2021
ĐTC Phanxicô: Tình huynh đệ và học thuyết xã hội bắt nguồn từ tình yêu Thiên Chúa dành cho con người
ĐTC Phanxicô: Tình huynh đệ và học thuyết xã hội bắt nguồn từ tình yêu Thiên Chúa dành cho con người
Trong lời tựa viết cho cuốn sách “Tình huynh đệ: Dấu hiệu của thời đại” của Đức Hồng y Michael Czerny, do nhà xuất bản Vatican phát hành, về giáo huấn xã hội của Đức Thánh Cha trong thông điệp Fratelli tutti, Đức Thánh Cha nói rằng tình huynh đệ và giáo huấn xã hội của Giáo hội không nằm ngoài thần học nhưng bắt nguồn sâu xa từ tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại.
Mở đầu lời tựa, Đức Thánh Cha viết: “Trọng tâm của Tin Mừng là công bố Nước Thiên Chúa, là con người của Chúa Giêsu – Emmanuel và Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Thực vậy, nơi Chúa Giêsu, Thiên Chúa bày tỏ một cách dứt khoát dự án yêu thương đối với nhân loại, thiết lập quyền thống trị của Người trên các tạo vật và đưa vào lịch sử nhân loại hạt giống của sự sống thần linh, để biến đổi nó từ bên trong”.
Nước Thiên Chúa hiện diện khi xã hội tràn đầy tình huynh đệ
Đức Thánh Cha giải thích về cách thế ý niệm về tình huynh đệ được đặt nền tảng trong Nước Thiên Chúa: “Vương quốc của Thiên Chúa chắc chắn không thể bị đồng hoá hoặc nhầm lẫn với một số loại biểu hiện thế gian hoặc chính trị. Tuy nhiên, nó không nên được xác định bằng một thực tại hoàn toàn nội tâm, cá nhân và tâm linh, hoặc như một lời hứa chỉ dành cho thế giới bên kia”. “Vương quốc của Thiên Chúa ở đây và lúc này, trong khi vẫn là một lời hứa và là một tiếng kêu của vũ trụ đòi được giải phóng hoàn toàn”.
Theo Đức Thánh Cha, các Kitô hữu được kêu gọi để gieo trồng Nước Thiên Chúa trên trái đất. Đây là một khía cạnh xã hội của đức tin Kitô giáo mà chúng ta không bao giờ được quên. Nước Thiên Chúa sẽ được thể hiện trong thế giới của chúng ta khi mà xã hội tràn ngập “tình huynh đệ, công lý, hòa bình và phẩm giá cho tất cả mọi người. Đức Thánh Cha nhận định rằng theo nghĩa này, “sự quan tâm đến Đất Mẹ của chúng ta và nỗ lực xây dựng một xã hội dựa trên tình liên đới, trong đó tất cả chúng ta là anh chị em, không nằm ngoài mục đích của đức tin, mà là biểu hiện cụ thể của nó”.
Tình huynh đệ là một trong những dấu chỉ của thời đại
Đức Thánh Cha nói rằng tình huynh đệ là một trong những dấu chỉ của thời đại mà Vatican II nêu rõ và là điều mà thế giới chúng ta rất cần. Ngày nay “chúng ta không chỉ cần một Giáo hội trong thế giới hiện đại và đối thoại với nó, mà trên hết là một Giáo hội phục vụ nhân loại, chăm sóc cho công trình sáng tạo, cũng như công bố và thể hiện một tình huynh đệ phổ quát mới, trong đó các mối quan hệ của con người được chữa lành khỏi tính ích kỷ và bạo lực, và được thiết lập trên tình yêu thương, sự chào đón và liên đới với nhau”.
Hồng Thủy
2021
Những đặc điểm của Tình yêu Hôn nhân bền vững
Những đặc điểm của Tình yêu Hôn nhân bền vững
Có lẽ phần đông các bạn trẻ Công giáo không lạ gì với bài thánh ca hôn phối có tựa đề “Xin Định Nghĩa Tình Yêu”, của tác giả Cao Huy Hoàng.
Lời của bài hát như sau:[1]
Yêu là chết đi, là đóng đinh, là biết hy sinh cho người mình yêu.
Yêu không là ngó nhau nhưng là ngước cao cùng nhìn về bến mai sau.
Yêu xin đừng dối gian, xin đừng trái ngang, dù lắm lo toan, xin đừng ly tan.
Yêu ta cùng ước giao, dẫu ngàn khổ đau, một lần xin hứa trọn đời thủy chung.
ĐK: Hãy yêu như Giêsu, chết đi cho dương gian, đóng đinh cho người mình yêu mến. Hãy yêu trong an vui, thủy chung trong đau thương, sống trong cuộc đời đầy mến yêu.
Khi ngày tháng qua vẫn thiết tha, dù lắm xót xa, duyên tình bao la.
Khi trong đời đắng cay, vẫn niềm mến say và niềm hạnh phúc ngất ngây.
Xin cho tình sáng lên, cho đời nắng lên, ngày tháng thắm lên khi đời buồn tênh.
Nhưng khi đời tối đen, khi ngày tối đen, một lần xin hứa trọn đời thủy chung.
Bài hát trên đã gợi ý cho chúng ta suy nghĩ về tình yêu trong hôn nhân Ki-tô hữu. Quả thực tình yêu đôi lứa không chỉ là màu sắc rực rỡ như cánh hoa hồng, hay lung linh như hạt kim cương… Trái lại nó nhắc nhở chúng ta rằng để duy trì mãi vẻ đẹp của tình yêu, đôi bạn trong cuộc sống lứa đôi phải chấp nhận “trái đắng” của hôn nhân, nghĩa là phải biết hy sinh, chung thủy, có chí hướng, có trách nhiệm, có thử thách, có khó khăn. Đôi bạn được mời gọi hãy yêu như Giê-su, nghĩa là hãy yêu như Chúa đã yêu.
Đức Giê-su đã tuyên bố: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hi sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15, 13). Chúa đã dạy chúng ta hiểu thế nào là tình yêu Agape và phải thực hành tình yêu ấy ra sao trong đời sống hôn nhân gia đình. Tình yêu ấy là hi sinh tính mạng, là yêu đến cùng (x. Ga 13,1). Chính Ngài đã làm gương cho chúng ta trước. Vì yêu và vì hạnh phúc của chúng ta, Ngài đã hi sinh đến chết (x. Ga 10, 17 ; Pl 2, 8). Đó là mẫu mực của tình yêu đích thực, tình yêu có sức mạnh cứu chuộc, thăng hoa và biến đổi. Vậy khi cam kết giao ước hôn nhân, đôi bạn sẽ dõi theo tình yêu của Chúa Ki-tô mà sẵn sàng chấp nhận một tình thương của người hi sinh mạng sống mình cho bạn.
Trong cuộc gặp gỡ vào chiều ngày 14-9-2021 vừa qua với giới trẻ tại sân vận động Lokomotiva ở Košice nhân chuyến tông du tại đất nước Slovakia, ĐTC Phan-xi-cô đã có bài huấn dụ tập trung vào việc trả lời các câu hỏi mà các bạn trẻ đưa ra, với nội dung chủ yếu liên quan đến vấn đề tình yêu lứa đôi. Mở đầu ngài nói:
“Cha bắt đầu với câu hỏi của các con về tình yêu lứa đôi. Tình yêu là giấc mơ lớn nhất của tất cả chúng ta trong cuộc sống, nhưng đây không phải là giấc mơ rẻ tiền. Giống như tất cả những điều tuyệt vời trong cuộc sống, tình yêu rất đẹp, nhưng không dễ dàng. Tình yêu là giấc mơ, nhưng để giải thích nó thì không dễ chút nào. Cha lấy lại một câu của các con. Các con đã nói rằng: “Chúng con đã bắt đầu cảm nhận món quà này với đôi mắt hoàn toàn mới”. Các con nói đúng: chúng ta cần phải có đôi mắt mới, đôi mắt không bị vẻ bề ngoài đánh lừa. Các con thân mến, chúng ta đừng tầm thường hóa tình yêu, bởi vì tình yêu không chỉ đơn giản là một cảm xúc hay cảm giác, mặc dù nó có thể bắt đầu theo cách đó. Tình yêu không phải là có tất cả mọi thứ và ngay lập tức, nó không đáp ứng luận lý sử dụng và vứt bỏ. Tình yêu là sự chung thủy, là món quà và trách nhiệm.”
Tiếp theo bài huấn dụ, Đức Thánh Cha đã nhận xét rằng: “Nếu các con nhớ lại một số câu chuyện tuyệt vời mà các con đã từng đọc trong tiểu thuyết, hoặc xem trong những bộ phim khó quên hoặc nghe kể một số câu chuyện cảm động, thì các con sẽ thấy rằng luôn có hai điều đi cùng nhau: một là tình yêu, hai là phiêu lưu, tính anh hùng. Để làm cho cuộc sống của chúng ta trở nên tuyệt vời, chúng ta cần tình yêu và sự anh hùng. Nếu chúng ta nhìn lên Chúa Giêsu trên Thánh giá, chúng ta sẽ thấy cả tình yêu vô biên và lòng can đảm của Người trong việc trao ban cuộc sống đến cùng, không đo lường được. Trước mắt chúng ta là chân phước Anna Kolesárová, một nữ anh hùng của tình yêu. Ngài nói với chúng ta hãy nhắm đến những mục tiêu cao. Xin các con đừng để những tháng ngày của các con trôi qua như tiểu thuyết truyền hình nhiều tập.”
Quả vậy, “Tình yêu không phải chỉ là một cảm xúc rạo rực của thân xác; Cũng không phải là một lối yêu nhẹ dạ, hời hợt, lãng mạn hay chỉ chơi qua đường; Tình yêu không phải chỉ ở thỏa mãn của đam mê, si tình, bất chấp đạo nghĩa; Tình yêu không phải chỉ là tình dục, hưởng thụ như một dụng cụ… Con người đã lạm dụng tính dục – nhân danh tình yêu ngay cả khi không yêu thương chút nào.”[2] Trái lại, tình yêu trong hôn nhân rất đa dạng và nhiều ý nghĩa, đó là sự chia sẻ, trao ban, quên mình, có trách nhiệm, chung thủy, hiệp nhất, tin tưởng, tôn trọng nhau, dâng hiến, vui thú, sinh con, cùng nhìn một hướng vv.
Sau đây, chúng ta sẽ liệt kê và phân tích một số đặc điểm cơ bản của tình yêu trong một cuộc hôn nhân được coi là bền vững và thành công. Ta sẽ bàn về bảy đặc điểm sau: Tình yêu tự nguyện, tình yêu thấu cảm, tình yêu đồng thuận, tình yêu tha thứ, tình yêu trách nhiệm, tình yêu tin tưởng và tình yêu chung thủy.
1.- Tình yêu tự nguyện
Chúng ta đều biết rằng, sự ưng thuận tự do là điều kiện tất yếu của hôn nhân Ki-tô hữu. Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo dạy rằng:
“Hôn ước được ký kết giữa người nam và người nữ, cả hai đã được rửa tội và tự do để kết hôn, và họ tự nguyện bày tỏ sự ưng thuận của mình. “Tự do” nghĩa là: – không bị ép buộc; – không bị ngăn trở theo luật tự nhiên hay giáo luật.” (số 1625)
“Hội Thánh coi việc trao đổi sự ưng thuận giữa hai người phối ngẫu như là yếu tố cần thiết “làm nên hôn nhân.” Nếu thiếu sự ưng thuận, thì không có hôn nhân.” (số 1626)
“Sự ưng thuận là một “hành vi nhân linh, qua đó hai người phối ngẫu trao thân cho nhau và đón nhận nhau”: “Anh nhận em làm vợ anh…”; “Em nhận anh làm chồng em…” Sự ưng thuận này kết hợp hai người phối ngẫu với nhau, đạt đến sự hoàn hợp (consummationem) khi hai người “trở nên một xác thịt.” (số 1627)
“Sự ưng thuận phải là một hành vi ý chí của mỗi người phối ngẫu, tự do không bị tác động vì bạo lực hay vì sợ hãi nghiêm trọng từ bên ngoài. Không có thế lực nhân loại nào có thể thay thế sự ưng thuận đó. Nếu thiếu sự tự do này, thì hôn nhân không thành sự.” (số 1628)
Dựa vào kinh nghiệm thực tế, ta thấy rằng các cuộc hôn nhân không xây dựng trên tình yêu tự nguyện sẽ không thể bền vững và hạnh phúc được. Có thể gọi các cuộc hôn nhân này là “hôn nhân giả”, sai mục đích và không chân thực. Chẳng hạn, hôn nhân vì tiền, vì lợi, vì danh, vì một ý đồ cá nhân hay vì ham mê xác thịt. Cũng có loại hôn nhân vì áp lực gia đình, vì lỡ “ăn cơm trước kẻng”, vì chiều theo sự xúi giục của người khác, vì ngoại hình, vì sắc đẹp, vì muốn tìm một nửa để thoát khỏi cô đơn, buồn chán vv…Nói tóm lại, có muôn ngàn lý do khiến người ta mất tự do và sự thoải mái chọn lựa cuộc hôn nhân của mình.
Các chuyên gia về hôn nhân gia đình đều cho rằng tình yêu tự nguyện sẽ là chiếc khóa kỳ diệu giúp cho đôi bạn gắn bó và trung thành với nhau suốt đời. Họ tự nguyện yêu nhau, tự nguyện kết hôn với nhau, tự nguyện sống chung trong một mái ấm, tự nguyện xây dựng cuộc hôn nhân hạnh phúc, tự nguyện chia sẻ trách nhiệm gia đình, tự nguyện chăm sóc và bảo vệ nhau suốt đời vv. Chính tình yêu tự nguyện sẽ luôn là yếu tố hàng đầu giúp cho đời sống lứa đôi hạnh phúc lâu dài.
2.- Tình yêu thấu cảm
Muốn cho cuộc hôn nhân bền vững, đôi bạn phải thể hiện tình yêu không phải bằng những cảm xúc hời hợt, nông cạn bên ngoài, trái lại phải mở rộng con tim, khối óc, sức lực cũng như mọi khả năng mình để có thể yêu bạn đời một cách trọn vẹn, yêu “hết lòng, hết sức, hết trí khôn”. Tình yêu như vậy khiến chúng ta liên tưởng tới điều mà các nhà tâm lý học gọi là tình yêu thấu cảm. Người ta đã định nghĩa ngắn về thấu cảm như sau: “Thấu cảm là khả năng hiểu được cảm xúc mà một ai đó đang trải qua. Nói một cách ngắn gọn, nó giúp đặt ta vào vị thế của người khác và cảm thấy những gì mà người kia đang trải qua”.[3]
Trong một bài báo có tựa đề “Tăng cường sự thấu cảm trong hôn nhân”, tác giả đã viết như sau: “Thấu cảm là yếu tố cần thiết cho mọi mối quan hệ tích cực, đặc biệt là trong đời sống hôn nhân. Khi thấu cảm, vợ chồng sẽ hòa hợp, ít xảy ra mâu thuẫn và có thể giữ bình tĩnh tốt hơn trong lúc tranh cãi. Thấu cảm có thể diễn tả theo nhiều cách. Đó là khả năng hấp thu những trải nghiệm và cảm xúc của bạn đời vào tâm trí và cơ thể của bạn. Về cơ bản, bạn biết đặt bản thân vào vị trí bạn đời và cảm nhận cô/anh ấy đang nghĩ gì…”[4]
Như vậy, ta thấy rằng tình yêu thấu cảm trong hôn nhân sẽ giúp đôi bạn hiểu nhau một cách sâu xa tận đáy lòng, giúp mỗi người biết đặt mình vào vị trí của bạn đời để nhìn và hiểu sự việc theo cách của họ để có sự đồng cảm và nâng đỡ. Người ta cho rằng, nếu một người trong cuộc hôn nhân từ chối nhìn nhận mọi thứ từ góc độ của người kia, họ có thể sẽ gặp phải những “vấn đề rắc rối” trong hôn nhân. Không có hai người nào có cùng suy nghĩ hoàn toàn giống nhau, và không có hai người có cùng những trải nghiệm như nhau. Cả hai người trong một mối quan hệ đều mang lại những ý tưởng, kinh nghiệm sống và cuộc đấu tranh của riêng họ. Nếu không dành thời gian để cố gắng liên hệ với cảm xúc và quan điểm của nhau, những người trong mối quan hệ hôn nhân có thể sẽ cảm thấy không được yêu thương và không được quan tâm.
3.- Tình yêu đồng thuận
Ông bà ta thường nói “Thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn”. Điều đó cho thấy rằng trong hôn nhân, tình yêu đồng thuận có một sức mạnh kỳ diệu giúp đôi bạn giải quyết tốt đẹp nhiều vấn đề hệ trọng trong cuộc sống. Tuy nhiên phải thừa nhận rằng trong hôn nhân tìm được tiếng nói chung không phải là chuyện dễ dàng, bởi vì đơn giản là đôi bạn là hai cá nhân khác biệt nhau mọi đàng, bá nhân bá tánh mà! Kinh nghiệm cho thấy, yêu nhau đã khó, cưới nhau lại càng khó hơn, nhất là sống chung lâu dài với nhau một cách êm ấm lại càng khó hơn gấp bội lần. Một danh nhân đã nói: “Đám cưới nào cũng hạnh phúc cả, chỉ có cuộc sống chung sau đó là có nhiều rắc rối” (Raymond Hull).
Nhiều đôi bạn khi ra tòa xin ly hôn thường nêu lý do là họ không hợp nhau. Con số này chiếm tỷ lệ khá lớn. Lý do chính yếu khiến vợ chồng không hòa hợp được với nhau đó là vì giữa họ thiếu tình yêu đồng thuận. Tình yêu đó dù không hóa giải mọi khác biệt giữa đôi bạn nhưng có thể giúp họ vượt qua tính ích kỷ, vượt qua bệnh tự ái, vượt qua những suy nghĩ và thái độ chủ quan để tìm ra tiếng nói chung thấu tình đạt lý nhất. Như người xưa thường nói “Yêu nhau trăm sự chẳng nề / Một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng”. Tình yêu chân chính và trưởng thành sẽ giúp đôi bạn vượt qua những khác biệt của nhau để có tiếng nói chung, giúp nhau giải quyết tốt những việc quan trọng trong gia đình.
Để phát huy tình yêu đồng thuận giữa hai vợ chồng, không thể không kể đến hai yếu tố sau: Đó là sự tôn trọng và lắng nghe nhau. Tác giả cuốn “Những quy tắc trong đời sống vợ chồng”, khi bàn về vấn đề lắng nghe, tôn trọng ý kiến của nhau để cùng tìm ra tiếng nói chung, đã viết như sau: “Trong cuộc sống hôn nhân, không thể tránh khỏi xảy ra xung đột trong quan điểm, suy nghĩ. Để giải quyết xung đột này và cùng đi đến giải pháp chung hợp lý cho cả hai không khó, nó chỉ đòi hỏi sự thông cảm, tế nhị và ý thức từ hai phía. Có thể bạn là người rất có cá tính, có lập trường, có quan điểm riêng và bạn có những lập luận chặt chẽ, hợp lý để bảo vệ quan điểm, ý kiến của mình. Điều đó không sai, không phải là không tốt. Nhưng trong đời sống vợ chồng, bạn cần linh động và nên nhìn vấn đề từ nhiều khía cạnh, thậm chí là đặt mình vào vị trí của bạn đời để nhìn vấn đề sao cho hợp lý nhất”.[5]
4.- Tình yêu tha thứ
Có thể nói, tất cả những ai đã trải qua đời sống hôn nhân gia đình đều có chung một nhận định này là, tha thứ là một việc làm khó khăn nhất mà họ phải thực thi khi xảy ra bất đồng giữa hai vợ chồng. Chính vì mức độ khó khăn đặc biệt đó mà nhiều cặp đôi đã phải ly thân hoặc ly hôn. Nguyên nhân chủ yếu là vì họ không thể tha thứ cho bạn đời sau cãi vã mâu thuẫn. Nhiều người đã không ngần ngại nói rằng càng yêu, càng gắn bó với nhau thì khó tha thứ cho nhau.
Thực vậy, tha thứ luôn là thử thách khó khăn nhất của hôn nhân. Tha thứ được mô tả là hình thức tối thượng của tình yêu, bởi nó kiểm tra độ sâu sắc, sức mạnh tình cảm của một cặp đôi. Sự tha thứ được ví như một nghệ thuật có thể khiến ai đó phải mất cả đời để có thể thành thạo, một điều mà con người không ngừng học hỏi trong cả cuộc đời mình. Nữ tiến sĩ Nathalie Sommer, một chuyên gia về quan hệ hôn nhân của Đại học Yale, Mỹ, nhận định rằng tha thứ là một trong những khía cạnh quan trọng và khó khăn nhất của một mối quan hệ. Tuy nhiên, nếu chúng ta muốn có một mối quan hệ thực sự sâu sắc, mỗi người buộc phải học cách tha thứ.[6] Tha thứ trong cuộc sống vợ chồng luôn là một thách đố khiến chúng ta phải luôn tỉnh táo, thông minh và đầy bản lãnh để học tập và thực hành nghệ thuật này mỗi khi xảy ra xung đột mâu thuẫn.
Đối với Ki-tô hữu, tha thứ là lệnh truyền của Chúa. Nếu chúng ta biết tha thứ cho nhau, thì đó là chúng ta đang thực hành điều mà Chúa mong đợi nơi mỗi gia đình, nơi mỗi đôi vợ chồng. Chúng ta tha thứ để được-thứ-tha. Thánh Phao-lô đã khuyên nhủ tín hữu như sau: “Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau” (Cl 3, 12-13).
Đức thánh GH Gio-an Phao-lô II trong Tông huấn về những bổn phận của gia đình Kitô hữu đã khuyên nhủ chúng ta như sau: “Chỉ có một tinh thần hi sinh cao cả mới giúp gìn giữ được và kiện toàn được sự hiệp thông gia đình. Thực vậy, sự hiệp thông này đòi hỏi mọi người và mỗi người biết quảng đại và mau mắn mở lòng ra để thông cảm, bao dung, tha thứ cho nhau, và hòa giải với nhau. Không có gia đình nào mà không biết rằng sự ích kỷ, những bất hòa, những căng thẳng, những xung đột đã làm hại cho sự hiệp thông gia đình biết chừng nào, và đôi khi còn có thể làm tiêu tan sự hiệp thông ấy: chính từ đó mà xuất phát muôn vàn hình thức chia rẽ khác nhau trong đời sống gia đình” (số 21).
Thánh Phao-lô luôn khuyên nhủ chúng ta sống bí tích và mầu nhiệm hôn nhân dựa trên mẫu mực tình yêu và mối tương quan gắn bó giữa Chúa Ki-tô và Hội thánh. Đức Ki-tô đã yêu thương Hội thánh, đã hiến mình vì Hội thánh, đã chăm sóc, nuôi dưỡng Hội thánh, đã hy sinh cứu chuộc Hội thánh thế nào thì vợ chồng cũng phải sống và đối xử với nhau như vậy. Một cách cụ thể, thiết thực hơn, tình yêu trong hôn nhân Ki-tô hữu cũng phải phỏng theo lòng mến Ki-tô giáo, là điều mà thánh Phao-lô đã nhắc nhở trong thư 1Cor: “Lòng mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Lòng mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả…” (x. 1Cor 13, 4-7)
5.- Tình yêu trách nhiệm
Ông bà ta thường nói lập gia đình, kết hôn, lấy vợ lấy chồng là đi “gánh vác”. Điều đó có nghĩa là khi bước vào đời sống hôn nhân, đôi bạn trở nên hai người bạn đời, bạn đường của nhau, cùng liên kết trong một cuộc sống, cùng chia sẻ một số phận và đồng trách nhiệm với nhau về mọi vấn đề trong gia đình. Tinh thần trách nhiệm đòi hỏi cả hai người phải nỗ lực hy sinh cái “Tôi” để lo cho cái “Chúng ta”. Như một danh nhân đã khẳng định: “Hôn nhân chia nửa quyền lợi và gấp đôi nghĩa vụ” (Arthur Schopenhauer). Nhận định này rất đúng, vì khi kết hôn đôi bạn phải hy sinh những lợi ích riêng tư cá nhân để chu toàn bổn phận làm vợ làm chồng, bổn phận làm cha làm mẹ trong gia đình. Tinh thần trách nhiệm trong hôn nhân nhắc chúng ta đến hai việc, đó là sự quan tâm chăm sóc giữa hai bạn đời với nhau, hai là sự cộng tác tích cực của hai vợ chồng trong việc thực hiện bổn phận gia đình.
Sự chăm sóc và quan tâm đến nhau. Đây là dấu chỉ về một tình yêu đích thực, trưởng thành và tinh tế, như có người đã nói: “Ai thích hoa thì tìm cách ngắt hoa. Nhưng người yêu hoa thì tìm cách chăm sóc hoa”. Bản thân vợ chồng phải được chăm sóc, vun xới từng giờ, từng phút, từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn, những lúc vui sướng cũng như lúc gian nan. Sự chăm sóc đôi khi đơn giản, nhỏ bé nhưng lại có vai trò to lớn trong cuộc sống vợ chồng. Sự quan tâm không chỉ thể hiện bằng lời nói mà còn qua những cử chỉ, hành động thiết thực, cụ thể. Chẳng hạn, hãy thường xuyên nói chuyện với nhau, lắng nghe nhau tâm sự, khen ngợi nhau khi cần thiết, chia vui sẻ buồn với nhau, nghĩ đến nhau những dịp đặc biệt như sinh nhật, bổn mạng, ngày kết hôn…Quả thực, sự quan tâm đến nhau được coi như chất keo giúp gắn kết hai bạn đời bền chặt mãi mãi.
Đồng cam cộng khổ, cùng chia sẻ trách nhiệm chung trong gia đình. Ngày nay, nhiều bạn trẻ tỏ ra thất vọng rất lớn về bạn đời của mình chỉ vì người ấy không quan tâm đến những việc chung của gia đình. Nhiều bà vợ than phiền các ông chồng lười biếng và ỷ lại vào sự đảm đang của vợ mà bỏ bê việc gia đình. Điều đó khiến người vợ mệt mỏi và thất vọng vì gia đình là của chung, hôn nhân là do hai người cùng kiến tạo và niềm hạnh phúc là do hai người cùng chia sẻ. Trên thực tế, ta thường nghe vợ than chồng mê game mà bỏ bê gia đình. Trong khi ấy, chồng phàn nàn vợ ghiền mạng xã hội hơn là chồng con. Điều đó dễ dẫn đến cảnh xào xáo bất an trong gia đình.
Trong cuốn “Những quy tắc trong đời sống vợ chồng”, tác giả đã đưa ra 3 cái “cùng” đối với đôi vợ chồng, đó là: Cùng nhau làm việc nhà, cùng nhau chăm sóc con cái, cùng nhau quyết định mọi việc trong gia đình. Tác giả đã phân tích như sau:
“Thật sai lầm khi người vợ ôm đồm hết mọi thứ và để người chồng đi làm về ‘ngồi chơi xơi nước’. Thứ nhất, vợ tập cho chồng thói quen ỷ lại, lười biếng và thiếu trách nhiệm. Thứ hai, vợ đang tự biến mình thành người giúp việc trong nhà, chứ không còn là vợ. Cuối cùng về lâu dài, việc này ảnh hưởng không nhỏ đến tình cảm của vợ chồng đôi bạn. Hôn nhân là sự hợp tác, chia sẻ, và mọi trách nhiệm đều phải được phân công với nhau.
“Ngoài ra, là vợ chồng, đôi bạn nên trao đổi, thống nhất với nhau để đưa ra quyết định cho mọi việc dù lớn hay nhỏ trong gia đình. Có nhiều gia đình phần lớn mọi việc do chồng hay do vợ quyết định, người còn lại chỉ biết lắng nghe theo và ít khi tham gia ý kiến. Đó không phải là biểu hiện của một cuộc hôn nhân hạnh phúc. Nó thể hiện sự thiếu cân bằng về trọng lượng lời nói, vị thế của nhau trong hôn nhân. Để hôn nhân bền vững và hạnh phúc, một nguyên tắc cần tuân thủ nghiêm ngặt, đó là mọi việc quan trọng trong gia đình, cả hai vợ chồng đều phải bàn bạc, nêu ra ý kiến của mình để có quyết định thống nhất”.[7]
Có thể khẳng định là sự thành công và bền vững của cuộc hôn nhân không do tài năng của đôi bạn mà chính là do sự đồng tâm hiệp lực của cả hai người trong gia đình.
6.- Tình yêu tin tưởng
Người ta thường nói thứ đắt giá hơn vàng hay kim cương đó chính là lòng tin. Những thứ khác có thể mua được còn lòng tin thì không. Trong các mối quan hệ xã hội, đặc biệt là giữa hai vợ chồng, lòng tin hay niềm tin giữ một vị trí cực kỳ quan trọng. Nếu đôi bạn vì một lý do nào đó không còn tin nhau nữa thì cuộc hôn nhân có nguy cơ đổ vỡ. Ngược lại, một khi đôi bạn biết đặt hết niềm tin vào nhau, thì tình yêu sẽ luôn tươi đẹp và cuộc hôn nhân có lý do bền vững lâu dài.
Tác giả cuốn “Những quy tắc trong đời sống vợ chồng” đã bàn về một quy tắc quan trọng, đó là vợ chồng hãy tin tưởng nhau. Tác giả viết như sau: “Niềm tin là điều cơ bản nhất trong mọi mối quan hệ, đặc biệt là quan hệ hôn nhân. Nó như thước đo sức mạnh cũng như mức độ bền chặt trong hôn nhân. Khi ta cảm thấy sự an toàn, tính tích cực về bạn đời, thì tức là niềm tin của ta dành cho bạn đời càng lớn. Tin tưởng nhau là yếu tố cần thiết của mối quan hệ hai người. Ta có thể xem đây là một sự đầu tư dài hạn mà phần lãi sẽ lớn dần theo thời gian. Khi đôi bạn tin tưởng nhau, cuộc sống sẽ trở nên tuyệt vời hơn bao giờ hết, sự căng thẳng sẽ không thường trực trong đời sống hằng ngày của họ. Không gì có thể tệ hơn một cuộc hôn nhân mà vợ chồng không tin tưởng vào nhau.”[8]
Dựa vào thực tế, ta thấy hầu hết các đôi vợ chồng mâu thuẫn, bất đồng, đay nghiến nhau chỉ vì nảy sinh mối nghi ngờ nhau từ những chuyện thường nhật như tiền bạc, quan hệ bạn bè đồng nghiệp, chuyện đi sớm về khuya, những thay đổi bất thường, cho đến chuyện bồ bịch, ngoại tình này nọ vv…Những sự việc này khiến cho vợ chồng nghi ngờ sau, từ chuyện lớn đến việc nhỏ, từ ngày này qua ngày khác, khiến cho mối quan hệ hai bạn luôn căng thẳng và cuộc sống gia đình không lúc nào được bình an, êm ấm.
Các chuyên gia về tình yêu hôn nhân cho rằng, niềm tin là điều kiện tiên quyết của tình yêu. Trong cuộc sống này, để thân thiết với một người, thì niềm tin phải đến từ cả hai phía, để hết lòng yêu thương một người, cũng cần niềm tin đến từ hai phía. Niềm tin, là một thứ giúp sinh mệnh của tình yêu tiếp tục tồn tại. Nếu đã yêu, thì hãy tin tưởng. Đừng quá đặt nặng lòng nghi ngờ, sự nghi ngờ cũng rất mỏi mệt. Hãy mở lòng tin tưởng nhau, điều đó không chỉ khiến lòng ta dễ chịu, mà cũng khiến tình yêu bền vững hơn.
7.- Tình yêu chung thủy
Ca dao VN có câu: “Thương nhau tạc một chữ tình / Trăm năm thề quyết bạn mình có nhau”. Nếu đôi bạn mong ước cuộc hôn nhân của mình đạt được điều mà người ta thường cầu chúc “Trăm năm hạnh phúc”, thì điều quan trọng là phải luôn gìn giữ và nâng niu, đó là lòng chung thủy. Đã nói yêu thực tình thì phải giữ lời hứa thủy chung với nhau. Chúng ta hãy nhớ lại lời tuyên hứa khi cử hành Bí tích Hôn phối: “Anh/ Em là … nhận anh/ em … làm vợ của anh/ em, và hứa giữ lòng chung thủy với em, khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi mạnh khỏe cũng như lúc đau yếu, để yêu thương và tôn trọng em mọi ngày suốt đời anh”. Quả thực, một tình yêu chân chính, tự nguyện, có trách nhiệm bao giờ cũng bao hàm đặc tính của sự chung thủy, bất khả phân ly.
LM Nguyễn Hữu Thy, trong cuốn “Những suy tư đúng đắn về Hôn nhân và Gia đình Công Giáo”, đã nêu lên ba yếu tố quan trọng nhất mà một cuộc sống hôn nhân Công Giáo cần phải có để bảo đảm được sự tồn tại và hạnh phúc của mình. Đó là tình yêu, sự chung thủy và phép lành của Thiên Chúa. Về sự chung thủy, tác giả viết như sau:[9]
“Lời thề hứa hoàn toàn tự nguyện của hôn nhân là một cam kết bó buộc và bất khả tháo gỡ đối với các đôi vợ chồng. Tính chất đặc thù này của lời thề hứa hôn nhân hoàn toàn không phải là một gánh nặng bất khả kham, nhưng là một phương tiện hữu hiệu giúp cho các đôi vợ chồng rèn luyện và thăng tiến được chính con người mình cũng như bảo đảm cho cuộc sống hôn nhân của họ được bền vững trước các sóng gió cuộc đời. Chính nữ triết gia Hannah Arendt đã nhận định: Nếu không bị bó buộc phải thực thi các lời đã hứa, ta sẽ không khi nào duy trì được các căn tính của ta và bị giằng co xâu xé bởi đủ thứ mâu thuẫn…”
Ở đoạn kết thúc phần nói về sự chung thủy trong hôn nhân, tác giả nhấn mạnh như sau: “Sự chung thủy hôn nhân không chỉ giới hạn trong phạm vi sự chung thủy về tính dục, nhưng còn bao hàm trong hành động cụ thể của bản thân mỗi người nữa, đó là họ phải luôn công khai bày tỏ một cách dứt khoát: Tôi thuộc về vợ/ chồng tôi. Sự chung thủy hôn nhân đòi tôi phải thực sự tôn trọng vợ/ chồng tôi. Sự chung thủy hôn nhân đòi tôi phải quan tâm tới điều chính đáng mà vợ/ chồng tôi cần tới và mong ước. Sự chung thủy hôn nhân đòi hỏi phải luôn biết tận tâm an ủi và nâng đỡ người vợ/ chồng của mình. Sự chung thủy hôn nhân đòi hỏi phải luôn biết cầu nguyện cho nhau và biết tín thác cuộc sống lứa đôi của mình cho sự quan phòng đầy yêu thương và phép lành của Cha trên trời” ./.
Aug. Trần Cao Khải
[1] Xin Dinh Nghia Tinh Yeu (cadoan.net)
[2] Tình yêu trong đời sống hôn nhân (songtinmungtinhyeu.org)
[3] Thấu cảm (Empathy) là gì? – Exploring Psychology – Khám Phá Tâm Lý Học (trangtamly.blog)
[4] Tăng cường sự thấu cảm trong hôn nhân (doanhnhansaigon.vn)
[5] Alpha Books – Bài đd – NXB LĐ-XH năm 2018 trang 21
[6] Tha thứ – thử thách khó khăn nhất của hôn nhân – VnExpress Đời sống
[7] Alpha Books biên soạn – Những quy tắc trong đời sống vợ chồng – NXB Lao động Xã Hội năm 2018 trang 39 và 44
[8] Alpha Books biên soạn – Những quy tắc trong đời sống vợ chồng – NXB Lao động Xã Hội năm 2018 trang 84
[9] LM Nguyễn Hữu Thy – Những suy tư đúng đắn về Hôn nhân và Gia đình Công Giáo – TTMV CG VN Gp Trier CHLB Đức năm 2012 trang 90-92
2021
Đã đến lúc các chủng viện cần nhìn lại
Đã đến lúc các chủng viện cần nhìn lại
Chúng ta cần các chủng viện vì đó là nơi đào tạo các thế hệ linh mục mới, để họ trở thành những người “lãnh đạo đầy tớ” có thể làm mục vụ – chứ không phải cai trị – các tín hữu.
Giáo hội Công giáo Úc đã đạt đến điểm quan trọng trong hành trình của mình khi cần phải tái tạo lại toàn bộ Giáo hội địa phương. Các phát hiện về lạm dụng tình dục trẻ em trong Giáo Hội là chất xúc tác chính. Điều này được ghi lại trong Báo cáo cuối kỳ của Ủy ban Hoàng gia về Các ứng phó của thể chế đối với lạm dụng tình dục trẻ em (Final Report of the Royal Commission into Institutional Responses to Child Sexual Abuse).
Báo cáo này đã xác định chủ nghĩa giáo sĩ (clericalism) là yếu tố góp phần đáng kể vào việc lạm dụng ở các cơ sở tôn giáo trên toàn nước Úc. Chủ nghĩa giáo sĩ bắt nguồn từ niềm tin mang tính thần học rằng giáo sĩ khác với giáo dân vì giáo sĩ đã trải qua một “thay đổi bản thể” khi thụ phong (một sự thay đổi về bản chất con người của họ khi lãnh nhận bí tích Truyền chức thánh). Chủ nghĩa này còn đưa ra quan điểm rằng không ai có quyền được thách thức các giáo sĩ.
Cũng theo bảng báo cáo, văn hóa giáo sĩ trị đang gia tăng trong các chủng viện ở Úc. Một cách cụ thể, họ quan niệm rằng Chủ nghĩa giáo sĩ phải là lý tưởng của chức tư tế, hay nói rộng ra, phải là lý tưởng của Giáo Hội Công Giáo. Chủ nghĩa giáo sĩ gắn liền với cảm tưởng có được quyền hành, ưu thế lớn và được tách riêng, hay ngay cả lạm dụng quyền lực. Một người mắc chứng “giáo sĩ trị” tự coi mình là đặc biệt, vượt trội hơn những người khác và đáng được tôn trọng hơn. Điều này có thể dẫn đến kiêu ngạo và coi thường người khác. Giáo dân cũng có thể mắc lỗi “giáo sĩ trị” nếu họ ủng hộ thái độ này.
Đầu tiên, việc đào tạo linh mục được diễn ra trong môi trường “giáo sĩ” tách biệt, mà theo báo cáo, có khả năng có tác động bất lợi đối với sự trưởng thành về tâm lý của các chủng sinh và việc này cũng làm tăng nguy cơ lạm dụng tình dục trẻ em. Do đó, một trong các khuyến nghị chính của Ủy ban Hoàng gia được đề cập cụ thể là vấn đề đào tạo các linh mục trong các chủng viện cần được cải cách. Theo đó, tất cả các chủng viện, học viện Công giáo ở Úc nên xem xét và sửa đổi các tiêu chuẩn và văn bản liên quan đến việc đào tạo linh mục. Điều quan trọng là Hội đồng đã đề cập đến các vấn đề của Chủ nghĩa giáo sĩ trong quá trình đào tạo mục vụ. Rất may, ở một mức độ nào đó, các nhà lãnh đạo Giáo hội đã đồng ý về sự cần thiết phải cải tổ.
Đề cập đến những thay đổi về văn hóa và cấu trúc mà Hội đồng có thể làm trong Giáo hội, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Công giáo Úc, Đức Tổng Giám mục Mark Coleridge, nói rằng: “Đây không phải là lúc để Giáo Hội treo những tấm biển nói rằng ‘mọi việc bình thường’. “Cải cách” môi trường giáo sĩ “đòi hỏi phải nhìn nhận tất cả các khía cạnh của quá trình hình thành với một con mắt biết phê phán. Điều này nghe có vẻ hợp lý,bởi vì khi một nhóm người được đưa đến một nơi dành riêng và được chú ý đặc biệt trong các lớp học nhỏ với những người khác, cảm giác tách biệt có thể xảy ra.”
Điều tương tự cũng áp dụng cho những thanh niên được phép mặc áo dòng và đeo cổ côn trước khi bước vào đời sống tu trì. Việc đánh giá bản thân một cách “khác biệt” là hoàn toàn dễ hiểu. Câu hỏi hợp lý đặt ra là: nếu chúng ta đang cố gắng loại bỏ Chủ nghĩa giáo sĩ khỏi Giáo Hội của chúng ta và khỏi các chương trình đào tạo linh mục tương lai, tại sao chúng ta vẫn cố chấp để các chủng viện tuân theo một mô hình đã tạo ra những kết quả có vấn đề? Giáo Hội phải tìm ra những cách khác để đào tạochủng sinh cho nhiệm vụ làm linhmục giáo xứ.
Rốt cuộc, Chúa Giêsu chưa bao giờ gửi các môn đệ của mình đến chủng viện. Chúa Giêsu giới thiệu cho họ những giá trị của Nước Trời không phải trong một tòa nhà, mà là “trên đường”.
Trong hai thế kỷ đầu tiên, không rõ làm thế nào mà người ta được chọn để cử hành Thánh Lễ. Nhưng khi các dòng tu được thành lập, bắt đầu từ Thánh Bênêdictô, các tu viện có tiêu chí riêng của họ. Những người không sống trong tu viện, tức là các ứng viên của giáo phận, đã đi theo nhiều con đường khác nhau để được thụ phong tùy thuộc vào giám mục địa phương. Cần lưu ý rằng trong lịch sử Giáo Hội, các chủng viện chỉ mới phát triển tương đối gần đây.
Chính Công đồng Trentô (1545-63) đã quyết định một quy trình nghiêm ngặt trong nhiều năm học tập tại một địa điểm biệt lập duy nhất, để đảm bảo các linh mục được đào tạo thích hợp. Các chủng sinh bị tách khỏi gia đình và cộng đồng của họ, sau đó được đưa vào một trung tâm nghiên cứu tu đức và thần học.
“Không phải ai đó ở trên cộng đồng, mà là một thành viên trong cộng đồng.” Tại sao mô hình đào tạo này lại hấp dẫn? Nó cung cấp khả năng đọc viết và một nền giáo dục vững chắc cho các ứng viên và là nơi mà những người nam có thể học tập với điều kiện tiếp cận các cơ sở vật chất, bất kể xuất thân. Nó cung cấp chỗ ở để việc đào tạo có thể được tiếp nối liên tục và được giám sát.
Hệ thống các chủng viện đã sản sinh ra một số cá nhân xuất sắc như Thánh Gioan Vianney, tấm gương của ngài đã dẫn đến sự biến đổi triệt để của cộng đoàn mà ngài phục vụ. Tuy nhiên, chủ nghĩa giáo sĩ được phép phát triển bên trong Giáo Hội qua nhiều thế kỷ, điều này đã che đi nhiều khía cạnh tích cực của việc đào tạo và thực hành chức thánh. Nhưng ta không được quy chụp điều này riêng cho những người được đào tạo để trở thành linh mục giáo phận. Báo cáo cuối cùng của Ủy ban Hoàng gia chỉ trích cả “linh mục và Giáo Hội” liên quan đến việc đào tạo của họ.
Tuy nhiên, thành viên của các dòng tu và đan viện như Dòng Thánh Bênêđictô và Dòng Xitô khác biệt ở chỗ, họ là thành viên của một “cộng đồng gia đình” hỗ trợ và hướng dẫn họ; một số được thụ phong linh mục nhưng không phải tất cả. Các chủng sinh giáo phận thường không được như vậy. Ở những dòng tu mà các thành viên ít được phong chức linh mục, thì điều đó làm giảm bớt mối đe dọa của chủ nghĩa giáo sĩ, hoặc mong muốn leo lên các cấp bậc trong Giáo Hội. Ngược lại, chủ nghĩa giáo sĩ lại xuất hiện nhiều trong các chủng viện giáo phận.
Nhưng việc tạo điều kiện cho chủ nghĩa giáo sĩ phát triển trong các hệ thống đào tạo hiện tại ở cá chủng viện đã góp phần gián tiếp vào việc lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên, gây chấn động trong các cuộc điều tra trên khắp thế giới. Nếu chúng ta nghiêm túc trong việc loại bỏ chủ nghĩa giáo sĩ, chúng ta không nên tiếp tục với mô hình chủng viện như nó đã từng diễn ra.
Một số giáo sư đã từng giảng dạy trong các chủng viện ở Hoa Kỳ, bao gồm các cựu giáo sư chủng viện Colt Anderson và Christopher Bellitto, đã nhận ra những điểm yếu của mô hình truyền thống này. Họ nói rằng mặc dù có những thanh niên tốt theo học, nhưng các chủng viện đã đóng một vai lớn trong cuộc khủng hoảng của Giáo Hội hiện nay “bằng cách đưa chủng sinh vào chủ nghĩa giáo sĩ”.
“Các chủng sinh được truyền tải một thông điệp nhất quán: vai trò của họ là cai quản giáo dân và Giáo Hội do kết quả của sự thay đổi bản thể khi thụ phong, không phải là kết quả của phẩm hạnh, kiến thức hoặc hành vi kiểu mẫu của họ. Họ đang được đào tạo để trở thành những ‘ông chủ chuyên quyền’, không phải những ‘nhà lãnh đạo đầy tớ’. Chúng ta cần các chủng viện là nơi đào tạo các thế hệ linh mục mới, để trở thành những người lãnh đạo đầy tớ, những người có thể làm mục vụ – chứ không phải cai trị – các tín hữu.”
Điều quan trọng nhất để khỏi rơi vào chủ nghĩa giáo sĩ là tránh cô lập về mặt thể chất những người muốn trở thành linh mục. Các chủng sinh nên dành nhiều thời gian hơn để sống trong giáo xứ của họ trong quá trình đào tạo.
Về mặt lý thuyết, các chủng sinh có thể tiếp tục sống tại nhà, điều này sẽ cho phép họ duy trì mối quan hệ với những người đương thời, đang khi vẫn tham gia vào đời sống thực tiễn của giáo xứ. Chúng ta cần xem xét các đường hướng thay thế trong việc chuẩn bị thụ phong cho các chủng sinh. Họ cần có sự tương tác và hòa nhập nhiều hơn với các giáo xứ của họ và thành viên của các dòng tu khác.
Như trong tài liệu cuối cùng của Thượng Hội đồng về Người trẻ 2018 có đề xuất rằng: phải có các khóa đào tạo chung cho “các giáo dân trẻ, tu sĩ trẻ và chủng sinh.” Điều này đi đôi với quan điểm của Đức Thánh Cha Phanxicô về vai trò và trách nhiệm liên đới cho cả giáo dân và giáo sĩ.
Chủ nghĩa đại kết cũng đóng một vai trò quan trọng. Các tôn giáo khác đã chuẩn bị như thế nào và chúng ta có thể học được gì từ họ? Để chống lại chủ nghĩa giáo quyền, điều quan trọng là sự chuẩn bị cho một cá nhân phải diễn ra ở tại giáo xứ, một cộng đồng với nhiều nhiệm vụ khác nhau; anh ta không nên tự cao rằng anh ta là một ai đó đặc biệt và cao hơn mọi người, nhưng chỉ là một thành viên trong cộng đồng.
Tác giả: Gideon Goosen (Australia)
Chuyển ngữ: P. Nguyễn Thanh Trà
(giaophanvinhlong.net/ international.la-croix.com 25/9/2021)
* Gideon Goosen là một nhà thần học và tác giả ở Sydney. Cuốn sách mới nhất của ông là Clericalism: Stories from the Pews, Coventry Press, 2020.
2021
Hội chứng tu xuất
Hội chứng tu xuất
Tu xuất tự nó không phải là một bậc sống, nhưng là một thành phần quan trọng trong nhịp sống Giáo hội.
Có lẽ, cuộc đời chúng ta không ai hiểu hết được chữ “ngờ”, và vì thế, xuất tu cũng hàm chứa những lý do khó nói lên lời. Đôi dòng tản mạn và những cảm nghiệm riêng tư của tác giả về những người tu xuất có lẽ sẽ là tâm tư của bất kỳ ai đó muốn đồng cảm, muốn yêu thương, muốn sẻ chia với những con người đặc biệt này.
Nói về người tu xuất có thật lắm khía cạnh để người ta phải suy nghĩ, bàn luận. Trước hết, có lẽ chúng ta nên khởi đi từ hai tiếng “Ơn gọi”. Ban đầu, nhiều bạn trẻ lắng nghe được tiếng Chúa gọi, họ hăng hái dấn thân vào đời tu với tất cả nhiệt huyết của một con tim căng đầy sức sống. Nhưng rồi, cuộc đời có trăm ngàn lối đi khiến họ không còn giữ được nét trinh trong và nhiệt huyết thuở ban đầu. Giã từ chốn Viện tu, họ nghe theo một tiếng gọi khác và đi tìm cho mình một niềm vui giữa đời thường. Có những người tìm về chốn hồng trần để mong tìm một mái ấm, một niềm hạnh phúc dẫu mong manh nhưng thật đơn thành; có những người can đảm tiếp tục rong ruổi dấn thân trên hành trình dâng hiến đầy cát bụi… Trong số đó, có những người đã nhận ra chân lý sống và họ đã làm trổ sinh hoa trái giữa cuộc đời; nhưng rồi lại cũng không thiếu những người chìm ngập trong cô đơn, thất vọng và bị dòng đời vùi lấp, cuốn trôi.
Tại sao cuộc đời người tu xuất lại rơi vào bất hạnh? Nhiều người cho rằng: vì anh đó, chị đó đã ăn cơm nhà Chúa Trời, nay quay gót về với thế gian thì đương nhiên phải chuốc lấy hậu quả. Nghe thoáng qua thật quá phũ phàng, chẳng lẽ Thiên Chúa lại là kẻ dữ dằn và khát máu trả thù đến vậy ư? Chắc chắn không phải thế. Sở dĩ người tu xuất khi trở về đời thường, cuộc sống của họ không mấy hạnh phúc có lẽ vì nhiều nguyên nhân khác nhau. Khi họ còn sống trong Ơn gọi, họ làm mọi việc đều có chương trình, kế hoạch, mọi sự xem ra an nhàn, thư thái, nay trở về thế gian, họ phải bươn trải với cuộc sống cơm áo gạo tiền, đó là một thử thách lớn lao đối với họ. Hơn nữa, suốt thời gian sống trong Dòng tu hay Chủng viện, người tu chỉ lo trau dồi tri thức để chuẩn bị lãnh chức thánh hay khấn dòng, họ đâu biết mùi thế nhân đoạn trường ra sao? Nay trở về đời thường trăm ngàn sóng gió, bể dâu, sức đề kháng của những con người này sẽ vô cùng mong manh, yếu ớt. Vì thế, họ ít tìm được những cơ hội trong cuộc sống, trong khi cuộc đời lại quá khắt khe đối với họ. Thành ra, người xuất tu khó có thể tìm được cho mình một cuộc sống bình an và hạnh phúc.
Ngày nay, người ta nhiều khi có ác cảm và thành kiến nặng nề với người tu ra. Họ cho rằng: việc ông Thầy, bà Sơ giũ áo Dòng ra về lấy vợ, lấy chồng là chuyện chẳng nên. Ngoài việc bị kết án là ham muốn thế gian, xác thịt, lại còn bị gán cho cái tội tày đình là bội ơn nhà Đức Chúa Trời. Bao nhiêu tiền bạc, cơm gạo nuôi ăn giờ đây trở về con số không tròn trĩnh. Họ căm tức người tu ra vì cho rằng: cô, cậu đã bôi gio, chát trấu vào mặt cha mẹ, tiên tổ, ông bà. Thanh danh đang lên như “diều gặp gió” nay chẳng khác chi “lá chuối gặp bão” xác xơ bên đường. Cha mẹ thì khăng khăng dán chặt con mình trên bàn thánh, chôn chân con mình trong chốn Viện tu bằng bất cứ giá nào, nhưng cũng chẳng hay chẳng biết rằng: con mình không có khả năng sống đời Ơn gọi. Họ chỉ biết một điều: việc trở về gia đình sau hành trình tu trì dang dở là chuyện không thể chấp nhận được. Họ cũng đâu biết rằng: việc quyết định ngả sang một Ơn gọi khác không phải là chuyện dễ dàng như người ta vẫn lầm tưởng. Trước khi về đời, người xuất tu đã phải đón nhận sức ép thật khủng khiếp từ phía dư luận, bà con lối xóm. Thật là đáng sợ!
Hơn thế nữa, nhiều người xuất tu mang theo suốt cuộc đời mình mặc cảm tội lỗi vì biết mình đã làm hỏng ơn Chúa. Bao nhiêu chữ “giá mà” thế này, “phải chi” thế thế kia cứ đeo bám và ám ảnh trong trí não. Bao nhiêu nước mắt đã lặng lẽ buông xuống dòng đời; bao nhiêu tiếng thở dài não nề trôi theo giọt nắng, giọt mưa; bao nhiêu thất vọng, bao nhiêu chán ngán cuộc đời, bao nhiêu mỏi mòn, tăm tối giăng ngập lối về… Thật xót xa, thật phũ phàng! Mọi sự giờ đây đã quá muộn cho một lời xin lỗi, chỉ còn lại đây những giọt lệ buồn của cay đắng, xót xa. Nỗi đau khiến họ ăn không ngon, ngủ không yên, và vì thế họ cảm thấy bất hạnh và đau khổ. Mọi cánh cửa hy vọng dường như đã đóng chặt khiến họ không còn lối thoát. Cuộc đời thật quá khắt khe với họ.
Nói về người tu xuất với biết bao cảm xúc và nghĩ suy, nhưng chúng ta không thể nào không thừa nhận vị trí và vai trò của họ trong Giáo hội và ngoài xã hội. Nhiều người tu xuất đã trở thành cánh tay đắc lực của Cha xứ và của xóm đạo. Các hội đạo đức, các công việc bác ái, các hoạt động từ thiện có thăng tiến được cũng là nhờ phần nhiều vào những con người nhiệt thành này. Họ là những người trí thức, được đào luyện bài bản trong Chủng viện, nơi Dòng tu nên cũng đã trang bị cho mình một sự trưởng thành vừa đủ trước khi đối mặt với cuộc đời. Họ làm việc có cái tâm và trở nên những con người đáng tin cậy trong Cộng đoàn. Vì thế, chúng ta cần đặc biệt tôn trọng, cảm phục và cầu nguyện cho họ, để giúp hăng say và nhiệt thành chu toàn bổn phận làm người Kitô hữu của mình.
Đôi dòng suy tư về giới tu xuất không phải là bao che, dung dưỡng, nhưng là tấm lòng trân trọng, cảm thông và tri ân. Thiên Chúa đã dùng họ cách âm thầm để làm việc trong vườn nho của Ngài. Không ít thì nhiều, những việc làm và những hy sinh lớn lao của họ cũng làm cho vườn nho Chúa được trổ sinh hoa trái. Viết về người tu xuất giúp chúng ta có cái bao dung hơn, yêu thương hơn, đồng cảm hơn, vì mọi người dù là ai, dù trong hoàn cảnh nào cũng đều là những con người bất xứng trước mặt Thiên Chúa và ai trong chúng ta cũng cần đến lòng thương xót và ân sủng của Ngài. Đây cũng là một lần giúp chúng ta hâm nóng lại tình yêu với Chúa, hun đúc khát khao dâng hiến của mình. Ước mong sao dù cho bao khó khăn, thử thách, chúng ta cũng hãy luôn trung thành với Chúa đến cùng.
Diệu Tâm, BC
