2021
Về việc sử dụng bài hát “Chúa chăn nuôi tôi” của nhạc sĩ Phanxicô làm Thánh vịnh đáp ca
Nhiều lần, khi tham dự các thánh lễ an táng, hay cầu cho người qua đời, chúng tôi nhận thấy ở khá nhiều nơi, người ta sử dụng bài hát Chúa chăn nuôi tôi của nhạc sĩ Phanxicô trong phần Thánh vịnh đáp ca. Bài hát có giai điệu khá hay, nhưng lời bài hát chỉ lấy một số ý từ Tv 23 (22), chứ không phải chính bản văn Lời Chúa, nên không thể sử dụng làm Thánh vịnh đáp ca. Khi có dịp thuận tiện, chúng tôi thường nhắc nhở những người chọn bài hát, các chủng sinh và nữ tu, về việc này. Tuy nhiên, chúng tôi thấy cần phải trình bày vấn đề này ở phạm vi rộng rãi hơn để tránh những sai sót không đáng có trong các cuộc cử hành phụng vụ.
Một số những qui định phụng vụ
Bài Thánh vịnh đáp ca được xác định là một thành phần trong phụng vụ Lời Chúa. Quy chế tổng quát sách lễ Rôma, ở số 57, đưa ra hướng dẫn như sau:
“Trong các bài đọc, bàn tiệc lời Chúa được dọn ra cho các tín hữu và các kho tàng Thánh Kinh được mở ra cho họ. Bởi thế, nên giữ thứ tự các bài đọc Thánh Kinh để cho người ta thấy rõ sự thống nhất của cả hai giao ước và lịch sử cứu độ, cũng không được phép thay thế các bài đọc và thánh vịnh đáp ca vốn chứa đựng lời Chúa, bằng các bản văn khác ngoài Thánh Kinh.”
Sau đó, cũng Quy chế trên đây hướng dẫn cụ thể hơn về Thánh vịnh đáp ca, ở số 61:
“Sau bài đọc thứ nhất là thánh vịnh đáp ca, bài ca này là thành phần trọn vẹn của phụng vụ lời Chúa và rất quan trọng về mặt phụng vụ và mục vụ, vì giúp suy niệm lời Chúa. Thánh vịnh đáp ca phải thích hợp với mỗi bài đọc và thường phải lấy từ Sách Bài đọc.”
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tìm được thắc mắc của Đức cha Phaolô Nguyễn Văn Hoà về vấn đề này, với tư cách là Giám mục phụ trách Uỷ ban thánh nhạc toàn quốc, gửi cho Bộ Phụng tự và Kỉ luật bí tích ngày 10-11-2008. Câu trả lời liên quan đến lời văn Thánh vịnh đáp ca trong thư của Bộ nêu trên, ngày 3-2-2010, như sau:
“Về bản văn của các Thánh vịnh Đáp ca bằng tiếng Việt, Ngài có trình bày những khó khăn trong việc soạn các âm điệu vì tiếng Việt có tới sáu dấu, bởi vậy việc cho các dấu của ngôn ngữ hòa hợp với các nốt nhạc qủa rất khó. Bộ hiểu nỗi khó khăn này, nhưng đồng thời, Bộ cũng tin tưởng rằng Ủy ban Thánh Nhạc thuộc Hội đồng Giám mục sẽ tìm ra những giải đáp thỏa đáng để có được những âm điệu hay và xứng hợp cho các bản văn này (xin xem Huấn dụ De Liturgia Romana et Inculturatione [Về Phụng vụ Roma và việc Hội nhập văn hóa], 25 /01/ 2004, số 40).
Nếu mỗi âm điệu đều đòi hỏi phải sửa đổi đôi chút bản văn, cho dù là những lời rất đơn giản, thì tình trạng của các bản văn phụng vụ chính thức này cuối cùng sẽ ra sao? Bản văn phụng vụ chắc chắn sẽ lộn xộn. Các nhạc sĩ công giáo Việt Nam khi được các Đức Giám mục yêu cầu sáng tác các âm điệu cho các bản văn phụng vụ, thì cũng được yêu cầu chấp nhận hy sinh cần thiết trong việc soạn các âm điệu theo các chuẩn mực của Giáo Hội liên quan đến vấn đề.”[1]
Như vậy, những qui tắc phụng vụ đều nhấn mạnh rằng Thánh vịnh đáp ca là một phần của phụng vụ Lời Chúa và nếu có dệt nhạc, bản văn phải được lấy từ Sách Bài Đọc.
Đối chiếu lời bài hát Chúa chăn nuôi tôi của nhạc sĩ Phanxicô
Ở đây, chúng tôi sẽ không tiến hành công việc đối chiếu theo kiểu hàn lâm, tức là so sánh lời bài hát với các bản văn Kinh Thánh bằng tiếng Hípri hay tiếng Latinh. Chúng tôi sẽ đặt lời bài hát Chúa chăn nuôi tôi của nhạc sĩ Phanxicô bên cạnh bản dịch Sách Bài Đọc được ấn hành năm 1973 và bản dịch Kinh Thánh của Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ (CGKPV) để độc giả tiện so sánh.
THÁNH VỊNH 23 (22)
| Bản dịch 1973[2] | Bản dịch CGKPV[3] | Lời bài hát[4] |
| Tv 22,1-3a.3b-4.5.6
Xướng 1: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi, trên đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguốn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi, tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng. Đáp (1): Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi. Hoặc đọc (4a): Dù bước đi trong thung lũng tối, tôi không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng tôi. 2: Người dẫn tôi qua những con đường đoan-chánh, sở dĩ vì uy danh Người. Dù bước đi trong thung lũng tối, tôi không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng tôi, cây roi và cái gậy của Người, đó là điều an ủi lòng tôi. 3: Chúa dọn ra cho tôi mâm cỗ, ngay trước mặt những kẻ đối phương: đâu tôi thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu tôi đầy tràn chan chứa. 4: Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi, hết mọi ngày trong đời sống: và trong nhà Chúa tôi sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài. |
1Thánh vịnh. Của vua Đa-vít.
CHÚA là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì. 2Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi tới dòng nước trong lành 3và bổ sức cho tôi. Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính vì danh dự của Người. 4Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm. 5Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc ngay trước mặt quân thù. Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm, ly rượu con đầy tràn chan chứa. 6Lòng nhân hậu và tình thương CHÚA ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời, và tôi được ở đền Người những ngày tháng, những năm dài triền miên. |
ĐK: Chúa chăn nuôi tôi, Chúa chăn nuôi tôi, Chúa đưa tôi đi qua mọi nẻo đường. Người đưa tôi đi lên núi cao say sưa gió biển, vui uống suối miền Nam, vững tâm qua rừng mịt mù.
TK1: Người đưa tôi đi lên vườn trái ngát xanh trên đồi. Người dẫn tôi về tựa trùng khơi buông gió dìu mây trời. Người sắp cho tôi yến tiệc thơm hương hoa, Người rót cho tôi ly rượu thắm chan hòa. Đầu tôi người xức dầu thơm nồng nàn. TK2 : Lòng không lo âu tuy vào giữa núi vây quân thù. Lòng vẫn êm đềm dù trời đêm thung lũng đầy sương mù. Cùng Chúa tôi đi suốt đời luôn hiên ngang. Nhờ Chúa tôi vui bao ngày tháng huy hoàng. Trần gian tươi thắm mùa xuân địa đàng. TK3: Đời tôi trăm năm trong cuộc sống biết bao thăng trầm. Nghìn cõi xa gần vòng thời gian đưa mãi nhịp xoay vần. Này áo với cơm, đây bài thơ ươm mơ. Này xác với thân mang nặng tấm linh hồn. Đời tôi ôi Chúa hiểu sâu ngọn nguồn. TK4: Dù bao chông gai tin vào Chúa vẫn luôn an bài. Lòng chẳng u hoài chờ bình minh lên giã từ đêm dài. Hạnh phúc cho tôi giữa đời không đơn côi. Vạn lý xa xôi có Người dẫn đưa về. Đời tôi mây trắng nhẹ trôi về trời. |
Một vài nhận xét
Trước hết, khi đối chiếu các bản văn trên đây, độc giả có thể dễ dàng nhận ra rằng bản văn Sách Bài Đọc năm 1973 và bản văn CGKPV quả thực là hai bản dịch khác nhau của Tv 23, trong khi lời bài hát Chúa chăn nuôi tôi của nhạc sĩ Phanxicô rõ ràng không phải là bản dịch, mà chỉ được gợi hứng từ Thánh vịnh này. Nhạc sĩ đã lấy ra một số cách diễn tả và hình ảnh từ Tv 23 để dệt thành lời bài hát.
Theo những qui định đã được ghi nhận ở phần trên, nhận xét này khiến chúng tôi đi đến nhận xét thứ hai: Bài hát Chúa chăn nuôi tôi của nhạc sĩ Phanxicô không thể được dùng làm Thánh vịnh đáp ca, vì lời bài hát không phải bản văn Lời Chúa. Thiết tưởng việc dùng một bản văn của con người, dù bản văn đó được gợi hứng từ Lời Chúa, để thay thế Lời Chúa là một việc làm khó có thể biện minh và không thế chấp nhận được trong truyền thống phụng vụ của Hội Thánh công giáo.
Chúng tôi cũng ghi nhận rằng những người chọn bài hát có lẽ không chú ý đến những qui tắc phụng vụ, cũng không mấy quan tâm đến việc lời bài hát có phải là bản văn Lời Chúa hay không. Bài hát này được chọn làm Thánh vịnh đáp ca đơn giản vì người ta vẫn thường chọn những bài hát Chúa chăn nuôi tôi cho phần này trong thánh lễ. Hơn nữa, giai điệu bài hát của nhạc sĩ Phanxicô lại khá hay, những lời ca mượt mà hấp dẫn.
Do vậy, bài viết của chúng tôi chỉ muốn là một lời nhắc nhở để những ai có trách nhiệm chọn bài hát trong phụng vụ lưu ý, nhằm tránh những sai sót không đáng và không nên có. Tóm lại, bài hát Chúa chăn nuôi tôi của nhạc sĩ Phanxicô có thể được dùng vào những thời điểm khác trong phụng vụ, nhưng không thể dùng bài hát này làm Thánh vịnh đáp ca trong thánh lễ.
[1] Trích từ trang điện tử simonhoadalat.com, truy cập ngày 15-10-2021.
[2] Sách bài đọc trong Thánh lễ ngoại lịch, (Sài Gòn 1973), trang 236.
[3] Kinh Thánh ấn bản 2011, (Hà Nội 2011), trang 1145.
[4] Đại chủng viện thánh Giuse Sài Gòn, Tuyển tập thánh ca Laudato Si, (Thành phố Hồ Chí Minh 2018), trang 176-177.
2021
Tài liệu chuẩn bị Thượng Hội đồng Giám mục lần thứ XVI
Thượng Hội đồng Giám mục lần thứ XVI (2021 – 2023)
Hướng đến một Hội thánh hiệp hành:
Hiệp thông, Tham gia và Sứ vụ
Tài liệu Chuẩn bị
Chữ viết tắt
DV Công đồng Vaticanô II, Hiến chế tín lý Dei Verbum (18-11-1965)
EC Phanxicô, Tông hiến Episcopalis communion (15-9-2018).
EG Phanxicô, Tông huấn Evangelii gaudium (24-11-2013).
FT Phanxicô, Thông điệp Fratelli tutti (3-10-2020).
GS Công đồng Vaticanô II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes (7-12-1965).
ITC Ủy ban Thần học Quốc tế
LG Công đồng Vaticanô II, Hiến chế tín lý Lumen gentium (21-11-1964).
LS Phanxicô, Thông điệp Laudato si’ (24-5-2015).
UR Công đồng Vaticanô II, Sắc lệnh về Đại kết (21-11-1964).
- Hội thánh của Thiên Chúa được triệu tập trong Thượng Hội đồng. Với tên gọi “Hướng đến một Hội thánh hiệp hành: Hiệp thông, Tham gia và Sứ vụ”, con đường này sẽ khai mạc trọng thể vào các ngày 9-10 tháng 10 năm 2021 tại Rôma và vào ngày 17 tháng 10 sau đó tại mỗi Giáo hội đặc thù. Kỳ Đại Hội Thường lệ lần thứ XVI của Thượng Hội đồng Giám mục, vào tháng 10 năm 2023[1], sẽ là giai đoạn cơ bản và được tiếp nối bởi giai đoạn do các Giáo hội địa phương thực hiện (x.EC, 19-21). Với việc triệu tập này, Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi toàn thể Giáo hội suy tư về một chủ đề mang tính quyết định đối với đời sống và sứ vụ của mình: “Con đường hiệp hành này chính là con đường Thiên Chúa mong đợi nơi Giáo hội của thiên niên kỷ thứ ba”[2]. Hành trình này, theo ý hướng “canh tân” Giáo hội được Công đồng Vaticanô II khởi xướng, chính là một ân phúc mà cũng là một nhiệm vụ: bằng cách cùng nhau cất bước hành trình và cùng nhau suy nghĩ về hành trình đã thực hiện, Hội thánh sẽ có thể học biết, qua kinh nghiệm của mình, đâu là những tiến trình có thể giúp Hội thánh sống hiệp thông, thực hiện sự tham gia và mở ra cho việc thi hành sứ vụ. Quả thực, việc chúng ta “cùng nhau cất bước hành trình” là điều thể hiện và chứng tỏ rõ nhất bản chất của Hội thánh như là dân Chúa lữ hành và truyền giáo.
- Câu hỏi căn bản thúc đẩy và hướng dẫn chúng ta là: Hiện nay việc “đồng hành cùng nhau” này đang diễn ra thế nào tại các bình diện khác nhau (từ bình diện địa phương đến bình diện hoàn vũ), cho phép Hội thánh loan báo Tin Mừng đúng theo sứ vụ Hội thánh được ủy thác; và Chúa Thánh Linh mời gọi chúng ta thực hiện những bước nào để thăng tiến như một Hội thánh hiệp hành? Để cùng nhau giải đáp được câu hỏi này đòi hỏi chúng ta phải lắng nghe Chúa Thánh Thần là Đấng như gió “thổi đâu thì thổi, ông nghe tiếng gió, nhưng chẳng biết gió từ đâu đến và đi đâu” (Ga 3,8), phải mở ngỏ cho những điều lạ lùng mà Chúa Thánh Thần chắc chắn sẽ chuẩn bị cho chúng ta trên suốt hành trình. Như thế, một sức năng động được khơi dậy cho phép chúng ta bắt đầu thu hoạch một số hoa trái của cuộc hoán cải hiệp hành, sẽ dần dần chín mùi. Đây là những mục tiêu hết sức quan trọng đối với phẩm chất của đời sống Hội thánh và đối với việc hoàn thành sứ vụ loan báo Tin Mừng mà tất cả chúng ta đều tham gia nhờ Bí tích Rửa tội và Thêm sức. Chúng tôi xin nêu ra ở đây những nguyên tắc chính, làm cho tính hiệp hành được thể hiện nơi hình thức, phong cách và cơ cấu của Giáo hội:
– Nhắc nhở cách thức trước đây, trong lịch sử Chúa Thánh Thần đã mở đường dẫn lối cho Giáo hội và ngày nay kêu gọi chúng ta cùng nhau làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa.
– Sống tiến trình Giáo hội mang tính tham gia và quy tụ, vốn cống hiến cho mọi người – đặc biệt những người, vì những lý do khác nhau, cảm thấy mình là những kẻ ngoài lề – cơ hội tự bày tỏ và được lắng nghe hầu góp phần vào việc xây dựng dân Thiên Chúa.
– Nhận biết và trân quý tính đa dạng phong phú của những ân huệ và đặc sủng mà Chúa Thánh Thần rộng rãi tặng ban vì lợi ích của cộng đoàn và toàn thể gia đình nhân loại.
– Thử nghiệm những cách thức thi hành trách nhiệm chung trong việc loan báo Tin Mừng và nỗ lực xây dựng một thế giới tươi đẹp hơn và đáng sống hơn.
– Xem xét cách thức thể hiện trách nhiệm và quyền bính trong Giáo hội cũng như các cơ cấu kiểm soát chúng, vạch trần và ra sức hoán cải các định kiến cùng những thực hành lệch lạc không phát xuất từ Tin Mừng.
– Làm cho cộng đồng Kitô giáo thành một chủ thể đáng tín nhiệm và là một đối tác đáng tin cậy trong hành trình đối thoại xã hội, chữa lành, hòa giải, liên kết và tham gia, tái thiết nền dân chủ, cổ vũ tình huynh đệ và tình bằng hữu xã hội.
– Canh tân và củng cố những mối tương quan giữa các thành viên trong cộng đồng Kitô hữu cũng như giữa các cộng đồng và các nhóm xã hội khác, chẳng hạn những cộng đồng tín hữu của các tông phái và tôn giáo khác, những tổ chức xã hội dân sự, những phong trào quần chúng, v.v…
– Cổ vũ việc đề cao và thủ đắc những thành quả kinh nghiệm hiệp hành mới đây trên bình diện thế giới, khu vực, quốc gia và địa phương.
- Tài liệu Chuẩn bị này nhằm phục vụ cho hành trình hiệp hành, đặc biệt như một công cụ tạo thuận lợi cho giai đoạn đầu tiên của việc lắng nghe và thỉnh ý dân Chúa trong các Giáo hội đặc thù (tháng 10 năm 2021 – tháng 4 năm 2022), với hy vọng giúp khơi gợi các ý tưởng, thúc đẩy năng lực và óc sáng tạo của tất cả những ai sẽ tham gia vào hành trình này, và nhờ thế, làm cho việc chia sẻ thành quả các nỗ lực của họ được thuận lợi. Nhắm mục đích này, Tài liệu 1/ bắt đầu bằng cách phác thảo một số đặc điểm nổi bật của bối cảnh đương thời, 2/ giải thích ngắn gọn các nguồn tài liệu tham khảo thần học căn bản giúp hiểu biết và thực hành đúng đắn về tính hiệp hành, 3/ đề xuất một số đoạn Kinh Thánh làm chất liệu cho việc nguyện ngắm và sự suy tư cầu nguyện trong suốt hành trình, 4/ minh thị một số viễn tượng để từ đó đọc lại những kinh nghiệm sống tinh thần hiệp hành, 5/ trình bày một số cách thức khai triển việc đọc lại các kinh nghiệm này trong cầu nguyện và chia sẻ. Để hướng dẫn cụ thể cách tổ chức các việc trên, Tài liệu này còn được kèm theo một Cẩm nang mang tính phương pháp luận và có sẵn trên trang mạng dành cho Thượng Hội đồng này[3]. Trang mạng này cống hiến một số nguồn tài liệu để đào sâu chủ đề về tính hiệp hành, cũng như nguồn hỗ trợ cho Tài liệu Chuẩn bị này; trong số những nguồn tài liệu đó, chúng tôi xin lưu ý hai nguồn đã nhiều lần được nhắc đến:Diễn từ Mừng kỷ niệm 50 năm ngày thiết lập Thượng Hội đồng Giám mục, được Đức Thánh Cha Phanxicô phát biểu vào ngày 17 tháng 10 năm 2015, và văn kiện Tính hiệp hành trong đời sống và sứ vụ của Hội thánh, do Ủy ban Thần học Quốc tế soạn thảo và ấn hành năm 2018.
I. LỜI KÊU GỌI CÙNG NHAU CẤT BƯỚC HÀNH TRÌNH
- Con đường hiệp hành diễn ra trong bối cảnh lịch sử được ghi dấu bởi những biến chuyển lớn trong xã hội và bởi một giai đoạn then chốt trong đời sống Giáo hội không thể bỏ qua được: chính trong những biến động phức tạp của bối cảnh này cùng những căng thẳng và những mâu thuẫn của nó, chúng ta được mời gọi “tìm hiểu tường tận các dấu chỉ của thời đại và giải thích những dấu chỉ ấy dưới ánh sáng Tin Mừng” (GS, 4). Chúng ta phác họa ở đây một vài yếu tố chủ yếu của khung cảnh toàn cầu có nối kết chặt chẽ nhất với chủ đề của Thượng Hội đồng, nhưng sự mô tả này phải được phong phú hóa và hoàn tất ở bình diện địa phương tùy theo bối cảnh tại đó.
- Thảm kịch toàn cầu như đại dịch Covid-19, “có lúc đã khơi lại rõ ràng cái cảm thức chúng ta là một cộng đồng thế giới đang chèo chống trên cùng một con thuyền, ở đó điều gây tổn hại cho người này cũng gây tổn hại cho người khác. Phải nhớ rằng nếu có được cứu, thì tất cả cùng được cứu, chứ chẳng có chuyện chỉ riêng ai đó được cứu” (FT, 32). Đồng thời, đại dịch đã phơi bày rõ nét những bất bình đẳng và bất công vốn đã hiện hữu: nhân loại dường như càng bị chao đảo bởi những tiến trình đại chúng hóa và phân mảnh; thân phận bi thảm của các di dân trên khắp mọi miền thế giới chứng tỏ những hàng rào phân rẽ gia đình nhân loại duy nhất vẫn sừng sững dương cao. Thông điệpLaudato si’ và Fratelli tutti cho thấy rõ những thương tích hằn sâu ngang dọc thân mình nhân loại, và chúng ta có thể tìm đọc những phân tích này để nghe thấy tiếng kêu than của những người nghèo và của trái đất cũng như nhận ra những hạt mầm hy vọng và tương lai, nhờ Chúa Thánh Thần, vẫn tiếp tục đâm chồi nảy lộc ở thời đại chúng ta: “Đấng Tạo Hoá không bỏ mặc chúng ta. Ngài không bao giờ bỏ dở kế hoạch yêu thương của Ngài. Ngài không hối tiếc vì đã tạo dựng nên chúng ta. Nhân loại vẫn có khả năng cùng hợp tác xây dựng ngôi nhà chung” (LS, 13).
- Tình trạng này, bất kể nhiều dị biệt rất lớn, liên can đến toàn thể gia đình nhân loại, thách thức khả năng của Hội thánh trong việc đồng hành cá nhân và cộng đồng để nhìn lại những kinh nghiệm tang thương, qua đó cho phép chúng ta vạch trần vô số những an toàn giả tạo và vun trồng niềm hy vọng và tin tưởng nơi lòng nhân hậu của Đấng Tạo Hóa và sự tốt lành trong công trình tạo dựng của Ngài. Tuy nhiên, chúng ta không thể che dấu một thực tế rằng Hội thánh đang phải đương đầu với sự thiếu đức tin và suy đồi của chính mình. Cách riêng, chúng ta không thể quên nỗi đau khổ mà các trẻ vị thành niên và những người dễ bị tổn thương phải chịu “do việc lạm dụng tình dục, lạm dụng quyền bính và lạm dụng lương tâm của nhiều giáo sĩ và người thánh hiến”[4]. Chúng ta không ngừng bị chất vấn “trong tư cách là dân Chúa, phải gánh lấy nỗi đau của các anh chị em mình đã bị thương tổn trong thân xác và tinh thần”[5]. Đã quá lâu, Hội thánh không biết lắng nghe cho đủ tiếng kêu than của các nạn nhân ấy. Đây là những vết thương trầm trọng khó chữa lành, vì thế chúng ta không bao giờ cầu xin tha thứ cho đủ; và những vết thương này là những chướng ngại, đôi khi rất lớn, ngăn cản chúng ta tiến lên theo hướng “cùng nhau cất bướchành trình”. Toàn thể Hội thánh được mời gọi giải gỡ gánh nặng của nền văn hóa thấm nhiễm chủ nghĩa giáo sĩ trị do lịch sử để lại, cùng với những thói tục thi hành quyền bính để mọi thứ lạm dụng khác (quyền lực, kinh tế, lương tâm, tình dục) có cơ hội bám vào. Không thể có chuyện “hoán cải hoạt động của Hội thánh mà lại không có sự tham gia tích cực của tất cả mọi thành phần dân Chúa”[6], vì thế chúng ta hãy cùng nhau cầu xin Chúa ban “ơn hoán cải và xức dầu bên trong để có thể biểu lộ sự hối lỗi trước tội lạm dụng này, và can đảm quyết tâm chống lại những tội ác đó”[7].
- Bất chấp những bất trung của chúng ta, Chúa Thánh Thần tiếp tục hoạt động trong lịch sử và biểu lộ quyền năng tác sinh của Ngài. Chính trong những dấu vết khắc sâu bởi đủ mọi thứ khổ đau mà gia đình nhân loại và dân Chúa phải hứng chịu, những cách diễn tả mới của đức tin và những hành trình mới đang được triển nở, chúng không những có khả năng giải thích các biến cố theo quan điểm thần học, mà còn có khả năng khám phá trong thử thách những lý do để tái thiết con đường sự sống của Kitô hữu và Hội thánh. Thực tế có không ít Giáo hội đã bắt đầu thực hiện những cuộc gặp gỡ và đưa ra những tiến trình ít nhiều mang hình thức thỉnh ý dân Chúa. Đây là lý do để hy vọng, tràn trề hy vọng. Ở đâu có dấu ấn của phong cách hiệp hành, ở đó cảm thức về Hội thánh triển nở, và sự tham gia của tất cả mọi người đem lại cho đời sống Hội thánh một sức năng động mới. Ước muốn trở nên những thành tố chính trong lòng Giáo hội từ phía giới trẻ và yêu cầu đánh giá đúng hơn về vai trò phụ nữ, cũng như để họ có không gian tham gia vào sứ vụ của Giáo hội, vốn đã được các Thượng Hội đồng 2018 và 2019 lưu ý, đều đã được xác nhận. Cũng theo hướng này, mới đây đã có việc thiết lập thừa tác vụ Giáo lý viên cho giáo dân cũng như thừa tác vụ Đọc sách và Giúp lễ cho phụ nữ.
- Chúng ta không thể không biết đến những hoàn cảnh đa dạng của các cộng đồng Kitô giáo sinh sống tại những vùng khác nhau trên thế giới. Bên cạnh những quốc gia nơi Giáo hội tiếp nhận phần lớn dân số và là đại diện tham chiếu văn hóa cho toàn xã hội, còn có những quốc gia khác, ở đó người Công giáo là thiểu số; trong một số quốc gia đó, tín hữu Công giáo cùng với những Kitô hữu khác phải chịu những sự bách hại đôi khi rất tàn bạo, và nhiều khi phải tử đạo. Nếu, một đàng, não trạng thế tục hóa thống trị có xu hướng loại trừ tôn giáo khỏi không gian công cộng, thì đàng khác, chủ nghĩa cực đoan tôn giáo vốn không tôn trọng tự do của những người khác, lại nuôi dưỡng những hình thức bất bao dung và bạo lực, cũng có thể thấy những hình thức này nơi cộng đồng Kitô giáo và trong những mối tương quan của cộng đồng này với xã hội. Không hiếm khi những Kitô hữu có các thái độ y như thế, cũng xúi giục chia rẽ và chống đối, ngay cả trong Giáo hội. Cũng phải để ý đến cách thức trong đó những chia rẽ len lỏi khắp xã hội, dội lại trong Giáo hội và trong những tương quan của Giáo hội với xã hội, là những chia rẽ gây ra bởi những lý do sắc tộc, chủng tộc, giai cấp hoặc các hình thức phân tầng xã hội khác hoặc bạo lực văn hóa và cơ cấu. Những cảnh trạng này tác động sâu xa đến ý nghĩa của diễn ngữ “cùng nhau cất bướchành trình” và những khả năng cụ thể thực hiện điều này.
- Trong bối cảnh này, hiệp hành được coi là con đường chính dành cho Hội thánh, vốn được kêu gọi canh tân dưới tác động của Chúa Thánh Thần và nhờ lắng nghe Lời Chúa. Khả năng hình dung ra một tương lai khác cho Giáo hội và cho các định chế của Giáo hội xứng tầm sứ vụ mà Giáo hội nhận lãnh, tùy thuộc phần lớn vào quyết định khởi động những tiến trình lắng nghe, đối thoại và biện phân cộng đồng, trong đó tất cả và mỗi người đều có thể tham gia và góp phần. Đồng thời, sự chọn lựa “cùng nhau cất bước hành trình” là một dấu hiệu mang tính tiên tri đối với gia đình nhân loại, đang cần một dự án chung có khả năng mưu cầu thiện hảo cho tất cả mọi người. Một Hội thánh có khả năng hiệp thông, có tình huynh đệ, có sự tham gia và bổ trợ, trung thành với những gì Hội thánh công bố, sẽ có thể đến bên người nghèo và người bé mọn cũng như cất lên tiếng nói thay cho họ. Để “cùng nhau cất bước hành trình”, chúng ta cần để cho Chúa Thánh Thần uốn nắn, nhờ đó có được tinh thần hiệp hành thực sự, bằng cách can đảm và tự do dấn bước vào tiến trình hoán cải vốn là điều thiết yếu cho “cuộc đổi mới liên tục mà [Giáo hội] luôn cần đến bao lâu Giáo hội còn là một định chế nhân loại ở trần gian này” (UR, 6; x.EG, 26).
II. MỘT HỘI THÁNH HIỆP HÀNH TỪ NỀN TẢNG
- “Con đường hiệp hành này là chính con đường Thiên Chúa mong đợi nơi Hội thánh của thiên niên kỷ thứ ba. Điều Chúa yêu cầu chúng ta, theo một nghĩa nào đó, hoàn toàn đã bao hàm trong chính hạn từ ‘Synod’”[8], vốn “là một từ cổ kính trong Truyền thống của Giáo hội, ý nghĩa của nó được rút ra từ những nội dung sâu xa nhất của Mạc khải”[9]. Chính “Chúa Giêsu tự giới thiệu Ngài là ‘con đường, sự thật và sự sống’ (Ga 14, 6)” và “các kitô hữu, những người đi theo Ngài, ban đầu được gọi là ‘những môn đệ của Con Đường đó’ (xCv 9, 2; 19, 9.23; 22,4; 24, 14.22)”.[10] Trong viễn tượng này, tính hiệp hành không chỉ là việc cử hành các cuộc gặp gỡ trong Giáo hội và các cuộc hội họp của giám mục, hay chỉ là vấn đề quản trị nội bộ của Giáo hội; hiệp hành còn “chỉ phương cách sống và hành động (modus vivendi et operandi) đặc trưng của Giáo hội, dân Thiên Chúa, vốn biểu lộ và thực hiện cách cụ thể bản chất hiệp thông của mình khi mọi thành viên của Giáo hội đồng hành cùng nhau, tập hợp lại trong đại hội và cùng tham gia tích cực vào sứ vụ phúc âm hóa của Giáo hội”.[11] Như thế, các trụ cột của một Hội thánh hiệp hành, như tiêu đề của Thượng Hội đồng đề ra thì nối kết với nhau: hiệp thông, tham gia và sứ vụ. Trong chương này, chúng ta sẽ giải thích ngắn gọn một số tham chiếu thần học cốt yếu làm nền tảng cho quan điểm đó.
- Trong thiên niên kỷ thứ nhất, “cùng nhau cất bước hành trình”, vốn có nghĩa là thực hiện hiệp hành, là cách thức hành động thông thường của Giáo hội – được hiểu như “Dân được tập hợp lại trong sự hiệp nhất của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”[12]. Đối lập với những người phân rẽ nhiệm thể Giáo hội, các Giáo phụ đã nêu lên sự hiệp thông của các Giáo hội khắp đó đây trên thế giới, điều mà Thánh Augustinô gọi là “concordissima fidei conspiratio”[13]nghĩa là “sự đồng tâm nhất trí trong đức tin của tất cả những người đã chịu phép Rửa”. Đây chính là nguồn cội của việc thực hành rộng rãi tính hiệp hành ở mọi cấp độ của Hội thánh – địa phương, giáo tỉnh và hoàn vũ – mà Công đồng Chung là sự thể hiện rõ nét nhất của nó. Trong viễn cảnh Hội thánh này, được gợi hứng bởi nguyên tắc mọi người được tham gia vào sinh hoạt của Giáo hội, Thánh Gioan Kim khẩu dám nói rằng: “Hội thánh và Synod là hai từ đồng nghĩa”.[14] Ngay cả trong thiên niên kỷ thứ hai, khi Giáo hội nhấn mạnh hơn vào chức năng phẩm trật, cách thức tiến hành này vẫn không bị mai một: nếu, ở thời Trung cổ và ở thời Cận đại, bên cạnh việc tiến hành các Công đồng Chung, việc tiến hành các Công nghị giáo phận và giáo tỉnh cũng đã được chứng thực rõ ràng, thì khi cần phải xác định những chân lý phải tin, các vị giáo hoàng đều mong muốn tham khảo ý kiến các giám mục để biết đức tin của toàn thể Hội thánh, nại đến thế giá của cảm thức đức tin (sensus fidei) của toàn thể dân Chúa, vốn “không thể sai lầm khi tin” (infallibile in credendo) (EG, 119).
- Công đồng Vaticanô II, vốn gắn bó với truyền thống năng động này, nhấn mạnh rằng “Thiên Chúa muốn thánh hoá và cứu độ con người không như những cá nhân riêng rẽ không chút liên đới với nhau, nhưng Ngài muốn làm cho họ thành một dân tộc để họ nhận biết Ngài trong chân lý và phụng sự Ngài trong thánh thiện” (LG, 9). Các thành viên của dân Chúa hợp nhất bằng phép Thanh tẩy và “mặc dù theo ý Đức Kitô, một số người được đặt làm thầy dạy, làm người phân phát các mầu nhiệm, và làm mục tử, vì lợi ích của những người khác, nhưng tất cả mọi người đều thực sự bình đẳng về phẩm giá và về hoạt động chung của toàn thể các tín hữu, trong việc xây dựng thân mình Đức Kitô” (LG, 32). Do đó, tất cả những người đã chịu phép Thanh tẩy, những người tham gia vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương đế của Đức Kitô, “khi thi hành các đặc sủng đa dạng và phong phú Chúa ban cho theo ơn gọi và tác vụ của họ”[15], đều là những chủ thể tích cực loan báo Tin Mừng, trong tư cách cá nhân cũng như với tư cách toàn thể dân Chúa.
- Công đồng nhấn mạnh cách thế qua đó, nhờ được xức dầu Thánh Thần khi chịu phép Rửa, toàn thể các tín hữu “không thể sai lầm trong đức tin, họ biểu lộ thuộc tính đặc biệt này qua cảm thức siêu nhiên về đức tin của toàn thể dân Chúa, khi ‘từ các giám mục cho đến những người bé mọn nhất trong các tín hữu’ đều đồng thuận về những điều liên quan đến đức tin và phong hóa” (LG, 12). Chính Chúa Thánh Thần hướng dẫn các tín hữu “tới sự thật toàn vẹn” (Ga 16,13). Nhờ tác động của Ngài, “truyền thống phát xuất từ các Tông đồ được tiếp nối trong Giáo hội”, để dân Thiên Chúa có thể lớn lên vì “các sự việc và lời nói truyền lại được hiểu biết thấu đáo hơn, hoặc nhờ sự chiêm niệm và học hỏi của những tín hữu đã luôn suy tưởng các điều ấy trong lòng (x. Lc 2,19.51), hoặc nhờ sự thông hiểu về những cảm nghiệm thiêng liêng, hoặc nhờ sự giảng dạy của những người đã lãnh nhận cách chắc chắn đoàn sủng về chân lý cùng với việc kế vị các Tông đồ trong chức giám mục” (DV 8). Quả thực, dân Chúa, được các mục tử tập hợp lại, gắn bó với kho tàng thánh thiêng Lời Chúa được ủy thác cho Hội thánh, kiên trì không ngừng trong giáo huấn của các Tông đồ, trong tình hiệp thông huynh đệ, trong việc bẻ bánh và trong lời cầu nguyện, “đến nỗi có sự đồng tâm nhất trí lạ lùng giữa các mục tử và tín hữu đối với việc gìn giữ, thực hành và tuyên xưng đức tin đã được truyền lại” (DV, 10).
- Các mục tử, được Thiên Chúa cắt đặt như “những người bảo vệ, giải thích và chứng nhân đích thực cho đức tin của toàn thể Hội thánh”[16], nên không sợ lắng nghe đoàn chiên được giao phó cho mình. Việc thỉnh ý dân Chúa không hàm ý là Hội thánh tiếp thu những trào lưu dân chủ dựa trên nguyên tắc đa số, bởi lẽ lý do của việc tham gia vào mọi tiến trình hiệp hành là niềm khao khát được chia sẻ sứ vụ loan báo Tin Mừng, chứ không phải là những xung đột lợi ích. Nói khác đi, đây là một tiến trình mang tính Hội thánh vốn chỉ có thể được thực hiện “giữa lòng một cộng đồng có cấu trúc phẩm trật”[17]. Chính trong mối liên hệ tích cực giữa cảm thức đức tin của dân Chúa và chức năng giáo huấn của các mục tử mà sự đồng tâm nhất trí trong cùng một đức tin của toàn thể Hội thánh được thể hiện. Mọi tiến trình hiệp hành, trong đó các giám mục được mời gọi phân định những gì Chúa Thánh Linh nói với Hội thánh, không phải chỉ có các ngài đơn độc, nhưng bằng cách lắng nghe dân Chúa vốn “cũng tham dự vào chức vụ ngôn sứ của Đức Kitô” (LG, 12), đều là hình thức hiển nhiên của việc “cùng nhau cất bước hành trình”, nhờ đó Hội thánh lớn mạnh. Thánh Biển Đức lưu ý rằng: “Chúa thường mạc khải con đường khôn ngoan nhất phải theo”[18]cho những ai không nắm giữ chức vụ quan trọng trong cộng đoàn (trong trường hợp này, là người trẻ nhất). Như vậy, các giám mục nên quan tâm tiếp cận với hết mọi người, để trong lúc tuần tự thực hiện tiến trình hiệp hành, điều Thánh Phaolô Tông đồ khuyến cáo các cộng đoàn được thể hiện: “Anh em đừng dập tắt Thần Khí. Chớ khinh thường ơn nói tiên tri. Hãy cân nhắc mọi sự: điều gì tốt thì giữ lấy” (1 Tx 5,19-21).
- Ý nghĩa cuộc hành trình mà tất cả chúng ta được mời gọi thực hiện, trước hết, chính là ý nghĩa hành trình tái khám phá khuôn mặt và hình thức của một Hội thánh hiệp hành, trong đó “mỗi người đều có điều gì đó để học biết. Giáo hữu, giám mục đoàn, giám mục Rôma: tất cả đều lắng nghe nhau, và tất cả đều lắng nghe Chúa Thánh Thần, ‘Thần Khí sự thật’ (Ga 14,17), để biết ‘điều Thần Khí nói với các Hội Thánh’ (Kh 2,7)”[19]Vị Giám mục Rôma, như nguyên lý và nền tảng sự hiệp nhất Giáo hội, yêu cầu tất cả các giám mục và tất cả các Giáo hội địa phương – trong và từ Giáo hội địa phương này mà có một Giáo hội Công giáo duy nhất (x. LG, 23) – tự tin và can đảm dấn bước trên con đường hiệp hành. Trong hành trình “cùng nhau cất bước hành trình” này, chúng ta cầu xin Chúa Thánh Thần giúp chúng ta khám phá ra rằng việc hiệp thông, vốn kết hiệp các ân ban, đặc sủng, và tác vụ khác nhau lại, là để thi hành sứ vụ: Hội thánh hiệp hành là Hội thánh “ra đi”, Hội thánh truyền giáo là “Hội thánh luôn mở rộng cửa” (EG, 46). Điều này bao hàm lời mời gọi làm sâu sắc thêm mối tương quan với các Giáo hội và các cộng đoàn Kitô hữu khác mà chúng ta được liên kết bởi một phép Rửa duy nhất. Đàng khác, viễn tượng “cùng nhau cất bước hành trình” thì rộng rãi hơn và bao trùm toàn thể nhân loại, trong đó chúng ta cùng chia sẻ “vui mừng và hy vọng, u sầu và lo âu của con người ngày nay” (GS, 1). Hội thánh mang tính hiệp hành là dấu chỉ tiên tri, nhất là cho cộng đồng các quốc gia không có khả năng đề xuất một dự án chung cho phép theo đuổi thiện ích của mọi người: ngày nay đối với Hội thánh, thực hành tính hiệp hành là phương thức hiển nhiên nhất để trở thành “bí tích phổ quát của ơn cứu độ” (LG, 48), “dấu chỉ và phương tiện hiệp thông mật thiết với Thiên Chúa và hợp nhất với toàn thể nhân loại” (LG, 1).
III. LẮNG NGHE KINH THÁNH
- Thần Khí Thiên Chúa soi sáng và ban sức sống cho việc “cùng nhau cất bước hành trình” của các Hội thánh cũng chính là Thần Khí hoạt động trong sứ vụ của Đức Giêsu, được hứa ban cho các Tông đồ và các thế hệ môn đệ hằng biết lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành. Theo lời hứa của Chúa Giêsu, Thần Khí không chỉ xác nhận tính liên tục của Tin Mừng Chúa Giêsu, mà còn làm sáng tỏ những chiều sâu luôn mới mẻ trong mạc khải của Ngài và soi dẫn các quyết định cần thiết để trợ lực Hội thánh trên cuộc hành trình này (x. Ga 14,25-26; 15,26-27; 16,12-15). Do đó, thật thích đáng khi tiến trình xây dựng Hội thánh hiệp hành được truyền cảm hứng bởi hai “hình ảnh” trong Kinh Thánh. Hình ảnh đầu tiên hiện lên rõ nét khi diễn ra “khung cảnh cộng đồng” vốn luôn gắn liền với hành trình loan báo Tin Mừng; còn hình ảnh kia lại đề cập đến kinh nghiệm về Chúa Thánh Thần, nhờ đó Phêrô và cộng đồng sơ khởi nhận ra được nguy cơ của việc đặt ra những hạn chế phi lý trong việc chia sẻ đức tin. Kinh nghiệm hiệp hành của việc cùng nhau cất bước hành trình, khi theo Chúa Giêsu và vâng phục Thần Khí, sẽ có thể nhận được nguồn cảm hứng mạnh mẽ qua việc suy niệm hai thời điểm này của mạc khải.
Chúa Giêsu, đám đông, các Tông đồ
- Theo cách thức Chúa Giêsu vẫn thường tự mạc khải như toàn bộ Tin Mừng cho biết, ta thấy hiện ra một khung cảnh độc đáo trong cấu trúc cơ bản của mạc khải, khi Chúa Giêsu loan báo sự xuất hiện của Nước Thiên Chúa. Khung cảnh này chủ yếu bao gồm ba tuyến nhân vật (và một tuyến nhân vật thêm vào). Tuyến nhân vật trước tiên, đương nhiên là Chúa Giêsu, nhân vật chủ đạo tuyệt đối có vai trò khởi xướng, Ngài rao giảng lời và tỏ lộ những dấu chỉ cho thấy Nước Thiên Chúa đang đến, “không thiên vị người nào” (x. Cv 10, 34). Bằng nhiều cách, Chúa Giêsu đặc biệt chú ý đến những người “xa cách” Thiên Chúa và những người bị cộng đồng “loại trừ” (người tội lỗi và người nghèo, nói theo ngôn ngữ Tin Mừng). Bằng lời nói và hành động của mình, nhân danh Chúa Cha và trong quyền năng Chúa Thánh Thần, Ngài ban ơn giải thoát khỏi sự dữ và ơn hoán cải mang lại niềm hy vọng. Mặc dầu những lời mời gọi của Chúa và những đáp trả của con người rất đa dạng, nhưng ta thấy có đặc điểm chung này: đức tin luôn nâng cao giá trị con người. Thật vậy, lời cầu xin của họ được lắng nghe, những khó khăn của họ nhận được sự trợ giúp, tấm lòng quảng đại sẵn sàng của họ được đề cao, phẩm giá của họ được Thiên Chúa nhìn nhận và được cộng đồng phục hồi.
- Trên thực tế, người ta sẽ không thể hiểu được công cuộc loan báo Tin Mừng và sứ điệp cứu độ nếu Chúa Giêsu không kiên trì mở ra những cuộc đối thoại với lượng thính giả đông đảo nhất có thể, mà các sách Tin Mừng gọi là đám đông, nghĩa là toàn bộ những ai đi theo Ngài và đôi khi, ngay cả đeo đuổi Ngài với hy vọng được một dấu lạ và một lời cứu độ: đó chính là tuyến nhân vật thứ hai của khung cảnh mạc khải. Tin Mừng không chỉ được công bố cho một số ít người được soi sáng hoặc tuyển chọn. Những người đối thoại với Chúa là “dân chúng” trong đời thường, là “bất cứ ai” mang thân phận con người, được Ngài cho trực tiếp gặp gỡ ân phúc của Thiên Chúa và lời gọi đến hưởng ơn cứu độ. Bằng cung cách khiến cho những người chứng kiến phải ngạc nhiên và đôi khi công phẫn, Chúa Giêsu chấp nhận đối thoại với hết những ai thuộc về đám đông đó: Ngài lắng nghe lời phản bác tha thiết của người phụ nữ Canaan (x. Mt 15,21-28), không chấp nhận bị loại trừ vì không được Chúa thi ân; Ngài chẳng ngại bắt chuyện với người phụ nữ Samari (x. Ga 4,1-42), bất chấp thân phận của nàng vốn bị coi là chẳng ra gì về mặt xã hội cũng như tôn giáo; Ngài thôi thúc người mù từ bẩm sinh biểu lộ hành vi đức tin cách tự do và với lòng biết ơn (x. Ga 9) trong khi tôn giáo chính thức đã kể anh thuộc hạng người vô phúc.
- Một số người theo Chúa Giêsu cách minh nhiên hơn, sống đúng ý nghĩa của từ “môn đệ”, trong khi những người khác lại được khuyên trở về với cuộc sống đời thường: tuy nhiên, tất cả đều làm chứng rằng chính sức mạnh đức tin đã cứu chữa họ (x. Mt 15, 28). Trong số những người theo Chúa Giêsu, nổi bật nhất là các Tông đồ, những người ngay từ đầu Ngài đã đích thân kêu gọi, rồi giao nhiệm vụ làm trung gian đầy uy thế giữa đám đông dân chúng với mạc khải và sự xuất hiện của Nước Thiên Chúa. Tuyến nhân vật thứ ba xuất hiện ở khung cảnh này không nhờ việc chữa lành hay hoán cải, nhưng vì đáp ứng lời kêu gọi của Chúa Giêsu. Việc tuyển chọn các Tông đồ không phải là đặc ân phong ban một chức quyền với lãnh địa riêng có tính phân tán mà là ân sủng của một thừa tác vụ ban phúc lành và tình huynh đệ có tính quy tụ. Nhờ ân huệ Thánh Thần của Chúa Phục Sinh, họ sẽ bảo toàn địa vị của Chúa Giêsu mà không thay thế Người: không đặt các lăng kính để lọc bớt sự hiện diện của Người nhưng làm cho việc gặp gỡ Người được trở nên dễ dàng.
- Chúa Giêsu, đám đông đủ mọi hạng người, các Tông đồ: đây là hình ảnh và là mầu nhiệm mà Hội thánh phải không ngừng chiêm ngắm và đào sâu để có thể trở nên chính mình ngày một hơn. Không một ai trong ba tuyến nhân vật này có thể rời khỏi khung cảnh mạc khải này. Nếu Đức Giêsu vắng mặt và ai khác thế chỗ, Giáo hội sẽ trở thành một thứ giao kèo giữa các Tông đồ và đám đông, để rồi cuộc đối thoại của họ sẽ kết thúc bằng những âm mưu của trò chơi chính trị. Nếu không có các Tông đồ, là những người được Chúa Giêsu trao quyền và Chúa Thánh Thần chỉ dạy, thì mối tương quan với chân lý Tin Mừng sẽ bị phá vỡ và đám đông sẽ chỉ còn thấy Chúa Giêsu như một huyền thoại hoặc như một ý thức hệ, cho dù họ có đón nhận hay bác bỏ Ngài. Nếu không có đám đông, mối tương quan giữa các Tông đồ và Chúa Giêsu sẽ suy thoái thành một thứ tôn giáo mang hình thức giáo phái và tự quy ngã, đồng thời việc loan báo Tin Mừng sẽ mất đi ánh sáng của nó, vốn chỉ đến từ Thiên Chúa, Đấng tự tỏ mình cho nhân loại và từng người để ban ơn cứu độ cho họ.
- Cũng còn một tuyến nhân vật phản diện “thêm vào”, mang đến khung cảnh này sự chia rẽ quỷ quyệt giữa ba tuyến nhân vật kia. Trước cảnh gây vấp ngã của thập giá một số môn đệ bỏ đi, còn đám đông thì nay thế này mai thế khác. Âm mưu gây chia rẽ – và do đó cản trở con đường chung – cũng bộc lộ dưới những hình thức nghiêm nhặt của tôn giáo, bó buộc của luân lý còn gắt gao hơn cả lệnh truyền của Chúa Giêsu, hoặc dưới những hình thức quyến rũ của một thứ khôn ngoan chính trị thế gian, tự cho là hữu hiệu hơn sự biện phân các thần trí. Để thoát khỏi các mưu chước lừa dối của “tuyến nhân vật thứ tư” này, cần phải thường xuyên hoán cải. Biểu trưng cho vấn đề này là câu chuyện về viên đại đội trưởng Cornêliô (x. Cv 10), xảy ra trước “Công đồng” Giêrusalem (x. Cv 15) vốn là điểm tham chiếu chủ yếu cho Hội thánh hiệp hành.
Một động năng kép của sự hoán cải: Phêrô và Cornêliô (Cv 10)
- Đoạn này trước hết tường thuật lại việc hoán cải của Cornêliô, thậm chí ông còn nhận được một loại “truyền tin”. Cornêliô là người ngoại giáo, dường như là dân Rôma, một viên bách quản (sĩ quan cấp bậc thấp) của đội quân chiếm đóng, vốn hay sử dụng bạo lực và lạm quyền. Thế mà ông lại chuyên cần cầu nguyện và hay bố thí, nghĩa là vun trồng mối tương quan với Thiên Chúa và chăm lo cho người chung quanh. Một thiên sứ bất ngờ đã đến tư gia, gọi đích danh ông và thúc giục ông sai phái – động từ chỉ sứ vụ! – gia nhân của mình tới Giaphô để gọi mời – động từ chỉ ơn gọi! – Tông đồ Phêrô. Câu chuyện sau đó trở thành trình thuật về việc hoán cải của Tông đồ này. Chính ngày hôm đó, ông Phêrô đã nhận được một thị kiến: có tiếng nói ra lệnh cho ông giết và ăn các con vật, trong đó có những loài bị coi là không thanh sạch. Phêrô trả lời dứt khoát: “Lạy Chúa, không thể được!” (Cv 10, 14). Ông nhận ra chính Chúa đang nói với mình, nhưng ông vẫn kiên quyết từ khước, vì lệnh này phá bỏ những điều luật của Torah, vốn là phần cốt yếu đối với căn tính tôn giáo của ông, đồng thời thể hiện cách hiểu về sự tuyển chọn tạo sự khác biệt, hàm ý phải tách khỏi và loại trừ các dân tộc khác.
- Trong khi Tông đồ Phêrô đang hết sức bối rối và tự hỏi những điều vừa xảy ra có ý nghĩa gì, thì gia nhân của Cornêliô vừa kịp đến, Thần Khí cho Phêrô biết họ là những kẻ chính Ngài đã sai đến. Câu Phêrô trả lời họ làm gợi nhớ lời của Chúa Giêsu ở Vườn Dầu: “Tôi đây chính là người các ông đang tìm” (Cv 10, 21). Đây là một cuộc hoán cải thực sự, một cuộc vượt qua đau đớn nhưng mang lại vô vàn hoa trái, ra khỏi những phạm trù văn hóa và tôn giáo của bản thân. Tông đồ Phêrô chấp nhận ăn chung với dân ngoại thứ thức ăn mà trước đây ngài đã luôn coi là bị cấm, vì đã nhận ra đó một phương tiện sống và hiệp thông với Thiên Chúa và tha nhân. Chính trong sự gặp gỡ tha nhân, tiếp đón họ, đồng hành với họ, bước vào nhà họ mà ngài nhận ra ý nghĩa của thị kiến của mình: không có người nào là bất xứng dưới mắt Thiên Chúa, và sự khác biệt do được tuyển chọn không hàm ý một sự ưu tiên mang tính loại trừ, nhưng là việc phục vụ và trở nên chứng tá ở tầm mức toàn thế giới.
- Cornêliô và Tông đồ Phêrô, cả hai cùng lôi kéo người khác vào hành trình hoán cải của mình, làm họ trở thành bạn đồng hành với mình. Hoạt động tông đồ hoàn thành thánh ý Thiên Chúa bằng cách tạo ra những cộng đồng, phá bỏ các hàng rào và thúc đẩy các cuộc gặp gỡ. Lời nói giữ vai trò trung tâm trong cuộc gặp gỡ giữa hai nhân vật chính. Cornêliô khởi đầu bằng cách chia sẻ kinh nghiệm mình đã trải qua. Tông đồ Phêrô lắng nghe ông và, đến lượt mình, lại lên tiếng để tường thuật lại những gì đã xảy ra cho mình, làm chứng sự gần gũi của Chúa, Đấng đến gặp gỡ từng người để giải thoát họ khỏi những gì cầm giữ họ trong sự dữ và làm băng hoại nhân tính họ (x. Cv 10, 38). Cung cách thông đạt này cũng tương tự cung cách Tông đồ Phêrô dùng khi ở Giêrusalem, khi những tín hữu thuộc giới cắt bì trách cứ ông và tố cáo ông đã vi phạm những quy định truyền thống, là điều có vẻ họ hết sức lưu ý trong khi chẳng lưu tâm gì đến sự tuôn đổ của Thần Khí: “Ông đã vào nhà những kẻ không cắt bì và cùng ăn uống với họ!” (Cv 11, 3). Vào thời khắc xung đột đó, Tông đồ Phêrô kể lại những gì đã xảy đến với ông và những phản ứng hoang mang, bối rối và chống đối của ông. Chính điều này đã giúp cho những người đang đối thoại với ông, thoạt đầu rất hung hăng và cố chấp, chịu lắng nghe và đón nhận những gì đã xảy ra. Ở đây Kinh Thánh sẽ góp phần giải thích ý nghĩa của sự kiện này, cũng như sau đó ở “Công đồng” Giêrusalem, qua một quá trình biện phân mà điều cốt yếu là cùng nhau lắng nghe Chúa Thánh Thần.
IV. HIỆP HÀNH BẰNG HÀNH ĐỘNG: NHỮNG NẺO ĐƯỜNG THỈNH Ý DÂN CHÚA
- Nhờ Lời Chúa soi dẫn và dựa vào Truyền thống, con đường hiệp hành bén rễ sâu vào đời sống cụ thể của dân Chúa. Trên thực tế, nó cho thấy một đặc điểm và cũng là một nguồn lực lạ thường: chính tính hiệp hành vừa là mục đích vừa là phương pháp của con đường hiệp hành này. Nói cách khác, nó thiết lập một loại công trường hoặc kinh nghiệm dò đường để có thể bắt đầu thu hoạch ngay những hoa trái của sự năng động mà việc hoán cải tiệm tiến theo hướng hiệp hành mang lại cho cộng đoàn Kitô hữu. Mặt khác, con đường này chỉ có thể cậy dựa vào những kinh nghiệm hiệp hành đã trải qua, ở những bình diện khác nhau trong Giáo hội và với những mức độ cảm xúc khác nhau: những điểm mạnh và thành tựu cũng như những giới hạn và khó khăn của các kinh nghiệm này mang lại những yếu tố có giá trị cho việc biện phân hướng đi để tiếp tục lên đường. Dĩ nhiên, ở đây, chúng ta muốn nói đến những kinh nghiệm do hành trình hiệp hành hiện tại mang lại, nhưng cũng muốn nói đến tất cả những kinh nghiệm trong đó các hình thức “cùng nhau cất bước hành trình” đã và đang được trải nghiệm trong đời sống hàng ngày, ngay cả khi thuật ngữ hiệp hành này không được biết đến hoặc không được sử dụng.
Câu hỏi căn bản
- Như đã đề cập ở phần đầu, dưới đây là câu hỏi căn bản hướng dẫn việc thỉnh ý dân Chúa:
Hội thánh hiệp hành “cùng nhau cất bước hành trình”, khi loan báo Tin Mừng: Việc “cùng nhau cất bước hành trình” hiện đang diễn ra thế nào trong Giáo hội địa phương của anh chị em? Để Hội thánh được lớn lên trong việc “cùng nhau cất bước hành trình”, Thần Khí đang mời gọi chúng ta thực hiện những bước đi nào?
Để trả lời, anh chị em được mời gọi:
- a) hãy tự vấn: câu hỏi căn bản trên gợi nhớ những kinh nghiệm nào trong Giáo hội địa phương của anh chị em;
- b) hãy đọc lại ý nghĩa sâu xa của những kinh nghiệm này: Chúng đã gợi lên niềm vui nào? Chúng gặp những khó khăn và trở ngại nào? Chúng phơi trần những thương tích nào? Có thể học được điều gì từ các kinh nghiệm này?
- c) hãy thu thập các thành quả để chia sẻ: Tiếng Chúa Thánh Thần vang dội nơi đâu qua những kinh nghiệm này? Người đang yêu cầu chúng ta điều gì? Đâu là những điểm phải khẳng định, những viễn cảnh nên thay đổi, các bước cần thực hiện? Chúng ta ghi nhận được sự đồng thuận ở những nơi nào? Những nẻo đường nào đang mở ra cho Giáo hội địa phương của chúng ta?
Các biểu hiện khác nhau của tính hiệp hành
- Trong cầu nguyện, suy tư và chia sẻ được câu hỏi căn bản gợi ý, nên ghi nhớ ba bình diện, trên đó tính hiệp hành được biểu hiện như một “chiều kích cấu thành Giáo hội”[20].
– Bình diện phong cách, với phong cách này hằng ngày Giáo hội sống và làm việc, qua đó thể hiện bản chất của mình là dân Chúa đang cùng đồng hành và tập họp trong cộng đoàn do Chúa Giêsu quy tụ nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần để loan báo Tin Mừng. Phong cách này được thấy rõ qua “việc cộng đoàn lắng nghe Lời Chúa và cử hành Bí tích Thánh Thể, tình hiệp thông huynh đệ, tinh thần đồng trách nhiệm và sự tham gia của toàn thể dân Chúa trong đời sống và sứ vụ, trên mọi cấp độ và sự khác biệt giữa các thừa tác vụ và các vai trò”[21];
– Bình diện những cơ cấu của Giáo hội và những quy trình trong Giáo hội, cũng được xác định theo quan điểm thần học và giáo luật, trong đó bản chất hiệp hành của Giáo hội được diễn tả theo hướng định chế ở các cấp độ địa phương, vùng miền và hoàn vũ;
– Bình diện những diễn trình và sự kiện hiệp hành trong đó Giáo hội được triệu tập bởi vị hữu trách có thẩm quyền, theo những thủ tục cụ thể do kỷ luật của Giáo hội xác định.
Mặc dù xét về quan điểm luận lý, chúng có khác biệt, nhưng ba bình diện này liên kết với nhau và phải có sự nhất quán với nhau, nếu không sẽ gây ra và lan truyền những thứ phản chứng khiến cho sự khả tín của Giáo hội bị xói mòn. Trên thực tế, nếu các cơ cấu và các tiến trình trong Giáo hội không mang phong cách hiệp hành, thì phong cách này dễ dàng biến chất từ bình diện ý định và ước muốn thành bình diện khoa trương, trong khi nếu các diễn trình và sự kiện không được sinh động hóa bởi một phong cách thích hợp, thì chúng sẽ hóa ra những thủ tục trống rỗng.
- Hơn nữa, khi đọc lại kinh nghiệm, cần ghi nhớ rằng có thể hiểu việc “cùng nhau cất bước hành trình” từ hai viễn tượng khác nhau vốn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Viễn tượng thứ nhất là nhìn vào đời sống nội bộ của Giáo hội địa phương và mối tương quan giữa các thành phần tạo thành Giáo hội này (trước hết và trên hết là giữa các tín hữu và các mục tử, đồng thời qua những tổ chức và hội đoàn hiện hành được giáo luật quy định, bao gồm cả công nghị giáo phận) và các cộng đồng (đặc biệt là cộng đồng giáo xứ) nơi có những tổ chức và hội đoàn này. Tiếp đến là nhìn đến các mối tương quan giữa các giám mục với Giám mục Rôma, đồng thời qua các cơ cấu trung gian mang tính hiệp hành (các Công nghị của các Giáo hội Đông phương và Tổng giáo miền chính, các Hội đồng Giáo chủ và Đại hội Giáo phẩm của các Giáo hội tự trị [sui iuris], các Hội đồng giám mục, với các biểu thức quốc gia, quốc tế và lục địa của họ). Sau đó mở rộng đến những cách thức mà mỗi Giáo hội đặc thù dung hợp nơi mình những đóng góp từ các hình thức khác nhau của đời sống đan sĩ, tu sĩ, và đời sống thánh hiến, của các hiệp hội và phong trào giáo dân, của nhiều loại cơ sở của Giáo hội (trường học, bệnh viện, trường đại học, các cơ sở, các tổ chức từ thiện và trợ giúp, v.v…). Cuối cùng, viễn tượng này cũng bao gồm các mối tương quan và sáng kiến chung với các anh chị em thuộc các hệ phái Kitô giáo khác mà chúng ta chia sẻ với họ cùng một hồng ân phép Rửa.
- Viễn tượng thứ hai là xem xét cách thức dân Chúa cùng đồng hành với toàn thể gia đình nhân loại. Vì vậy, chúng ta sẽ tập trung quan sát tình trạng các mối tương quan, đối thoại và các sáng kiến chung có thể có với tín đồ các tôn giáo bạn, với những người xa rời đức tin, cũng như với các môi trường và nhóm xã hội cụ thể, với các thể chế xã hội (chính trị, văn hóa, kinh tế, tài chính, lao động, công đoàn và hiệp hội doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ và xã hội dân sự, các phong trào quần chúng, các nhóm thiểu số, người nghèo và người bị loại trừ, v.v…).
Mười chủ đề cốt lõi cần được khám phá
- Để làm nổi bật các kinh nghiệm và để việc thỉnh ý nhận được nhiều đóng góp hơn, chúng tôi trình bày dưới đây mười chủ đề chính nêu rõ các khía cạnh khác nhau của việc “sống tinh thần hiệp hành”. Chúng nên được thích ứng với sự đa dạng của các bối cảnh địa phương và đôi khi, được phối hợp, giải thích, đơn giản hóa và đào sâu, với sự chú ý đặc biệt đến những người gặp khó khăn trong việc tham gia và phản hồi: Sổ tay đi kèm với Tài liệu Chuẩn bị này cung cấp các công cụ, lộ trình và gợi ý để các nhóm câu hỏi khác nhau có thể mang lại những ý tưởng cụ thể cho những khoảnh khắc cầu nguyện, huấn luyện, suy tư và trao đổi.
- CÁC BẠN ĐỒNG HÀNH
Trong Giáo hội và xã hội, chúng ta sát cánh bên nhau trên cùng một nẻo đường. Trong Giáo hội địa phương của anh chị em, ai là những người “cùng nhau cất bước hành trình”? Khi chúng ta nói: “Giáo hội của chúng ta”, Giáo hội này bao gồm những thành phần nào? Ai yêu cầu chúng ta đồng hành với nhau? Ai là những người đồng hành trên đường, kể cả những người ở bên ngoài vành đai Giáo hội? Những người hoặc nhóm nào hiển nhiên hay trên thực tế bị bỏ lại bên lề?
- LẮNG NGHE
Lắng nghe là bước đầu tiên, đòi hỏi khối óc và con tim rộng mở, không thành kiến. Giáo hội đặc thù của chúng ta “cần lắng nghe” ai? Làm thế nào để thành phần giáo dân, đặc biệt là giới trẻ và phụ nữ, được lắng nghe? Làm thế nào để đón nhận sự đóng góp của những người nam và nữ thánh hiến? Đâu là chỗ để những nhóm thiểu số, những người bị loại bỏ và bị loại trừ cất lên tiếng nói của họ? Chúng ta có nhận ra những định kiến và khuôn mẫu cản trở chúng ta lắng nghe hay không? Bối cảnh xã hội và văn hóa trong đó chúng ta đang sống được chúng ta lắng nghe thế nào?
III. PHÁT BIỂU
Mọi người đều được mời gọi can đảm và mạnh dạn (parrhesia) lên tiếng, nghĩa là, phải bao gồm cả sự tự do, chân lý và bác ái. Làm thế nào để thúc đẩy trong cộng đồng và các tổ chức của nó một phong cách trao đổi tự do và đích thực, không giả dối và cơ hội chủ nghĩa? Và trong mối tương quan với xã hội mà chúng ta là thành phần? Khi nào và cách nào để chúng ta nói lên được những gì là quan trọng đối với chúng ta? Mối tương quan với hệ thống truyền thông (không chỉ truyền thông Công giáo) thì thế nào? Ai nói thay cho cộng đồng Kitô hữu, và họ được chọn ra sao?
- CỬ HÀNH
Chỉ có thể “cùng nhau cất bước hành trình” khi cộng đoàn lắng nghe Lời Chúa và cử hành Thánh Thể. Làm thế nào để việc cầu nguyện và cử hành phụng vụ gợi hứng và hướng dẫn chúng ta “cùng nhau cất bước hành trình”? Làm thế nào để những việc này truyền cảm hứng cho các quyết định quan trọng nhất? Các tín hữu được khích lệ ra sao để tích cực tham dự phụng vụ và thi hành chức năng thánh hóa? Đâu là chỗ dành cho việc thi hành các thừa tác vụ đọc sách và giúp lễ?
- ĐỒNG TRÁCH NHIỆM TRONG SỨ VỤ
Sự hiệp hành là để phục vụ sứ mạng của Hội thánh, mọi thành viên trong Hội thánh đều được mời gọi tham gia vào sứ mạng này. Vì tất cả chúng ta đều là môn đệ truyền giáo, mỗi người đã lãnh phép Rửa được kêu gọi trở thành chủ thể tích cực trong sứ vụ này như thế nào? Làm thế nào để cộng đồng hỗ trợ các thành viên của mình dấn thân phục vụ xã hội (công tác xã hội và hoạt động chính trị, nghiên cứu khoa học và giảng dạy, thúc đẩy công bằng xã hội, bảo vệ nhân quyền và chăm sóc ngôi nhà chung, v.v…)? Anh chị em giúp họ thế nào trong việc sống những dấn thân này theo đòi hỏi của sứ vụ? Sự biện phân các lựa chọn liên quan đến sứ mạng được thực hiện như thế nào và ai tham gia vào đó? Theo quan điểm của một chứng tá Kitô hữu đích thực, các truyền thống khác nhau mang phong cách hiệp hành, vốn tạo nên di sản của nhiều Giáo hội, đặc biệt là các Giáo hội Đông phương, được hội nhập và thích nghi như thế nào? Sự cộng tác diễn ra như thế nào trong các lãnh thổ có sự hiện diện của các Giáo hội tự trị [sui iuris] khác nhau?
- ĐỐI THOẠI TRONG GIÁO HỘI VÀ XÃ HỘI
Đối thoại là con đường kiên trì bao gồm cả những lúc im lặng và chấp nhận đau khổ, nhưng lại có khả năng thu thập kinh nghiệm của con người và các dân tộc. Đâu là nơi chốn và phương thức đối thoại trong Giáo hội địa phương của chúng ta? Những khác biệt về quan điểm, những xung đột, và những khó khăn được giải quyết như thế nào? Làm thế nào để thúc đẩy sự cộng tác với các giáo phận lân cận, với và giữa các dòng tu trong khu vực, với và giữa các hiệp hội và phong trào giáo dân, v.v…? Đối với các tín đồ của các tôn giáo khác và với những người ngoại đạo, chúng ta có những kinh nghiệm nào về đối thoại và dấn thân chia sẻ? Làm thế nào để giáo hội đối thoại với và học hỏi từ các bộ phận khác trong xã hội: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội dân sự, người nghèo…?
VII. VỚI CÁC HỆ PHÁI KITÔ GIÁO KHÁC
Cuộc đối thoại giữa những Kitô hữu thuộc các tín phái khác nhau, được liên kết bởi cùng một phép Rửa, có một vị trí đặc biệt trong hành trình hiệp hành. Chúng ta có những mối liên hệ nào với anh chị em của các tông phái Kitô giáo khác? Họ quan tâm đến lĩnh vực nào? Chúng ta đã từng rút ra được những thành quả nào từ việc “cùng nhau cất bước hành trình”? Có những khó khăn nào?
VIII. THẨM QUYỀN VÀ THAM GIA
Hội thánh hiệp hành là Hội thánh tham gia và đồng trách nhiệm. Làm thế nào để chúng ta xác định được mục tiêu phải theo đuổi, cách thức đạt được chúng và các bước cần thực hiện? Giáo hội địa phương của chúng ta hành xử quyền bính như thế nào? Cách làm việc theo nhóm và tinh thần đồng trách nhiệm được thực hiện ra sao? Các thừa tác vụ giáo dân và việc đảm nhận trách nhiệm của các tín hữu được thúc đẩy như thế nào? Các tổ chức hiệp hành hoạt động như thế nào ở cấp giáo hội địa phương? Chúng có phải là một kinh nghiệm hữu hiệu không?
- BIỆN PHÂN VÀ QUYẾT ĐỊNH
Theo phong cách hiệp hành, các quyết định có được qua việc biện phân, dựa trên sự đồng thuận xuất phát từ lòng vâng phục Thần Khí của cả cộng đoàn. Chúng ta cùng nhau biện phân và đưa ra quyết định bằng những thủ tục và phương pháp nào? Có thể cải thiện chúng như thế nào? Chúng ta thúc đẩy sự tham gia vào diễn trình đưa ra quyết định trong các cộng đồng có cơ cấu phẩm trật như thế nào? Làm thế nào để chúng ta nối kết giai đoạn thỉnh ý với giai đoạn thảo luận, diễn trình ra quyết định với thời điểm lấy quyết định? Chúng ta thúc đẩy tính minh bạch và trách nhiệm giải trình thế nào và bằng những công cụ nào?
- TỰ ĐÀO TẠO TRONG TIẾN TRÌNH HIỆP HÀNH
Linh đạo cùng nhau cất bước hành trình cần trở thành nguyên tắc giáo dục để huấn luyện con người nhân bản và con người Kitô hữu, con người của gia đình và con người của cộng đồng. Phải đào tạo ra sao, đặc biệt là những người gánh vác trách nhiệm trong cộng đồng Kitô hữu, để họ có thêm khả năng trong việc “cùng nhau cất bước hành trình”, lắng nghe nhau và tham gia đối thoại? Chúng ta đào tạo thế nào để giúp họ biện phân và thực thi quyền bính? Những công cụ nào giúp chúng ta nhận biết tính năng động của nền văn hóa đang bao trùm chúng ta và tác động của chúng đối với phong cách của Giáo hội chúng ta?
Đóng góp cho cuộc thỉnh ý
- Giai đoạn đầu tiên của hành trình hiệp hành nhằm thúc đẩy một diễn trình thỉnh ý rộng rãi để thu thập vô số các kinh nghiệm trong việc sống tinh thần hiệp hành, theo những cách trình bày và khía cạnh khác nhau của chúng, liên quan đến các mục tử và tín hữu của các Giáo hội đặc thù trên mọi bình diện khác nhau, thông qua những phương thế thích hợp nhất tùy theo thực tế địa phương: cuộc thỉnh ý, do giám mục điều phối, được triển khai đến “các linh mục, phó tế và giáo dân trong các Giáo hội [địa phương], hoặc theo tư cách cá nhân hoặc trong các hiệp hội, không bỏ qua sự đóng góp quý giá mà những người nam và nữ thánh hiến có thể cống hiến”(EC, số 7). Đặc biệt yêu cầu sự đóng góp của các tổ chức và hội đoàn hiện hành trong các Giáo hội [địa phương] nhất là của hội đồng linh mục và hội đồng mục vụ, từ sự đóng góp đó “có thể [thực sự] bắt đầu hình thành một Hội thánh hiệp hành”.[22]Sự đóng góp của các thực thể giáo hội khác mà Tài liệu Chuẩn bị sẽ được gửi đến, cũng như của những người muốn gửi trực tiếp ý kiến của mình sẽ có giá trị ngang nhau. Cuối cùng, điều quan trọng cơ bản là những người nghèo và người bị loại trừ cũng được cất lên tiếng nói của mình, chứ không chỉ những người có vai trò hoặc trách nhiệm nào đó trong các Giáo hội [địa phương].
- Bản tổng hợp mà mỗi Giáo hội đặc thù soạn thảo khi kết thúc công cuộc lắng nghe và biện phân này chính là sự đóng góp của mỗi Giáo hội [địa phương] cho diễn trình hiệp hành của Giáo hội hoàn vũ. Để các giai đoạn tiếp theo của tiến trình này được dễ dàng và bền vững hơn, điều quan trọng là phải cô đọng các thành quả của sự cầu nguyện và suy tư trong tối đa mười trang giấy. Nếu cần phải trình bày bối cảnh và giải thích chúng rõ hơn, có thể đính kèm các văn bản hỗ trợ hoặc bổ sung khác. Hãy nhớ rằng mục đích của Thượng Hội đồng, và do đó của cuộc thỉnh ý này, không nhằm tạo ra các tài liệu, mà là “để gieo mầm ước mơ, rút ra các lời tiên tri và thị kiến, cho phép hy vọng nảy nở, khơi dậy niềm tin, băng bó các vết thương, cùng nhau đan kết các mối tương quan, đánh thức bình minh hy vọng, học hỏi lẫn nhau và mang lại một khả năng sáng tạo giúp khai mở trí tuệ, sưởi ấm trái tim, tiếp thêm sức mạnh cho đôi tay”.[23]
Bản dịch của nhóm dịch thuật HĐGMVN
Tải tài liệu về tại đây: file PDF, file Word
Đọc thêm: Cẩm nang cho Thượng Hội đồng Giám mục về tính hiệp hành
[1] Sơ đồ các giai đoạn của tiến trình Thượng hội đồng
[2] Phanxicô, Diễn từ mừng Kỷ niệm 50 năm thiết lập Thượng Hội đồng Giám mục (17.10.2015), tại vatican.va
[3] X. www.synod.va
[4] Phanxicô, Thư gởi dân Chúa (20.08.2018), lời ngỏ.
[5] Ibid, số 2.
[6] Ibid.
[7] Ibid.
[8] Phanxicô, Diễn từ mừng Kỷ niệm 50 năm thiết lập Thượng Hội đồng Giám mục.
[9] ITC, Tính hiệp hành trong đời sống và sứ vụ của Hội thánh (02.03.2018), số 3.
[10] Ibid.
[11] Ibid. số 6.
[12] Cyprian, Lời cầu nguyện của Chúa, 23.
[13] Augustin, Thư 194, 31.
[14] John Chrysostom, Chú giải Thánh vịnh 149.
[15] ITC, Tính hiệp hành trong đời sống và sứ vụ của Hội thánh, số 6.
[16] Phanxicô, Diễn từ tại buổi lễ kỷ niệm 50 năm thiết lập Thượng Hội đồng Giám mục.
[17] ITC, Tính hiệp hành trong đời sống và sứ vụ của Hội thánh, số 69.
[18] Biển Đức, Quy luật, 3.3.
[19] Phanxicô, Diễn từ mừng Kỷ niệm 50 năm thiết lập Thượng Hội đồng Giám mục.
[20] ITC, Tính hiệp hành trong đời sống và sứ vụ của Hội thánh, số 70.
[21] Ibid.
[22] Phanxicô, Diễn từ mừng Kỷ niệm 50 năm thiết lập Thượng Hội đồng Giám mục.
[23] Phanxicô, Diễn từ tại buổi lễ kỷ niệm 50 năm thiết lập Thượng Hội đồng Giám mục.
2021
Công cuộc truyền giáo của hai Giám mục tiên khởi tại Giáo hội Việt Nam
CÔNG CUỘC TRUYỀN GIÁO
CỦA HAI GIÁM MỤC TIÊN KHỞI TẠI GIÁO HỘI VIỆT NAM
+ Giuse Đỗ Mạnh Hùng
Giám mục Gp. Phan Thiết
DẪN NHẬP
“Phần các Giám mục, các ngài được Chúa Thánh Thần cắt cử để kế vị các Tông đồ làm mục tử chăn dắt các linh hồn, đồng thời, hợp nhất với Đức Giáo hoàng và dưới quyền ngài, các Giám mục được ủy thác sứ mạng duy trì luôn mãi công trình của Chúa Kitô, vị Mục tử vĩnh cửu” (Sắc lệnh Giám mục, Christus Dominus số 2 – 28/10/1965)
1. Công Cuộc Truyền Giáo Tại Việt Nam Dưới Chế Độ Bảo Trợ Bồ Đào Nha
Công cuộc truyền giáo ở Việt Nam thời kỳ đầu được thực hiện chủ yếu bởi Dòng Tên dưới quyền bảo trợ của người Bồ Đào Nha. Các nhà truyền giáo đã gặt hái được những thành công đáng kể: số tín hữu gia tăng với tinh thần sống đạo sốt sắng, Hội Thầy giảng được thành lập, khai mở nền văn chương Công giáo trên đất Việt, v.v…. Tuy nhiên, những cuộc bách hại Đạo và việc trục xuất các thừa sai ngoại quốc, cùng với những cản trở từ phía Chế độ Bảo trợ luôn là những thách đố lớn cho công việc truyền giáo tại đây.
Theo thỉnh nguyện của cha Đắc Lộ được đệ trình lên Toà thánh sau khi bị trục xuất khỏi Việt Nam năm 1645, ngài nhấn mạnh hai đề xuất chính:
– Do tình trạng thiếu linh mục để chăm sóc các tín hữu, nâng đỡ họ trong những cuộc bách hại, xin Toà thánh sớm gởi các Giám mục qua để thành lập hàng Giáo phẩm địa phương, đào tạo và phong chức các linh mục bản xứ;
– Ban đầu, ngài dự định xin Đức Thánh cha bổ nhiệm các Giám mục Chính tòa, nhưng khi hiểu được kế hoạch của Tòa thánh trong chương trình gửi các Giám mục Đại diện Tông tòa, để tránh rắc rối với Chế độ Bảo trợ, cha Đắc lộ đệ trình một bản ‘ghi nhớ’ xin gửi Giám mục in partibus (trong phần đất dân ngoại) và không cần cho Vua Bồ Đào Nha biết[1].
2. Đường Hướng Của Toà Thánh
Dù phải công nhận rằng Chế độ Bảo trợ có những đóng góp nhất định cho công cuộc truyền giáo chung, nhưng Toà thánh ngày càng nhận ra những bất cập, lạm dụng, thậm chí trở thành những khó khăn và nguy hại, nhất là khi các vua chúa đặt quyền lợi chính trị và kinh tế lên hàng đầu.
Để thoát ra khỏi tình trạng trên, Toà thánh muốn trực tiếp đảm trách và điều hành công cuộc truyền giáo qua việc thiết lập Thánh bộ Truyền bá Đức Tin vào năm 1622. Từ đây, đường hướng truyền giáo ở các nơi đều phải tuân theo sự hướng dẫn của Thánh Bộ, cụ thể qua Huấn Thị năm 1659 trao cho hai Giám mục đầu tiên được gửi đến Đàng Ngoài, Đàng Trong và Trung Hoa[2].
Riêng đối với công cuộc truyền giáo tại Việt Nam, ngày 13.05.1658, Thánh Bộ Truyền bá Đức Tin đề nghị bổ nhiệm hai cha François Pallu và Pierre Lambert làm giám mục và được Đức Thánh cha Alexandre VII phê chuẩn ngày 08.06.1658. Một năm sau, ngày 09.09.1659, ngài ký Sắc chỉ Super Cathedram thiết lập hai Địa phận Tông toà: trao cho Đức cha François Pallu cai quản Đàng Ngoài, năm tỉnh của Trung Hoa: Vân Nam, Quý Châu, Hồ Quảng (nay là Hồ Nam, Hồ Bắc), Quảng Tây, Tứ Xuyên, và nước Lào; tiếp đến trao cho Đức cha Pierre Lambert cai quản Đàng Trong và một số vùng của Trung Hoa: Chiết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông, Giang Tây và đảo Hải Nam[3].
Thánh Bộ còn gửi cho hai tân Giám mục bản Huấn Thị khá chi tiết với những điểm đáng chú ý ở phần III như:
+ Thiết lập Hàng Giáo sĩ bản địa qua việc phong chức linh mục cho người địa phương;
+ Cẩn trọng trong việc phong chức giám mục; không tự tiện làm nhưng phải thỉnh ý và chờ sự chấp thuận của Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin;
+ Mở trường học, dạy tiếng La tinh và Giáo lý để từ đó có thể tìm ra các ơn gọi linh mục;
+ Hội nhập văn hoá;
+ Không can dự vào chính trị;
+ Giữ liên hệ chặt chẽ với Toà Thánh[4].
Tòa thánh cũng bổ nhiệm Cha Cotolendi làm Đại diện Tông Tòa Giáo phận Nam Kinh (Trung Hoa). Ngài được tấn phong Giám mục ngày 07.11.1660, hiệu tòa Métellopolis và lên đường truyền giáo ngày 03.9.1661 nhưng không may đã từ trần tại Ấn Độ ngày 26.08.1662[5]. Vì thế, chỉ còn hai vị Đại diện Tông Tòa đảm trách công cuộc truyền giáo vùng Viễn Đông.
3. Hai Giám Mục Tiên Khởi Tại Việt Nam
Đức Cha Pierre Lambert de la Motte sinh ngày 28.01.1624 tại Lisieux vùng Normandie nước Pháp, trong một gia đình thuộc giai cấp thượng lưu, giàu sang. Lớn lên, ngài học ngành luật và hành nghề luật sư, sớm trở thành thẩm phán, khi mới 22 tuổi, với phép miễn tuổi của Vua Louis XIV. Được thúc đẩy bởi ơn gọi linh mục, ngài theo chương trình thần học và được thụ phong linh mục ngày 27.12.1655. Đức cha Pierre Lambert được bổ nhiệm làm Giám mục và thụ phong ngày 11.06.1660 tại Paris với hiệu toà Bérithe. Ngài đã dâng cúng tài sản mình để lo cho chương trình truyền giáo Viễn Đông được tiến hành nhanh chóng[6].
Ngày 27.11.1660, Đức Cha Pierre Lambert và hai linh mục thừa sai rời Pháp lên đường sang Việt Nam, không theo hành trình đường biển dành cho các thừa sai được Vua gửi đi, nhưng theo lộ trình mà Thánh bộ Truyền Bá Đức Tin đề nghị: “Hành trình đất liền xuyên qua xứ Syria và vùng Mésopotamia sẽ an toàn cho chư huynh hơn nhiều so với đường biển Đại Tây Dương và mũi Hảo Vọng”[7]. Sau chuyến đi đầy gian nan vất vả, phái đoàn đã tới Ayutthaya ngày 22.08.1662. Ngài chưa thể đến Đàng Trong được vì lúc đó đang có cuộc bách hại dữ dội.
Đức Cha François Pallu chào đời năm 1626[8] tại thành phố Tours, nước Pháp, trong gia đình quý tộc và vị vọng. Ngài được rửa tội ngày 31.08.1626. Sau khi học xong chương trình ở chủng viện, ngài thụ phong Linh mục vào tháng 09.1650 và tiếp tục học để lấy bằng tiến sĩ dân luật và giáo luật. Đức cha François Pallu được thụ phong Giám mục ngày 17.11.1658 tại Rôma với hiệu toà Héliopolis.
Đức cha Pallu là thành viên Nhóm Bạn Hiền và Hiệp hội Thánh Thể, là những tổ chức góp phần vận động Toà thánh gởi các Giám mục sang Việt Nam và Trung Hoa cũng như hỗ trợ cho việc hình thành Chủng viện Thừa sai Paris[9].
Ngày 02.01.1662, Đức cha Pallu rời Pháp đi Việt Nam với bảy linh mục và hai giáo dân bằng con đường bộ. Sau hai năm, ngày 27/01/1664 phái đoàn của ngài đã tới được kinh đô Ayutthaya, nhưng chỉ còn hai linh mục và một giáo dân[10].
Hai tâm hồn – một chí hướng:
Khi còn là linh mục, Đức cha François Pallu và Pierre Lambert gặp nhau và trở thành đôi bạn thân trong kế hoạch truyền giáo tại Rôma vào năm 1657. Các ngài đã cùng soạn ra một chương trình để thỉnh xin Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin cho lập một chủng viện chuyên lo việc truyền giáo Đông Nam Á[11]. Đó là bước khởi đầu của chủng viện Hội Thừa Sai Paris.
Sau khi được Toà Thánh bổ nhiệm trong chức Giám mục và lãnh trách nhiệm trên hai Địa phận của Việt Nam, với tâm hồn đạo đức và đầy nhiệt huyết của vị tông đồ truyền giáo, hai Đức cha François Pallu và Pierre Lambert luôn cộng tác tích cực với nhau trên hành trình truyền giáo với tinh thần liên đới trách nhiệm. Các ngài đã sống và chết cho sứ vụ được trao phó là xây dựng Giáo hội Việt Nam trong tình say mến Đức Kitô Chịu-Đóng-Đinh.
Phần I. HAI MẪU GƯƠNG QUẢ CẢM TRONG SỨ VỤ GIÁM MỤC
I. ĐỨC CHA LAMBERT
1. Các Cuộc Kinh Lý
Trên hành trình sang Việt Nam, hai Đức cha Pierre Lambert và François Pallu không thể đến địa sở của mình được vì đang có cuộc bách hại lớn. Các ngài phải dừng chân ở Ayutthaya, Thái Lan và điều hành công việc quản trị từ xa. Riêng Đức cha Lambert, ngài đã thực hiện được ba cuộc kinh lý mục vụ sang Việt Nam nhằm củng cố và phát triển hai Giáo phận Đàng Trong và Đàng Ngoài.
- Kinh Lý Đàng Ngoài (1669 – 1670)
Miền truyền giáo Đàng Ngoài thuộc trách nhiệm của Đức cha François Pallu. Nhưng vì nhiều lý do, ngài đã không thể đến Đàng Ngoài được. Từ ngày 30.08.1669 đến ngày 14.03.1670, Đức cha Lambert thay mặt Đức cha Pallu kinh lý mục vụ miền truyền giáo Đàng Ngoài. Trong chuyến đi này, bên cạnh việc thăm viếng và rửa tội cho giáo dân, Đức cha đã thực hiện được 4 việc quan trọng[12]:
+ Phong chức linh mục cho bảy thầy giảng Đàng Ngoài (1670) trên chiếc thuyền được coi như nhà thờ Chánh Toà tiên khởi của Giáo hội Việt Nam;
1) Thầy Martinô Mật (68 tuổi)
2) Thầy Giacôbê Chiêu (46 tuổi)
3) Thầy Simon Kiên (60 tuổi)
4) Thầy Antôn Quế (56 tuổi)
5) Thầy Philipphê Nhân (52 tuổi)
6) Thầy Lêô Trụ (46 tuổi)
7) Thầy Vitô Trị (30 tuổi)[13]
+ Tổ Chức Công đồng Phố Hiến (14.02.1670);
+ Thành lập Hiệp hội Tín hữu Mến Thánh Giá.
+ Thành lập Dòng Nữ Mến Thánh Giá tại Đàng Ngoài.
- Kinh lý Đàng Trong Lần Thứ nhất (1671 – 1672)
Ngày 20.07.1671, Đức cha Lambert thực hiện chuyến kinh lý Đàng Trong cùng với hai thừa sai Pháp là Guillaume Mahot va Claude Guiart và hai linh mục người Đàng Trong là Giuse Trang và Luca Bền. Sau hơn một tháng vượt biển đầy gian nan do bão tố và hải tặc, thuyền của Đức cha đã cập bến Nha Trang ngày 31.08.1671 (sợ bị lộ diện, ngài vẫn ở trong thuyền, tối hôm sau, tín hữu kín đáo đưa ngài đến Lâm Tuyền, một xóm chài nhỏ; sau đó ra An Chỉ, Quảng Ngãi). Ở đây, Đức cha Lambert đã thực hiện những công cuộc quan trọng[14]:
+ Thăm viếng các giáo điểm, ban các Bí tích và gặp gỡ các chức sắc và giáo dân;
+ Thành lập Dòng Nữ Mến Thánh Giá tại Đàng Trong (tại xứ An Chỉ, Quảng Ngãi);
+ Tổ chức Công đồng Hội An (năm 1672).
- Kinh lý Đàng Trong Lần Thứ Hai (1675 – 1676)
Ngày 23.07.1675 (ba năm sau), Đức cha Lambert và hai linh mục thừa sai trở lại Đàng Trong lần thứ hai. Các công việc của Đức cha trong chuyến kinh lý này gồm có[15]:
+ Dành nhiều thời gian tiếp đón các linh mục, giáo dân đến với ngài, giải quyết các vấn đề mục vụ và ban các Bí tích cho đoàn chiên;
+ Nhận lời khấn của các nữ tu Mến Thánh Giá đầu tiên tại Đàng Trong;
+ Phong chức linh mục cho thầy Louis Đoan tại Quảng Ngãi;
+ Giải quyết những mâu thuẫn giữa các vị thừa sai thuộc Chế Độ Bảo Trợ với các vị Đại diện Tông Toà;
+ Gởi sứ điệp kêu gọi các Giáo đoàn hiệp nhất với nhau và phục quyền vị chủ chăn hợp pháp.
2. Tổ Chức Các Công Đồng Địa Phương
- Công Đồng Ayutthaya
Trong thời gian hai Đức cha François Pallu và Pierre Lambert ở Thái Lan, các ngài đã tổ chức Công đồng Ayutthaya[16], khai mạc ngày 29.02.1664 với tám thành viên, gồm hai Giám mục, năm linh mục và một giáo dân.
Công đồng đã thảo luận và quyết định ba việc quan trọng, đó là:
+ Soạn thảo “Huấn Thị Gởi Các Thừa Sai”, còn gọi là Huấn Thị Ayutthaya hoặc Monita
+ Xây dựng chủng viện chung cho cả vùng Viễn Đông;
+ Lập Hội Tông Đồ gồm các thừa sai và giáo dân.
- Công Đồng Phố Hiến
Trong chuyến kinh lý Đàng Ngoài, ngày 14.02.1670, Đức cha Lambert triệu tập Công đồng Phố Hiến[17] gồm chính ngài, ba linh mục thừa sai và chín linh mục Việt Nam. Nghị quyết gồm 34 điều với những điểm chính:
+ Ấn định vùng trách nhiệm cho mỗi linh mục bản quốc;
+ Xác định nhiệm vụ của các thầy giảng;
+ Lập quỹ chung để trang trải các nhu cầu mục vụ và lo cho người nghèo;
+ Khuyến khích các linh mục bản xứ nuôi dạy các thiếu niên đạo đức để gởi vào chủng viện;
+ Kêu gọi các linh mục quản xứ quan tâm đặc biệt đến các nữ tu Mến Thánh Giá;
+ Khuyến khích giáo dân tập suy gẫm chung và riêng; đồng thời giới thiệu những người thích hợp vào Hiệp hội Mến Thánh Giá Tại Thế.
+ Quyết định nhận Thánh Giuse làm bổn mạng Giáo hội Đàng Ngoài.
- Công Đồng Hội An
Trong chuyến kinh lý Đàng Trong, ngày 19.01.1672, tại Hội An[18], Đức cha Lambert khai mạc Công đồng với sự hiện diện của ba vị thừa sai Châu Âu, hai linh mục bản xứ và một số thầy giảng. Công đồng thông qua một nghị quyết gồm mười điều với những vấn đề chính như:
+ Công bố các sắc dụ của Toà Thánh về quyền bính các Đại diện Tông Toà mà mọi thành phần Dân Chúa phải tùng phục;
+ Xác định nhiệm vụ của các thầy giảng và ban Quý chức trong giáo xứ;
+ Nhắc lại một vài quy tắc về đời sống hôn nhân;
+ Kêu gọi tín hữu can đảm tuyên xưng đức tin ra bên ngoài (điều này xây dựng niềm tin mạnh mẽ để lãnh phúc tử đạo sau này).
3. Xây Dựng Chủng Viện và Đào Tạo Linh Mục Bản Xứ
- Xây Dựng Chủng Viện Ayutthaya
Việc đào tạo và thiết lập Hàng Giáo sĩ bản xứ là một trong những sứ mạng quan trọng mà Toà thánh mong đợi hai vị Giám mục thực hiện ở miền truyền giáo Viễn Đông.
Công đồng Ayutthaya (1664) đã quyết định thành lập một chủng viện chung cho cả vùng Viễn Đông nhằm đào tạo các ứng sinh linh mục tương lai do các nước trong khu vực này gởi về.
Năm 1665, Đức cha Lambert đã tiến hành xây dựng một chủng viện tại Ayutthaya và bắt đầu chương trình đào tạo linh mục ngay khi hoàn tất[19]. Đây là nơi đào tạo nhiều linh mục Việt Nam sau này.
- Thiết Lập Hàng Giáo Sĩ Địa Phương
Chỉ vài năm sau khi xây dựng chủng viện tại Ayutthaya, Đức cha Lambert đã phong chức linh mục cho các chủng sinh đầu tiên vào năm 1668, trong đó có cha Giuse Trang từ Đàng Trong qua (Cha Giuse Trang là linh mục người Việt đầu tiên). Sau đó vào tháng Sáu cùng năm, Đức cha truyền chức linh mục cho hai thầy giảng người Đàng Ngoài là Bênêđictô Hiền và Gioan Huệ. Đầu năm 1669, sau một lần tìm cách sang Đàng Trong không thành, Đức cha Lambert truyền chức linh mục cho thầy Luca Bền, người Đàng Trong.
Vì không thể đến được Việt Nam, Đức cha Lambert luôn nhắc nhở các cha Tổng Đại diện, các vị thừa sai Tông toà phải quan tâm đến việc quy tụ và huấn luyện các thầy giảng, dạy tiếng Latinh, và chuẩn bị cho họ chịu chức linh mục. Các ngài thường chọn những thầy giảng xuất sắc và gởi sang Thái Lan cho Đức cha Lambert phong chức linh mục.
Nhân chuyến viếng thăm Đàng Ngoài, tháng 01.1670, Đức cha Lambert phong chức linh mục cho bảy thầy giảng trên chiếc thuyền được coi như nhà thờ Chánh Tòa.
Cũng vào dịp đi kinh lý Đàng Trong lần thứ hai, ngài cũng phong chức cho thầy Louis Đoan tại Quảng Ngãi vào ngày 21.03.1676. Cha Louis Đoan được xem là tác giả cuốn Sấm Truyền Ca, viết bằng chữ Nôm năm 1670, với bút hiệu là Lữ Y Đoan.
Với việc phong chức linh mục cho các thầy giảng, Đức cha Lambert đã khai sinh ra hàng giáo sĩ Việt Nam, mở đầu cho bao thế hệ linh mục tiếp nối. Các linh mục là những trụ cột vững chắc của Giáo hội Việt Nam, là chỗ dựa tinh thần cho các tín hữu trong những thời điểm khó khăn nhất[20].
4. Thành Lập Dòng Mến Thánh Giá
- Hiệp Hội Nam Nữ Tín Hữu Mến Thánh Giá Đức Giêsu Kitô Chúa Chúng Ta
Sớm nhận ra vai trò chứng tá của người giáo dân trong việc loan báo Tin Mừng, Đức cha Lambert đã lập ra “Hiệp hội Nam Nữ Tín hữu Mến Thánh Giá Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta” tại Ayutthaya, Thái Lan vào năm 1668, và tại Đàng Ngoài, Việt Nam vào năm 1669-1670. Mục đích của Hiệp hội là “để thôi thúc các tín hữu khắp nơi hướng tới tình yêu thực tiễn đối với Thánh giá Con Thiên Chúa” trong đời sống đạo đức của họ[21].
- Dòng Nữ Mến Thánh Giá tại Đàng Ngoài
Khi đến Đàng Ngoài, Đức cha Lambert được cha Deydier giới thiệu hai nhóm thiếu nữ và một số bà góa muốn sống chung với nhau, có thể tập hợp gần 30 người[22]. Họ đã được cha Deydier dạy dỗ hướng dẫn từ lâu trên đường nhân đức. Sau khi tìm hiểu kỹ lưỡng, Đức cha quyết định thành lập Dòng Mến Thánh Giá, qua việc đích thân nhận lời khấn của hai nữ tu tiên khởi Anê và Paula tại Phố Hiến ngày 19.02.1670, và trao cho hai chị Bản Luật do ngài soạn thảo sẵn. Đó là ngày khai sinh Dòng Nữ Mến Thánh Giá Việt Nam[23].
- Dòng Nữ Mến Thánh Giá tại Đàng Trong
Tại An Chỉ – Quảng Ngãi, vào tháng 12.1671, Đức cha Lambert chính thức thành lập Dòng Nữ Mến Thánh Giá với mười chị tiên khởi (trong đó có em gái của cha Giuse Trang được đặt làm Bề trên đầu tiên; lúc ấy chị khoảng 30 tuổi). Ngài trao cho chị em một Bản Luật giống như ở Đàng Ngoài. Vì tình hình khó khăn, Đức cha cho phép các chị mặc thường phục như các phụ nữ địa phương[24].
Trong chuyến kinh lý lần hai, Đức cha đã tới thăm các chị em Mến Thánh Giá ở Quảng Ngãi và nhận lời khấn của bốn nữ tu tại Bàu Tây (Quảng Ngãi) vào ngày 13.12.1675 và một nữ tu thuộc nhà An Chỉ, ngày 18.12.1675[25].
- Dòng Nữ Mến Thánh Giá tại Thái Lan
Năm 1672, tại Ayutthaya, Thái Lan, Đức cha Lambert lập một Dòng Mến Thánh Giá với 4 hay 5 nữ tu đầu tiên là Việt kiều gốc Đàng Trong[26].
II. ĐỨC CHA FRANÇOIS PALLU
Cũng giống như Đức cha Lambert, Đức cha François Pallu không thể đến được Địa phận Đàng Ngoài vì cuộc bách hại đạo dữ dội. Thiên Chúa nhân lành đã muốn cho ngài thi hành sứ vụ theo một cách riêng. Đức cha Pallu còn phải thực hiện những chuyến đi về giữa Âu – Á trong nhiều năm để xin sự chuẩn nhận của Toà Thánh cho các hoạt động khởi đầu của Giáo hội Việt Nam cũng như vận động thêm nhiều nguồn tài trợ cho công cuộc truyền giáo Viễn Đông.
1. Hành Trình Á – Âu Lần Thứ Nhất (1665 – 1673)[27]
Sau khi kết thúc Công đồng Ayutthaya, hai Đức cha thấy rằng những quyết định này cần phải được sự chuẩn nhận sớm của Toà thánh. Thay vì trao đổi qua thư từ chiếm nhiều thời gian, các kế hoạch sẽ được xúc tiến nhanh hơn nếu một trong hai vị trở lại Rôma để trình bày trực tiếp lên Toà thánh; đồng thời cũng cho Toà Thánh hiểu được rõ nét những khó khăn mà các vị Đại diện Tông Toà đang gặp phải. Đức cha Pallu đã tự nguyện quay trở lại Châu Âu vì cảm thấy sức khoẻ tốt hơn.
Đức cha Pallu trao quyền điều hành Đàng Ngoài cho Đức cha Lambert, ngày 17.01.1665, ngài lên đường về lại Châu Âu và đến Rôma, ngày 20.4.1667.
Tại Rôma, những đệ trình của Đức cha Pallu được Thánh Bộ cứu xét cẩn thận. Năm 1669, Toà thánh đưa ra quyết định:
+ Chấp thuận, đánh giá rất cao, tài trợ kinh phí in ngay tại Roma[28] bản “Huấn Thị Gởi Các Thừa Sai”;
+ Tán thành việc lập chủng viện chung cho cả vùng truyền giáo Viễn Đông;
+ Đặt Xiêm La dưới quyền cai quản của các Giám mục Pháp. Các ngài có thể tiếp nhận và huấn luyện các linh mục cho vùng Viễn Đông;
+ Không đồng ý việc duy trì Hội Tông Đồ.
Ngày 13.09.1669, Toà Thánh ban hành sắc lệnh Speculatores, chỉ thị cho mọi thừa sai khi tới các địa sở của các vị Đại diện Tông Toà phải trình bày bài sai riêng của mình và vâng phục các ngài; nếu không, sẽ bị vạ tuyệt thông.
Trong chuyến đi này, Đức cha Pallu nỗ lực tìm kiếm thêm nhân sự cũng như nguồn tài trợ cho công cuộc truyền giáo.
Ngày 03.02.1670, Đức cha Pallu trở lại Châu Á, với sáu linh mục và bốn giáo dân. Tại Surate – Ấn Độ, sau khi nhận được tin tức, bản ký sự về chuyến đi Đàng Ngoài của Đức cha Lambert (1669-1670), Đức cha Pallu quyết định gửi Cha Charles Sevin quay về Pháp và Rôma, đệ trình hồ sơ xin Toà Thánh phê chuẩn các quyết định của Công đồng Phố Hiến và Tu hội nữ Mến Thánh Giá. Ngày 27.5.1673, Đức cha Pallu tới Ayutthaya.
Trong Đoản sắc Apostolatus Officium (được ban hành ngày 23.12.1673), Đức Giáo hoàng đã xác nhận Công đồng Phố Hiến.
2. Hành Trình Á – Âu Lần Thứ Hai (1674 – 1681)[29]
Ngày 21.08.1674, Đức cha Pallu từ biệt Đức cha Lambert tại Ayutthaya để lên đường sang Đàng Ngoài. Nhưng tàu của ngài bị bão đánh dạt cảng Cavite, Philippines. Đức cha và thuỷ thủ đoàn bị chính quyền Tây Ban Nha bắt giữ và giải về kinh đô Manila với tội danh “đi truyền giáo mà không có phép của triều đình Tây Ban Nha”.
Ngày 04.04.1675, chính quyền Manila đưa Đức cha Pallu về Madrid, Tây Ban Nha để xét xử, và ngài được tuyên bố trắng án. Rời Madrid, Đức cha Pallu sang Pháp rồi từ đó đi Rôma.
Thời gian ở Rôma, Đức cha Pallu luôn bận rộn với việc làm các bản tường trình, thỉnh nguyện để trình lên Toà thánh, cách riêng về hai vấn đề của Giáo hội Việt Nam: sự chống đối của Chế Độ Bảo Trợ truyền giáo Bồ Đào Nha; thứ hai là thái độ không vâng phục Toà Thánh nơi các cha thừa sai Dòng Tên người Bồ Đào Nha.
Ba năm ở Rôma, Đức cha Pallu thỉnh nguyện được hai mươi hai sắc lệnh của Toà thánh; Ngài cũng trình bày lên Toà thánh về Dòng nữ và Hiệp hội Tín hữu Mến Thánh Giá do Đức cha Lambert thành lập. Ngày 02.01.1679, Đức Giáo hoàng Innôxentê XI đã ban Tông thư Cum Sicut công nhận các tổ chức Mến Thánh Giá.
Nhờ hoạt động của Đức cha Pallu tại Rôma, ngày 25.11.1679, Toà thánh đã bổ nhiệm cha Deydier[30] và cha Bourges[31] làm Giám mục và Đại diện Tông toà xứ Đàng Ngoài. Ngài cũng được Toà Thánh chấp thuận cho từ chức Đại diện Tông toà Đàng Ngoài, và được bổ nhiệm làm Đại diện Tông toà xứ Phúc Kiến với quyền giám quản một số tỉnh ở Trung Hoa.
Ngày 25.03.1681, Đức cha Pallu rời Pháp đi Thái Lan và đến nơi ngày 04.7.1682. Ngài ở lại Ayutthaya một năm rồi lại tiếp tục đến Giáo phận Phúc Kiến, địa sở mới của ngài vào ngày 14.01.1684.
III. HAI CÁI CHẾT LÀNH THÁNH
1. Đức Cha Lambert
Trở lại Thái Lan vào giữa tháng 05.1676, sức khoẻ của Đức cha Lambert kém dần. Chứng bệnh đường ruột và sạn thận hành hạ khiến Đức cha đau đớn nhiều.
Vào những ngày cuối đời, Đức cha muốn dành thời gian yên tĩnh để cầu nguyện và kết hợp mật thiết với Chúa Kitô Chịu-Đóng-Đinh.
Khoảng 4 giờ sáng ngày 15.06.1679, Đức cha Pierre Lambert de la Motte đã an nghỉ lành thánh trong Chúa tại Ayutthaya (55 tuổi)[32].
2. Đức Cha François Pallu
Lúc 03 giờ 30 sáng Chúa nhật ngày 29.10.1684, Đức cha François Pallu nhẹ nhàng trút hơi thở cuối cùng tại Giáo phận Phúc Kiến, Trung Hoa với tuổi đời 58[33].
IV. TÓM LẠI
Trong công cuộc truyền giáo và xây dựng Giáo hội Việt Nam, những hoạt động của Đức cha Pierre Lambert và Đức cha François Pallu là một sự kết hợp hài hoà, không thể tách rời nhau. Nếu như Đức cha Lambert chuyên về hoạt động để xây dựng và củng cố Giáo hội về mặt thể chế, phẩm trật, đời sống, thì Đức cha Pallu đảm nhận vai trò kết nối giữa Toà Thánh với Việt Nam. Nhờ ngài, các hoạt động của Đức cha Lambert được Toà Thánh chuẩn nhận và hướng dẫn hành động. Nhờ vậy, dù trải qua nhiều thời kỳ chia cắt, Giáo hội Việt Nam vẫn hiệp nhất và thống nhất.
Hương thơm nhân đức của hai vị Giám mục Tiên Khởi được toả ra từ : (1) đời sống thánh thiện của các ngài; (2) hoa trái thánh thiện mà các ngài để lại[34].
- Đời sống thánh thiệncủa các ngài được thể hiện qua quyết tâm chu toàn Thánh Ý Chúa qua bổn phận được trao phó là xây dựng Giáo hội Việt Nam trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, phức tạp, trong sự đan xen giữa tôn giáo, chính trị và kinh tế. Đồng thời, tìm mọi cách củng cố, động viên các thừa sai và cộng đoàn Kitô giáo giữ vững niềm tin, kiên trung trong mọi thử thách và bách hại. Hai ngài đã sống và chết cho sứ mạng truyền giáo và xây dựng 2 Giáo phận Tông tòa đầu tiên tại Việt Nam.
Điều này đã được thực hiện qua một đường hướng truyền giáo hết sức rõ ràng và cụ thể với 3 điểm nhấn:
+ Nền tảng của việc truyền giáo và xây dựng Giáo hội là “Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh”;
+ Luôn hiệp thông với Tòa Thánh và tuân theo những hướng dẫn của Tòa Thánh;
+ Mời gọi và nối kết mọi thành phần Dân Chúa để xây dựng Giáo hội, xây dựng Giáo phận: linh mục (thành lập Chủng viện), nữ tu (lập Dòng Mến Thánh Giá), giáo dân (lập Hiệp hội Tín hữu Mến Thánh Giá);
- Hoa trái thánh thiệncủa các ngài để lại chính là Giáo hội Việt Nam:
+ Với hơn 100.000 tử đạo gắn bó với Thập giá Chúa Giêsu;
+ 27 giáo phận với các chủng viện đào tạo linh mục;
+ 30 Hội Dòng Mến Thánh Giá;
+ Các Hiệp Hội Tín hữu Mến Thánh Giá.
Như vậy, khi “được ủy thác sứ mạng duy trì luôn mãi công trình của Chúa Kitô, vị Mục tử vĩnh cửu” (Christus Dominus 2), Đức cha Pallu và Đức cha Lambert đã cộng tác tích cực với nhau để “xây dựng Thân Thể Chúa Kitô” (Ep 4,12) là Giáo Hội” (Christus Dominus 1) tại Việt Nam.
PHẦN II. HƯỚNG TỚI VIỆC PHONG THÁNH CHO HAI VỊ GIÁM MỤC TIÊN KHỞI TẠI VIỆT NAM
Việc xin phong Chân phước và phong Thánh cho hai vị Đại diện Tông toà đầu tiên của Việt Nam, Đức Cha François Pallu và Đức Cha Pierre Lambert de la Motte, là thao thức mong mỏi chung của Hội đồng Giám mục và đặc biệt của các Nữ tu Dòng Mến Thánh Giá. Thao thức này đang được thực hiện qua việc nỗ lực tìm kiếm, sưu tầm, viết lại các chứng từ sống động liên quan đến Đức cha Pierre Lambert de la Motte và Đức cha François Pallu để hoàn tất bộ hồ sơ xin phong thánh.
Các chứng từ về các ngài bao gồm:
I. “Chứng Từ Lịch Sử Trên Văn Bản”: do Nhóm chuyên viên phụ trách
- Thủ bản của Đức cha Lambert và của Đức cha Pallu
- Các linh mục thừa sai đương thời với hai Giám mục viết về các ngài.
- Các sử gia đương thời, các sử gia uy tín hay những luận án tiến sĩ, thạc sĩ… về các ngài.
II. “Chứng Từ Lịch Sử Sống Động”
Đức cha Lambert và Đức cha Pallu đã xây dựng Giáo hội Việt Nam trên những nền tảng chung, cả về thể chế tổ chức và về tinh thần lẫn phương thức sống đạo. Hai Đức cha đã hết mình sống và chết cho sứ mạng loan báo Tin Mừng và xây dựng Giáo hội tại Việt Nam. Sự hy sinh của hai ngài đã và đang sinh hoa kết trái là một Giáo hội ngày càng trưởng thành đi lên trong dòng máu anh hùng của các chứng nhân đức tin. Có rất nhiều dấu tích của các ngài trong đời sống của Giáo hội Việt Nam suốt 350 năm qua.
1. Chứng Nhân Tử Đạo
Lịch sử Giáo hội Việt Nam ghi nhận hàng trăm ngàn Kitô hữu được phúc tử đạo, trong đó có 117 vị được nâng lên bậc hiển thánh và 1 chân phước Anrê Phú Yên. Một số Giáo phận hiện nay vẫn đang tiếp tục làm hồ sơ xin phong thánh cho các vị tử đạo trong Giáo phận của mình.
2. Một Giáo Hội Trên Đà Trưởng Thành
Trải qua 350 năm, từ 2 Giáo phận Tông tòa đầu tiên, giờ đây Giáo hội Việt Nam đang trên đà phát triển, gồm :
+ 3 Giáo tỉnh với 27 Giáo phận: Trên 120 Giám mục được tấn phong, trong đó có 6 vị nhận tước Hồng y;
+ Hơn 4.000 Linh mục;
+ 11 Đại Chủng viện với 2.803 chủng sinh trong niên khóa 2021-2022.
+ Khoảng 310 Dòng tu với tổng số tu sĩ gần 35.000;
+ Trên 4.500 Giáo xứ với khoảng hơn 7 triệu Giáo dân;
3. Gia Đình Mến Thánh Giá
+ 24 Hội dòng Mến Thánh Giá trong nước và 6 Hội dòng Mến Thánh Giá ở nước ngoài;
+ Khoảng 10.000 nữ tu và gần 1.000 tập sinh, với sự liên kết “đặc biệt” giữa Hội dòng Mến Thánh Giá và mỗi Giáo phận. Hầu hết các Giáo phận đều có lập Dòng Mến Thánh Giá. Và rất nhiều giáo xứ có cộng đoàn Nữ tu Mến Thánh Giá hiện diện và phục vụ trong giáo xứ.
+ Trên 15.000 hội viên Tín Hữu Mến Thánh Giá. Hiệp hội này luôn là cánh tay nối dài của Dòng Nữ Mến Thánh Giá trong cuộc sống để làm dậy men Phúc Âm ngay trong lòng giáo xứ của họ.
Quy tụ mọi thành phần dân Chúa trong Đại gia đình Mến Thánh Giá, Đức cha Lambert ước muốn xây dựng một Giáo hội truyền giáo xuyên qua Linh đạo Thánh Giá, nhấn mạnh chiều kích truyền giáo của tình yêu Thánh Giá[35]. Đó là một Giáo hội canh tân vì mục đích Phúc Âm hóa, “đến nỗi thiên hạ nói về họ như xưa dân ngoại đã nói về Israel : Dân Thiên Chúa chính là đây”[36].
Một hình ảnh sống động về “hoa trái thánh thiện” của Đức cha Lambert de la Motte là chứng từ của các nữ tu Mến Thánh Giá khấn trọn hằng năm: quyết định “khấn trọn” là 1 hành vi thánh thiện. Đây là quyết định “dâng hiến trọn cuộc đời mình cho Thiên Chúa để phục vụ chương trình cứu độ của Ngài”. Mỗi năm có trên 200 nữ tu khấn trọn, thuộc 30 Hội Dòng Mến Thánh Giá. Những nữ tu này đã được tác động bởi “linh đạo Mến Thánh Giá” của Đức cha Lambert. Ngoài ra, còn có chứng từ của các nữ tu đã sống lâu năm trong dòng Mến Thánh Giá: đặc biệt dịp kỷ niệm 25,50,60 năm khấn dòng với những chứng từ sống động được khơi nguồn từ Linh đạo Mến Thánh Giá. Điều này cho thấy linh đạo Mến Thánh Giá do Đức cha Lambert khởi xướng vẫn đang sống động trong lòng GHVN.
III. Phúc Lành Của Thiên Chúa qua các phép lạ
Một điều phải có trong hồ sơ phong thánh đó là các phép lạ như là dấu chỉ phúc lành đến từ thiên Chúa. Ước mong rằng sẽ có những người nhận được “phép lạ” qua sự chuyển cầu của 2 Giám mục tiên khởi François Pallu và Pierre Lambert de la Motte.
KẾT LUẬN
Ghi khắc công ơn của Đức cha Pierre Lambert de la Motte và Đức cha François Pallu, Giáo hội Việt Nam luôn ao ước sớm thấy các ngài được vinh hiển trong hàng ngũ các thánh. Đây là công việc chung của cả Giáo hội Việt Nam. Công việc này rất cần sự đóng góp của nhiều thành phần: (1) Các chuyên viên; (2) Mọi thành phần Dân Chúa : các Giám mục, các Linh mục, các Đại Chủng viện, các Hội Dòng Mến Thánh Giá và anh chị em Giáo dân, nhất là các Hiệp Hội Mến Thánh Giá Tại Thế.
Ước mong rằng vào năm 2034, kỷ niệm 375 năm Giáo hội Việt Nam được chính thức hình thành với sự bổ nhiệm hai Giám mục tiên khởi François Pallu và Lambert de la Motte[37], chúng ta sẽ dâng lời tạ ơn Thiên Chúa cách đặc biệt vì hồng ân đức tin mà Thiên Chúa đã ban tặng. Niềm vui này sẽ được tròn đầy hơn nếu hai vị Giám mục đầu tiên được tôn vinh qua cuộc đời “thánh thiện, hy sinh trọn vẹn” để chu toàn nhiệm vụ Loan báo Tin Mừng và xây dựng Giáo hội Việt Nam trên niềm tin son sắt vào Đức Giêsu Kitô Chịu-Đóng-Đinh, hầu mang ơn cứu độ cho nhân loại.
Nguyện xin Thiên Chúa nhân lành, qua lời chuyển cầu của Đức cha Pierre Lambert de la Motte và Đức cha François Pallu, chúc lành cho công việc tốt đẹp này sớm được hoàn thành.
Tài liệu tham khảo:
- P. LAMBERT DE LA MOTTE,Abrégé de Relation, AMEP, T. 121, T. 677 ; Journal 12/1675, AMEP, T. 877.
- Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin,Huấn thị 1659 dành cho các vị Đại diện Tông tòa đi đến các Vương quốc Trung Hoa tại Đàng Ngoài và Đàng Trong.
- Hội Đồng Giám Mục Việt Nam,Tiểu Sử Đức cha François Pallu & Đức cha Pierre Lambert de la Motte, NXB Tôn Giáo, 2020.
- Nhóm Nghiên Cứu Linh Đạo Mến Thánh Giá,Lịch Sử Dòng Mến Thánh Giá, 2018.
- Đào Quang Toản,Đức Cha Pallu và Dòng Mến Thánh Giá, 2010.
- DEYDIER François, Thư gửi Đức cha Pallu, ngày 01.11.1667, AMEP, T. 677.
- Đỗ Quang Chính, SJ.,Hai Giám mục đầu tiên tại Việt Nam, 2005.
- FAUCONNET-BUZELIN Françoise,Người Cha bị lãng quên của công cuộc truyền giáo hiện đại, Pierre Lambert de la Motte, Đại diện Tông tòa tiên khởi Đàng Trong, Nxb. Phương Đông, 2015.
- LAUNAY Adrien,Histoire générale de la Société des Missions Étrangères de Paris, t. I, Les Indes Savantes, 2003.
- Marie Fiat Trần Thị Tuyết Mai,Sứ mạng liên tục của Chúa Giêsu, theo quan điểm của Đức cha Lambert de la Motte (1624-1679) và công cuộc canh tân việc Phúc Âm hóa tại Châu Á, 2018.
- Marie Fiat,Về với cội nguồn Giáo hội Việt Nam, 2009.
- MOUSSAY Gérard et APPAVOU Brigitte ,Répertoire des membres de la Société des Missions Étrangères (1659-2004), ordre alphabétique suivi de l’ordre chronologique, Paris, AMEP, 2004.
- VACHET Bénigne,Chuyện Đức Cha Lambert, chuyển ngữ: Cao Kỳ Hương, 2005.
[1] Đỗ Quang Chính, SJ., Hai Giám mục đầu tiên tại Việt Nam, Tp. HCM, 2005, tr. 55-56, 59-60.
[2] Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin, Instructio vicariorum apostolicorum ad regna sinarum Tonchini et Cocincinae proficiscentium 1659 (Huấn thị 1659 dành cho các vị Đại diện Tông tòa đi đến các Vương quốc Trung Hoa tại Đàng Ngoài và Đàng Trong).
[3] Adrien Launay, Histoire générale de la Société des Missions Étrangères de Paris, t. I, Paris, Les Indes Savantes, 2003, tr. 41-43.
[4] Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin, Huấn thị 1659, III: Tại nơi truyền giáo.
[5] Gérard Moussay et Brigitte Appavou, Répertoire des membres de la Société des Missions Étrangères (1659-2004), ordre alphabétique suivi de l’ordre chronologique, Paris, AMEP, 2004, tr. 50 (Trong lược sử của hai Cha đi cùng với Đức cha Cotolendi là Louis Chevreuil và Antoine Hainques, chúng ta cũng thấy ghi cùng một ngày, họ rời Paris ngày 06.01.1661, nhưng xuống tàu ở Marseille, vĩnh viễn rời nước Pháp, ngày 03.09.1661).
[6] Nhóm Nghiên cứu Linh đạo Mến Thánh Giá (NNCLĐMTG), Lịch sử Dòng Mến Thánh Giá, 2018, tr. 60.64.75.93.
[7] Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin, Huấn thị 1659, II, 1: Lộ trình
[8] Gérard Moussay et Brigitte Appavou, Répertoire des membres de la Société des Missions Étrangères, tr. 52.
[9] Hội đồng Giám mục Việt Nam (HĐGMVN), Tiểu sử Đức cha François Pallu và Đức cha Pierre Lambert de la Motte, Nxb. Tôn giáo, 2020, tr. 10.12.14.22.
[10] Françoise fauconnet-buzelin, Người Cha bị lãng quên của công cuộc truyền giáo hiện đại, Pierre Lambert de la Motte, Đại diện Tông tòa tiên khởi Đàng Trong, Nxb. Phương Đông, 2015, tr. 347.
[11] Đào Quang Toản, Đức cha Pallu và Dòng Mến Thánh Giá, 2010, tr. 78.
[12] HĐGMVN, Tiểu sử Đức cha François Pallu và Đức cha Pierre Lambert de la Motte, tr. 87-88.
[13] Pierre Lambert de la Motte, Abrégé de Relation (Giản yếu ký sự), AMEP, T. 677, tr. 204.
[14] HĐGMVN, Tiểu sử Đức cha François Pallu và Đức cha Pierre Lambert de la Motte, tr. 89-90.
[15] NNCLĐMTG, Lịch sử Dòng Mến Thánh Giá, tr. 150-156.
[16] Nt., tr. 113-118.
[17] Nt., tr. 139-141.
[18] Nt., tr. 145-148.
[19] Nt., tr. 115-116.
[20] Nt., tr. 116.133-134.136.138.155.
[21] Nt., tr. 119.
[22] François Deydier, Thư gửi Đức cha Pallu, ngày 01.11.1667 (AMEP, T. 677, tr. 27).
[23] NNCLĐMTG, Lịch sử Dòng Mến Thánh Giá, tr. 170-173.
[24] Nt., tr. 185.
[25] P. Lambert de la Motte, Journal (Nhật ký) tháng 12/1675, AMEP, T. 877, tr. 574.
[26] NNCLĐMTG, Lịch sử Dòng Mến Thánh Giá, tr. 187.
[27] HĐGMVN, Tiểu sử Đức cha François Pallu và Đức cha Pierre Lambert de la Motte, tr. 34-39.
[28] Bénigne Vachet, Chuyện Đức cha Lambert, Cao Kỳ Hương chuyển dịch, Đào Quang Toản giới thiệu, 2013, tr. 38.
[29] HĐGMVN, Tiểu sử Đức cha François Pallu và Đức cha Pierre Lambert de la Motte, tr. 39-46.
[30] Cha François Deydier sinh ngày 28/9/1634 tại Toulouse, Pháp; chịu chức linh mục ngày 23/4/1657. Cùng với Đức cha Lambert và Cha Bourges, ngài rời quê hương đi truyền giáo vào ngày 27/11/1660. Sau bốn năm ở Xiêm La, ngài được Đức cha Lambert gởi sang Đàng Ngoài vào năm 1666, và được tấn phong Giám mục trong căn nhà bếp của mình ở Phố Hiến vào đêm ngày 21/12/1682. Với tư cách Giám mục hiệu tòa Ascalon và Tổng Đại diện Đàng Ngoài, ngài dấn thân phục vụ Tin Mừng 27 năm và an nghỉ trong Chúa vào ngày 01/07/1693 tại Phố Hiến. Ngài là người lập Chủng viện Việt Nam đầu tiên cũng như góp phần xây dựng Hàng Giáo Sĩ và Dòng Mến Thánh Giá tại Việt Nam.
[31] Cha Jacques de Bourges sinh năm 1634 tại Pháp. Sau khi chịu chức linh mục ngài lên đường truyền giáo với Đức cha Lambert và Cha Deydier năm 1660. Sau đó, ngài được gởi sang Đàng Ngoài năm 1669 và được bổ nhiệm làm Giám mục Đại diện Tông Tòa Tây Đàng Ngoài năm 1679, nhưng bị trục xuất khỏi Việt Nam năm 1713 và qua đời tại Thái Lan năm 1714, thọ 83 tuổi.
[32] HĐGMVN, Tiểu sử Đức cha François Pallu và Đức cha Pierre Lambert de la Motte, tr. 96-99.
[33] Nt., 48-49.
[34] Phần này dựa trên những ý kiến của các Giám mục trong cuộc họp Thường Niên của HĐGMVN vào tháng 4.2021 tại Nha Trang, do tác giả ghi lại.
[35] Marie Fiat Trần Thị Tuyết Mai, Sứ mạng liên tục của Chúa Giêsu, theo quan điểm của Đức cha Lambert de la Motte (1624-1679) và công cuộc canh tân việc Phúc Âm hóa tại Châu Á, 2018, tr. 22. 454.
[36] P. Lambert de la Motte, Abrégé de Relation (Giản yếu ký sự), AMEP, T. 121, tr. 759.
[37] Theo Cha Maurice Vidal và Cha Laurent Villemin, hai chuyên viên Giáo hội học thuộc Viện Đại học Công Giáo Paris : Giáo hội Việt Nam được chính thức hình thành vào ngày 09/09/1659 với sự bổ nhiệm hai Giám mục đầu tiên François Pallu và Lambert de la Motte. Về phương diện thần học và Giáo luật, ngay khi hội đủ ba yếu tố : Tin Mừng, Thánh Thể và Giám mục, lúc đó một Giáo hội địa phương được thành hình (Lumen Gentium 26 ; Giáo luật, điều 368-369. 371, § 1), (Marie Fiat, Về với cội nguồn Giáo hội Việt Nam, 2009, tr. 9-18).
2021
Đức Giáo Hoàng Phanxicô và người trẻ Việt Nam
Các bạn trẻ thân mến,
Chúng ta cùng tạ ơn Thiên Chúa đã ban cho Giáo hội những Đức Giáo Hoàng tuyệt vời, lãnh đạo Giáo hội như lòng Chúa ước mong. Lúc này chúng ta hướng đến vị Giáo Hoàng đương vị Phanxicô. Dưới đây là chút tiểu sử của ngài:
– Đức Giáo Hoàng Phanxicô tên thật là Jorge Mario Bergoglio sinh ngày 17 tháng 12 năm 1936, tại Buenos Aires, nước Argentina.
– Tuy có bằng thạc sĩ hóa học, ngài đã quyết định không gắn bó với chuyên môn này mà muốn trở thành một linh mục. Ngài vào nhà tập Dòng Tên ở Cordoba ngày 11 tháng 3 năm 1958 và khấn lần đầu trong Dòng ngày 12 tháng 3 năm 1960.
– Thầy Bergoglio đã làm hai năm thực tập tông đồ tại hai trường Inmaculada ở Santa Fe và Salvador ở Buenos Aires (môi trường người trẻ).
– Thầy đã học thần học tại chủng viện San Miguel, từ năm 1967 đến năm 1970.
– Thầy Bergoglio chịu chức linh mục vào ngày 13 tháng 12 năm 1969.
– Sau đó cha từng lãnh chức vụ: Giám tập, rồi Giám tỉnh Dòng Tên tại Argentina khi mới 36 tuổi.
– Ngày 28 tháng 2 năm 1998 nhận chức vụ Tổng Giám Mục Buenos Aires.
– Ngày 21 tháng 02 năm 2001, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tấn phong Hồng Y cho ngài.
– Sau cái chết của thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Đức Hồng Y Bergoglio đã được nhiều người coi là một ứng viên sáng giá cho ngôi Giáo Hoàng vào năm 2005.
– Sau khi Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI từ chức, Đức Hồng Y Bergoglio được bầu làm Giáo Hoàng vào ngày 13 tháng 3 năm 2013, danh hiệu là Phanxicô.
Chúng ta có thể xem phim ngắn về cuộc đời của ngài tại đây: link 1, link 2
* * * * *
Dẫn nhập
Tôi muốn bắt đầu buổi chia sẻ này với các bạn bằng một thông báo: Hoãn tổ chức Đại Hội Giới Trẻ giáo tỉnh Hà Nội.
“Vì tình hình dịch bệnh còn diễn biến phức tạp, sau khi đã tham khảo những người hữu trách, Đức Cha Giám Quản Tông Tòa giáo phận Hưng Hóa Phêrô Nguyễn Văn Viên đã trình bày với Đức Tổng Giuse Vũ Văn Thiên xin hoãn tổ chức Đại Hội và được Đức Tổng chấp thuận.”[1]
Như thế, năm nay rất nhiều người trẻ không thể gặp nhau để vui chơi, chia sẻ, hội thảo, cầu nguyện và có những sinh hoạt đông người. Virus Covid-19 đã đảo lộn mọi hoạt động của chúng ta. Tuy sức đề kháng người trẻ mạnh, nhưng chúng ta vẫn bị ảnh hưởng của dịch bệnh từ nhiều khía cạnh khác nhau: vấn đề tâm lý, xã hội giãn cách, học tập, công ăn việc làm, kinh tế khó khăn, nhiều sinh hoạt tôn giáo còn hạn chế, v.v.
Tuổi trẻ trước dịch bệnh vốn đã gặp nhiều vất vả khó khăn, nay thách thức ấy chắc hẳn tăng lên bội phần. Tuy nhiên phải nói ngay rằng, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đang gửi thông điệp mạnh mẽ đến với người trẻ trên thế giới, với các bạn trẻ Việt Nam: “Xin các con đường bỏ cuộc. Hãy trỗi dậy và mơ về một tương lai tươi sáng, vì chúng con có Thiên Chúa, có Giáo hội và chúng ta cần bước đi cùng nhau.”[2]
Là tu sĩ trẻ, tôi hạnh phúc dấn thân đồng hành với các bạn trẻ. Tạ ơn Chúa vì tôi nhận được nhiều hướng dẫn từ Giáo Hoàng Phanxicô trong lãnh vực này. Tôi có thể nói rằng một trong những bận tâm nhất của vị Giáo Hoàng này là người trẻ. Vì những lý do sau:
– Ngài từng trải qua nhiều năm với người trẻ tại Argentina, một đất nước từng rất xinh đẹp, nhưng bị tàn phá bởi nhiều lý do khác nhau. Nhìn đến thân phận người trẻ trong bối cảnh đó, ngài đã dấn thân hết sức để vực dậy tinh thần của người trẻ để dựng xây tương lai.
– Ngài viết nhiều sứ điệp, gửi nhiều video đến người trẻ; trong đó phải kể đến Tông huấn Christus Vivit – Chúa Kitô đang sống. Một trong những thông điệp chính từ các tài liệu này là: “Các bạn trẻ thân mến, các con hãy tin tưởng vào Đức Giêsu Kitô và can đảm làm chứng cho Chúa giữa một thế giới nhiều đổ vỡ.”
– Nếu ai đọc các sứ điệp của ngài, chúng ta thấy cách hành văn và lời lẽ luôn đơn sơ, mộc mạc, thực tế và mang tâm tình của một người cha với người con, ngôn ngữ của người trẻ. Đức Giáo Hoàng muốn đồng hành với từng người chúng ta.
– Sau cùng nhưng chưa hết, Giáo Hoàng Phanxicô là người rất thực tế, không bắt buộc người trẻ phải làm điều này, tránh làm điều kia. Trên hết, ngài mời gọi người trẻ cùng với Đức Giêsu để nhìn nhận và giải quyết vấn đề cùng với Chúa và với nhau.
Sau khi đọc những Sứ điệp, Tông huấn và các lần gặp gỡ của Giáo Hoàng Phanxicô với người trẻ, chúng ta có thể đưa ra vài điểm chính sau:
| 1. Đừng sợ, vì chúng ta có Đức Giêsu là người trẻ |
1. Đừng sợ, vì chúng ta có Đức Giêsu là người trẻ
Đừng sợ là chủ đề chính trong Sứ điệp Ngày Giới trẻ Thế[3] giới lần thứ 33, tại Panama vào tháng 1 năm 2019! Lưu ý rằng trong tất cả các lần trò chuyện với người trẻ, Đức Giáo Hoàng cố gắng đồng hành với người trẻ để cùng nhau vượt qua nỗi sợ rất thật từ mỗi người trẻ chúng ta:
- Sợ mình không được yêu
Ở trong gia đình, giáo xứ hay trong nhóm bạn, chắc mỗi người đều có cảm giác bất an này. Mình có được người thân đón nhận, nhất là khi mình phạm lỗi lầm nào đó. Mình có đủ tài năng để giúp cho gia đình, hoặc không biết mình có đủ quảng đại để phục vụ anh chị em trong nhóm hoặc giáo xứ? Mình sợ người khác chê bai. Tiếc là ở Việt Nam, nạn bắt nạt, chê trách, miệt thị đang thực sự đáng lo, nhất là trên không gian mạng. Đó những nỗi sợ “tiềm tàng” của nhiều bạn: sợ mình không được yêu, không được ái mộ hay không được chấp nhận trong tình trạng như mình hiện là. Tôi có nằm trong trường hợp này? Đừng quên trong Kinh Thánh, Thiên Chúa không ngừng nhắc chúng ta “Đừng sợ!”. Chúa muốn chúng ta thoát khỏi sợ hãi. Bằng cách nào?
Đức Giáo Hoàng nhắn: “Ân sủng của Thiên Chúa chạm cuộc sống của các bạn, nắm lấy các bạn trong tình trạng hiện nay của các bạn, với tất cả những nỗi sợ hãi và giới hạn của các bạn. Ân sủng Chúa cũng cho thấy những kế hoạch diệu kỳ của Người! Hỡi các bạn trẻ, các bạn phải biết rằng có những người thực sự tin tưởng nơi các bạn: xin hãy biết rằng Đức Giáo Hoàng có lòng tin nơi các bạn, Giáo Hội tin tưởng các bạn! Về phần mình, các bạn hãy tin tưởng vào Giáo Hội!”[4]
- Sợ không thể tìm được một vị trí nghề nghiệp
Công ăn việc làm là chủ đề chính người trẻ ước muốn và bận tâm. Có lẽ điều này càng đúng trong và sau đại dịch. Nhiều doanh nghiệp phá sản, nên ở thành phố hay về quê, v.v luôn là những điều ảnh hưởng đến nghề nghiệp của bạn trẻ. Tiếc là xã hội Việt Nam hiện nay (trên thế giới cũng thế), tình trạng thất nghiệp gia tăng, lương lao động thấp và mức độ cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Thậm chí tôi có nhiều dịp gặp các bạn trẻ đang phải lao động trong môi trường khắc nghiệt. Bóc lột sức lao động và xem người trẻ như một món đồ để mua bán. Nhiều bạn trẻ phải bỏ quê xuất khẩu lao động. Nơi đó không thiếu những hình thức loại trừ và bị đẩy ra ngoài lề xã hội. Điều này khiến các bạn trẻ nghèo hoàn nghèo. Hệ quả là tình trạng thiếu công ăn việc làm đã cướp đi khả năng mơ ước và hy vọng. Không biết tôi có trong nhóm này?
Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhắn với người trẻ: “Mặc dù công việc có thể không giúp các con thực hiện các ước mơ của mình, nhưng điều quan trọng là những người trẻ phải nuôi dưỡng một cái nhìn, học cách làm việc theo cách thật sự cá nhân và đầy đủ cho đời sống của mình, và tiếp tục phân định ơn gọi của Thiên Chúa.”[5]
- Nỗi sợ đối diện với khó khăn
Ai cũng thích ngồi mát ăn bát vàng. Nhiều người muốn làm giàu mà không chịu đương đầu với thách đố. Dù tuổi trẻ là thời gian nhiều nhiệt huyết, muốn khám phá và chấp nhận những sai sót, nhưng không ít bạn sợ giải quyết các vấn đề. Tôi xin chia sẻ kinh nghiệm bản thân về những trở ngại từng gặp phải. Sau khi xem video về những cách thay đổi bản thân như kỹ năng đọc sách, làm việc đúng giờ, phản tỉnh cá nhân, tôn trọng, xin lỗi, cảm ơn… thì máu anh hùng trong tôi đã nổi lên. Tôi muốn tập, tập và tập một cách điên cuồng. Tuy vậy, tập được vài ngày thì ngựa lại quen đường cũ. Sống theo phong cách mới sao khó quá! Đúng là anh hùng rơm không thắng nổi những đòi hỏi của quá trình rèn luyện bản thân. Đơn giản bởi chúng ta thích dễ dãi và nuông chiều theo bản tính tự nhiên, hơn là chịu khuôn mình vào những giá trị cao quý. Đó là nỗi sợ cần can đảm chịu khó vượt qua. Xin đừng kêu than, tìm mọi lý do để biện minh, tại, bởi, vì, do, v.v. Tôi cũng nhiều lần rơi vào nhóm này.
Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhắn với người trẻ: “Đây là sự an toàn của chúng ta: Chúa Giêsu đang sống. Nếu chúng ta bám chặt lấy Người, chúng ta sẽ sống và vượt qua tất cả các hình thức chết chóc và bạo lực đang rình rập chúng ta trên đường.”[6]
- Sợ đi xưng tội
Đức Giáo Hoàng chưa một lần lên án người trẻ, dù chúng ta thường xuyên phạm tội, hoặc mắc lỗi lầm. Thay vào đó, ngài thường nhắc người trẻ mạnh dạn đến với tòa giải tội. Nơi đó không phải là tòa phán xét, nhưng là để chúng ta được chữa lành yêu thương. Vì vậy, đừng bao giờ quên, mỗi khi chúng ta đi xưng tội, trên thiên đàng có một lễ hội. Điều này cũng xảy ra như vậy trên mặt đất! Là tội nhân, có khi tôi sợ chạy đến với linh mục để nhận ơn tha thứ của Chúa. Không ít lần tôi lười đi xưng tội vì mặc cảm tội lỗi, vì ngại ngùng lười biếng; phần khác vì tôi nghĩ xưng tội rồi lại phạm tội, hoặc tôi hẹn lần, chờ dịp thuận tiện mới xưng. Cuối cùng tôi vẫn quen với “con ma nhà họ hứa”.
Để chữa lãnh nỗi sợ này, Đức Giáo Hoàng nói: “Hãy chăm chú nhìn vào vòng tay rộng mở của Đức Kitô chịu đóng đinh, hãy để mình được Chúa cứu đi cứu lại. Và khi các con đi xưng tội của mình, các con hãy tin chắc vào lòng thương xót của Người, là điều giải thoát các con khỏi mặc cảm tội lỗi.”[7]
“Lòng thương xót của Thiên Chúa rất thực tế và chúng ta được gọi mời đích thân trải nghiệm. Khi cha mười bảy tuổi, lòng thương xót Chúa đã xảy ra vào một ngày khi cha đi ra ngoài với vài người bạn, cha quyết định dừng lại để vào nhà thờ trước đã. Cha gặp một linh mục, người đã gợi cho cha niềm tin tưởng lớn lao, và cha thấy ước mong mở lòng mình trong bí tích Hòa Giải. Lần gặp gỡ đó đã thay đổi đời cha! Chúng con đang nghĩ: Tôi đã làm điều này, tôi đã làm điều kia…. Đừng sợ! Thiên Chúa đang chờ đợi chúng con! Thiên Chúa hằng tha thứ cho chúng ta!”[8]
- Sợ đưa ra quyết định
Đây là điều không phải ai cũng để ý. Tôi có nhiều dịp chia sẻ với các bạn trẻ về vấn đề này, nhiều bạn chần chừ, lo lắng và sợ quyết định. Khó là vì khi đã quyết định điều gì đó, ví dụ lập gia đình[9], đi làm, đi tu[10] hoặc thực hiện kế hoạch với nhóm bạn, thường phải mang lấy trách nhiệm. Tiếc là càng sợ lại càng tạo ra một loại tê liệt về quyết định. Giáo hội chỉ ra tình trạng giới trẻ hiện nay: “Tuổi trẻ không thể ngừng lại ở một thời gian lơ lửng: đây là tuổi của những chọn lựa, và sự quyến rũ cùng nhiệm vụ lớn nhất của nó nằm ở chính tuổi này. Những người trẻ đưa ra những quyết định trong các lĩnh vực chuyên nghiệp, xã hội, chính trị và các lĩnh vực khác, rất căn bản, là điều đem lại cho cuộc đời các em một hướng đi quyết định.”[11]
Tôi thường được giúp nhiều với lời khuyên này của Đức Giáo Hoàng: “Hãy mạo hiểm, ngay cả khi các con thất bại. Đừng sống sót với tâm hồn tê mê và đừng nhìn thế giới như thể các con là du khách. Hãy gây tiếng ồn ào! Hãy xua tan những nỗi lo sợ làm tê liệt các con, để các con không trở thành những xác ướp trẻ. Hãy sống! Hãy cho mình những gì tốt nhất trong cuộc sống! Hãy mở cửa lồng và hãy bay đi! Làm ơn đừng về hưu non.”[12]
2. Hy vọng và ước mơ với Thiên Chúa và Giáo Hội
Nếu hỏi Đức Giáo Hoàng vào lúc này về người trẻ, chắc ngài phải nói với chúng ta rằng: đừng từ bỏ ước mơ và hãy hy vọng về một tương lai tươi sáng. “Hãy dám ước mơ! Tự tin để vượt qua khủng hoảng”, cũng là cuốn sách Giáo Hoàng viết tặng mỗi người để vượt qua lần đại dịch này[13]. Trước đó, trong tông huấn Đức Kitô sống, ngài cũng không ngừng lay động người trẻ hãy chịu khó ước mơ và hy vọng; để từ đó, người trẻ mới có được hạnh phúc, thành công và bình an.
Giáo Hội ý thức rằng “người trẻ là chủ thể chứ không chỉ là đối tượng chăm sóc mục vụ của Giáo Hội; “người trẻ là hiện tại chứ không chỉ là tương lai của Giáo Hội”; “Mục vụ giới trẻ là phải đồng hành và lắng nghe hơn là dạy dỗ”[14]. Như thế, người trẻ chúng ta phải là hiện tại sống động, chúng ta không thuộc về thế hệ tương lai mơ hồ nào đó. Đức Giáo Hoàng tuy nhắn với người trẻ về ước mơ và hy vọng, nhưng ngài luôn đặt người trẻ trong hiện tại; nghĩa là chúng ta phải bắt đầu từ lúc này.
Dù ở lứa tuổi nào, nhóm bạn hoặc môi trường nào, chúng ta luôn có quyền xây dựng ước mơ, có quyền hy vọng ngay từ ngày hôm nay. “Khi các con đấu tranh để biến ước mơ của mình thành hiện thực, hãy sống trọn vẹn ngày hôm nay, cho đi tất cả và từng giây phút lấp đầy nó bằng tình yêu. Bởi vì thật sự là ngày hôm nay của tuổi trẻ của các con có thể là ngày cuối cùng, và như thế thật đáng giá để sống nó với tất cả ước muốn và tất cả chiều sâu có thể.”[15] Thật thú vị là khi Đức Giáo Hoàng viết cho giới trẻ thế giới, nhưng lại trích lời của Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, để nhắn với chúng ta rằng: “Hãy chọn sống giây phút hiện tại bằng cách lấp đầy nó với tình yêu”; và “hãy nắm bắt những cơ hội phát sinh mỗi ngày, để thực hiện những hành động bình thường một cách phi thường.”[16]
Về mặt tâm lý, hy vọng và mơ ước cho người ta động lực, sinh ra những năng lượng tích cực. Từ đó, chúng ta có nhiều sáng kiến và hăng say làm việc. Về mặt thiêng liêng, Đức Giáo Hoàng luôn nhắc với người trẻ rằng chúng ta có Thiên Chúa luôn ở với con người. Thiên Chúa yêu thương người trẻ; đó là sự thật. Trong tình yêu này, Chúa muốn từng người hãy đặt niềm hy vọng vào Thiên Chúa và Giáo hội để sống và làm việc. Tôi cũng như bạn, không dễ để chỉ ra ước mơ của mình. Người ước có xe hơi, nhà lầu, có đủ tiện nghi, vợ đẹp con ngoan, lấy được chồng giàu sang, hoặc cuộc sống phải sang chảnh, v.v. Bạn nghĩ sao về những ước mơ này?
Có thể nói ước mơ càng rõ ràng, hy vọng càng mạnh mẽ, thì bạn càng dễ xác định được những bước đi cần thiết để đạt được mục tiêu ấy. Ví dụ có bạn sinh viên mới ra trường xác định trong 2 năm đầu sẽ tìm được một công việc ổn định và phù hợp với bản thân. Tiếp đến bạn đó có thể xác định một mức lương mình mong muốn trong thời điểm đó. Sau đó mới đến kế hoạch khác như lập gia đình, sinh con, mua đất, mua nhà, mua xe hơi… Tùy từng mục tiêu[17] đặt ra lớn hay nhỏ mà bạn đặt ra khoảng thời gian dài hay ngắn để đạt được. Đừng quên Đức Giáo Hoàng nói: “những giấc mơ đẹp nhất chỉ đạt được bằng hy vọng, kiên nhẫn, quyết tâm, và không vội vàng.”[18] Về điểm này, người trẻ Việt chúng ta dường như đang sống vội, muốn cái gì là phải có cho bằng mọi giá. Đừng quên, để thực hiện ước mơ luôn cần cầu nguyện, học tập, làm việc nỗ lực không ngừng!
Mơ ước đâu phải trả tiền, nên cứ ước mơ cho thật lớn. Có thể bạn bật cười khi nghĩ rằng điều ấy không thể hiện sự khiêm nhường. Người Công giáo phải trở nên nhỏ bé, vì Chúa mời gọi như thế. Không! Dường như nhiều bạn trẻ đã hiểu lầm lời khuyên này của Đức Giêsu. Bạn nghĩ sao khi Đức Giáo Hoàng nhắn chúng ta đừng từ bỏ những ước mơ vĩ đại. Hơn nữa mới đây ngài còn kêu gọi người trẻ đừng mơ những ước mơ “nhỏ mọn” nhưng hãy “phấn đấu vì một tương lai tốt đẹp hơn và biến những khát vọng đó thành những hành động cụ thể và ý nghĩa”[19]. Chúa muốn chúng ta mạnh dạn và vui vẻ chạy đua, hướng tới những mục tiêu cao cả. Chúng ta không được tạo dựng để mơ về những kỳ nghỉ hay các cuối tuần, nhưng để thực hiện những ước mơ của Thiên Chúa trên thế giới này. Thiên Chúa ban cho chúng ta khả năng mơ ước để chúng ta có thể ôm choàng lấy vẻ đẹp của cuộc sống.[20] Người trẻ là vậy, dám nghĩ, dám làm và dám lên đường thực hiện ước mơ. Nhớ là hãy ước mơ với Thiên Chúa và với Giáo hội.
Thật may mắn vì chúng ta là người Công giáo. Bạn thử tưởng tượng sau bao nhiêu cuộc họp của các giám mục trên thế giới về người trẻ, sau cùng Đức Giáo Hoàng thay mặt cho cả Giáo Hội nhắn với người trẻ với câu đầu tiên. “Đức Kitô đang sống! Người là niềm hy vọng của chúng ta, và bằng một cách tuyệt vời, Người mang tuổi trẻ đến cho thế giới của chúng ta, và mọi sự Người chạm đến đều trở nên trẻ trung, mới mẻ và tràn đầy sức sống.”[21] Đây là lý do để chúng ta có quyền hy vọng và ước mơ. Đó là lý do tại sao Đức Giáo Hoàng không ngừng thúc giục các người trẻ đừng để mình bị cướp mất hy vọng. Với các con, cha nhắc lại: “Đừng để ai coi thường tuổi trẻ của con.” (1 Tim 4,12). Ngay cả khi các con sai lầm, các con luôn luôn có thể đứng lên và bắt đầu lại, vì không ai có quyền đánh cắp hy vọng của các con.[22] Nhất là với người trẻ Việt Nam, chúng ta tuy có ước mơ và hy vọng, nhưng dễ bị mất khi gặp thách đố và lời ra tiếng vào. Đã đến lúc chúng ta phải đứng vững như kiềng ba chân. Mở ngoặc nơi đây, cả Giáo hội và mỗi người hãy nâng đỡ, chăm sóc cho từng ước mơ của mỗi người. Lời động viên, cầu nguyện và cộng tác thì quý hơn là thái độ trù dập những ước mơ của người khác.
3. Gắn kết với truyền thống
Đây là thông điệp khiến người trẻ Việt Nam ngạc nhiên. Là người Việt Nam, chưa chắc nhiều người có văn hóa và truyền thống Việt Nam. Đó là những giá trị, là cội rễ của con người nói chung và người Việt nói riêng. Ví dụ: tình yêu, tình người, công bằng, bác ái, tôn trọng, tự do, sự thật, tình bạn, tình yêu quê hương, đất nước, truyền thống gia đình, niềm tin tôn giáo, nhân bản, lịch sự, văn minh…Những mảnh đất màu mỡ ấy cần cho bộ rễ người trẻ bám vào để lớn lên. Tiếc là hiện nay có những trào lưu đòi bỏ dần nguồn gốc để hòa chung vào sự phát triển của quốc tế. Đó là một mối nguy cho sự thành đạt của người trẻ. Tại sao?
Bạn có kinh nghiệm thấy một cây tươi tốt vươn lớn như thổi, nhưng sẽ sụp đổ sau cơn mưa bão, nếu gốc rễ của nó không ăn sâu vào lòng đất. Từ nơi lòng đất đó, rễ không chỉ hút dưỡng chất, mà còn tạo thế đứng an toàn cho cây. Những bộ rễ nông cạn sẽ dễ dàng khiến cây đổ ngã, chết dần chết mòn. Cũng vậy, từ truyền thống dân tộc, tôn giáo và văn hóa, người trẻ có thể kín múc được biết bao điều, để bước vào đời mà không sợ lạc lõng, chơi vơi. Khi lớn lên, không biết mình là ai, nguồn cội lịch sử dân tộc mình là gì, xem nhẹ truyền thống ngàn đời của ông bà tổ tiên, không ai dám chắc người ấy sống thành công hạnh phúc. Ví dụ, chúng ta quen với câu: “Quê hương nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nổi thành người.” Hoặc nói như ngôn ngữ của Đức Giáo Hoàng: “Người ta không thể lớn lên nếu không có những rễ mạnh mẽ giúp họ đứng vững và gắn chặt vào lòng đất. Thật dễ dàng để bị “cuốn đi” khi người ta không có nơi nào để gắn bó, để bám chặt lấy”[23]
Tôi rất nể những bạn dám dành giờ để trò chuyện với ông bà cha mẹ. Khi làm xa về, nhiều bạn trẻ tranh thủ đến thăm ông bà, họ hàng. Họ nói về những ký ước tuổi thơ, về những kỷ niệm làm nên tuổi trẻ của họ. Tôi tin là từ kinh nghiệm sống động này, người trẻ ấy biết mình cũng có truyền thống gia đình, họ hàng và giáo xứ. Từ đó, họ lớn lên mà không bị mang tiếng là mất gốc.
Khi viết tới đây, tôi nhớ đến nhân vật Hà Lan trong Mắt Biếc của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh. Sau khi lên thành phố học, Hà Lan đã bỏ lại ngôi làng Đo Đo. Nơi đó có biết bao truyền thống tốt đẹp. Đặc biệt nơi đó có cha mẹ Hà Lan, vốn là những người sâu sắc, sống có nghĩa, có tình. Hà Lan đã nhiều lần khóc nức nở vì tình yêu. Ngạn là người lắng nghe những tâm sự của cô. Có lần Ngạn trách thầm Hà Lan không bén rễ sâu ở ngôi làng, nơi gia đình. Kết quả là…
Chắc như Hà Lan trên đây, người trẻ có tự do làm mọi thứ, và nhiều người trẻ cũng tin như thế. Tự do gạt bỏ cả những giá trị ngàn đời là dấu hiệu của người mất gốc. Họ núp trong vỏ bọc của cái gọi là “tôn thờ tuổi trẻ”, chạy theo thời thượng. Có khi xã hội thôi thúc người trẻ “cháy hết mình” nơi những trò vô bổ. Họ chăm chút vẻ đẹp bên ngoài hơn là những giá trị bên trong. Chúng ta cần khiêm tốn nhận rằng hào nhoáng bên ngoài có ảnh hưởng đến tôi. Đây không chỉ là tình trạng tại Việt Nam, nhưng tuổi trẻ trên thế giới cũng mắc phải. Ví dụ người trẻ sành điệu phải uống cà phê Starbucks, ăn ở Mcdonald, xài điện thoại quả táo, mặc hàng hiệu, chau chuốt đến vẻ đẹp bên ngoài, Facebook phải có tích xanh, v.v. Tự nhiên nhóm người này tạo ra một đẳng cấp khác. Đức Giáo Hoàng cho rằng nhiều người trẻ như thế đang bị xỏ mũi bởi lối sống hời hợt, lầm lẫn vẻ đẹp tâm hồn với hình thức ngoại hình. Thay vào đó:
“Các con nên ý thức rằng có một vẻ đẹp nơi những người lao động trở về nhà bẩn thỉu và lếch thếch, nhưng với niềm vui vì đã kiếm được cơm bánh cho con cái. Có một vẻ đẹp phi thường trong sự hiệp thông của gia đình quây quần quanh bàn ăn và trong cơm bánh được chia sẻ cách quảng đại, ngay cả khi cái bàn rất nghèo. Có một vẻ đẹp trong người vợ đầu tóc bù xù và có phần già đi, nhưng vẫn tiếp tục chăm sóc cho người chồng ốm đau, bất chấp sức mạnh và sức khỏe của chính mình.”[24]
Một khía cạnh quan trọng khác thể hiện sự mất gốc của người trẻ chúng ta đó là vấn đề tôn giáo. Tôi nghe nhiều bạn chia sẻ rằng tôn giáo hiện nay không quá quan trọng nữa. Họ không hẳn là không tin vào Thiên Chúa, nhưng niềm tin một khi không quan trọng, họ sẽ phớt lờ và từ đó, họ sẽ bị mất gốc, mất liên lạc với Đấng tạo ra họ. Có thể điều này chưa hẳn là do lỗi của người trẻ, nhưng Đức Giáo Hoàng chỉ ra một nguyên nhân khác: “Ở các nước không thuộc Phương Tây, việc toàn cầu hóa mang đến các hình thức thực dân nền văn hóa, nó lôi những người trẻ ra khỏi các liên hệ văn hóa và tôn giáo mà từ đó các em đến.”[25]
Nhận xét trên cũng đúng trong bối cảnh tại Việt Nam. Người trẻ đổ về các khu công nghiệp, thành phố lớn để học tập và làm việc. Cuộc sống cơm áo gạo tiền đã kéo rất rất nhiều bạn trẻ ra khỏi môi trường làng xã, giáo xứ. Nơi đất khách quê người, nhiều bạn trẻ đã mất liên lạc với Giáo hội, với Thiên Chúa. Nhìn thấy mối nguy này, nên Đức Giáo Hoàng tha thiết nhắc các Giáo hội địa phương hãy đồng hành với người trẻ trong việc chuyển tiếp này mà không đánh mất những đặc điểm quý giá nhất của căn tính của các em[26]. Một trong những giải pháp mà Đức Giáo Hoàng đưa ra trước vấn đề này là: Hãy giữ mối liên hệ với người già!
Thật may vì văn hóa Việt Nam còn duy trì 2-3 thế hệ chung sống trong một gia đình. Hoặc ít ra truyền thống đạo hiếu vẫn còn đủ mạnh nơi người trẻ. Nhất là trong lần đại dịch này, gia đình là nơi để người trẻ chúng ta tìm về nguồn gốc của mình. Còn nhớ lần Đại Hội Giới Trẻ Giáo Tỉnh Miền Bắc năm 2019, lời tâm huyết Đức Giáo Hoàng Phanxicô dành cho người trẻ Công giáo Việt Nam, đó là: “Hãy về nhà”. Trong đó, chúng ta có thể thấy 5 điểm chính mà Đức Giáo Hoàng tha thiết nhắn với người trẻ Việt Nam[27]:
– Đào sâu di sản truyền thống và văn hoá
– Đào sâu di sản đức tin
– Chứng tá Tin Mừng
– Nhân cách của một người trẻ Công Giáo
– Con có một Tổ Quốc
Ước sao những lời nhắn này giúp chúng ta một lần nữa không ngần ngại đào sâu đức tin ngay trong gia đình, truyền thống và văn hóa người Việt Nam. Nơi đó luôn có những bài học sống động giúp người trẻ đến được với Đức Giêsu, Đấng cũng có một gia đình, họ hàng và truyền thống văn hóa tôn giáo Do Thái.
4. Chăm sóc ngôi nhà chung
Từ khi sống ở trời Âu, tôi mới nhận thức rõ hơn: Tại sao Châu Âu và người dân ở đây luôn ý thức bảo vệ môi trường? Họ được học, được tập và được nhắc nhở từ thuở đến trường. Lớn lên một chút, lời căn dặn ấy trở thành thói quen[28]. Đó còn là cách hành xử của người lịch sự. Điều này quan trọng, vì khi bước vào xã hội, môi trường kinh tế, kinh doanh sản xuất và trong mọi lãnh vực, họ thường ý thức môi trường xanh sạch là xu thế toàn cầu.
Bởi đó, những sản phẩm thân thiện với thiên nhiên, những công ty ít tác động đến môi trường thường được nhà nước và người dân ủng hộ. Hơn nữa, từ khi Giáo hội Công giáo ban hành Tông Huấn “Laudato si’”, người ta lại càng nhắc nhau bảo vệ môi trường hơn.
Đối với người trẻ Việt, có lẽ từ Latinh trên đây khá lạ lẫm. Nếu hiểu nghĩa nó, thì thử hỏi mấy ai nhắc nhau bảo vệ môi trường bằng cụm từ này? Dẫu sao, Laudato si’ có nghĩa là: Chúc tụng Thiên Chúa. Đó là tên chính của Tông Huấn được Đức Giáo Hoàng Phanxicô công bố ngày 18 tháng 6 năm 2015. Bên dưới Tông Huấn có phụ tựa: Chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta. Ngoài ra, Laudato si’ cũng gợi cho người đọc nhớ đến một vị thánh nổi tiếng thân thiện và luôn chăm sóc thiên nhiên: Thánh Phanxicô Assisi. Chẳng hạn bài ca về Thiên Nhiên nổi tiếng của ngài âm vang:
“Chúc tụng Chúa, lạy Thiên Chúa của con, ngang qua người Chị của chúng con, Mẹ Trái Đất, là người nuôi dưỡng và điều hành chúng con, và là người sản sinh ra nhiều hoa trái khác nhau với nhiều loại hoa muôn sắc và cỏ cây.” (Laudato si’ số 1).
Tôi không muốn đi vào nội dung Tông Huấn, vì chúng ta có thể dễ dàng tìm đọc bản Tiếng Việt trên Internet hoặc trong sách. Ở đây, điều thú vị là nếu chúng ta nhắc nhở nhau bảo vệ môi trường, thì ngôi nhà chung Việt Nam của chúng ta sẽ tốt hơn nhiều.
Đức Giáo Hoàng báo cho người trẻ một tin vui: “Nơi nhiều thanh thiếu niên, việc tiếp xúc với các thụ tạo gây ra một sức thu hút đặc biệt, và các em rất nhạy cảm với việc bảo vệ môi trường, như trong trường hợp các hướng đạo sinh và các nhóm khác, là các nhóm tổ chức những ngày ở giữa thiên nhiên, cắm trại, leo núi, du ngoạn và các chiến dịch cho môi trường.”[29] Sẽ là thoái lui nếu cứ mang thành kiến: nhắc nhau thì được gì, quan trọng là làm. Đúng vậy! Nhưng trước khi hành động, người ta cần ý thức và nhắc nhau về một vấn nạn khủng hoảng môi trường đang xảy ra[30]. Từ đó chính người nhắc cũng có thêm động lực để bảo vệ môi trường nơi những điều cụ thể.
Hãy tưởng tượng từ thuở học sinh, các em được thầy cô dạy bảo, nhắc nhở và tập cho những việc làm nho nhỏ bảo vệ thiên nhiên; từ từ các em sẽ có thói quen gìn giữ ngôi nhà chung của chúng ta. Đúng là thà thắp lên một ngọn nến còn hơn ngồi đó nguyền rủa bóng đêm. Bắt đầu từ suy nghĩ, từ bản thân và từ gia đình! Phải thừa nhận rằng chính lời kêu gọi bảo vệ ngôi nhà chung của Đức Giáo Hoàng đã ảnh hưởng đến rất nhiều chính sách của các quốc gia. Mục đích là: Hãy cứu lấy hành tinh của chúng ta.
Chắc có người cho rằng nhắc nhau như thế cũng chẳng đi đến đâu, bởi môi trường thiên nhiên ở Việt Nam hiện quá ô nhiễm. Các thông tin báo chí thường đưa tin đây đó ô nhiễm nguồn nước, không khí và thực phẩm. Vì các dự án, nhiều hàng cây xanh bị chặt hạ, nhiều cánh rừng biến mất. Vì nhiều tư lợi, các công ty ô nhiễm vẫn ngang nhiên hoạt động, xả thải. Hoặc chính mỗi người cũng cảm thấy môi trường bị ô nhiễm đang bào mòn sức sống người Việt. Nhiều người đùn đẩy trách nhiệm ấy cho nhà nước. Bởi, để giải quyết vấn đề này cần mang tầm mức quốc gia. Điều ấy đúng! Nhưng thực tế mỗi người trẻ, mỗi gia đình cũng có thể làm được chút nào đó góp phần bảo vệ môi trường.
Tại nhiều nước tiên tiến, người ta đánh giá mức độ văn minh của một người khi nhìn vào cách người ấy đối xử với môi trường như thế nào. Xả rác bừa bãi dĩ nhiên là một người bất lịch sự. (Tiếc là điều này lại thường xảy ra nơi người trẻ!). Gây tổn hại đến thiên nhiên, nơi công ích cũng là người thiếu văn minh. Lãng phí khi sử dụng đồ ăn, thức uống cũng là người chưa văn hóa. Theo ngôn ngữ của Đức Giáo Hoàng, ngày nay chúng ta đang sống trong “nền văn hóa vứt bỏ”. Văn hóa này cũng đang lan tràn tại Việt Nam!
“Ai làm sao, tôi làm vậy” không còn hợp thời nữa! Nhất là trong khi chung sống với Mẹ Thiên Nhiên, nhiều người làm sai, nhưng tôi hẳn là không muốn đi vào lối mòn ấy. Khi viết về môi trường, Đức Giáo Hoàng cho rằng: “Người trẻ đòi một sự thay đổi. Họ đang tự hỏi làm thế nào mà bất kỳ ai có thể tuyên bố là đang xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn mà lại không nghĩ đến sự khủng hoảng về môi trường và nỗi đau khổ của những người bị loại trừ.”[31] Nói thì dễ, nhưng để thay đổi không phải một sớm một chiều. Tuy vậy, người trẻ Việt Nam cũng cần nhắc nhau, cần nói trên phương tiện truyền thông, cần bàn trong những kế hoạch dự án, cần tạo nên làn sóng bảo vệ môi trường. Khi đó người Việt mới có hy vọng được hít thở bầu không khí trong lành, được sử dụng nguồn nước trong sạch và môi trường sống xanh tươi.
Nếu nước Nhật hiện nay là văn minh, phát triển và xanh sạch, thì chúng ta hãy nhớ họ đã từng nhắc nhở nhau bảo vệ môi trường. Họ đã từng là nước ô nhiễm trầm trọng, nhất là sau hai cuộc thế chiến. Tuy nhiên, ngoài chính sách vĩ mô, tại Nhật:
“Có hàng nghìn tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực môi trường, hàng trăm tờ báo chuyên về môi trường, về xử lý chất thải và bảo tồn đa dạng sinh học. Khắp nơi đâu đâu cũng có các thông điệp về bảo vệ môi trường, tràn ngập trên các dãy phố, trên mọi phương tiện thông tin đại chúng, tác động vào nhận thức của mọi tầng lớp nhân dân Nhật Bản về tình yêu đối với môi trường và cuộc sống, vì một màu xanh cho thế hệ mai sau.”[32]
Ngoài ra, giáo dục về vấn đề này ở trường lớp cũng nằm trong chính sách của cả nước Nhật. Nếu người Việt cũng muốn hưởng môi trường sống như thế, mỗi người cần bắt đầu với việc nhắc nhau và chung tay làm những điều có thể. Bạn cứ yên tâm dấn thân, vì sau bạn luôn có sự ủng hộ của Đức Giáo Hoàng và Giáo Hội. Bởi mới đây nhất, ngài viết cho người trẻ: “Phong trào người trẻ quan tâm bảo vệ môi trường cũng là một minh chứng cho thấy chúng con có khả năng lắng nghe tiếng khóc của Trái đất.”[33]
Nếu được mở rộng vấn đề, ta còn thấy Đức Giáo Hoàng thường không do dự nói về “sự ô nhiễm tinh thần”. Số là các mạng xã hội bị ô nhiễm bằng sự leo thang lời nói, những phát biểu hận thù thường được thốt ra cách ẩn danh. “Ngay cả nơi các môi trường Công giáo, người ta có thể vượt quá các giới hạn, người ta có thói quen tầm thường hóa sự phỉ báng và vu không, và tất cả đạo đức cũng như tất cả sự tôn trọng thanh danh của người khác dường như bị loại bỏ”[34], Đức Thánh Cha nhận xét ở số 115 của tông huấn Exsultate Et Gaudete. Điều này đáng để người trẻ Việt Nam chúng ta suy nghĩ trong thời đại công nghệ này!
5. Quan tâm đến người nghèo
Khi biết mình được làm Giáo Hoàng, ý hướng mục vụ đầu tiên của ngài là: hãy quan tâm đến người nghèo. Vì lý do này, Đức Giáo Hoàng liền chọn cho mình một danh hiệu là thánh Phanxicô, vì thánh của người nghèo. Cũng năm 2013, chúng ta thấy Đức Giáo Hoàng không ngừng cải tổ Giáo hội thành Giáo hội của người nghèo và cho người nghèo.
Khi trò chuyện với người trẻ, Đức Giáo Hoàng không ngại chia sẻ rằng Đức Giêsu đang ở với người nghèo. Chính Chúa dạy người trẻ nơi những người đói khổ lầm than, bệnh tật, tội lỗi và những người bị xã hội khai trừ[35]. Từ kinh nghiệm có thấy một mặt người trẻ chúng ta dễ có lòng trắc ẩn với người yếu thế cô thân. Chúng ta muốn làm gì đó giúp họ. Mặt khác chúng ta thường rơi vào lối mòn này: người nghèo nhiều thế sao tôi giúp hết được. Không! Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh về vai trò của người trẻ chúng ra là: “Người trẻ có thể giúp giữ cho Hội Thánh trẻ trung. Các em có thể ngăn cản Hội Thánh khỏi kiêu căng và bè phái, giúp cho Hội Thánh nghèo hơn và làm chứng tốt hơn, đứng về phía những người nghèo và những người bị ruồng bỏ, đấu tranh cho công lý và khiêm tốn để cho mình được thử thách.”[36]
Suốt thời gian đại dịch vừa qua, chúng ta thấy biết bao “phép lạ” mà mỗi người đang làm cho nhau khi giúp đỡ anh chị em đồng loại. Trong số họ có biết bao người trẻ dấn thân nơi tuyến đầu chống dịch. Phải thừa nhận rằng nhiều người trẻ được gợi hứng từ lời kêu gọi của Giáo Hội: hãy bác ái với người nghèo. Thật tuyệt vời vì ngay cả Đức Giáo Hoàng cũng nhận ra “các nhóm trẻ từ các giáo xứ, trường học, phong trào hoặc các đại học có thói quen đồng hành với những người già cả và bệnh tật, hoặc đến thăm các khu dân nghèo, hay cùng nhau giúp đỡ người nghèo”. Trong việc giúp đỡ này, Đức Giáo Hoàng nói chúng ta nhận được nhiều hơn là cho đi, bởi người nghèo có thể giúp chúng ta khám phá ra những giá trị mà chúng ta không nhìn thấy.
Khi nói chuyện với người trẻ Slovakia (tháng 9, 2021) về nhóm người nghèo ở quốc gia này, Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh: “Xã hội, người nghèo đang chờ đợi các con!” Với các bạn trẻ Việt Nam, chắc hẳn ngài cũng lặp lại một thông điệp như thế. Việt Nam nằm trong nước đang phát triển, nghĩa là người nghèo chiếm đa số. Do đó, nếu mỗi người chúng ta đang có ước mơ làm giàu, đang muốn khởi nghiệp thành công, hoặc đang có công việc ổn định, xin nhớ đến người nghèo. Lý do là khi phát biểu tại diễn đàn quy tụ các nguyên thủ quốc gia, đại diện các tổ chức và lãnh đạo doanh nghiệp Châu Âu, Đức Giáo hoàng Phanxicô nhấn mạnh điều này: “Thật quan trọng để đầu tư vào những người trẻ. Người trẻ là thế hệ tiếp theo của các nhà kinh tế và doanh nhân. Họ sẽ là những nhân vật chính của nền kinh tế trong nay mai. Phải đào luyện cho các em, người trẻ nam nữ, được chuẩn bị để phục vụ cộng đồng và tạo ra một nền văn hóa gặp gỡ.”[37]
Ngoài ra, Đức Giáo Hoàng còn kêu gọi người trẻ: “Hãy trỗi dậy và bảo vệ công bằng xã hội, sự thật và lẽ phải, nhân quyền, những người bị bách hại, những người nghèo và người dễ bị tổn thương, những người không có tiếng nói trong xã hội, những người nhập cư.”[38] Tôi tin Thiên Chúa có cách để đồng hành và giúp người trẻ chúng ta can đảm giang rộng vòng tay nhân ái đến với những ai cần giúp đỡ.
Kết luận
Các bạn trẻ thân mến,
Có thể ai đó cho rằng 5 điểm trên đây vĩ đại quá, sao con làm được! Đó là thái độ của người chưa có ước mơ lớn. Hãy tập ước mơ và từ từ hoàn thành ước mơ của mình mỗi ngày. Ước mơ ấy một khi hòa chung nhịp đập của Giáo hội, (những điều trên Giáo hội quan tâm), chắc chắn bạn không lạc lõng. Thử tưởng tượng ai cũng có ước mơ và hy vọng theo đuổi một trong những điểm thú vị mà Đức Giáo Hoàng đề nghị, chắc chắn đời sống của người trẻ sẽ thay đổi, đổi thay rất nhiều.
Đã đến lúc chúng ta được Giáo Hoàng, được Giáo Hội hoan hô cổ vũ để cộng tác trong cuộc sống này. Tôi và bạn là những người trẻ Công giáo, nghĩa là chúng ta có Đức Giêsu trẻ trung, muốn kết thân với chúng ta. Đức Giêsu luôn có một kế hoạch cho từng người. Ngay cả trước khi chúng ta hiện hữu, chúng ta đã ở trong kế hoạch yêu thương của Ngài.
Để kết thúc, chúng ta nghe lại lời chia sẻ của Đức Giáo Hoàng dành cho người trẻ thế giới, cho từng người trẻ Việt Nam: “Chúa Giêsu lấp đầy các con bằng những món quà khác, mà cộng đồng được mời gọi trân quý, để các con có thể khám phá ra kế hoạch yêu thương của Người dành cho từng người chúng con.”[39]
[1] https://www.tonggiaophanhanoi.org/thong-bao-hoan-to-chuc-dai-hoi-gioi-tre-giao-tinh-ha-noi/
[2] Xem Sứ điệp mới nhất của ĐTC Phanxicô cho Ngày Giới trẻ Thế giới lần thứ 36: https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2021-09/su-diep-dtc-phanxico-ngay-gioi-tre-the-gioi-lan-36.html
[3] Toàn văn: https://www.vatican.va/content/francesco/en/messages/youth/documents/papa-francesco_20180211_messaggio-giovani_2018.html
[4] Sứ điệp Ngày Giới trẻ Thế giới lần thứ 33
[5] Tông Huấn Đức Kitô Sống số 268
[6] Tông Huấn Đức Kitô Sống số 127
[7] Tông Huấn Đức Kitô Sống 123
[8] Đọc thêm: Sứ điệp của ÐTC Phanxicô gửi Ngày Giới trẻ Thế giới lần thứ 31 tại Krakow, Balan.
[9] Về đời sống hôn nhân, ĐGH viết: “Hãy mơ ước, không lo sợ về việc xây dựng một gia đình, sinh dưỡng và nuôi dạy con cái, trải nghiệm cuộc sống và chia sẻ tất cả với một người khác. Đừng xấu hổ về những lỗi lầm và yếu đuối của các con, vì có một người sẵn sàng chấp nhận và yêu chúng, một ai đó sẽ yêu các con như các con là.” (Diễn văn của ĐTC trong buổi gặp gỡ giới trẻ tại sân vận động Lokomotiva ở Košice, 14/9/2021).
[10] Về đời sống hiến dâng, ngài viết: Niềm vui Tin Mừng là điều khiến chúng ta không được phép lưỡng lự và biếng nhác, nhưng mở ra để gặp gỡ Thiên Chúa và anh chị mình. Niềm vui sẽ không lấp đầy trái tim ta nếu chúng ta cứ đứng ở cửa sổ chờ mong cho, mà không chấp nhận những rủi ro cho chính quyết định của chúng ta hôm nay. Ơn gọi bắt đầu từ hôm nay! (x. Sứ điệp ĐGH Phanxicô gửi cho giới trẻ nhân Ngày Thế Giới Ơn Gọi 2018)
[11] Tông Huấn Đức Kitô Sống số 140
[12] Tông Huấn Đức Kitô Sống số 143
[13] Tựa sách: Let Us Dream: The Path to a Better Future (2020)
[14] Theo Tông huấn Chúa Kitô Sống
[15] Tông Huấn Đức Kitô Sống, số 148.
[16] Tông Huấn Đức Kitô Sống số 148
[17] Xem thêm: Lê Đắc Thắng, S.J và Phạm Đình Ngọc, S.J, Khởi nghiệp với thánh I Nhã, Tôn Giáo, 2020, tr. 15-18.
[18] Tông Huấn Đức Kitô Sống số 142
[19] https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2021-10/dtc-phanxico-nguoi-tre-dien-dan-luong-thuc-the-gioi-fao.html
[20] Trích bài giảng của Đức Giáo hoàng trong Thánh lễ kính trọng thể Chúa Ki-tô Vua vũ trụ tại Rô-ma, Chủ nhật ngày 22/11/2020.
[21] Tông Huấn Đức Kitô Sống số 1
[22] Tông Huấn Đức Kitô Sống số 143
[23] Huấn Từ trong Buổi Canh Thức, Ngày Giới Trẻ Thế Giới XXXIV tại Panama, (26 tháng 1, 2019): L’Osservatore Romano, 28-29 tháng 1, 2019, 6.
[24] Tông Huấn Đức Kitô Sống số 183
[25] Tông Huấn Đức Kitô Sống số 185
[26] Tài Liệu Kết Thúc Thượng Hội Đồng Giám Mục Thường Kỳ Thứ XV, 60, số. Tài liệu tiếng Việt tại: http://www.giaoly.org/vn/tlktthdgt/.
[27] Ý được tóm theo Lm. Cao Gia An, SJ: (nguồn: https://www.vaticannews.va/vi/church/news/2019-11/hay-ve-nha-loi-tam-huyet-dgh-phanxico-danh-cho-nguoi-tre-vn.html)
[28] Tôi rất thích câu nói của triết gia Hy Lạp Aristotle: “Những thói quen tốt ta hình thành khi còn trẻ không tạo nên khác biệt nhỏ nào, đúng hơn, chúng tạo ra tất cả khác biệt.” Hoặc chúng ta quen với danh ngôn này của Samuel Smiles: “Gieo suy nghĩ, gặt hành động. Gieo hành động, gặt thói quen. Gieo thói quen, gặt tính cách. Gieo tính cách, gặt số phận.”
[29] Tông Huấn Đức Kitô Sống số 228
[30] Ngoài ra, Tổ chức Y tế Thế giới cảnh báo 10 mối đe dọa sức khỏe toàn cầu năm 2019: Ô nhiễm không khí và biến đổi khí hậu, các bệnh không lây nhiễm, đại dịch cúm toàn cầu, khu vực sống mong manh và dễ bị tổn thương, kháng kháng sinh, ebola và các tác nhân gây bệnh nguy hiểm khác, công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu yếu kém, sự e ngại trong tiêm phòng vắc–xin, sốt xuất huyết, HIV. (Xem thêm: https://www.who.int/vietnam)
[31] Laudato si’ số 13
[32]Xem thêm: https://moitruong.net.vn/hoc–cach–nguoi–nhat–bao–ve–moi–truong–song/
[33] https://tgpsaigon.net/bai-viet/su-diep-ngay-gioi-tre-the-gioi-lan-thu-35-nam-2020-cua-duc-thanh-cha-phanxico-59867
[34] https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/mang-xa-hoi-va-chu-nghia-tieu-thu-truyen-thong-canh-bao-cua-duc-phanxico-42858
[35] Tông Huấn Đức Kitô Sống, số 31
[36] Tông Huấn Đức Kitô Sống, số 37
[37] https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2020-09/dtc-phanxico-dien-dan-european-house-ambrosetti-kinh-te.html
[38] https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2021-09/su-diep-dtc-phanxico-ngay-gioi-tre-the-gioi-lan-36.html
[39] Tông Huấn Đức Kitô Sống số 149, Đức Giáo hoàng ký nhận những lời này tại Đền Thờ Loreto, ngày 25 tháng 3, năm 2019, năm thứ bảy của triều đại giáo hoàng của ngài.
