2021
Lời Chủ Chăn Giáo phận Xuân Lộc Tháng 12 – 2021: Nguyện Cầu… Những ‘Bản Diệu Ca’
GIÁO PHẬN XUÂN LỘC
Lời Chủ Chăn Tháng 12 – 2021
Nguyện Cầu… Những ‘Bản Diệu Ca’
‘Con đã tỏ cho chúng biết Danh Cha và sẽ còn tỏ cho biết nữa…’ (Ga 17: 26)
Quý Cha và Quý Tu sĩ thân mến,
Thiên Chúa là Tình Yêu (1Ga 4: 16). Tình yêu của Thiên Chúa dành cho Israel và của dân đối với Thiên Chúa được diễn tả đắc ý nhất bằng liên hệ vợ chồng. Tình yêu nằm nơi yếu tính của con người, hoạ ảnh Thiên Chúa, đã hiện tỏ với sắc thái hiện sinh, ‘có sáng có tối’, ‘có phai nhạt có say sưa’, tiêu biểu từ những chương đầu sách Sáng Thế, nơi các Tiên tri, và nhất là trong tập Diệu Ca.
Phải cần ngôn ngữ tình yêu mới phác hoạ được một chút thực tại mối tương quan thăm thẳm Thiên Chúa ‘rạo rực’ (Dc 5: 4) yêu thương Israel, yêu thương nhân loại. Đấng cao cả siêu việt đưa con người vào một mối tình lạ lùng dệt nên những ‘Bản Diệu Ca’ làm con tim ‘ngất lịm’ (Dc 4: 9). Việc tháp nhập mối tình này làm thành nguyện cầu… Nguyện cầu… những ‘Bản Diệu Ca’…
Vào những giây phút cuối đời tại thế, trong không khí thánh thiêng lễ Vượt Qua đang được cử hành tại phòng tiệc ly và sau đó tại đồi Calvê, Chúa Giêsu đã mạc khải những tâm tư thăm thẳm… và lời cuối cùng: ‘Con đã tỏ cho chúng biết Danh Cha, và sẽ còn tỏ cho biết nữa…’ (Ga 17: 26).
- Đức Chúa ‘đã tỏ…’ (x. Ga 17: 26)
Tình yêu vô hạn, siêu việt của Thiên Chúa…
Ađam, ‘Con ở đâu?’ (St 3: 9), tiếng gọi ‘Tình yêu’ đi vào không gian, khoảng không-không người… âm vang đến tận biên cương vũ trụ… Tình yêu đi tìm ‘người tâm phúc’… Bước chân ‘Tình yêu’ chiều nay trong vườn ‘Eđen’ có còn ‘tản bộ’ thư thái với ‘gió hiu hiu ban chiều’ như mọi ngày?
Tiếng gọi ‘Tình yêu’ đã đi vào cõi riêng, nơi người và bạn đời ‘núp mình đi’ (St 3: 11)… đã đi vào cõi riêng… ở đó ‘trời đã tối’ (Ga 13: 30)…
Tiếng gọi ‘Tình yêu’ đã lay động… đã có tiếng ‘người’ đáp, dẫu là những lời đắng cay, nhưng lại là sự thật… để tiếng gọi ‘Tình yêu’ ban bố ‘Lời hứa’ về một ‘Người Đàn Bà’ tuyệt thế và về một ‘Dòng Giống sẽ đạp đầu’ con rắn, kẻ ‘phỉnh gạt’ (x. St 3: 8-15).
Tình yêu vô hạn, siêu việt của Thiên Chúa đã đi vào lịch sử:
Tình yêu thích tâm sự nơi sa mạc… không tiếng động, ngoài tiếng gió và hơi thở… và nhịp đập của con tim… Khi ‘người’ suy sụp thành hôn thê bất trung, ‘Tình yêu’ vẫn vô hạn… vẫn ngỏ ‘Lời’: ‘này Ta dụ dỗ người ấy, đem người ấy vào sa mạc, và kề lòng, Ta nói khó với nó’ (Hs 2: 16). Để ‘người’ sẽ gọi: ‘chồng tôi’… không còn gọi ‘Thần Baal của tôi nữa…’ (Hs 2: 18).
Sa mạc ‘cầu nguyện’ dành riêng cho một ‘Hệ sinh thái’ làm cho ‘trái tim khoẻ mạnh’[1]. Sa mạc ‘cầu nguyện’ đơm bông vẻ đẹp một đời sống giản dị đến mức thành ‘cái không’ của bản thân để nhận ‘cái tất cả’ từ Thiên Chúa. ‘Hãy nếm và xem Đức Chúa tốt lành nhường bao! Phúc cho ai ẩn náu bên Người’ (Tv 34: 9)… Đây đã là khúc dạo tuyệt vời của ‘Bản Diệu Ca’…
- ‘Con đã tỏ…’ (Ga 17: 26)
Mùa Giáng Sinh đã về gần. ‘Một trẻ đã sinh ra cho ta’ (Is 9: 5). Hài Nhi Giêsu đã chào đời cho chúng ta. Giêsu là Lời. ‘Lúc khởi nguyên đã có Lời… Lời là Thiên Chúa’ (Ga 1: 1). ‘Lời đã thành xác phàm… chúng tôi đã được ngắm vinh quang của Ngài, vinh quang như của Con Một tự nơi Cha, tràn đầy ân nghĩa và sự thật’ (Ga 1: 14).
Nhân loại vây quanh Lời. ‘Mắt họ đăm đăm nhìn Ngài’ (Lc 4: 20)… ‘kinh ngạc, bởi thấy câm nói được, tàn tật được an lành, què quặt lại đi đứng, và đui mù được thấy’ (Mt 15: 31). ‘Các Lời về ân sủng xuất bởi miệng Ngài’ (Lc 4: 22)…: ‘Tội lỗi của con đã được tha… Lòng tin của con đã cứu chữa con. Hãy đi bằng yên’ (Lc 7: 48)… Chị ấy, ‘một người tội lỗi trong châu thành… chị đã ‘khóc nức nở, sa nước mắt đẫm ướt chân Ngài… xoã tóc trên đầu, chị cố lau sạch’ (Lc 7: 37.38)… Trong khi chị cố lau sạch chân Chúa thì Chúa đã ‘lau sạch nước mắt’ (Is 25: 8) chị rồi. Đã có một cử chỉ quyết liệt: ‘đập vỡ’, chị đập vỡ ‘bình bạch ngọc đựng dầu thơm cam tùng thuần chất quý giá’ (x. Mc 14: 3)… Đập vỡ để bỏ dứt quá khứ phù phiếm… Bình đắt tiền, dầu hảo hạng nhưng chẳng nghĩa lý gì trước Chúa Giêsu… Và có lẽ còn âm vang trong lòng chị như nơi người nữ ngoại tình lời Giêsu ân cần nhắn nhủ: ‘Và từ nay con đừng phạm tội nữa’ (Ga 8: 11).
Đã biết bao lần Chúa bộc lộ nỗi lòng: ‘Ta xót thương vì dân chúng, bởi đã ba ngày rồi họ lưu lại với Ta, và lại không có gì ăn! Để họ nhịn đói mà lui về, thì Ta không muốn, kẻo họ xỉu mất dọc đường’ (Mt 15: 32)… ‘Trước lễ Vượt Qua, Đức Giêsu biết rằng đã đến giờ Ngài qua khỏi thế gian này để đến cùng Cha, đã mến yêu các kẻ thuộc về Ngài còn trong thế gian, thì Ngài đã yêu mến họ đến cùng’ (Ga 13: 1): Yêu mến đến cùng, mạc khải Chúa Cha. Yêu mến đến cùng, hiến mạng chịu đóng đinh treo thập giá mở vào cuộc phục sinh. Yêu mến đến cùng, ban hơi thở Thánh Thần. Yêu mến đến cùng, ‘Này là Mình Thầy – Này là chén Máu Thầy…’ để ở cùng anh em đến tận thế…
Một ‘Bản Diệu Ca’, niềm rung động của Đấng tuyệt đối đã vang lên giữa dòng đời…
- ‘Và sẽ còn tỏ…’ (Ga 17: 26)
Chúa Giêsu ‘lên núi và kêu lại những kẻ Ngài muốn. Và họ đến với Ngài… để họ ở với Ngài…’ (Mc 3: 13.14). Tất cả các Tông đồ trong nhóm mười hai, đều được đón nhận từ Chúa ân huệ ‘chung phận’ như nhau, nhưng mỗi người lại đi vào mối tương quan đậm nhạt rất riêng, mà không ai bì tỵ ai, ai cũng mãn nguyện (Ga 14: 8). Phêrô là thế, Philipphê, Anrê… Gioan không ngại nói về ‘sát lòng Đức Giêsu, có người môn đệ Đức Giêsu yêu mến…’ (Ga 13: 23).
Đã có những ‘Bản Diệu Ca’ từ các Tông đồ, từ những người đi vào mối tương quan với Chúa, đi vào qua con đường nguyện cầu… trải qua lịch sử Giáo hội, ‘không biết cơ man nào mà kể… trước ngai và trước Chiên Con…’ (Kh 7: 9).
‘Bản Diệu Ca’ của Augustinô: Nhận biết Chúa và nhận biết mình đi đồng nhịp: ‘Noverim Te, noverim me’ (Que je Te connaisse pour que je me connaisse). Mười hai thế kỷ trước Descartes, Augustinô đã ngạc nhiên trước thực tại ‘suy tưởng’, nhận thức đây là kinh nghiệm không thể hoài nghi về cốt tuỷ của kinh nghiệm tôn giáo, cội nền của mọi nhận thức xác thực và của mọi thực tại. Một năng lực trí tuệ nâng suy tưởng ta về nguồn cội (attirer en amont de ma pensée). Tình yêu nâng lên cao này bao hàm một trật ‘sự Thật và sự Thiện’. Đón nhận mạc khải từ tạo dựng, tôi là ‘Imago Dei’ (Hình ảnh Thiên Chúa, St 1: 26) trải dài trong mạc khải tình yêu vô hạn cứu độ ‘Nhân Danh Cha, và Con, và Thánh Thần’ (Mt 28: 19), tôi là ‘Imago Trinitatis’ (Hình ảnh Chúa Ba Ngôi)[2].
‘Bản Diệu Ca’ của Gioan Thánh Giá: Những chiều sâu biến đổi. Ân sủng-Tình yêu làm cho đôi bên, Thiên Chúa và người phàm, nên giống nhau, bất chấp những trở ngại. Hướng mắt nhìn lên đỉnh cao hoàn thiện. Không xem thường những dữ liệu tri thức, nhưng tình yêu hiện diện ngay từ đầu và cũng hiện diện đầy tràn ở điểm đến. Nguyện cầu trong con tim Gioan Thánh Giá là sự thấu suốt của một tình yêu hiến dâng tất cả cho Đức Tình Quân thành cuộc nhiệm hiệp nên một với Người trong đức Tin. Thánh Gioan Thánh Giá chia sẻ về ‘Đêm giác quan’ thường xảy ra nơi người ‘mới bắt đầu’. Cụm từ ‘mới bắt đầu’ không nhất thiết mang ý nghĩa thời gian nhưng là phẩm chất. Đường lên núi Cát Minh vượt qua đêm dày để nghiệm lấy một niềm háo hức khác lớn hơn, một thứ tình yêu khác quý hơn, một dạ nhớ…’ Ôi vận may diễm phúc… Chút sáng cháy trong tim. Chút sáng ấy đang hướng dẫn tôi. Chắc chắn hơn ánh sáng giữa trưa. Dẫn đến nơi có người đợi tôi. Người mà tôi biết rõ. Đợi ở phía không ai lai vãng… Một Tình Nương đã được biến đổi nên Tình Quân. Trên lòng tôi đầy hoa. Được giữ vẹn cho một mình Chàng…’[3].
Và còn biết bao ‘Bản Diệu Ca’… tỏ lộ sức sống của Mẹ Giáo hội: Đaminh, Phanxicô Assisi, Alphongsô, Inhaxiô Loyola, Têrêsa Hài Đồng Giêsu, Maximilianô Kolbê, Charles de Foucauld…
Anh chị em rất thân mến,
Không thể bỗng dưng mà có một ‘Bản Diệu Ca’ nhưng đã phải từng xẩy ra một cuộc gặp gỡ, một tỉnh ngộ… một chấn động ‘tình’ như ‘hơi thở chạm tơ vàng… thấm nhuần ơn trìu mến’ (Hàn Mạc Tử).
Đã có một cuộc đời lênh đênh, năm đời chồng mà chưa tìm được bến đậu… hôm ấy, một người dẫu ‘mỏi mệt vì đàng sá… ngồi phệt xuống bên giếng’ (Ga 4: 6) chờ chị, giữa buổi trưa nắng nôi, ngỏ lời, nếu chị biết ơn Thiên Chúa và ai là người đang nói với chị (x. Ga 4: 10)… Và… chị bỏ cả vò nước hớn hở chạy tới chạy lui… (x. Ga 4: 29). Ta chứng kiến ‘Bản Diệu Ca’ vang động rộn rã trong lòng chị…
Đã có một mạng người, tiêu biểu cho ‘vạn vạn cuộc đời’, rơi vào tình huống ‘ngàn cân treo sợi tóc’. Một đám đông hung hăng, đá trong tay, muốn giết hạng phụ nữ trắc nết ‘ngoại tình này bị bắt tại trận’ (Ga 4: 4)… mà nạn nhân đã nghe tận tai lời sắc bén như gươm, giải cứu: ‘Trong các ông, ai vô tội thì hãy ném đá trước hết người này đi’ (Ga 8: 7)… Kẻ toan giết người tỉnh ngộ thoát khỏi gây tội ác còn nạn nhân được trở về nhà ôm giữ trong lòng lời ôn tồn căn dặn ‘từ nay đừng phạm tội nữa’ (Ga 8: 11)… Phần đời sống sót của chị sẽ chẳng là ‘Khúc Diệu Ca’ sao…?
Đã có những cuộc đời ‘ở không’, ‘vô công rỗi nghề’… từng phút giây trôi qua vô nghĩa, phi lý đến ‘buồn nôn’… nhưng có người tuyển dụng vào làm vườn nho của ông, dẫu đã giờ thứ mười một… mà cuối ngày vẫn nhận công cán như người vào làm đầu ngày… ‘Hôm nay, anh sẽ ở trên thiên đàng làm một với Ta’ (Lc 23: 43)… Được trân trọng và được phước ân đến thế… chẳng lẽ lòng người lại không cất lên ‘Bản Diệu Ca’…
Đức Chúa quảng đại đặt sẵn nhịp cầu: ‘Ta đã nhắc các ngươi lên những cánh phượng hoàng mà đem các ngươi đến với Ta’ (Xh 19: 4)…
Ai mà lại chẳng có nỗi niềm, khi thuận buồm khi trái gió… Và còn chờ đây, có hay không ‘Bản Diệu Ca’ của cõi lòng tôi… chẳng lẽ tôi không nhận biết ơn Thiên Chúa và không nghe ra tâm tư Đấng không ngừng ngỏ lời với tôi, lời nguyện cầu cùng Chúa Cha… ‘Con đã tỏ cho chúng biết Danh Cha và sẽ còn tỏ cho biết nữa…?’ (Ga 17: 26).
Cậy vào sự chuyển cầu của Đức Trinh Mẫu Vô Nhiễm diễm phúc, Thánh Cả Giuse, xin Thiên Chúa ân cần nhắc nhủ mãi, giúp chúng ta để lòng xây đắp cho vững nền tảng hoạt động mục vụ: Nguyện cầu… Bản Diệu Ca, riêng, rất riêng giữa tôi với Người.
+ Gioan Đỗ Văn Ngân
Giám mục Giáo phận Xuân Lộc
Nguồn: giaophanxuanloc.net(07.12.2021)
[1] ĐTC Phanxicô, Tiếp kiến chung 26.2.2020
[2] Max Huot de Longchamp, Mystique, in Dictionnaire Critique de Théologie, Puf 1998, pp. 774-779).
[3] Thánh Gioan Thánh Giá, Đường Lên Núi Cát Minh, dg. Nguyễn Uy Nam và Lm. Trăng Thập Tự, nxb Đồng Nai, 2021, tập 2, pp. 1-59.
2021
Cựu tù nhân Menci Gezim và tình liên đới với những người bạn tù khác
Cựu tù nhân Menci Gezim và tình liên đới với những người bạn tù khác
Menci Gezim, 33 tuổi, người Albania, đã phải ngồi tù vì những tội nghiêm trọng. nhưng Nhờ Caritas Giáo phận Prato của Ý, và Ngôi nhà Jacques Fesch, hiện nay Menci Gezim là một doanh nhân, một người chồng và người cha. Trong công ty của cựu tù nhân này, có 3 nhân viên cũng từng là tù nhân như anh.
Ngày 16/11 vừa qua, trong chuyên mục tin vui của tờ Người đưa tin chiều của Ý, có một câu chuyện thúc đẩy mọi người sống lạc quan và khuyến khích độc giả tiếp tục tin tưởng vào sức mạnh của tình liên đới. Đó là câu chuyện về một thanh niên 33 tuổi người Albania, Menci Gezim, anh đã phải ngồi tù 10 năm, gần một phần ba cuộc đời vì những tội nghiêm trọng, nhưng đã nỗ lực không ngừng để chuộc lại lỗi lầm và đưa ra một hướng đi mới cho sự hiện hữu của mình trong thế giới này.
Khi nói về sự phục hồi của người trẻ này, không thể không nói đến Caritas của Giáo phận Prato và Ngôi nhà Jacques Fesch, là những nơi đã đón tiếp và hỗ trợ Menci Gezim trong một thời gian.
Ngôi nhà Jacques Fesch là một trung tâm thường xuyên chào đón các tù nhân đã mãn hạn tù, giúp họ phục hồi cuộc sống, và cũng là nơi trú ngụ qua đêm dành cho gia đình và người thân của các tù nhân từ xa đến thăm họ.
Trung tâm đón tiếp được đặt tên là Jacques Fesch, là tên của một người Pháp đã phạm nhiều tội, bị kết án tử và bị hành quyết vào ngày 01/10/1957, nhưng năm 1993, Giáo phận Paris đã quyết định mở án phong chân phước cho tử tù này.
Jacques là hiện thân của tội nhân thời hiện đại. Ông từng có một cuộc sống phóng túng, gia đình có nhiều vấn đề, đã kết hôn nhưng thường xuyên lừa dối vợ, có con riêng và cuối cùng chia tay với vợ. Từ đó, cuộc đời của Jacques càng lún sâu trong vũng bùn với nhiều tội. Năm 1954, trong khi tấn công một người để lấy tiền, ông bị phát hiện và trong lúc tìm cách tẩu thoát ông đã giết một người cảnh sát. Ông bị kết án tử và trong thời gian chờ đợi thi hành án ông đã gặp được một linh mục tuyên uý. Lúc đầu ông tự nhận mình là người vô thần, nhưng từng bước ông đã mở lòng ra với vị tuyên uý. Linh mục đã trao cuốn sách của thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, trong đó kể lại việc thánh nữ đã cầu nguyện cho tử tù và người này đã được ơn trở lại trước khi bị hành quyết. Jacques đọc câu chuyện này, suy niệm và say mê Chúa Giêsu. Ông viết: “Tôi có một cơn đau dữ dội nơi tâm hồn và trong vài giờ sau đó, tôi cảm nhận mình có đức tin, một sự chắc chắn tuyệt đối. Tôi đã tin và tôi không hiểu tại sao trước đây mình không tin. Chúa Giêsu đã đến thăm tôi và một niềm vui lớn đã chiếm hữu tôi, trên hết là một sự bình an lớn lao. Trong phút chốc mọi thứ trở nên nhẹ nhàng. Đó là một niềm vui rất mạnh mẽ”.
Từ thời điểm đó, một cuộc hoán cải ấn tượng bắt đầu, ông xưng tội, rước lễ mỗi ngày. Jacques viết cho học sinh của ông, kể lại ơn hoán cải và từ đó trở thành “tông đồ” của các học sinh một cách đáng kinh ngạc. Sau đó ông trở lại với người vợ, xin lỗi bà và nói với bà rằng ông cảm thấy có Chúa ở bên cạnh. Ông đã trở thành một người đàn ông khác.
Vài giờ trước khi bị thi hành án tử, ông viết câu cuối cùng trong nhật ký: “Tôi chờ đợi trong đêm và trong cảm nhận bình an. Tôi chờ đợi Tình yêu”.
Trở lại câu chuyện của Menci Gezim. Anh đến trung tâm Jacques Fesch vào năm 2017 khi vừa được mãn hạn tù, và trong lúc đó ngôi nhà đang được trùng tu, thế là tại đây anh theo học thợ nề.
Anh đã sống ở đó sáu tháng, và được một tình nguyện viên đến từ một hiệp hội giúp đỡ. Những người như anh khi ra tù phải bắt đầu lại từ đầu. Thực tế, anh không có giấy tờ cá nhân, không gia đình, không việc làm, không một nơi nào để đi. Theo thống kê, trong trường hợp không có cơ hội, cứ 3 người mãn hạn tù thì có 2 người quay trở lại con đường phạm pháp, và Menci không thể không biết điều này. Nhờ sự tin tưởng và ủng hộ nhận được, anh đã theo một cách khác.
Từng bước, tay nghề của anh được nâng cao. Anh lập gia đình, cùng với vợ anh đã quyết định thành lập công ty riêng. Hiện nay trong số công nhân của anh có ba người cũng có quá khứ giống anh, từng phải thụ án tù vì những tội phạm nghiêm trọng.
Câu chuyện của Menci và của ông Jacques cho thấy những mảnh đời có khứ đen tối, nhưng với ơn Chúa và nỗ lực không ngừng cùng với sự hỗ trợ của mọi người thì tương lai vẫn có thể mở ra tươi sáng. Chính Đức Thánh Cha Phanxicô bày tỏ điều này, vào tháng 10 năm ngoái (2020), nhân cuộc gặp gỡ tại Nhà trọ Thánh Marta với một nhóm người đã sống trải nghiệm trong tù: “Trong cuộc sống, tất cả chúng ta đều phạm sai lầm nhưng điều quan trọng là không bao giờ ở mãi trong sai lầm. Trong cuộc sống, nhiều lần chúng ta tìm được một bàn tay giúp nâng chúng ta lên, chúng ta cũng phải làm điều đó với người khác”.
Ngọc Yến
2021
Sự ưng thuận kết hôn
Sự ưng thuận kết hôn
Hỏi: Trong cử hành hôn phối: khi nào thì hôn nhân thành sự, nghĩa là lời cam kết có hiệu lực? Trường hợp lời cam kết không có hiệu lực vì thiếu ưng thuận, thì sự ưng thuận sau này có tính cách hồi tố không? Còn nếu hôn phối vô hiệu vì những lý do khác, thì làm thế nào để sửa chữa lại?
Trả lời:
Sự ưng thuận tự do sáng suốt và trách nhiệm làm cho hôn phối thành sự. Truyền thống các phán quyết của tòa thường tuyên bố hôn phối vô hiệu nếu sự ưng thuận bị khiếm khuyết hay bị thương tổn cách nào đó ngay lúc trao đổi lời cam kết (không trước, không sau). Các nghi thức khác không có ảnh hưởng gì cho việc thành sự hôn phối. Sự ưng thuận trước khi cử hành, dầu là trong một thời gian dài cũng không thể biện hộ cho sự ưng thuận không có hoặc khiếm khuyết lúc trao đổi lời cam kết. Sự ưng thuận ngầm sau khi về với nhau, cả việc hai người đ ăn ở với nhau có con, cũng không hồi tố hiệu lực cho sự ưng thuận không có hoặc khiếm khuyết lúc trao đổi lời cam kết.
Trong trường hợp trước đó không ưng thuận nhưng về sau ưng thuận hoặc hôn phối vướng mắc ngăn trở nào đó, thì giáo luật quy định một số cách thức để sửa chữa lại, làm cho hôn phối đã không thành trở lại có hiệu lực.
- Việc hiệu lực hóa đơn giản hay cử hành hôn phối lại (đ.1156-1160).
Sự vô hiệu của hôn phối đ cử hành có thể do nhiều nguyên do:
– Có ngăn trở tiêu hôn mà chưa được miễn chuẩn.
– Có khiếm khuyết trong sự ưng thuận của một trong hai hoặc cả hai.
– Thiếu thể thức giáo luật khi trao đổi sự ưng thuận.
Hiệu lực hóa là hành vi pháp lý của một trong hai hoặc cả hai người kết hôn làm lại sự cam kết ưng thuận hôn phối, khi sự ưng thuận này bị khiếm khuyết làm cho hôn nhân không thành.
Hiệu lực hóa đơn giản là “một cách thức được thực hiện ở tòa trong nhằm mục đích làm yên lương tâm một người phối ngẫu nghĩ rằng hôn phối mình đã cử hành với người kia là vô hiệu mà không cần phải kiểm chứng lại” (J.P.Schouppe). Nếu nguyên nhân làm cho hôn phối vô hiệu là công khai (có thể kiểm chứng được), thì việc hiệu lực hóa phải thực hiện bằng việc cử hành hôn phối lại.
Để có thể thực hiện việc hiệu lực hóa hôn phối, phải chắc chắn rằng khiếm khuyết làm cho hôn phối vô hiệu không còn nữa, một bên hoặc hai bên phối ngẫu đều biết về khiếm khuyết nầy. Phải cam kết lại sự ưng thuận theo thể thức giáo luật một cách công khai khi đó là khiếm khuyết công khai và cam kết lại cách riêng tư hoặc kín đáo khi khiếm khuyết còn kín. Trong trường hợp sau, chỉ cần làm ở tòa trong, không cần ghi sổ sách. Mục đích làm lại việc cam kết một cách công khai là để làm chứng rằng sự khiếm khuyết công khai trước đây đã bị xóa bỏ và hôn phối đã được thực hiện thành sự. Các trường hợp:
- Hôn phối vô hiệu vì mắc ngăn trở tiêu hôn:
Sẽ cử hành lại hôn phối sau khi ngăn trở đã hết.
1/ Tiêu hủy ngăn trở.
Để thực hiện hiệu lực hóa, trước tiên phải tiêu hủy ngăn trở còn vướng mắc. Việc hủy bỏ ngăn trở có thể do cái chết của người phối ngẫu trong hôn phối trước, việc giải phẫu chữa bệnh làm chấm dứt tình trạng bất lực; hết tuổi vị thành niên hoặc do một ơn chuẩn (x. đ.1079-1082).
2/ Làm lại việc cam kết.
a/ Bên phía người phối ngẫu biết ngăn trở, phải thực hiện lại lời cam kết ưng thuận (đ.1156), ngay cả lúc cử hành ban đầu, hai người đã trao đổi sự ưng thuận và đã không rút lại sau đó. Việc thực hiện lại lời cam kết là một hành vi mới của ý chí để hợp pháp hóa hôn phối mà người thực hiện lại biết rằng hôn phối ấy đã không thành ngay từ đầu. Nếu cả hai đều biết ngăn trở thì cả hai phải thực hiện cam kết lại.
b/ Thể thức: nếu ngăn trở là công khai (ít là chứng minh được ở tòa ngoài) thì cả hai bên phải cam kết lại, có thể cách kín đáo, theo thể thức giáo luật, trừ khi được miễn chuẩn thể thức này trong hôn phối hỗn hợp hoặc trong trường hợp nguy tử. Sau đó phải ghi vào sổ bộ như một hôn phối mới để làm chứng ở tòa ngoài.
Nếu ngăn trở còn kín đáo (hoặc không thể chứng minh), thì chỉ cần một bên cam kết lại cách riêng tư hoặc kín đáo, nghĩa là không cần nhân chứng, miễn là bên kia vẫn còn duy trì sự ưng thuận trước đây hoặc là cả hai bên cam kết lại, nếu hai bên đều biết ngăn trở.
- Hôn phối không thành vì khiếm khuyết trong sự ưng thuận.
Bên đã không ưng thuận lúc cử hành hôn phối, lúc này ưng thuận lại và chắc chắn rằng bên kia vẫn còn duy trì sự ưng thuận.
Nếu sự khiếm khuyết ưng thuận có thể chứng minh được, thì cam kết lại theo thể thức giáo luật, như một cử hành hôn phối mới.
Nếu sự khiếm khuyết ưng thuận không thể chứng minh được, thì chỉ cần bên biết cam kết lại một cách riêng tư và kín đáo.
- Hôn phối không thành vì thiếu thể thức giáo luật.
Hai người phải thực hiện lại việc cam kết theo thể thức giáo luật (có thể chuẩn rao hoặc có thể theo cách thức kín đáo). Trường hợp hôn phối hỗn hợp hay khác đạo thì phải xin chuẩn.
Nếu hai bên không muốn làm lại lời cam kết theo thể thức giáo luật, mà chỉ muốn tiếp tục sống chung vợ chồng, thì phải xin chữa tận căn (sanatio in radice).
- Việc sửa chữa tận căn(x. GL đ.1161-1165).
Nguồn gốc phát xuất từ việc Đức Giáo Hoàng Bonifacio VIII đ ban phép sửa chữa tận căn cho hôn phối của Marguerite d’Aragon. Cách thức này đã được dùng để hợp thức hóa những trường hợp hôn phối đã cử hành thiếu thể thức giáo luật, sau cuộc ly giáo của nước Anh và sau cuộc cách mạng Pháp 1789. Cách thức này khác với việc hiệu lực hóa kể trên ở chỗ đây là hành vi của quyền lập pháp thực hiện việc miễn chuẩn có tính cách hồi tố theo luật, chứ không phải là hành vi cam kết lại của hai bên.
- Định nghĩa.
Giáo luật đ.1161 định nghĩa: Sửa chữa tận căn một vụ hôn phối không thành (matrimonium iritum) là khi thẩm quyền hữu trách cho hiệu lực hóa chính hôn phối đó mà không phải lặp lại sự ưng thuận, kèm theo việc miễn chuẩn ngăn trở, nếu có và miễn chuẩn thể thức giáo luật, nếu đã không giữ, cũng như phục hồi các hiệu lực giáo luật của hôn phối trong quá khứ.
- Thẩm quyền.
1/ Tòa Thánh.
Tòa Thánh có thẩm quyền tổng quát trong tất cả các nguyên nhân làm cho hôn phối không thành. Ngoài ra có hai loại sửa chữa tận căn dành cho Tòa Thánh:
Trường hợp hôn phối không thành do một ngăn trở dành cho Tòa Thánh. Theo GL. đ. 1078 §2 thì những ngăn trở ấy là: ngăn trở do chức thánh hoặc do lời khấn công khai vĩnh viễn về đức khiết tịnh trong dòng tu thuộc quyền Giáo Hoàng, ngăn trở tội ác nói ở điều 1090[1], hoặc một ngăn trở thuộc luật tự nhiên hay luật Thiên Chúa thiết lập đã chấm dứt (hôn phối trước, bất lực).
2/ Giám mục giáo phận.
Giám mục giáo phận cũng có thể ban phép sửa chữa tận căn nhưng chỉ tùy theo từng trường hợp một. Thẩm quyền này không bị hạn chế cả khi có nhiều nguyên nhân cùng một lúc, làm cho hôn phối bất thành.
Để sửa chữa tận căn hôn phối hỗn hợp, phải thỏa mãn đầy đủ các điều kiện nêu trong giáo luật đ.1125[2]. Giám mục không có quyền trong những trường hợp được dành riêng cho Tòa Thánh.
- Cách thức và hiệu quả.
1/ Điều kiện.
– Trong hôn phối cử hành trước kia, hai người đã thực sự trao đổi sự ưng thuận.
– Sự ưng thuận hôn phối đã được hai bên trao đổi vẫn còn tồn tại nơi đôi bạn cho đến lúc sửa chữa tận căn. Điều này được suy đoán cho đến khi có chứng cứ ngược lại.
– Việc trao đổi ưng thuận trước đây không thành vì có ngăn trở tiêu hôn hay thiếu thể thức giáo luật.
– Khi việc trao đổi lại lời cam kết ưng thuận, để hợp pháp hóa hôn phối, gây trở ngại khó khăn nghiêm trọng, thì được ban ơn sửa chữa tận căn do một hay cả hai phía thỉnh cầu. Nhưng nếu đôi bạn không còn có ý sống chung với nhau nữa thì việc ban phép sửa chữa tận căn là bất hợp luật.
2/ Hiệu quả.
Có hiệu quả hồi tố ngay khi được ơn sửa chữa tận căn và hồi tố trở lại từ lúc cử hành hôn phối, trừ trường hợp được minh thị cách khác.
Trường hợp có ngăn trở theo luật Chúa thì hiệu quả hồi tố trở lại từ lúc hết ngăn trở này.
Trường hợp ngăn trở theo luật tự nhiên hay luật thiết định thì ơn sửa chữa tận căn chỉ được ban sau khi hết ngăn trở và hiệu quả hồi tố trở lại từ lúc hết ngăn trở.
Không nên quan niệm sai lầm rằng: hễ hai người đã về chung sống với nhau, ăn ở với nhau có con cái là hôn phối đã thành sự và không thể nào tháo giải được.
Lm. Anphong Nguyễn Công Vinh
2021
Một đức tính giúp chúng ta hạnh phúc hơn
Một đức tính giúp chúng ta hạnh phúc hơn
Tính tiết kiệm là một phần quan trọng cho những vấn đề nan giải của cuộc sống và mang lại nhiều kết quả tốt đẹp.
Tất cả chúng ta đều tìm kiếm hạnh phúc. Nếu chúng ta hỏi ai đó liệu rằng họ có muốn hạnh phúc không, chắc chắn họ sẽ trả lời rằng: “Tất nhiên rồi!”
Tính tiết kiệm làm cho những người thực hành nó trở nên cao quý và giúp họ trở nên hạnh phúc. Nó cũng giống như một mảnh rời nhỏ bé nhưng thiết yếu trong những vấn đề nan giải của cuộc sống. Đó là một lối sống sinh nôi nẩy nở trong tinh thần đem lại cho chúng ta sự bình an nội tâm. Nhưng để sống tiết kiệm, điều cần thiết là phải biết cách tìm ra sự quân bình nơi những thứ mà chúng ta có được. Chúng ta không nên theo đuổi tính tiết kiệm chỉ như sự phủ nhận bản thân hay như chủ nghĩa rập khuôn theo một mốt nhất thời, mà hãy theo đuổi thứ gì đó mang lại lợi ích cho chúng ta với tư cách là một con người, điều giúp cải thiện cuộc sống của chúng ta.
Nền kinh tế của chủ nghĩa tiêu dùng xoay quanh cảm giác không hạnh phúc. Nó phụ thuộc vào việc chúng ta suy nghĩ, “Tôi cần đôi giày này để có hạnh phúc” hay “Ngày tôi có được chiếc xe đó, tôi sẽ hạnh phúc…”
Tuy nhiên, nếu chúng ta đang hạnh phúc và ý thức được về việc thỏa mãn, thì chúng ta sẽ không tìm kiếm một niềm hạnh phúc hời hợt nơi những đôi giày mới hay một chiếc xe hơi mới nào đó, và do đó, chúng ta sẽ trở nên tiết kiệm hơn. Hơn nữa, tính tiết kiệm không hoàn toàn là vấn đề cắt giảm tiêu dùng càng nhiều càng tốt, mà là sống với sự vô tư và lòng biết ơn.
Rất dễ dàng để phân biệt được hạnh phúc của những người có được trật tự nội tâm và sự thanh thản, với những người mang vẻ bề ngoài không hài hòa với nội tâm của họ.
Tại thời điểm này, có lẽ câu hỏi đầu tiên để tự hỏi bản thân là: “Tôi có muốn mưu cầu hạnh phúc hay không?” Và câu hỏi thứ hai là: “Tôi phải bắt đầu sống tiết kiệm từ đâu nếu tôi muốn cùng gia đình mình thay đổi lối sống?”
Để bắt đầu, chúng ta phải xem xét những gì chúng ta cần thay đổi bên trong chính mình để theo đuổi được đức tính này. Sống tiết kiệm đòi hỏi sự tự nhận thức và tự chủ. Chúng ta có sẵn sàng nuôi dưỡng sự điều độ, chừng mực và nhã nhặn hay không?
Một khi chúng ta đã thực hiện được bước cam kết này, thì chúng ta mới có thể bắt đầu thực hiện một cuộc hành trình tinh thần qua từng không gian và thói quen trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, và mới xác định được những thói quen hay những thứ vật chất nào đã cướp đi sự bình an của chúng ta. Tiếp theo, chúng ta cũng nên phân tích xem chúng ta có thể cẩn trọng hơn trong những lĩnh vực nào của cuộc sống. Ví dụ: chúng ta có thể phân tích về nơi mà chúng ta có thể cắt giảm mức tiêu thụ năng lượng không cần thiết (xe hơi, hệ thống sưởi, điện), về sản phẩm sử dụng hàng ngày nào bền vững hơn, về cách chúng ta có thể tái chế hiệu quả hơn và liệu chúng ta có cẩn trọng khi thấy cần phải đáp ứng một nhu cầu nào đó.
Khi chúng ta chuyển đến một ngôi nhà mới hay thay đổi quần áo cho một mùa mới trong năm, thì đây có thể là một dịp hoàn hảo để suy ngẫm về những nhu cầu thật sự của chúng ta, và do đó, hãy bán hay cho đi những gì chúng ta không cần đến, hãy luôn tìm cách cho đi những thứ vật chất của chúng tađể có được một cuộc sống thứ hai.
Điều cuốn hút tôi nhất về đức tính tiết kiệm chính là khía cạnh của việc học cách mang đến cho từng vật dụng giá trị thích hợp của nó. Những hành động, quyết định và việc mua sắm của chúng ta trở thành một thứ gì đó hơn là một phản ứng bốc đồng đối với ước ao được thỏa mãn tức thời, đối với nhu cầu cấp thiết để thỏa mãn ý thích hay đối với ảo tưởng về việc lấp đầy lỗ hổng cảm xúc. Mọi thứ đều có một ý nghĩa, một lý do để tồn tại, đó là vì lợi ích chung và sự tiêu dùng có trách nhiệm.
Có rất nhiều lợi ích của việc thực hành tính tiết kiệm:
- Việc thực hành tính tiết kiệm giúp chúng ta nhận biết và điều chỉnh bản thân.Nó cho phép chúng ta trở thành người làm chủ của chính mình. Nó sắp xếp cách trật tự độ nhạy cảm và cảm xúc của chúng ta, cũng như sở thích và ước muốn, và những khuynh hướng sâu xa nhất của chúng ta: tóm lại, tính tiết kiệm giúp chúng ta tìm thấy sự cân bằng trong việc sử dụng của cải vật chất, và giúp chúng ta khao khát vươn tới điều tốt đẹp hơn (x. GLHTCG, số 1809).
- Việc thực hành tính tiết kiệm làm cho chúng ta trở nên sáng tạo và quân bình hơn.Tính tiết kiệm phát triển đáng kể khả năng sáng tạo của chúng ta, bởi vì nó mời gọi chúng ta tận dụng tối đa tất cả các nguồn lực của mình và khám phá tiện ích thực sự của chúng.Tính tiết kiệm tạo điều kiện cho những thứ cũ kỹ có thêm một cơ hội và đức tính này cũng giúp ích cho việc tìm thấy vẻ đẹp nơi những thứ đơn giản hơn.
- Việc thực hành tính tiết kiệm nuôi dưỡng các mối quan hệ của con người ở một phẩm chất cao hơn.Nếu chúng ta thực hành tính tiết kiệm, thì chúng ta sẽ nhận được nhiều hơn sự tôn trọng và lòng yêu thương của những người xung quanh. Tính tiết kiệm khuyến khích chúng ta sống tích cực hơn trong hiện tại, với lòng biết ơn, có ý thức và được nối kết với tất cả những nét đẹp sẵn có nơi mỗi con người.
- Việc thực hành tính tiết kiệm giúp chúng ta chịu đựng tốt hơn khi gặp phải nỗi thất vọng.Tính tiết kiệm về mặt cảm xúc giáo dục chúng ta nhận ra rằng không phải lúc nào chúng ta cũng có thể thỏa mãn những mong muốn của mình.
Hạnh phúc không nằm ở việc có được nhiều thứ hơn hay hoàn thành được tất cả những gì chúng ta mong muốn. Tính tiết kiệm là một chỉ dẫn tốt đẹp giúp chúng ta không bận tâm tìm kiếm cái Vô Hạn trong cái hữu hạn một cách tuyệt vọng và không thành công.
Tác giả: Miriam Esteban Benito
Chuyển ngữ: Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên
