 1905 và Cha François Lemasle dạy từ 1899 đến 1902.
Tiểu Chủng viện An Ninh năm 1902. Cha Giám đốc Girard (râu bạc), bên hữu là Cha giáo Pierre Etchebarne và bên tả là các Cha giáo François Lemasle và Marcellin Maillebuau (?). Một trong hai linh mục Việt Nam (bên trái bức hình) có thể là cha Tôma Nguyễn Khắc Phú.
Tháng 09-1902, ban giáo sư TCV có thêm Cha Tôma Nguyễn Khắc Phú. Ngài là giáo sư người Việt đầu tiên, dạy Hán tự (trước đó, các giáo sư toàn là người Âu Châu). Tiếc là ngài chỉ dạy được một năm thì mất. Tháng 09-1910, ban giáo sư TCV có thêm Cha Đôminicô Hồ Ngọc Cẩn. Cha Cẩn dạy các môn Latinh, Pháp, Toán, Việt văn với một phương pháp sư phạm tiến bộ, dễ hiểu, dễ nhớ, trình bày rõ ràng, sáng sủa, khiến cho học trò rất thích thú. Ngài sẽ dạy ở đây cho tới 1924 để rồi vào Huế, làm Bề trên tiên khởi của Dòng Thánh Tâm. Từ đầu năm 1923, chủng viện có thêm giáo sư là một tân thừa sai mới sang từ Pháp, Cha Raphael Fasseaux. Nhưng ngài chỉ ở đây hơn 1 năm.
Tháng 8-1924, An Ninh có Giám đốc mới là Cha Jean-Baptiste Roux (Cố Ngôn) từng là giáo sư tại đây 3 kỳ (1898-1905; 1908-1910; 1917-1922). Ngài sẽ coi sóc Tiểu Chủng viện cho tới tháng 5-1930. Theo Báo cáo Thường niên 1925 của Đức Cha Eugène Allys thì có 106 tiểu chủng sinh năm ấy. Con số này lẽ ra còn cao hơn, nếu trường sở và nguồn tài chánh đã không bị thiếu hụt.
Chủng viện An Ninh, đầu năm 1924. Đức Cha Allys ngồi giữa, bên phải ngài là Cha Giám đốc Girard rồi Cha R. Fasseaux. Bên trái ngài, ngoài cùng là Cha Hồ Ngọc Cẩn.
Khi Cha Roux lâm bệnh phải đi Pháp chữa trị năm 1930, Cha Jean-Baptiste Urrutia (Cố Thi) đang là giáo sư ở An Ninh từ 1925, được đặt làm Giám đốc Chủng viện cho đến năm 1937. Báo cáo Thường niên 1935 của Đức Cha Alexandre Chabanon cho biết số tiểu chủng sinh lúc này là 125.
Tiểu Chủng viện An Ninh (1932) cả thầy lẫn trò
Khi Cha Urrutia đi nghỉ bệnh ở Pháp từ tháng 06-1937 đến tháng 09-1938 thì được Cha già Antoine Stoeffler (Cố Thể, 70 tuổi) tạm thế. Trở về vào tháng 10-1938, Cha Urrutia nhận lại trách nhiệm Giám đốc Tiểu chủng viện An Ninh. Tất cả trôi qua tốt đẹp cho đến cuộc đảo chánh Nhật vào tháng 03-1945. Ít lâu sau, ngài cũng như mọi Thừa sai Pháp và Pháp kiều từ Quảng Bình đến Quy Nhơn đều bị tập trung về Huế để quản thúc.
Ban giáo sư Chủng viện An Ninh (hình chụp khoảng năm 1932). Từ trái qua: Cha Anrê Bùi Quang Tịch, Cha Đôminicô Trần Văn Phát, Cha Henri Massiot, Cha Giám đốc JB Urrutia, Cha Gioan Nguyễn Văn Chất, Cha Anrê Nguyễn Văn Từ.
Cha Anrê Bùi Quang Tịch, vốn là giáo sư An Ninh từ tháng 3-1930, được cử làm Giám đốc TCV, vị Giám đốc người Việt đầu tiên, từ 1945-1953. Cha Anrê nỗ lực lèo lái con thuyền Chủng viện qua những sự biến của thời cuộc lúc ấy. Nhưng rồi tình hình chính trị càng lúc càng sôi động. Trưa ngày 8-5-1953 Tiểu Chủng viện An Ninh, Cửa Tùng, Quảng Trị, đã chính thức giải tán.
Tổng kết: Theo bộ Tiểu sử các Linh mục Huế, xuất thân từ An Ninh có 223 LM, vị đầu tiên là Cha Phêrô Lê Văn Thật (1814), vị cuối cùng là Cha Phêrô Lê Đình Khôi (1969). Trong số đó, 1 vị lên Hồng y là P.X. Nguyễn Văn Thuận (2001), 2 vị lên Tổng Giám mục là Phêrô Ngô Đình Thục (1938) và Têphanô Nguyễn Như Thể (1975), 4 vị lên Giám mục là Đôminicô Hồ Ngọc Cẩn (1935), Tađêô Lê Hữu Từ (1945), Ximong Hòa Nguyễn Văn Hiền (1955), Alêxi Phạm Văn Lộc (1975) và một vị lên Đan viện phụ: Tanítlaô Trương Đình Vang, Dòng Phước Sơn (1964).
Đó là chưa kể một số Giám đốc, cựu giáo sư TCV An Ninh đã được phong GM, như các ĐC Taberd Từ, Pellerin Phan, Sohier Bình, Pontvianne Phong, Chabanon Giáo, Urrutia Thi.
8- Tiểu Chủng viện Phú Xuân, Thừa Thiên (1953-1961)
Trưa ngày 8-5-1953 Tiểu Chủng viện An Ninh, Cửa Tùng, Quảng Trị, đã chính thức giải tán. Có lẽ lúc đó, do tình hình an ninh không được bảo đảm, thôn quê xa thành thị, vấn đề đi lại, thông tin liên lạc khó khăn, Cha Giám đốc Anrê Bùi Quang Tịch và ban giáo sư đã quyết định giải tán năm học trước hạn định. Sau đó Đức Cha JB. Urrutia ra lệnh đưa Tiểu Chủng viện vào Huế. Địa điểm mới là Đại Chủng viện Phú Xuân. (Các thầy dời vào Đại Chủng viện Thánh Giuse, đường Cường Để, Sài Gòn, để nhường chỗ cho Tiểu Chủng viện).
Bình thường niên khoá khai giảng vào đầu tháng 9 dương lịch, nhưng vì nhà cửa chưa ổn định, năm đó lại gặp một trận lụt lớn (từ ngày 20 đến 26-9-1953 đã làm 500 người thiệt mạng) nên Bề trên dời ngày tựu trường đến tháng 11.
Cha Ximong Hoà Nguyễn Văn Hiền (nguyên Giám đốc Đại Chủng viện Huế từ 1947-1953) ở lại làm Giám đốc Tiểu Chủng viện Phú Xuân với ban giáo sư cũ của Chủng viện An Ninh, trừ Cha Giám đốc Tịch được đổi đi làm Quản xứ Trí Bưu. Từ đây, Chủng viện có một số Cha và thầy ở ngoài vào dạy, trong đó có Cha Nguyễn Văn Phương, người Vinh.
Chủng sinh tựu trường 4 lớp như thông lệ (Nhất, Nhì, Ba, Tư, danh xưng thời đó). Cuối niên khoá, lớp Nhất (tương đương lớp Première chương trình Pháp) được đi thi Tú Tài I, chương trình Pháp. Đó là lần đầu Chủng viện cho chủng sinh dự thi như các học sinh ngoài đời. Xong niên khóa 1954-1955, hai lớp lớn trong Chủng viện được gởi về trường Thiên Hựu học chương trình Pháp…
Cha Giám đốc Nguyễn Văn Hiền (sau nầy làm Giám mục Sài Gòn, rồi Đà Lạt) được đề cử làm Hiệu trưởng trường Thiên Hựu thế chỗ Cha Jean Viry (Cố Vị) về Pháp nghỉ. Cha Phaolô Lê Văn Đẩu (nguyên Giám đốc Đại Chủng viện Huế từ 1945-1947) thay Cha Hiền làm Giám đốc Tiểu Chủng viện Phú Xuân từ 1955-1958. Tiếp đến, Cha Anrê Bùi Quang Tịch được tái bổ nhiệm, do kinh nghiệm và uy tín đạo đức của ngài. Cha Tịch giữ chức Giám đốc từ 1958-1961. Chủng viện lại có thêm một số giáo sư mới: các Cha Đôminicô Nguyễn Văn Nghĩa, Antôn Nguyễn Văn Thọ, Matthêô Lê Văn Thành. Trước đây cứ hai năm một lần có khoá mới, nhưng kể từ 1958 trở đi, tuyển sinh từng năm một, trong kỳ hè. Niên khoá cuối cùng Tiểu Chủng viện Phú Xuân là 1961-1962. Giám đốc lúc nầy là một Linh mục trẻ (33 tuổi) từ Rôma du học về: Cha PX. Nguyễn Văn Thuận.
Giáo phận Huế bấy giờ chuẩn bị mua đất ở đồng An Cựu để thành lập Tiểu Chủng viện mới, thay thế cho Tiểu Chủng viện Phú Xuân, cơ sở nầy sẽ trao trả lại cho Đại Chủng viện. Nhưng trước khi trả lại, thì Giáo phận xây một ngôi nhà lầu 3 tầng (phía bên trái nhìn từ cổng), đối xứng với ngôi nhà lầu cũ ở bên phải. Cả hai hơi chếch về phía sau ngôi nhà lầu chính 2 tầng nằm ở giữa.
Xuất thân từ TCV Phú Xuân có 36 Linh mục, trong đó 1 vị được nâng lên hàng Tổng Giám mục là Đức Cha Phanxicô Xavie Lê Văn Hồng.
9- Tiểu chủng viện Hoan Thiện (1962-1979)
Tiểu chủng viện Hoan Thiện (hình chụp khoảng năm 1965, bắt đầu xây thêm nhà mới)
Ngày 19 tháng 6 năm 1961, Đức Cha Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục đặt viên đá đầu tiên để xây cất Tiểu Chủng viện mới. Cha Giám đốc Thuận xoay xở tài chánh và xây dựng rất nhanh. Đầu niên khoá 1962-1963, Tiểu Chủng viện Hoan Thiện mở cửa đón nhận chủng sinh nhập học. Công trình hoàn thành gồm những khu nhà lầu 2 tầng 3 mặt hình chữ U, có thể ở được trên 200 chủng sinh trung học từ lớp 6 đến lớp 12, và một Nhà nguyện mái hình tròn, với những sân chơi thể thao xung quanh…
Chủng viện được đặt tên hai Thánh Tử đạo của Giáo phận nhà: Linh mục Gioan Đoạn Trinh Hoan và Chủng sinh Tôma Trần Văn Thiện. Cha Giám đốc PX. Nguyễn Văn Thuận (1962-1967) cũng là một thần tượng nổi bật về tài trí và đức độ (Sau nầy làm Hồng y Chủ tịch Uỷ ban Công lý và Hoà bình của Giáo triều Rôma, sinh: 17-4-1928, tử: 16-9-2002).
Chương trình đào tạo chủng sinh có nhiều thay đổi, khởi sắc, phù hợp với xã hội, việc học theo sát các trường đời, chú trọng thêm sinh ngữ và cổ ngữ Latinh. Niên khoá đầu khai giảng ngày 10-9-1962, gồm 207 chủng sinh. Các lớp lớn qua học trường Thiên Hựu. Ngày 29-6-1963 lễ khánh thành chính thức Chủng viện Hoan Thiện và làm phép nhà nguyện, có 5 vị Giám mục thuộc Giáo tỉnh Huế và Sài Gòn đến dự.
Công tác kiến thiết Chủng viện Hoan Thiện được chia làm 2 giai đoạn: – Giai đoạn 1: dưới thời Đức Cha Phêrô Ngô Đình Thục, gồm 3 dãy lầu hình chữ U, Nhà nguyện, tháp chuông, nhà bếp, nhà các chị Mến Thánh Giá và người giúp việc v.v… – Giai đoạn 2: thời Đức Cha Philipphê Nguyễn Kim Điền: một dãy lầu khác cùng bức tường bao quanh khuôn viên rộng 24.000 m².
Cha Giám đốc Thuận còn phổ biến ơn gọi bằng hình thức “tu muộn” tức là các thanh niên đã học xong cấp 2 hoặc cấp 3 ngoài đời, cũng có thể nhập ngang vào Chủng viện, tiếp tục học xong chương trình Trung học Phổ thông, rồi bổ túc thêm sinh ngữ và Latinh một hoặc hai năm trước khi vào Đại Chủng viện. (Sau này, Cha Giám đốc Phaolô Lê Văn Đẩu đặt tên là “Lớp Trưởng nhập”).
Năm 1967, Cha Giám đốc PX. Nguyễn Văn Thuận được cất nhắc lên hàng Giám mục. Lễ tấn phong cử hành chiều ngày 24-6-1967 ngay tại Tiểu Chủng viện. Cha Phaolô Lê Văn Đẩu nhận chức Giám đốc thay thế từ 1967 đến 1972. Đây là lần thứ 2 ngài làm Giám đốc Tiểu Chủng viện.
Tiểu Chủng viện Hoan Thiện Huế. Niên khóa 1967-1968. Thời Cha Giám đốc P. Lê Văn Đẩu.
Một năm sau, tức 1968, xảy ra vụ Tết Mậu Thân, chiến tranh bùng nổ, chết chóc điêu tàn. Rất may là dịp nầy chủng sinh về nghỉ Tết với gia đình, không ai trong số 300 em sinh bị nạn! Chủng viện biến thành nơi đóng quân của binh lính miền Bắc, sau đó thành trại tạm cư cho dân tỵ nạn.
Sau biến cố Mậu Thân Chủng viện hoãn kỳ tựu trường, lo tái thiết cơ sở bị hư hại, hư hại rất nặng nề. Toàn bộ kính màu (chiếm phân nửa diện tích các bức tường) của Nhà nguyện bị bể nát. Và niên khoá 1968-1969 không nhận lớp mới.
Tiểu Chủng viện Hoan Thiện sau biến cố Tết Mậu Thân (1969)
Đến niên khoá 1970, chương trình huấn luyện được cải tổ thêm. Từ đây không nhận lớp Đệ Thất (Lớp 6) mà chỉ nhận từ Đệ Lục (lớp 7) trở lên (đến lớp Đệ Nhất (lớp 12).
Năm 1972, Cha Đẩu được đổi về Giáo xứ Tân Mỹ. Giám đốc mới là Cha Têphanô Nguyễn Như Thể du học từ Pháp về. Ngài thi hành nhiệm vụ tới đầu năm 1975.
Sau biến cố 30-4-1975, Đức Tổng Giám mục Philipphê Nguyễn Kim Điền giao trách nhiệm cho Cha Gioan Nguyễn Lợi với sự cộng tác của các Cha Phêrô Nguyễn Hữu Giải, Anrê Nguyễn Văn Phúc và Batôlômêô Nguyễn Phùng Tuệ (trở về từ Rôma ngay trong những ngày biến động).
Ngay trong những tuần lễ đầu Huế vừa chuyển sang chế độ mới, tức khoảng giữa tháng 4-1975, Cha Lợi đã qui tụ được hơn 100 chủng sinh vào lại TCV. Chỉ qui tụ 4 lớp lớn (9-12) vào ở nội trú, còn các em lớp nhỏ thì ở ngoài với gia đình, Chúa nhật vào Chủng viện học. Các em nầy được gọi là Chủng sinh Ngoại trú.
Về tài chánh, Chủng viện lúc ấy rất vất vả. Không còn trợ cấp của Toà thánh. Nhiều chủng sinh sau đó lại theo gia đình vào Nam. Con số từ hơn 100 xuống còn 80. Những gia đình chủng sinh ở lại Huế hầu hết lâm cảnh túng nghèo. Các Giáo xứ rất tích cực đóng góp cho Chủng viện, nhưng cũng chỉ theo khả năng hạn hẹp.
Chủng sinh được huấn luyện thêm về công việc lao động cho phù hợp với hoàn cảnh mới. Sau một thời gian học riêng trong nhà, chủng sinh được gởi đi học ở các trường ngoài như Quốc Học, Nguyễn Trường Tộ, v.v…
Sau khi tốt nghiệp Trung học Phổ thông, lớp lớn nhất được đưa lên Đại Chủng viện. Nhưng Chính quyền không cho phép, bị gởi trả lại TCV. Cả một năm trời đạp xe đi về sáng tối. Từ đó, TCV tổ chức dạy chương trình Triết học. Ngoài 3 Cha trong nhà, một số Linh mục ở ngoài cũng vào dạy giúp, như các Cha Hồ Văn Quý, Lê Đình Khôi, Phan Xuân Thanh, Đặng Thanh Minh, v.v…
Tháng 8-1975, Đức Tổng Giám mục đặt Cha Phêrô Nguyễn Hữu Giải lên làm Giám đốc thay thế Cha Lợi đi làm Quản xứ Phanxicô.
Chủng viện vẫn sinh hoạt đều đặn dù gặp rất nhiều khó khăn. Cứ mỗi mùa Giáng sinh, Chủng viện thu hút đông đảo khách đến tham quan, xem triển lãm, nghe thánh ca, gây một bầu khí đặc sắc vui nhộn cho người dân thành phố Huế.
Và số phận của Tiểu Chủng viện Hoan Thiện cuối cùng được CQ đơn phương quyết định bằng việc trưng thu sau mấy tuần làm việc căng thẳng với Cha Giám đốc Nguyễn Hữu Giải.
Đó là ngày 20-12-1979. Toàn thể tiểu chủng sinh như đàn chim vỡ tổ, tan tác bay đi bốn phương trời. Tiểu Chủng viện biến thành một khu giáo dục có 3 khối do Nhà nước quản lý: 1- Trung học phổ thông Nguyễn Chí Diễu: khu nhà chữ U. 2- Trường huấn nghệ: khu vực lầu mới. 3- Trung tâm Văn thể mỹ: Khu nhà nguyện và sân.
Năm 2007 CQ lại đổi trường trung học phổ thông Nguyễn Chí Diễu thành trường Trung học Phổ thông Cao Thắng.
Bước ngoặt mới: chủng sinh ngoại trú
Từ đây (20-12-1979), chủng sinh về lại với gia đình. Nhiều người kiếm kế sinh nhai, lao động vất vả nhưng cũng tìm cách học riêng ở nhà, học tại các trung tâm ngoại ngữ, hoặc ghi danh đại học, kiên trì và quyết chí theo đuổi ơn gọi… chờ ngày xin vào một Đại Chủng viện nào đó, như : Nha Trang, Xuân Lộc, Sài Gòn… Canada, Mỹ, Úc… và các dòng tu…
Trong số 80 “chủng sinh nội trú” TCV Hoan Thiện sau biến cố 4-1975 (4/1975-12/1979) đến nay đã có 20 anh em trở thành Linh mục, một số ở nước ngoài, một số ở rải rác tại nhiều Giáo phận trong nước. Đó là chưa kể số anh em “chủng sinh ngoại trú” cũng lần lượt thụ phong Linh mục Triều và Dòng…
Kể từ khi Tiểu Chủng viện bị đóng cửa, sinh hoạt không còn nữa. Cho tới khi Cha Phêrô Nguyễn Hữu Giải mãn hạn tù “học tập cải tạo”[8] trở về, thì dù bị quản thúc tiếp tại Nguyệt Biều (1990-1994), Cha cũng bắt đầu qui tụ một nhóm Chủng sinh tu hội Hy vọng (1990), tổ chức cho họ học hành, nhờ một số Cha tu hội này dạy triết cho họ. Trong số này có thầy Giuse Hồ Thứ, Giám đốc Đại Chủng viện Huế hiện thời. Dần dần nhóm lan rộng và lớn mạnh, biến thành Chủng sinh Ngoại trú.
Đầu năm 1995 Đức Cha Têphanô Nguyễn như Thể bổ nhiệm Cha Anrê Nguyễn Văn Phúc đặc trách chủng sinh ngoại trú kiêm đại chủng sinh Giáo phận. Sĩ số chủng sinh ngoại trú lúc bấy giờ là 133, gồm: Chủng sinh lớn tuổi (10), Cấp Đại học và luyện thi ĐH (30), Cấp 3 Trung học (93). Từ đây chủng sinh ngoại trú được chia thành hai: 1- Cấp 2-3 Trung học: sinh hoạt tại Giáo xứ dưới sự hướng dẫn của các Cha xứ. Và mỗi năm tập trung một lần vào ngày 21/9, lễ Bổn mạng chủng sinh, Thánh Tôma Thiện. 2- Cấp Đại học: Tĩnh tâm hàng tháng, dưới sự hướng dẫn của Cha đặc trách. Số chủng sinh dự ngày Tôma Thiện năm 2002 : Cấp II Trung học : 245; Cấp III Trung học : 254; Cấp Đại học: 119. Tổng cộng : 618.
Cũng kể từ năm 1995 chủng sinh ngoại trú sinh hoạt mỗi năm “dễ thở” hơn một chút, và nhờ sự cộng tác tích cực của các Cha xứ, ơn gọi ngày càng gia tăng. Không thể quên sự giúp đỡ rất cần thiết và quí báu của các Cha và anh em cựu chủng sinh hải ngoại.
Sau khi chủng sinh tốt nghiệp đại học, cứ 2 năm một lần tuyển vào Đại Chủng viện, vốn được chính thức mở lại từ tháng 9-1994 (xem dưới).
10- Tiền Chủng viện (từ 2015…)
Năm 2015, Đức TGM Phanxicô Xavie Lê Văn Hồng đã thành lập Tiền Chủng viện, một hình thức thay thế Tiểu chủng viện Hoan Thiện vốn bị nhà nước trưng thu quản lý cuối năm 1979. Tiền thân của Tiền chủng viện chính là Nhà nội trú có từ năm 2007 (đặt tại giáo xứ Phủ Cam). Tiền chủng viện -nằm trong khuôn viên Tòa Giám mục, ngay sau nhà ở của Đức TGM- được giao cho hai Linh mục phụ trách. Giám đốc đầu tiên là Cha Micae Phạm Ngọc Hải, Phụ tá là Cha Giacôbê Nguyễn Xuân Lành. Đến tháng 4-2018, Cha Hải ra La Vang làm Quản nhiệm Trung tâm Thánh Mẫu, Cha Lành lên thay thế (có thời gian ngắn được Cha PX Nguyễn Văn Thương rồi Cha Banaba Trần Đình Phục phụ tá).
Điều kiện được thu nhận là đã sinh hoạt chủng sinh ngoại trú tại đại học và đã tốt nghiệp đại học. Các chú được học nhân bản, tu đức, ngoại ngữ, giáo lý, Kinh thánh nhập môn và một số kỹ năng về mục vụ trong vòng 2 năm. Mỗi năm thu nhận chừng 10 chú. Sau chu kỳ này thì được gởi lên Đại chủng viện.
Tiền Chủng viện Huế hiện thời (sau lưng Tòa Giám mục)
ĐẠI CHỦNG VIỆN
Đại Chủng viện Huế xuất hiện từ một trăm bốn mươi năm nay (1881-2021). Trước khi nó được thành lập, các ứng viên Linh mục đều được gởi sang Chủng viện Miền hay Tổng Học viện của Hội Thừa sai Hải ngoại Paris (Collège Général des Missions Étrangères), được lần lượt đặt ở nhiều nơi khác nhau tại Đông Nam Á và cuối cùng là ở Penang, Malaysia (xem trên). Tại đây, họ được huấn luyện làm giáo sĩ và khi học xong thần học, thì trở lại Vùng Truyền giáo của mình để lãnh nhận các chức thánh. Sự việc đã là như thế từ thời Đức Cha Lambert de la Motte, Đại diện Tông tòa tiên khởi Đàng Trong hậu bán thế kỷ XVII. Vào năm 1850, khi Vùng Truyền giáo Huế (bấy giờ gọi là Bắc Đàng Trong) được nâng lên thành Giáo phận Đại diện Tông tòa biệt lập, thì vẫn còn 30 năm không có Đại Chủng viện nào khác ngoài Đại Chủng viện Penang. Chẳng hơn gì hai thế kỷ trước, việc thành lập một Đại Chủng viện là điều bất khả hoặc bất cẩn, vì lúc đó cuộc bách hại vẫn luôn năng động hay luôn đe dọa. Vả lại, nói cho cùng, người ta đã có thể thiết lập một Đại Chủng viện, nhưng điều này tuyệt đối không cần thiết, vì vào thời đó, Tổng Học viện của Hội Thừa sai là đã đủ.
- Đại Chủng viện Thợ Đúc (1882-1888).
Kế vị các Giám mục François Pellerin, Joseph Sohier và Martin-Jean Pontvianne, Đức Cha Antoine Caspar, cho tới lúc đó là Thừa sai tại Sài Gòn, đã ra Huế ngày 19 tháng 09 năm 1880 và nắm quyền điều khiển Vùng Truyền giáo Bắc Đàng Trong. Vào thời điểm ấy, tín hữu Công giáo miền Trung đang hưởng một nền hòa bình tương đối từ một vài năm trở lại. Vì thế vị tân Mục tử nghĩ rằng đã đến lúc thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa việc truyền bá Tin Mừng và trang bị cho Vùng Truyền giáo của mình một Đại Chủng viện riêng biệt[9].
Lúc bấy giờ tại Tòa Giám mục Kim Long và trong nhiều cộng đoàn Kitô hữu khác nhau, có khoảng vài chục chủng sinh, phần đông là cựu học viên của Tổng Học viện Pénang, đang chu toàn nhiều nhiệm vụ đa dạng, chủ yếu là làm Thầy giảng, trong khi chờ được cất nhắc lên các Chức thánh. Đức Cha Caspar đã trao phó cho Cha Eugène Allys (Lý) (Quản xứ Dương Sơn lúc ấy, Giám mục Giáo phận sau này) việc tập hợp các chủng sinh ở Kim Long và dạy họ một số môn học, chủ yếu là Thánh Kinh, với sự cộng tác của Cha Alfred Barthélémy (Mỹ). Đây là một mầm mống Chủng viện. Điều này đã xảy ra vào những tháng cuối cùng của năm 1881. Ngày 25-03-1882, Đức Cha Caspar cử hành lễ truyền chức đầu tiên của mình và hai chủng sinh lãnh chức Linh mục.
Công trình phác thảo bấy giờ có một hình dạng rõ rệt. Ngày 01-04-1882, Cha Jean-Nicolas Renauld (Đồng) kế nhiệm Cha Allys làm Giám đốc Chủng viện và Cha Pierre Guillot (Cao) phụ tá cho ngài, thế chỗ Cha Barthélémy. Cùng lúc Đức Cha Caspar trao phó cho vị tân Giám đốc nhiệm vụ thiết lập Đại Chủng viện tại Thợ Đúc (ở làng Trường An), bên hữu ngạn sông Hương, gần đối diện Kim Long, bên tả ngạn.
Cha Renauld mua một thửa đất ven sông, phía trên Nhà thờ Giáo xứ một chút. Khi đã mua được đất, công việc thành lập khởi sự và tiếp tục cho tới những ngày đầu tháng 11. Ngày 04-11-1882, buổi tựu trường đầu tiên ở Chủng viện Thợ Đúc đã diễn ra với 42 chủng sinh; phần đông, trở về từ Penang, đã học xong chương trình; một vài người chưa bắt đầu thần học. Thửa đất mà người ta đã tậu được cho Chủng viện thì thấp và sình lầy, gồm nhiều mảnh, độ cao không đều nhau. Để xây nhà, đã phải thực hiện nhiều cuộc san lấp quan trọng và do đó phải chuyển một lượng lớn đất và bùn. Vì thế, chưa tròn hai tháng kể từ ngày mở Chủng viện mới, các chủng sinh đã mắc phải một căn bệnh truyền nhiễm gọi là tê phù (béribéri). Ngày 04-01-1883, phải cho họ giải tán. Được tái triệu vào ngày 17-02, họ lại mắc bệnh dịch, và ngày 24-03, các lớp học một lần nữa tạm ngưng để chỉ mở lại ngày 15-05.
Đó là khởi đầu không mấy khích lệ. Niên học kế tiếp (từ tháng 09-1883 đến tháng 09-1884) càng khốn khó hơn nữa. Nhiều biến cố chính trị nghiêm trọng xảy ra. Vua Tự Đức, mà 36 năm trị vì chỉ là cuộc bách hại lâu dài nhắm vào Công giáo, đã băng hà vào ngày 19-07-1883. Các năm tiếp theo là một thời kỳ hỗn loạn. Những kẻ kế vị Tự Đức: mấy vua Dục Đức, Hiệp Hòa và Kiến Phước đều qua đời bằng cái chết hung dữ, ông đầu tiên chỉ sau ba hôm trị vì, hai ông kia chỉ sau vài tháng. Những ông chủ thật sự là hai quan Nhiếp chính Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường, đối nghịch với Pháp và thù nghịch với đạo. Năm 1884, họ đặt cậu hoàng Hàm Nghi lên ngôi. Hòa bình cũng chẳng còn ngự trị bên ngoài các bức tường của Kinh đô nữa. Lợi dụng các biến loạn cung đình ấy, nhiều băng đảng vũ trang tung hoành khắp đất nước, tin chắc là không bị trừng phạt. Vả lại, chúng được thúc đẩy bởi nhiều quan lại giận dữ vì việc nước Pháp đến can thiệp để trả thù cho những lăng nhục đối với quốc kỳ của họ. Trong tháng 12-1883, các tín hữu Công giáo ở Châu Mới, Nước Ngọt, Truồi và Buồng Tằm, những cộng đoàn Kitô hữu khá xa Huế, đã bị tàn sát. Ở Chủng viện Thợ Đúc, thầy và trò liên tục sống trong cảnh giác, thấy mình bị phong tỏa nhiều lần. Vì không thể học hành, người ta cho phép chủng sinh trở về gia đình và chỉ giữ lại những ai tình nguyện.
Vào khoảng giữa tháng 01-1884, các biến loạn dịu bớt và, ngày 07-02, những lớp học bắt đầu lại. Ngày 29-03, Đức Cha Caspar đã có thể thực hiện một cuộc phong chức trong Nhà thờ Giáo xứ Thợ Đúc. Buổi lễ này cho ra một Linh mục và bốn phó tế, vốn sẽ được nâng lên hàng tư tế ngày 20-12 cùng năm. Từ tháng 2-1884 đến tháng 7-1885, Chủng viện tiến bước gần như đều đặn. Cha Renauld và cộng sự viên tận tụy của ngài là Cha Guillot, dù hết sức chăm lo đào tạo luân lý và trí thức cho chủng sinh, vẫn không hề lơ là khía cạnh vật chất. Vì việc thành lập khá vội vã, nên cần phải hoàn thành. Trước hết, khu vườn của Chủng viện được mở rộng nhờ mua những thửa đất kế cận; rồi người ta làm cho nó sạch sẽ trong lành bằng cách đào nhiều hố, lấp nhiều ao; bao quanh cơ sở bằng nhiều hàng rào tre dày đặc; xây dựng nhiều ngôi nhà mới. Hẳn nhiên đó chỉ là những ngôi nhà mái rơm rạ, sàn đất nện, vách liếp tre trát vôi, vừa vặn để trú mưa tránh nắng. Thời bấy giờ người ta thấy như thế là đủ, vì điều ao ước lúc đó không phải là tiện nghi nơi ở, mà là yên tĩnh và bình an.
Sự yên tĩnh này đã kéo dài được 18 tháng thì một cơn giông tố dữ dội hơn bao giờ hết ập đến trên Giáo hội miền Trung. Sáng sớm ngày 05-07-1885, Tôn Thất Thuyết bất ngờ tấn công quân Pháp trong Khu Nhượng địa tại Thành nội. Ông ta bị đánh bại; Kinh thành bị Pháp chiếm cứ; nhưng chính ông thoát được dẫn theo vị vua trẻ Hàm Nghi với một đám tùy tùng gồm vài quan lại. Đây là kế hoạch được chuẩn bị từ trước trong trường hợp không thành công, quan Nhiếp chính Nguyễn Văn Tường thì vẫn ở lại Huế để thương lượng với đại diện của nước Pháp.
Các chủng sinh, nghỉ hè vào ngày 30-07, năm hôm trước những biến cố trên, đã tựu lại vào ngày 01-09. Năm 1882 họ gồm 42 người, nay chỉ còn 23. Thật ra, 5 thầy đã được phong chức Linh mục hồi 1884, nhưng 5 thầy mới, xuất từ Tiểu Chủng viện An Ninh, đến lấp vào chỗ trống này. Thành ra hao hụt khoảng một nửa. Chắc hẳn điều đó là lớn lao, nhưng người ta sẽ không ngạc nhiên nếu lưu ý rằng trước khi tập trung thành cộng đoàn ở Thợ Đúc, đa số các bạn trẻ này đã trải qua nhiều năm dài ở đời, thường bị bỏ mặc và đối diện với nhiều hiểm nguy đủ loại vốn đi kèm các thời kỳ hỗn loạn. Cuộc sống ở chính Chủng viện, do bệnh tật và chiến tranh, quá bị gián đoạn và quá ít đều đặn đến nỗi đã không thể mang lại cho các ứng viên Linh mục bầu khí bình an để các ơn gọi chín muồi trong sự kết hiệp với Thiên Chúa. Tựu lại Thợ Đúc ngày 01-09-1885, họ đã bị giải tán hai hôm sau do một trận dịch tả. Họ chỉ phải trở lại vào những ngày đầu tiên của tháng 03-1886.
Đó là do cuộc bách hại vốn từ lâu được thực hiện chống lại Công giáo đạt đến giai đoạn kinh khủng nhất. Nhiều mệnh lệnh bí mật tổng diệt các Kitô hữu được đưa ra từ năm 1883 bởi 2 ông Thuyết và Tường lúc đó bắt đầu được thi hành. Sau khi Huế bị Pháp chiếm vào năm 1885, chúng được nhắc lại bởi một Sắc lệnh đề ngày 11-08 âm lịch. Quân Văn Thân đã thiêu hủy các cộng đoàn Kitô và tàn sát mọi Kitô hữu. Trong toàn cõi Việt Nam, máu chảy lênh láng ; tại Miền Truyền giáo Qui Nhơn, 24 ngàn nạn nhân trong một vài ngày ; ở Miền Truyền giáo Huế, chỉ riêng tỉnh Quảng Trị có 8 ngàn Kitô hữu bị sát hại, và con số này còn cao hơn nhiều nếu cuộc kháng cự đã không được tổ chức ở Tiểu Chủng viện An Ninh, nơi mà 4 ngàn Kitô hữu từ nhiều vùng lân cận đến lánh nạn : họ đã chiến thắng một cuộc vây hãm trong ba tuần lễ (xem trên). Tại Huế, nhờ sự hiện diện của một toán lính Pháp, Kitô hữu đã thoát khỏi cuộc tàn sát man rợ.
Hòa bình trở về, Chủng viện Thợ Đúc tái mở cửa vào đầu tháng 03-1886. Hai chủng sinh, đều có chức cắt tóc, đã không tiếp tục được ơn gọi : một chết vì bị dịch tả, và thầy kia, tên Lượng, đã bị quân Văn Thân sát hại ở Quảng Trị. Niên học còn buồn thêm do cái chết, vào đầu tháng Tư, của một thầy thứ ba đã có chức cắt tóc và do việc hồi tục của hai người khác. Hai niên khóa tiếp (từ tháng 09-1886 đến tháng 09-1888) trôi qua mà không có biến cố bên ngoài nào đáng kể. Nhưng cơ sở thì leo lắt. Nhiều chủng sinh hồi tục. Ngày 13-04-1887, Cha Guillot đi cai quản một Giáo xứ và Cha Renauld còn lại một mình, đứng đầu 10 thầy, bao gồm cả hai thầy vừa trở về từ Penang. Tuy nhiên, một cuộc tấn phong đã diễn ra ngày 25-02-1888 và một chủng sinh lãnh nhận chức Linh mục trong lễ này.
2- Chủng viện Phú Xuân (1888-1953).
Một biến cố quan trọng trong cuộc sống của Chủng viện đánh dấu năm 1888 này. Ngày 20-10, Cha Renauld, được bổ nhiệm làm Tuyên úy quân đội và Quản xứ Thuận An, đã thôi điều hành Chủng viện và chính cơ sở này được chuyển sang Phú Xuân, bên tả ngạn sông Hương, khoảng 600m về phía hạ lưu Thợ Đúc. Hôm nay, nó vẫn còn ở chính chỗ đó.
Vậy là Chủng viện Thợ Đúc chấm dứt 6 năm tồn tại. Các nỗ lực đóng góp và các hy sinh chấp nhận tại đó thì lớn lao, tuy nhiên kết quả lại nghèo nàn : chỉ có 6 chủng sinh đã được nâng lên hàng tư tế và chỉ còn chừng 10 người ở Chủng viện.
Tại Phú Xuân, Đức Cha Caspar đã mua nhiều đất đai trong khu phố vốn thuộc các gia đình hoàng thân và liền kề với nhau. Tại đây, ngài lập Tòa Giám mục, Sở Quản lý, Nhà Dục anh và Đại Chủng viện. Đại Chủng viện chiếm một khu vườn rộng lớn mà ngày xưa thuộc về trưởng nữ của vua Thiệu Trị (công chúa An Thạnh Nguyễn Phúc Nhàn Yên), như một bản khắc tìm thấy trên cổng vào và nay đặt gần tòa nhà chính chứng thực.
Chủng viện được đặt dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Đức Cha Caspar, vốn ở kề cận. Chính ngài đã giảng dạy ở đây, được trợ giúp và khi cần, được thay thế bởi Cha Auguste Chaiget (Soái), thư ký của ngài. Đây chỉ là việc tạm quyền trong thời gian ngắn, tuy nhiên nó kéo dài đến năm 1891. Vào thời điểm này, Cha Ernest Girard, Giám đốc Tiểu Chủng viện An Ninh, đã được đặt đứng đầu Đại Chủng viện, cùng với Cha Charles Ruel, một cựu Thừa sai ở Quảng Châu (Trung Quốc), làm cộng tác viên. Vào tháng 09-1893, Cha Girard trở lại Tiểu Chủng viện An Ninh (nơi ngài sẽ không rời nữa cho đến lúc qua đời vào tháng 2 năm 1924) và Cha Renauld lấy lại việc điều hành Đại Chủng viện.
Về lại Phú Xuân ngày 15-09-1893, ngài đã tìm thấy ở đó một đoàn chiên nhỏ, tương tự đoàn chiên ngài đã từng để lại khi rời Thợ Đúc. Chủng viện gồm 13 chủng sinh, trong đó ba thầy có «chức thánh» và tám người khác vẫn còn là giáo dân. Việc phong chức cho hai Linh mục ngày 24-04-1894 đã giảm con số còn 11; nhưng với 9 người nhập học ngày 15-9 tiếp đó, đã nâng con số lên 20. Cha Giám đốc, vốn vẫn lẻ loi trong vòng một năm, thì vào ngày 04-10-1894 nhận được một sự trợ giúp quý giá nơi bản thân Cha Léopold Cadière. Sau một năm, ngày 27-09-1895, Cha Cadière được thay thế bởi Cha André Chapuis vốn cũng chỉ ở lại chừng 18 tháng. Các nhu cầu cấp bách của Vùng Truyền giáo giải thích cho những thay đổi liên tục này, nhưng không phải là không tác hại đến việc học hỏi và sự vận hành đều đặn của Chủng viện. May thay từ nay hoàn cảnh sẽ trở nên ổn định hơn. Cha Martin Mendiboure (sau đó là Dom Bernard, Phó Đan viện phụ Phước Sơn) kế nhiệm Cha Chapuis ngày 20-10-1897 và ở Chủng viện gần 20 năm với tư cách là giáo sư Tín lý và Thánh kinh. Cha Renauld qua đời ngày 11-03-1898. Trong nhiệm kỳ Giám đốc thứ hai của mình, Cha đã có được niềm an ủi khi thấy 12 chủng sinh được nâng lên hàng tư tế.
Kế tục Cha Renauld là Cha Alphonse Izarn (Ý), được bổ nhiệm ngày 29-04-1898. Vị tân Giám đốc, vẫn còn trẻ và đầy hăng say, đã biến đổi Chủng viện về mặt vật chất và mang lại cho nó một đà tiến mạnh mẽ về mặt học tập. Vào năm 1899, ngài xây một Nguyện đường thanh lịch, và năm 1904, một ngôi nhà khiêm tốn có tầng dành cho các giáo sư ở. Hai tòa nhà này vẫn tồn tại đến hôm nay. Vì con số các chủng sinh đã gia tăng, nên các nhà lều với dáng vẻ thê thảm làm nơi ở cho họ, đã được mở rộng lẫn trùng tu, và mỗi thầy có một phòng riêng, vì cho đến lúc đó tất cả đều chung nhà ngủ. Vào năm 1899, Cha Izarn cho chuyển đến Phú Xuân môn triết học, mà cho tới tới khi ấy được dạy ở Tiểu Chủng viện. Do đó, độ dài của thời gian học tập được định thành 6 năm (2 năm triết và 4 năm thần) và con số các giáo sư, vốn chưa bao giờ vượt quá 2, nay nâng lên 3 vị.
Người đầu tiên nắm giữ ghế mới này vào tháng 09-1899 là Cha Alexandre Chabanon (Giám mục tương lai). Lúc đó việc học hành nhận được một sự thúc đẩy mới, vài quy tắc kỷ luật được hiệu chỉnh, bình ca và các nghi thức phụng vụ được biểu dương hơn. Tắt một lời, Đại Chủng viện Huế nhận được một sự tổ chức hoàn toàn giống với các Đại Chủng viện bên Pháp, trừ vài chi tiết do môi trường đòi hỏi. Đó là một luống cày sâu và bền vững mà Cha Izarn đã vạch ở Chủng viện Phú Xuân.
Sau khi Cha Chính Dangelzer mất, ngày 11-09-1904, Cha Izarn lên kế tục chức vụ. Năm 1908, ngài từ chức Cha chính và Giám đốc Chủng viện.
Tháng 8 năm 1908, Cha Alfred Barthélémy (Mỹ) đến giữ vị trí đứng đầu Chủng viện kiêm Cha Chính Giáo phận. Lúc ấy, việc học hành và lòng đạo đức cùng sánh đôi trong cơ sở này cách tốt đẹp. Nhưng vì nhắm đến sự hoàn hảo, nên ngài cố gắng in sâu vào trong các chủng sinh một tình yêu ngày càng mãnh liệt cho công việc trí thức và nhất là cho việc tiến triển đường thiêng liêng. Để đạt được kết quả đó, ngài không tiếc những bài huấn giáo, những lời khuyên răn, những sự hướng dẫn, Các cố gắng của ngài trổ hoa kết trái tuyệt vời. Dưới thời Giám đốc 10 năm của Cha (1908-1918), có 33 tân Linh mục, một kỷ lục thời ấy.
Nhưng không phải chỉ có Đại Chủng viện, Cha Barthélémy còn quan tâm đến các nữ tu Dòng Kín (có cơ sở kề bên từ năm 1910) mà ngài đã được trao nhiệm vụ hướng dẫn. Ngài không tiếc thì giờ và vất vả để giúp các chị em hoặc về phương diện tinh thần (trung thành đến giải tội theo các ngày giờ ấn định), hoặc về phương diện vật chất. Nhờ sự can thiệp của ngài, đan viện được dựng lên nhanh chóng và chẳng bao lâu thành một cơ sở đẹp đẽ, tiện lợi.
Dựa trên ý kiến của ban giáo sư Chủng viện, năm 1914, Đức Cha Allys đã quyết định việc học tại Đại Chủng viện sẽ được kéo dài thêm một năm để cho phép giảng dạy các khoa vật lý và tự nhiên. Từ nay ba năm sẽ được dành cho việc nghiên cứu triết học lẫn các khoa học, và bốn năm như trước đây, dành để nghiên cứu thần học.
Cha Barthélémy mất vào tháng 5 năm 1918 tại nhiệm sở. Cha Chabanon -từng là giáo sư triết học tại Chủng viện từ 1899 đến 1905- lên kế tục. Ngài duy trì và tiếp tục công trình của các vị tiền nhiệm. Từ nhiều năm, cơ sở này đã được tổ chức theo các phương pháp khôn ngoan của Hội Xuân Bích về việc học tập cũng như đời sống thiêng liêng và tinh thần đang có nơi đó thật tuyệt.
Đại Chủng viện Huế năm 1921. Ban Giáo sư ngồi hàng đầu. Từ trái qua: Cha JB. Roux, Cha Alexandre Chabanon (Giám đốc), Cha Mátthêu Đỗ Khắc Mỹ
Qua những bài huấn đức và hơn nữa qua gương sống của mình, Cha Chabanon thúc đẩy chủng sinh sống các nhân đức nền tảng của người Linh mục: khiêm tốn, siêu thoát, hy sinh, yêu thích cầu nguyện và học hành. Ngài dạy các môn thần học luân lý và giáo luật một cách thông thạo và rõ ràng, mà cũng không lơ là khía cạnh vật chất của trách vụ; ngài thực hiện những sửa sang quan trọng cho những khu nhà khác nhau của cơ sở và xây thêm những khu mới. Trong 13 năm làm Giám đốc (1918-1931), ngài vui mừng thấy 35 chủng sinh của mình lên chức Linh mục.
Đại Chủng viện Huế năm 1926. Ban Giáo sư ngồi hàng đầu: Cha Ernest Boillot, Cha Giám đốc Alexandre Chabanon, Đức Cha Eugène Allys (Bề trên), Cha Mátthêu Đỗ Khắc Mỹ.
Năm 1930, Cha Chabanon được nâng lên hàng Giám mục, làm phó cho Đức Cha Allys, nhưng vẫn giữ trách nhiệm Giám đốc Chủng viện. Năm sau, vì Đức Cha Allys từ chức và Đức Cha Chabanon nắm trong tay việc điều hành Miền Truyền giáo, nên Cha Jean-Baptiste Roux -từng là giáo sư tại Phú Xuân từ 1911 đến 1917- được gọi điều khiển nhà trường ngày 23 tháng 9 năm 1931, với các cộng tác viên là Cha Jean Viry (1926-1933), Cha Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục (Giám mục tương lai) (1931-1933) và Cha Philipphê Lê Thiện Bá (1933-1945).
Cha Jean-Baptiste làm Giám đốc Chủng viện cho tới cuộc đảo chánh của Nhật năm 1945. Ngoài hai kỳ thực nghiệm về đời sống Giáo xứ tại An Lộng (1905-1909) lẫn Kẻ Bàng (1910) và hai kỳ nghỉ tại Pháp để phục hồi sức khỏe, tổng cộng thời gian của ngài ở An Ninh và Phú Xuân là 40 năm trời.
Người ta có thể cho rằng ba phần tư số Linh mục Giáo phận Huế thời ấy đều đã nhận được từ cha Roux, ở Tiểu hay Đại Chủng viện, điều cốt yếu trong việc đào tạo Linh mục. Dấu ấn nầy được ghi rõ đến nỗi một trong hai vị Giám mục Việt Nam từng là học trò của Cha Roux không ngần ngại tuyên bố rằng mình đã chẳng bao giờ gặp được ngay cả tại Rôma một vị Giám đốc Chủng viện có ảnh hưởng như thế. Uy thế của Cha Roux nằm ở chỗ ngài tự buộc chính mình vào tất cả những gì ngài muốn đòi hỏi nơi các chủng sinh với một sự đúng đắn và hiền lành gây xúc động. Đàng khác, sự ngay thẳng này liên kết với những tài năng nổi bật về giáo dục được ngài thực hiện suốt 40 năm.
Vì hầu hết các Thừa sai Pháp bị Nhật quản thúc tại Sở Quản lý Giáo phận sau cuộc đảo chánh tháng 3-1945 rồi bị Việt Minh đưa đi an trí ở Vinh từ cuối năm 1946 đến giữa năm 1963, nên Cha Phaolô Lê Văn Đẩu (đang là giáo sư TCV An Ninh từ 1942) được đặt làm giám đốc ĐCV Phú Xuân từ 1945 đến 1947. Chức vụ này chuyển sang cho Cha Ximong Hòa Nguyễn Văn Hiền (Giám mục tương lai) từ 1947-1953.
Khi sắp xảy ra cuộc qua phân đất nước do Hiệp định Genève (7-1954) thì tháng 5-1953, Tiểu Chủng viện An Ninh, bên kia vĩ tuyến 17, được lệnh di chuyển vào Huế và đặt tại Đại Chủng viện Phú Xuân. Các thầy phải vào Đại Chủng viện Thánh Giuse của Tổng Giáo phận Sài Gòn để học tiếp.
Đại chủng viện Huế 1930. Ban Giáo sư từ trái qua: Cha Jean Viry, Cha Giám đốc Alexandre Chabanon, Cha Mátthêu Đỗ Khắc Mỹ.
Đại Chủng viện Huế năm 1933. Ban Giáo sư từ trái qua: Cha Raphael Fasseaux, Cha Giám đốc JB Roux, Cha Philipphê Lê Thiện Bá
Các vị Giám đốc kể từ khi Đức Cha Antoine Caspar Lộc thiết lập cơ cấu Đại Chủng viện một cách chính thức và ổn định, từ năm 1881 cho tới năm 1953.
– Cha Eugène Allys Lý: 1881-1882
– Cha Jean-Nicolas Renauld Đồng: 1882-1888
– Đức Cha Antoine Caspar Lộc: 1888-1890
– Cha Ernest Girard Hoà: 1890-1893
– Cha Alphonse Izarn Ý: 1893-1908
– Cha Alfred Barthélémy Mỹ: 1908-1918
– Cha Alexandre Chabanon Giáo: 1918-1931
– Cha Jean-Baptiste Roux Ngôn: 1931-1945
– Cha Phaolô Lê Văn Đẩu: 1945-1947
– Cha Ximong Hoà Nguyễn Văn Hiền: 1947-1953
Có thể kể thêm vài vị Giáo sư người Việt:
– Cha Mátthêu Đỗ Khắc Mỹ, 1920-1931.
– Cha Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục, 1931-1933.
– Cha Philipphê Lê Thiện Bá, 1933-1945.
– Cha Philipphê Nguyễn Như Danh, 1948-1953.
3- Chủng viện Xuân Bích Huế (1962-1975).
Từ năm 1961, Đức Tổng Giám mục Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục mời các Linh mục Hội Xuân Bích (Prêtres de Saint-Sulpice, PSS) đang ở miền Nam (Đại chủng viện Vĩnh Long) ra điều hành Đại chủng viện của Giáo phận. Từ đó đến 1975, nó mang tên Đại Chủng viện Xuân Bích-Huế. Chủng viện thâu nạp các chủng sinh thuộc Giáo tỉnh miền Trung, tức từ các Giáo phận Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Kontum, Nha Trang và Ban Mê Thuột.
Niên khóa 1961-1962, vì cơ sở chưa ổn định, chủng sinh các Giáo phận miền Trung nói trên tựu trường ở Thị Nghè, niên khóa sau mới ra Huế cùng với Cha Giám đốc Pierre Gastine (người Pháp) và ban giáo sư. Các nữ tu Dòng Thánh Phaolô thành Chartres cũng được mời đến phục vụ Đại chủng viện (ẩm thực, y tế, giặt ủi…) từ đây. Thời gian sau là những năm rối ren ở miền Nam. Ban Triết học được gởi vào Giáo phận Nha Trang, năm 1965 về lại Huế, với Cha Giám đốc Đôminicô Trần Thái Đỉnh (1964-1966). Từ 1966 đến 1975, Cha Batôlômêô Nguyễn Sơn Lâm làm Giám đốc. Sau biến cố Mậu Thân, Chủng viện đưa Ban Thần học vào Đà Nẵng (niên khóa 1968-1969). Sau vụ Mùa hè Đỏ lửa (1972), vì số chủng sinh gia tăng nên Đại Chủng viện Hòa Bình được thiết lập tại Giáo xứ Hòa Khánh, Đà Nẵng để nhận Ban Triết học.
Ban Giáo sư ĐCV Xuân Bích-Huế năm 1970
Mùa xuân năm 1975, Cha Giám đốc Nguyễn Sơn Lâm được chọn làm Giám mục Đà Lạt và Cha Giuse Nguyễn Chính Duyên lên thay thế. Lúc ấy, trước việc chiến tranh lan rộng, các Giám mục miền Trung muốn di tản 2 Đại chủng viện Huế và Đà Nẵng vào bên kia Đèo Cả (Nha Trang), vì sợ đất nước sẽ lại cắt ngang giữa Quảng Nam và Quảng Ngãi. Nhưng chưa thực hiện được ý định thì biến cố tháng 4-1975 xảy ra, Đại chủng viện Xuân Bích-Huế đành phải giải tán. Các Cha giáo thì tản mác khắp nơi, chủ yếu về các Giáo xứ để làm mục vụ hoặc lo cho các chủng sinh đang cố gắng quy tụ với nhau hầu bảo tồn ơn gọi. Các Cha giáo người Pháp như Emile Stutz, François Bouyer thì bị chế độ mới trục xuất khỏi Việt Nam. Cơ sở Đại Chủng viện Hòa Bình sau vài tháng phải bán lại với giá rẻ mạt cho nhà nước (6000 đồng bạc Bắc lúc ấy, chia ra mỗi Giáo phận được 1000). Nhóm chủng sinh đang ở đó cùng với Cha Nguyễn Chính Duyên phải kéo nhau lên Giáo xứ Phú Thượng, Giáo phận Đà Nẵng, nhưng rồi cũng đành giải thể vào năm 1982.
4- Chủng viện Giáo phận (1975-1994)
Tháng 05-1975, Đại Chủng viện Huế được mở lại với 45 đại chủng sinh thuộc Giáo phận (từ Giáo hoàng Học viện Piô X Đà Lạt, từ Chủng viện Hòa Bình Đà Nẵng, từ Chủng viện Xuân Bích-Huế), với Cha Augustinô Hồ Văn Quý làm Giám đốc, có Cha Antôn Ngô Văn Vững SJ đến phụ lực, sau khi Trung tâm sinh viên Xavie của Dòng mà ngài đang phụ trách bị nhà nước quản lý. Hai ngài dạy đủ các môn học vì thiếu giáo sư.
Ngày 04-01-1976 có lễ truyền chức cho 4 thầy, cuộc truyền chức cuối cùng của Đức TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền. Ngày 08-09-1977, Cha Giám đốc Augustinô bị nhà nước bắt giam mấy tháng vì đã phổ biến cho các chủng sinh bài phát biểu của Đức TGM Philipphê ngày 22-04-1977 trước Mặt trận Tổ quốc Bình Trị Thiên. Cha Antôn Ngô Văn Vững phải lên thay thế.
Đến tháng 10-1978, nhà nước lấy cớ áp dụng Nghị quyết Tôn giáo 297 (ban hành tháng 11-1977) để tự ý loại 18 đại chủng sinh (đa phần lớp lớn) cùng Cha giáo Phêrô Phan Xuân Thanh khỏi ĐCV. Những anh em xấu số này, một số kiên trì đeo đuổi ơn gọi tại trong nước, một số vượt biên ra hải ngoại tiếp tục đời tu, vài người hồi tục. Các đại chủng sinh còn lại tiếp tục học nhưng không ai được chịu chức Linh mục.
Ngày 08-06-1988, Đức TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền qua đời, Cha Giám đốc Ngô Văn Vững vài năm sau cũng bị bệnh không tiếp tục công việc được. Đại Chủng viện sống leo lắt. Mãi đến ngày 01-09-1994 mới có lễ truyền chức cho 4 thầy (đã làm đại chủng sinh từ 1972 hoặc 1973).
5- Chủng viện Huế (từ 1994…)
Ngày 21-09-1994, Đại Chủng viện Huế mới được chính thức mở cửa trở lại, thu nhận các ứng viên Linh mục đến từ 3 Giáo phận Huế, Đà Nẵng và Kontum (50 thầy). Đức Giám quản Tông tòa Têphanô Nguyễn Như Thể (nguyên Tổng Giám mục phó) tiếp tục mời các Linh mục Xuân Bích điều hành Chủng viện. Kể từ năm tu học 2014-2015, Đại Chủng viện Huế nhận thêm các chủng sinh của Giáo phận Hưng Hoá, trung bình mỗi năm nhận 5 chủng sinh (tính đến năm tu học 2019-2020 đã có 32 chủng sinh Hưng Hoá). Vắng bóng từ 1975, các nữ tu Dòng Thánh Phaolô lại tiếp tục đến phục vụ Đại chủng viện, lo ẩm thực, y tế, công việc nhà.
Vì số chủng sinh ngày càng gia tăng, nên năm 1998, nhà cơm được xây mới lại, bên trên là một tầng lầu dùng làm thư viện. Năm 2005, dãy nhà hội được xây mới lại hoàn toàn gồm 3 tầng. Năm 2013, trên phần đất trước đây khu nhà bếp và khu nhà ở cho các nữ tu và nhân viên phục vụ, một tòa nhà mới ba tầng đồ sộ mọc lên.
Ngày 15-06-2013, Cha Giám đốc Anphongsô Nguyên Hữu Long được được bổ nhiệm làm Giám mục Phụ tá Giáo phận Hưng Hóa (nay là Giám mục Chính tòa Giáo phận Vinh).
Ban Giám đốc Đại Chủng viện Huế hiện nay gồm 13 thành viên, tất cả đều thuộc Hội các Linh mục Xuân Bích, tỉnh hội Pháp. Từ ngày 24-6-2013 cho đến nay, Linh mục Giuse Hồ Thứ, là Giám đốc Đại Chủng viện, phó Giám đốc là Cha Phêrô Phan Tấn Khánh. Ngoài các giáo sư nội trú thuộc Ban đào tạo (Ban Giám đốc), Đại Chủng viện Huế còn mời thêm rất nhiều giáo sư ngoại trú tham gia giảng dạy (trong đó có một nữ tu và một giáo dân nữ), nâng số lượng của Ban giảng huấn lên đến hơn 50, gồm Giám mục, Linh mục và giáo dân (kể cả vài giáo sư lương dân).
Kể từ năm 1994 đến dịp mừng Ngân khánh tái hoạt động (1994-2019), Đại Chủng viện Huế đã góp phần đào tạo được 231 Linh mục cho các Giáo phận Huế (111), Đà Nẵng (62) và Kontum (58), cùng với hơn 60 Linh mục thuộc hai dòng Thánh Tâm và Thiên An. Các chủng sinh nhập trường năm tu học 2019-2020 thuộc khoá 19, nâng sĩ số chủng sinh năm này lên đến 209 (180 chủng sinh nội trú + 29 chủng sinh thuộc Năm Thử, đang thực tập mục vụ ở các Giáo phận). Cộng đoàn Chủng viện được bốn nữ tu Dòng Thánh Phaolô thành Chartres và 12 nhân viên tham gia giúp đỡ việc hậu cần, văn phòng, v.v… cũng như nhiều việc trợ giúp khác.
Ban Giáo sư ĐCV Huế năm 2010
Các vị Giám đốc thời gian Hội Xuân Bích trở lại Đại Chủng viện Huế:
– Cha Phaolô Nguyễn Bình Tĩnh, PSS: 1994-2000
– Cha Antôn Trần Minh Hiển, PSS: 2000-2005
– Cha Đôminicô Trần Thái Hiệp, PSS: 2005-2007
– Cha Gioan Baotixita Nguyễn Văn Đán, PSS : 2007-2009
– Cha Anphongsô Nguyễn Hữu Long, PSS : 2009-2013
– Cha Giuse Hồ Thứ, PSS: 2013 đến nay…
Tài liệu tham khảo:
– Trần Văn Trí, Sơ lược về quá trình lịch sử Tiểu chủng viện An Ninh.
http://ttntt.free.fr/archive/TranVanTriAnNinh.html
– Sơ lược đôi nét về Tiểu Chủng viện An Ninh và Đại Chủng viện Huế (từ 1872-1940). (Trích dịch từ nguyên bản Pháp ngữ “Các Báo cáo Thường niên của Các Giám mục Giáo phận Huế gửi Hội Thừa sai Hải ngoại Paris từ 1872-1940”)
– JB Roux, MEP, Lịch sử Đại Chủng viện Huế (đến năm 1933).
http://conggiao.info/lich-su-dai-chung-vien-hue-den-nam-1933-d-13482
– Ban Giáo sư Đại Chủng viện Huế, Lược sử Đại chủng Viện Huế, ngày 21-11-2019
– Vương Đình Chữ, Chủng viện Penang. 348 năm Chủng viện Miền
http://vnqvn.blogspot.com/2017/04/chung-vien-penang.html
——————————————————
[1] Alexandre de Rhodes, Hành trình và truyền giáo. Bản dịch Việt ngữ của Hồng Nhuệ, Ủy ban ĐKCG. 1994. Phần II, Chương 22, tr. 120.
[2] Theo Vương Đình Chữ, Chủng viện Penang, 348 năm Chủng viện miền. http://vnqvn.blogspot.com/2017/04/chung-vien-penang.html
[3] Lê Ngọc Bích, Lê Đình Bảng, Lê Thiện Sĩ, Giám mục người nước ngoài qua chặng đường 1659-1975 với các Giáo phận Việt Nam. Nhà xb Tôn giáo, Hà Nội 2009. Trang 56 và 58
[4] Khi sau tên Giám mục có 3 niên hiệu, thì số đầu chỉ năm sinh, số giữa năm làm Giám mục và số cuối, năm qua đời.
[5] X. Adrien Launay, Histoire de la Mission de Cochinchine, Documents historiques III (1771-1823). Paris, Téqui, 1924. Trang 444.
[6] Cha Dangelzer cũng chính thức trở thành Quản xứ An Ninh kiêm Cha Chính (Tổng Đại diện) từ 1867.
[7] X. P. Jabouille và A. Delvaux, Một trang huyết lệ tỉnh Quảng Trị tháng 9 Tây năm 1885. Mục: Trường An Ninh và Họ An Ninh. Bulletin des Amis du Vieux Hué 10-11/1923.
[8] Ngày 19-3-1984, Cha Giải, đang là quản xứ Lương Văn từ 1980, bị nhà cầm quyền bắt đi giam tù ở trại Đồng Sơn (Quảng Bình) rồi trại Bình Điền (Thừa Thiên) trong gần 6 năm trời vì tội “phản động”!!!
[9] Thật ra, khi thiết lập Tòa Giám mục tại Giáo xứ Kim Long năm 1864, Đức Giám mục Joseph Sohier cũng lập một Đại Chủng viện lâm thời (1866). Số đại chủng sinh nơi đây (dưới mười thầy, đa số từ Penang, Malaysia về) thỉnh thoảng được cho lên sở Dục anh (nuôi trẻ mồ côi) kiêm khu canh tác Thanh Tân (hay còn gọi là Trường trang trại Ồ Ồ-Ba Trục) để vừa lao động khai hoang, vừa học hành tu luyện. Đức Cha rất quan tâm đến vùng này, mỗi tháng một lần hay có thể lâu hơn chút ít, ngài ghé thăm sở Dục anh và cử hành vài cuộc truyền chức nơi đây, như ngày 6-4-1867 cho 8 thầy.
2021
Có hay không một Chủ nghĩa đế quốc Công giáo?
Tác giả: Jimmy Akin
Chuyển ngữ: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính
Từ: catholic.com
Bạn đã từng nghe về chủ nghĩa đế quốc Công giáo (Catholic imperialism) chưa? Đó là một huyền thoại phổ biến chống Công giáo đại loại như thế này: Các nhà truyền giáo Công giáo là những tay đế quốc đã nô lệ hóa và bần cùng hóa các dân tộc bản địa!
Nhưng như tất cả các huyền thoại chống Công giáo khác, đây là câu chuyện không đúng. Và đây mới là chuyện đúng và thật!
Vào Thời đại Khám phá (Age of Exploration), giữa thế kỷ XV và XVI, đã tạo nên một tình trạng chưa từng có cho Giáo Hội. Với việc khám phá những miền đất mới rộng lớn, người ta nhận ra rằng có biết bao nhiêu triệu người chưa từng biết đến sứ điệp của Đức Giêsu Kitô.
Chính Đức Giêsu đã nói khi ủy nhiệm sứ mệnh truyền giáo: “Hãy đi và làm cho các dân tộc trở thành môn đệ, giảng dạy cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy họ tuân giữ mọi điều thầy đã truyền dạy cho các con” (Mt. 28,19-20).
Vì thế các nhà truyền giáo bắt đầu chấp nhận những khó khăn và nguy hiểm của những chuyến du hành khắp thế giới vào thời ấy. Họ đi khắp hoàn cầu, theo chân các nhà khám phá và mang sứ điệp Đức Kitô đến với mọi người ở khắp mọi nơi.
Nhưng có một vấn đề: các thế lực đế quốc khác nhau – chủ yếu là Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, Pháp, Anh, và Hà Lan – họ đã khám ra những miền đất mới và bận rộn tranh giành với nhau để thiết lập nên những thuộc địa. Mỗi quốc gia tìm kiếm lợi ích của riêng mình và không muốn rơi lại phía sau những quốc gia khác.
Điều này có nghĩa là những thế lực này cũng tranh giành và trong nhiều trường hợp đã khai thác các dân tộc bản xứ của những miền đất này. Tệ hơn nữa, nhiều nhà khai thác còn nhân danh đức tin Kitô giáo của mình để biện minh cho sự chinh phục, bóc lột và nô lệ hóa những người dân bản xứ.
Các nhà truyền giáo đã làm gì? Những người Công giáo đã phàn nàn với Đức giáo hoàng về điều mà những kẻ xâm chiếm và những người khác đang làm, và năm 1537, Đức Phaolô III đã ban hành đoản sắc Pastorale Officium, trong đó ngài nhắc lại rằng hoàng đế Charles V, vị hoàng đế thánh thiện của Rôma, đã cấm các thần dân của mình nô dịch hóa hay cướp bóc dân bản xứ trong những miền đất truyền giáo. Rồi Đức thánh cha thêm vào đấy hình phạt cao nhất của Giáo Hội là dứt phép thông công (penalty of excommunication):
Vì thế, chúng tôi cảnh báo rằng những người dân bản xứ này, mặc dù ở ngoài Giáo Hội, họ vẫn không thiếu hay bị tước đoạt quyền tự do hay quyền sở hữu tài sản của mình, vì họ là những con người và do đó họ có khả năng đức tin và ơn cứu rỗi, nên họ không phải bị tiêu diệt bằng sự nô lệ hóa mà đúng ra phải được mời gọi đến sự sống qua sự rao giảng và gương mẫu. Thêm vào đó, chúng tôi muốn ngăn chặn những hành vi đáng kinh tởm của những kẻ vô đạo đức và bảo đảm rằng những người bản xứ không quá cứng lòng để đón nhận đức tin vào Đức Kitô … chúng tôi đòi buộc rằng … hãy hết sức cẩn trọng hầu tránh được sự nghiêm khắc … của hình phạt dứt phép thông công … bất cứ ai ở bất cứ cấp bậc nào biến những người bản xứ nói trên thành nô lệ dưới bất kỳ hình thức nào hoặc cướp bóc tài sản của họ dưới bất kỳ hình thức nào.
Đây là một trong những văn kiện của các đức giáo hoàng vào thời kỳ ấy đã đứng về phía dân bản xứ chống lại những người tìm cách áp bức họ. Các ngài nói rằng họ là những con người (nghĩa là có nhân quyền) và họ có thể quay mặt với Tin Mừng vì bị đối xử tệ. Điều này đặc biệt quan trọng bởi vì Giáo Hội luôn luôn cấm cải đạo cưỡng bách. Như giải thích của sách Giáo lý Giáo Hội Công giáo, số 160, Tin Mừng phải được đón nhận cách tự nguyện: “Để là một hành vi của con người, “đức tin mà con người đáp lại Thiên Chúa phải là tự nguyện. Do đó, không ai bị cưỡng bức phải chấp nhận đức tin trái với ý muốn. Thật vậy, tự bản chất đức tin là một hành vi tự ý“.
Như vậy Giáo Hội nhìn nhận dân bản xứ như là những con người, họ đáng được tôn trọng và có linh hồn cần được Đức Giêsu cứu rỗi. Giống như những người Âu châu, Đức Kitô đã chết cho họ, và họ phải được đối xử như mọi người khác. Như thế, Giáo Hội tìm cách giúp các dân tộc bản xứ và bảo vệ họ khỏi bị khai thác.
Mặc dù điều này cũng có hiệu quả, song rủi thay nó không có nghĩa là tất cả mọi sự khai thác đều dừng lại. Như đức giáo hoàng ngày nay không thể sai khiến các chính trị gia Công giáo đưa giáo huấn Giáo hội về các vấn đề như phá thai vào chính sách công, các giáo hoàng của thời đại ấy cũng đã có ảnh hưởng hạn chế trên các thế quyền.
Kết quả là một thời đại có cả ánh sáng lẫn bóng tối, có sự khai thác lẫn sự phát triển của Tin Mừng. Như trong mỗi thời đại, người trong thời đại ấy phải được nhìn cách đúng với thực tế. Không có gì hoàn toàn tốt, chẳng có gì xấu hoàn toàn. Giống như chúng ta, họ là những cá nhân phức tạp.
Các giáo hoàng gần đây đã nhìn nhận điều đó, gồm cả Đức Phanxicô, người đã khẳng định rằng: “Tôi nói điều này với sự tiếc nuối: chúng ta đã phạm phải nhiều trọng tội với các dân tộc bản xứ của châu Mỹ nhân danh Thiên Chúa … Giống như Đức Gioan Phaolô II, tôi xin Giáo Hội – tôi lập lại điều tôi đã từng nói – là hãy quỳ gối trước Thiên Chúa và xin tha thứ vì những tội lỗi của các con cái mình trong quá khứ và hiện tại”.
Rồi ngài tiếp tục, “Cùng với lời cầu xin tha thứ này, và để được công bằng, tôi cũng muốn chúng ta hãy tưởng nhớ đến hàng ngàn linh mục và giám mục với quyền năng của thập giá đã mạnh mẽ chống lại lý lẽ của lưỡi gươm”.
