2021
Bộ Kinh Thánh nào thích hợp cho tôi?
Bộ Kinh Thánh nào thích hợp cho tôi?
Chọn một bộ Kinh Thánh thích hợp có phải là một vấn đề khó khăn không? Ðã gọi là Kinh Thánh thì cứ đọc việc gì phải thắc mắc hay đặt vấn đề, chúng ta thường nghĩ như vậy! Chẳng có gì sai lầm trong lập luận ấy nhưng ở một xứ sở như Hoa Kỳ có quá nhiều bản dịch Kinh Thánh lưu hành khiến người công giáo chúng ta đâm ra hoài nghi đâu mới là bản dịch chính thức được Giáo Hội Công Giáo công nhận.
Ðôi khi cũng một đoạn Kinh Thánh nhưng ba ấn bản có ba lối dịch khác nhau khiến chúng ta đôi khi tự đặt câu hỏi chẳng biết đoạn văn nguyên thủy có ý muốn nói gì. Bài viết này không nhằm nêu lên vấn đề đúng sai của các văn bản Kinh Thánh đang lưu hành nhưng chỉ với mục đích lược qua lịch sử các bản dịch để độc giả tự chọn cho mình một bộ Kinh Thánh thích hợp hầu việc suy niệm Lời Chúa đem lại ích lợi cho đời sống chứng nhân của mình.
SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ CÁC BẢN DỊCH KINH THÁNH (ANH NGỮ)
Văn bản Anh ngữ đầu tiên của toàn pho Kinh Thánh ra đời khoảng giữa các năm 1380 và 1382. Ðây là công trình của John Wycliffe đã chuyển dịch từ văn bản La Tinh Vulgata. Bản dịch này bị Giáo Hội lên án và sau này văn bản này bị cháy mất. Năm 1525, William Tyndale hoàn thành việc chuyển dịch bộ Tân Ước từ bản văn Hy Lạp. Pho Tân Ước này cũng không được Giáo Hội công nhận vì thế bản văn này bị tịch thu và người dịch sau này bị án tử.
Khi Giáo Hội Anh ly khai khỏi Giáo Hội Công Giáo Roma dưới thời vua Henry VIII, Thomas Cromwell đã chính thức phê chuẩn bản dịch Anh Ngữ của ông Miles Coverdale. Bộ Kinh Thánh này đặt căn bản vào công trình của William Tyndale. Ngày 10 tháng 2 năm 1604, vua James I ra lệnh chuyển dịch pho Kinh Thánh mới và hoàn hảo hơn bằng Anh ngữ. Ông đã chọn lựa một số dịch giả và các nhà nghiên cứu chuyên môn cho công việc này. Pho Kinh Thánh mới này được chuyển dịch trực tiếp từ bản văn Hy Lạp và Do Thái. Kết quả bản dịch Anh Ngữ này có tầm quan trọng nhất và được những người Thệ Phản (Protestants) sử dụng thường xuyên nhất. Người ta gọi đó là ấn bản King James I năm 1611.
Trong khi đó, một văn bản Anh ngữ khác cũng được chuyển dịch, tuy không cùng năm nhưng cũng cùng kỷ nguyên với văn bản Anh ngữ của King James I, dựa trên văn bản Vulgata được người Công Giáo chú ý và sử dụng (Cuối thế kỷ thứ IV, Giáo Hội bành trướng khắp đế quốc Rôma. Vì ngôn ngữ chính trong đế quốc là tiếng Latinh, nên Thánh Jêrôme đã dịch Kinh Thánh ra tiếng này và sau thường gọi đó là bộ Kinh Thánh Vulgata ( -vulgatus trong tiếng Latinh có nghĩa là thông dụng, thường ngày -). Văn bản này là công trình chuyển dịch của George Martin, một nhà nghiên cứu Kinh Thánh Oxford. Pho Kinh Thánh này được nổi bật nhờ sự bảo trợ của Ðức Hồng Y William Allen (ÐHY Allen đã bị trục xuất khỏi Anh Quốc năm 1565, Ngài sang cư ngụ tại Douay Pháp quốc và mở trường Ðại Học nơi đây nhằm đào tạo các linh mục Công Giáo chuẩn bị cho ngày trở về hoán cải Giáo Hội Anh quốc). Bản dịch này xuất hiện ở hai thành phố Douay và Rheims nước Pháp vào khoảng năm 1609 và 1610, vì vậy được gọi là bản Douay&Rheims. Bản dịch này được người Công Giáo nói tiếng Anh sử dụng trong suốt 350 năm và chỉ được thay thế dần khi ấn bản Kinh Thánh mới của Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ chính thức xuất bản vào thập niên 1970.
Trong khi đó, Ấn bản của King James I cũng được giáo phái Thệ Phản thường xuyên sử dụng trong suốt 250 năm. Tuy nhiên vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, một vài bản dịch Anh ngữ khác đã xuất hiện. Trong khoảng các năm 1952 và năm 1989, tốc độ chuyển dịch tăng nhanh một cách đột ngột, ít nhất đã có 26 bản dịch Anh ngữ được xuất bản trong thời gian này. Có nhiều lý do người ta dùng để biện hộ cho sự kiện trên:
Trước hết, vì khoa khảo cổ ngày càng tiến bộ nhờ thế các nhà nghiên cứu Kinh Thánh đã thu lượm được nhiều thủ bản Kinh Thánh bằng tiếng Hi Lạp, Do Thái và Aram giúp cho việc phiên dịch thêm chuẩn xác trong nhiều đoạn văn hiện còn tối nghĩa.
Thứ đến, người ta cho rằng ngôn ngữ và nhất là Anh ngữ ngày một biến thiên và thay đổi, việc cập nhật hóa những ngôn từ Kinh Thánh trong Anh ngữ là cần thiết. Một đoạn tiêu biểu chẳng hạn Tin Mừng theo Thánh Matthêu 2,16, bản văn năm 1946 trong ấn bản Revised Standard Version dịch là: “Then Herod saw that he had been tricked by the wise men, was in a furious rage, and he sent and killed all the male children in Bethlehem.” và cũng cùng câu đó trong ấn bản New American Bible’s năm 1986 dịch là: “When Herod realized that he had been deceived by the magi, he became furious. He ordered the massacre of all the boys in Bethlehem.” Giữa hai bản dịch chỉ cách nhau 4 thập niên, chúng ta đã cảm được lối hành văn khác biệt, văn phong nhẹ nhàng và dễ hiểu hơn nhiều thì thử hỏi nếu đọc lên những đoạn văn của John Wycliffe năm 1382 và của King James I năm 1611 làm sao chúng ta hiểu nổi.
Các dịch giả hiện đại vẫn tiếp tục truyền thống chuẩn xác nhưng thêm phần dễ đọc. Chẳng hạn đoạn thư Thánh Phaolô Tông Ðồ gửi tín hữu Philippê đoạn 1, 12 được dịch như sau: ” To know now you brethren I want that the things to me rather for the advancement of the gospel have come.” Một vài dịch giả lại dịch bản văn thật sát nghĩa theo từng chữ (word-for-word) và chỉ chuyển đổi vị trí của chữ hoặc những thay đổi khác khi cần thiết và đoạn văn được dịch và viết như sau: ” Now I want you to know, brethen, that the things (which have happened) to me have come for the advancement of the gospel”. Cũng có những dịch giả lại chỉ nhắm vào ý nghĩa câu văn (meaning-for-meaning) hơn là chú trọng vào nghĩa từng chữ và đoạn văn được dịch lại như sau: “Now I want you to know, brothers, that what has happened to me has really served to advance the gospel.” Ða số những dịch giả này chú trọng vào việc truyền bá Tin Mừng cho người nói tiếng Anh như một ngôn ngữ thứ hai (English as second language) và các ấn bản Kinh Thánh này được gọi là International version. Trong những ấn bản này ý nghĩa câu văn được coi là “không thay đổi” nhưng những chữ sử dụng đôi khi không còn là những từ ngữ chính xác dùng trong văn bản Do Thái.
KINH THÁNH CỦA GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VÀ CỦA GIÁO HỘI THỆ PHẢN.
Pho Kinh Thánh của Giáo Hội Công Giáo và pho Kinh Thánh của Giáo Hội thệ phản có hoàn toàn giống nhau không? Công Giáo và Thệ Phản giáo đều công nhận 27 cuốn sách của phần Tân Ước, nhưng phần Cựu Ước lại có nhiều phần khác biệt.
Giáo Hội Công Giáo không xác định chính xác số sách trong Cựu Ước được chấp nhận là có sự Linh Hứng của Chúa Thánh Thần cho mãi tới năm 1546 qua Công Ðồng Trentô. Công Ðồng chỉ công nhận 46 cuốn sách trong Cựu Ước theo truyền thống của Giáo Hội từ thuở sơ khai. Trong khi đó lãnh tụ Thệ Phản Giáo, Lutherô, lại quyết liệt phản đối quyết định này của Công Ðồng. Ông không chấp nhận 7 cuốn sách: Tôbia, Judith, Khôn Ngoan, Sirach, Baruch, Maccabê I và II. Ðồng thời một vài phần trong sách Esther và Daniel cũng bị Ông cho là thiếu sự Linh Hứng của Thánh Linh. Thệ Phản Giáo gọi 7 quyển sách này là Ngụy Thư nhưng Công Giáo thì coi đây là những sách Thứ Luật (Quy điển thứ).
Ngày nay có rất nhiều bản dịch Kinh Thánh hiện đại tại Hoa Kỳ với các ấn bản Công Giáo. Những bản dịch này luôn mang chữ imprimatur (sự bảo đảm của các Giám Mục Công Giáo về văn bản nằm trong đường hướng giảng dạy của Giáo Hội) và bao gồm cả bảy cuốn sách Thứ Luật.
NHỮNG ẤN BẢN KINH THÁNH TẠI HOA KỲ
Revised Standard Version (RSV) Bản dịch này dựa trên văn bản của King James I, có phần tham chiếu cho việc nghiên cứu Kinh Thánh. Bản dịch có tính chính xác và vẫn giữ nguyên các thành ngữ cổ. Có ấn bản Công Giáo.
New Revised Standard Version (NRSV) Bản dịch này vẫn theo đường hướng của bản dịch trên (RSV) nhưng với sự bén nhậy của ngôn ngữ. Những ngôn từ truyền thống khi nói về Thiên Chúa vẫn được giữ nguyên vẹn nhưng với các thành ngữ diễn tả văn hóa của người Hoa Kỳ đã được cập nhật theo văn chương hiện đại. Có ấn bản Công Giáo.
New American Bible With Revised New Testament and Psalms (BAB-RNT) Bản dịch này là ấn bản tiêu chuẩn của Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ về Kinh Thánh. Ðây là ấn bản đã được cập nhật do Hội New American Bible (1952-1970) với sự chuẩn xác và cập nhật trong ngôn ngữ. Bản dịch này hiện đang chính thức được sử dụng trong phần Phụng Vụ Lời Chúa tại các thánh đường Công Giáo Hoa Kỳ và nhiều quốc gia sử dụng Anh ngữ khác.
New International Version (NIV) Bản dịch này nhằm mục đích phổ biến Kinh Thánh cho những người sử dụng Anh ngữ trên toàn thế giới. Bản dịch tương đối trung thành với ngôn từ Thánh Kinh hơn bản NRSV ở trên. Không có ấn bản Công giáo.
Today English Version (TEV)/ Good News Bible Bản dịch này được hội American Bible Society bảo trợ và hoàn thành khoảng giữa các năm 1976 và 1979. Các ấn bản của bản dịch này thường được biết đến qua tên gọi Good News Bible. Bản dịch này với mục đích tôn trọng sự chuẩn xác qua ngôn từ giản lược nên đã chuyển dịch theo nghĩa của đoạn văn. Có ấn bản Công Giáo.
Comtemporary English Version (CEV) Ðây là bản dịch mới của hội American Bible Society, phát hành năm 1995 với văn phong nhẹ nhàng, trong sáng và hiện đại. Hiện bản dịch còn đang chờ Giáo quyền phê chuẩn nên chưa có ấn bản Công Giáo.
New Jerusalem Bible (NJB) Lần đầu xuất bản năm 1982. Ấn bản này là hậu thân của bộ Kinh Thánh Jêrusalem Bible (JB) xuất bản năm 1966. Cả hai bản dịch trên được cảm hứng từ những bản dịch Pháp ngữ của các nhà nghiên cứu Công Giáo Dòng Ða Minh tại viện Kinh Thánh Jêrusalem. Bản dịch Anh ngữ này dựa trên nguyên bản tiếng Do Thái, Aram và Hy Lạp và đối chiếu với bản dịch Pháp ngữ. Văn bản đầy tính thơ. Bộ Kinh Thánh Công Giáo này được ca ngợi là đầy đủ tham chiếu và trích dẫn.
New King James Version (NKJV)hoàn thành năm 1982, bộ Kinh Thánh này nhằm cập nhật bản dịch của King James I mà không sửa đổi nhiều trong bản dịch. Những thành ngữ hay những chữ quá cổ như Thou, Thee sẽ được thay đổi hoặc những câu văn quá dài sẽ được cắt đoạn cho gọn gàng hơn. Những từ ngữ không có trong văn bản Do Thái, Aram và Hy Lạp đã được đổi thành chữ nghiêng. Các nhà biên soạn đã dựa phần Tân Ước vào văn bản Hy Lạp thế kỷ XVI thay vì những văn bản Hy Lạp cổ xưa mới tìm thấy. Không có ấn bản Công Giáo.
NHỮNG BỘ KINH THÁNH VIỆT NGỮ (GIÁO HỘI CÔNG GIÁO)
Tại Việt Nam, cũng có nhiều vị đã dịch Kinh Thánh nhưng đa số dịch từng phần chẳng hạn phần Tân Ước, Phúc Âm Nhất Lãm, Thánh Vịnh…. Những bản dịch trọn bộ chỉ có bốn ấn bản sau đây:
Cha Ð. M. Trần Ðức Huân: là người đầu tiên có công dịch trọn bộ Kinh Thánh được Giáo quyền Việt Nam chuẩn ấn. Bộ Kinh Thánh của ngài được coi là bộ Kinh Thánh duy nhất tại Việt Nam được sử dụng cách rộng rãi trong nhiều thập niên. Tuy nhiên vì thiếu sự cập nhật nên một số giáo sư Kinh Thánh cho là nhiều phần thiếu chuẩn xác và nhiều đoạn không rõ nghĩa.
Ðức Hồng Y Trịnh Văn Căn: Bộ Kinh Thánh do Ðức Hồng Y Trịnh Văn Căn chuyển dịch đã sớm được sử dụng nhưng chính thức ra đời khoảng đầu thập niên 80, được phổ biến rộng rãi trong Giáo Hội Công Giáo Miền Bắc. Văn phong bình dân. Ðây là một nỗ lực rất đáng quí trong hoàn cảnh nhưng lại không có giá trị chuyên môn và thiếu chuẩn xác. Sau biến cố 1975, bộ Kinh Thánh này dường như không còn ai sử dụng nữa.
Cha Nguyễn Thế Thuấn: Năm 1975, bản dịch trọn bộ của Cha Nguyễn Thế Thuấn ra đời. Pho Kinh Thánh này đã được Ðức Tổng Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn Bình chuẩn ấn tháng 11 năm 1975. Ðây là công trình biên soạn được đánh giá rất cao, tiện lợi cho việc tham khảo và nghiên cứu. Lối dịch rất chuẩn xác nhưng không đánh mất vẻ mạch lạc và trong sáng trong văn bản. Tuy nhiên theo một số giáo sư Kinh Thánh, Cha Thuấn đã sử dụng một số ngôn từ địa phương của Ngài nên đôi khi gây khó hiểu cho người đọc.
Nhóm Phụng Vụ Giờ Kinh: Năm 1998, xuất hiện bản dịch của nhóm Phụng Vụ Giờ Kinh do Ðức Tổng Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn Bình chuẩn ấn phần Tân Ước và Ðức Tổng Giám Mục J.B Phạm Minh Mẫn chuẩn ấn phần Cựu Ước. Bản dịch này được quảng bá rộng rãi và được nồng nhiệt đón nhận. Bộ Kinh Thánh này được dịch theo thể văn hiện đại. Văn phong nhẹ nhàng, dễ đọc và dễ nghe. Tiện ích cho việc sử dụng trong quần chúng, nhưng không tiện cho việc nghiên cứu và tham khảo như bản dịch của Cha Nguyễn Thế Thuấn. Cũng có nhiều người chê trách việc phiên âm các tên riêng theo kiểu phát âm tiếng Việt làm việc hình dung nhân vật quen tên thêm khó khăn và khó đọc.
CHỌN LỰA MỘT BỘ KINH THÁNH THÍCH HỢP
Giữa một rừng bản dịch như thế chúng ta liệu sẽ chọn cho mình bộ Kinh Thánh nào bây giờ? Ðể đơn giản hóa câu trả lời trước hết chúng ta phải xác định rõ ràng mình là người Công Giáo, chúng ta chỉ chọn những sách có sự bảo đảm của Giáo quyền về văn bản của bộ sách (imprimatur) và những sách có bao gồm bảy cuốn Thứ Luật. Thứ đến chúng ta muốn chọn cho mình một bản dịch thế nào? Bộ Kinh Thánh để đọc hay bộ Kinh Thánh để tham khảo? Một bộ Kinh Thánh dùng để đọc thường không có những phần tham chiếu bên lề hoặc bên dưới trang sách. Nên đọc thử vài phần trong nhiều bộ Kinh Thánh khác nhau để so sánh xem bộ nào mình thấy thoải mái và dễ dàng khi đọc.
Ðiều quan trọng nhất không phải là hay hoặc dở nhưng là chúng ta cảm nhận được gì qua trang sách chúng ta đọc. Nói cách khác, chúng ta nhận ra tiếng Chúa thế nào qua trang Kinh Thánh chúng ta vừa đọc.
____________________
Sách tham khảo: Catholic Digest, Summer 2000
(Ðào Ngọc Ðiệp, Catholic Update, April 1999)
2021
Vấn đề đào tạo Linh Mục ở Việt Nam
Vấn đề đào tạo Linh Mục ở Việt Nam
Mở đầu Sắc Lệnh Optatam Totius, Công Đồng Vatican II khẳng định: “Việc đào tạo linh mục là việc vô cùng quan trọng…
Vì tính cách duy nhất của chức linh mục Công Giáo, nên việc đào tạo linh mục là cần thiết cho tất cả các linh mục dòng cũng như triều, thuộc bất cứ lễ chế nào” (OT số 1). Chính vì thế, công cuộc đào tạo con người, đào tạo linh mục và đời sống thánh hiến là mối quan tâm hàng đầu của Giáo Hội. Để có thể thực hiện tốt sứ vụ đào tạo nhân sự cho Giáo Hội trong bối cảnh hiện nay, chúng ta cần nhìn lại triết lý giáo dục và những nguy cơ có thể xảy ra trong việc huấn luyện con người.
- Vấn đề giáo dục ở trong Nước
Nhà văn Nguyên Ngọc cảnh báo tình trạng khủng hoảng giáo dục ở Việt Nam như sau:
“Giáo dục của chúng ta hiện nay đang có vấn đề trong cả hệ thống của nó, hầu như tất cả các lãnh vực của nó đều có vấn đề, cái hỏng của nó có tính chất hệ thống chứ không phải cục bộ”.[1]
Ông đề cập tới cái “lỗi hệ thống”, một thứ lỗi nền tảng nhất, sâu xa nhất và nguy hại nhất. Theo các nhà giáo dục chân chính, nguyên nhân cuộc khủng hoảng giáo dục ở nước ta là do “triết lý giáo dục” vừa lạc hậu, vừa mất định hướng.[2] Giáo dục của chúng ta không chỉ là “lạc hậu” mà còn “lạc đường”. Đó là một điều tồi tệ nhất và đáng lo ngại nhất! Nếu lạc hậu mà còn đúng đường thì còn ít nguy hại hơn là lạc đường, vì lạc đường là hết cách cứu chữa nếu không có đổi hướng. Bởi vì, giáo dục chỉ là “nhồi nhét kiến thức” mà ít chú trọng đến việc giáo dục con người, không huấn luyện họ trở thành những người tốt, trưởng thành, có đạo đức và có chuyên môn. Phải có sự chuyển hướng và canh tân giáo dục thực sự cách triệt để và tận căn thì mới hy vọng rằng tương lai đất nước ta được sáng sủa hơn.
- Việc đào tạo ở trong Giáo Hội
Trong công việc đào tạo linh mục – tu sỹ nam nữ của Giáo Hội, chúng ta cũng được cảnh báo về hiện tượng “nín thở qua sông” của ứng sinh; hay mô hình đào tào linh mục – tu sỹ thiếu tính thống nhất và tính toàn vẹn, đã đưa công cuộc đào tạo này rơi vào tình trạng một chiều như duy tri thức, duy tu đức, duy luân lý, hay duy kỹ năng và duy hiệu quả…
Kiểu huấn luyện một chiều thường quá chú trọng đến một phương diện mà lãng quên các phương diện khác. Chẳng hạn, lối huấn luyện duy tu đức là khuynh hướng giảm thiểu một cách nền tảng con người và toàn bộ chương trình đào tạo chỉ trong yếu tố tu đức, tâm linh mà thôi, trong khi đó lại lãng quên những yếu tố khác về nhân bản, tri thức và mục vụ; lối huấn luyện này ít quan tâm tới các vấn đề của con người, như sự trưởng thành tâm sinh lý, tình cảm, tính dục và tương quan liên vị… của ứng sinh. Họ được huấn luyện để trở thành những con người trong trắng như “những thiên thần” vậy, mà không hề biết nhiều về những thực tại “con người”!
Hoặc lối giáo dục duy tri thức là kiểu giáo dục chỉ lo lắng trau dồi tri thức, nhồi nhét kiến thức. Đào tạo chỉ tập trung vào “cái đầu” nhưng lãng quên toàn bộ con người. Đó là “những con mọt sách” hay những người có “đầu to mà đít nhỏ”, thiếu sự quân bình trong nhân cách v.v…
Ngược lại, lối giáo dục duy kỹ năng hay duy hiệu quả là lối huấn luyện chỉ tập trung trang bị cho các thụ huấn sinh những kỹ năng sống, kỹ năng thi hành sứ vụ hay làm việc và đánh giá họ theo chỉ tiêu chuẩn hiệu quả công việc, trong khi đó lại lãng quên huấn luyện căn tính và nhân cách của họ trước. Phải tập trung huấn luyện và hình thành nơi ứng sinh “căn tính tốt” trước khi “làm việc tốt”. Cần tránh lối huấn luyện chạy theo chức năng và vai trò mà lãng quên việc huấn luyện căn tính. Vì như cha ông ta nói: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”. Phải “là” linh mục trước khi “làm” linh mục. Cần huấn luyện có căn tính tốt trước khi thi hành sứ vụ.
Cần phải có những nỗ lực canh tân kịp thời để chương trình huấn luyện phải giúp các ứng sinh thực sự được biến đổi toàn vẹn, trở thành những con người tốt, kitô hữu trưởng thành và những linh mục – tu sỹ thánh thiện để có thể đáp ứng cho những đòi hỏi của sứ vụ loan báo Tin Mừng trong bối cảnh của thế giới hôm nay.
Để thực hiện được việc canh tân đào tạo tại các Chủng Viện và Dòng Tu, trước hết chúng ta cần tránh lối đào tạo theo một mô hình một chiều, thiếu tính thống nhất và thiếu tính toàn vẹn. Cha Cencini nói tới những sự thiếu hụt có thể xảy ra trong đào tạo:[3]
Trước hết, đó là nguy cơ mô hình huấn luyện mơ hồ, nghĩa là không xác định được mục đâu là mô hình nền tảng và chính yếu để toàn bộ chương trình huấn luyện dựa vào đó làm mô mẫu và chuẩn mực. Nguy cơ thứ hai là mục tiêu huấn luyện thiếu rõ ràng. Việc huấn luyện không có mục tiêu. Nhà huấn luyện và người thụ huấn không biết sẽ phát xuất từ đâu và sẽ đi về đâu; huấn luyện để làm gì v.v… Ở đây, các mục tiêu huấn luyện không được xác định.
Một nguy cơ khác có thể xảy ra là lẫn lộn các giai đoạn huấn luyện. Trong huấn luyện thời gian tính rất quan trọng. Tiến trình huấn luyện phải được thực hiện theo từng gian đoạn như giai đoạn đầu, giai đoạn giữa và giai đoạn cuối. Mỗi giai đoạn có một sự đặc trưng riêng. Vì thế, chúng ta cần phải quan tâm và đảm bảo tính phù hợp của nó theo từng giai đoạn. Tránh lẫn lộn giao đoạn hoặc đốt cháy giai đoạn để việc huấn luyện có hiệu quả hơn.
Cuối cùng là phương pháp huấn luyện nghèo nàn. Cần loại bỏ phương pháp huấn luyện cổ điển lỗi thời. Đó là phương pháp theo kiểu:
“Trước tiên là huấn luyện tri thức, rồi huấn luyện mục vụ và nếu còn thời gian thì huấn luyện trưởng thành nhân bản. Vì thế, các giáo sư thì quan tâm đến hoạt động trí tuệ; các nhà huấn luyện quan tâm đến thực hành; các nhà linh hướng thì chăm lo phần hồn; các nhà tâm lý quan tâm đến bệnh lý; và chẳng ai quan tâm đến con người”.[4]
Việc huấn luyện linh mục và tu sỹ ngày hôm nay đòi hỏi phải là việc huấn luyện mang tính toàn vẹn về các phương diện khác nhau và quân bình cách chính đáng từng phương diện. Các thụ huấn sinh phải được huấn luyện trưởng thành và toàn nhập các phương diện tâm lý, tình cảm, tính dục, cảm xúc, ơn gọi, tính liên vị, tương quan, các đức tính nhân bản, tri thức, tu đức, mục vụ v.v… để có thể sống và làm chứng cách hiệu quả cho Tin Mừng giữa một thế giới đầy thách đố và cám dỗ như ngày hôm nay.
Tạm kết
Tương lai của Giáo Hội tùy thuộc rất nhiều vào công cuộc đào tạo nhân sự. Vì thế, hơn lúc nào hết, các Chủng Viện và các Dòng Tu cần có những nỗ lực cụ thể nhằm canh tân cách đúng đắn và triệt để công cuộc đào tạo linh mục và tu sỹ theo những đòi hỏi của Giáo Hội hiện nay, ngõ hầu việc đào tạo này mang lại nhiều hoa quả tốt đẹp cho sứ vụ loan báo Tin Mừng của Giáo Hội trong thế hiện hôm nay.
- Petrus Nguyễn Văn Hương
[1] Nguyên Ngọc, “Giáo dục ở nước ta hiện nay, đi ra bằng con đường nào?”, trong Những vấn đề giáo dục hiện nay…, 261-263.
[2] Cf. Gm. Nguyễn Thái Hợp, Tôn Giáo Giáo Dục. Một cách tiếp cận, CLB Phaolô Nguyễn Văn Bình 2009, 11-24.
[3] A. Cencini, Tâm Tình Chúa Con, NXB Tôn Giáo, 154.
[4] A. Cencini và A. Manenti, (Lm. Nguyễn Ngọc Kính, ofm chuyển ngữ), Tâm lý và huấn luyện cơ cấu và năng động, Nxb Phương Đông, HCM 2011, 191.
2021
Để nên sứ giả của Lòng Thương Xót Chúa
Để nên sứ giả của Lòng Thương Xót Chúa
Trong Năm Thánh Lòng Thương Xót, Đức Giáo Hoàng Phanxicô mời gọi các mục tử hơn ai hết phải là những sứ giả của lòng thương xót Chúa:
“Tôi sẽ không bao giờ mệt mỏi nhấn mạnh rằng các cha giải tội là dấu chỉ xác thực cho lòng thương xót của Chúa Cha… Các linh mục chúng ta đã nhận được ân sủng của Chúa Thánh Thần, để tha tội, và chúng ta chịu trách nhiệm về việc này. Không ai trong chúng ta nắm giữ quyền lực trên Bí Tích này; thay vào đó, chúng ta là những tôi tớ trung tín của lòng thương xót Chúa qua Bí Tích ấy” (Misericordiae vultus số 17).
Để thực sự trở thành khí cụ của lòng thương xót Chúa, các mục tử cần thực hiện một cuộc “hoán cải mục vụ” triệt để hơn, nghĩa là cần có một sự thay đổi về cách hành xử, thái độ phục vụ, tiêu chuẩn mục vụ và cả đời sống sao cho phù hợp hơn với Tin Mừng và với Giáo huấn Giáo Hội hiện nay. Sau đây là một số gợi ý giúp thực hiện cuộc hoán cải này.
1- Thương xót hơn là nghiêm khắc
Đức Giêsu Kitô mạc khải cho chúng ta biết gương mặt đích thực của Thiên Chúa không phải là một gương mặt khó tính và ưa trả thù, nhưng là một vị Thiên Chúa giàu lòng thương xót. Trong tư cách là Mục Tử nhân lành, Chính Chúa Giêsu đã thi hành sứ vụ cứu độ nhân loại với lòng thương xót hơn là thái độ nghiêm khắc, loại trừ.
Khi khai mạc Công Đồng Vatican II, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã chọn “lòng thương xót hơn là kết án” làm định hướng mục vụ cho Giáo Hội trong thế giới hôm nay. Ngài nói: “Giáo Hội luôn chống lại những sai lầm qua các thời đại. Giáo Hội thường lên án chúng với thái độ rất nghiêm khắc. Tuy nhiên bây giờ, Hiền Thê của Chúa Kitô ưu thích sử dụng liều thuốc của lòng thương xót hơn là sự nghiêm khắc”.[1]
Hạn từ misericordia trong tiếng Latin là sự kết hợp bởi hai từ misereri có nghĩa là đau khổ, thương xót; và từ cors nghĩa là trái tim. Nó diễn tả một trái tim biết thương xót và đau nỗi đau của người khác như trái tim của người mẹ đau nỗi đau của người con, như trái tim của Chúa Giêsu bị đâm thủng vì đau nỗi đau của nhân loại.
Còn hạn từ “nghiêm khắc” là thái độ của những người duy ý chí, nệ luật và cứng nhắc đối với người khác mà không chút xót thương, nhất là đối với những người tội lỗi.
Đức Giáo Hoàng Phanxicô muốn các mục tử của Chúa tiếp tục áp dụng nguyên tắc “thương xót” như là “liều thuốc” để đưa con người thời nay về với Thiên Chúa. Đây là dấu chỉ thời đại và cái nhìn ngôn sứ. Bởi lẽ, nếu một Giáo Hội quá nghiêm khắc, duy luật và gây khó khăn thì chẳng những không giúp được gì cho các linh hồn mà còn trở thành nguyên cớ làm cho họ xa rời Thiên Chúa.
Là hiện thân của Chúa Kitô, các mục tử trước hết phải có lòng thương xót, lòng thương cảm, hay nói cách khác, có trái tim mục tử của Chúa Giêsu để có thể đồng cảm, đồng hành và chia sẻ vui buồn với mọi người, nhất là với những người đau khổ. Nếu bác ái mục tử là linh hồn của đời sống và sứ vụ linh mục, thì hoạt động mục vụ của các mục tử phải là một sự biểu lộ đức ái của Chúa Kitô mà các mục tử là hình ảnh phản chiếu. Các mục tử phải biết biểu lộ các thái độ và hành vi của Chúa đến mức hiến mình hoàn toàn vì đàn chiên được giao phó.[2]
Ngày hôm nay, ở Việt Nam, người ta đã rất dị ứng với cung cách làm việc của những cảnh sát giao thông, của nhân viên hải quan ở một số phi trường, hoặc của một số quan chức nhà nước, bởi vì họ hành xử theo kiểu “bắt bẻ, gây khó dễ để kiếm chác”, hay theo cơ chế “xin – cho”.
Sống trong một thế giới phẳng, chủ nghĩa độc tài, độc đoán hay chủ nghĩa “giáo sĩ trị” sẽ dần dần không còn chỗ để tồn tại. Các mục tử phải tỉnh thức và xa tránh những lối hành xử trên. Thay vì thái độ khắt khe, trừng phạt và gây khó khăn, Đức Giáo Hoàng Phanxicô mời gọi các mục tử không bao giờ mỏi mệt trong việc thực thi và chuyển thông lòng thương xót và tha thứ của Thiên Chúa đối với mọi người. Ngài nói rằng: “Các linh mục đừng sợ khi phải thương xót và tha thứ quá nhiều. Nếu linh mục nào đó cảm thấy mình đã tha thứ quá nhiều thì nhớ lại câu chuyện về một linh mục nọ đến cầu nguyện với Chúa rằng : “Lạy Chúa, con xin lỗi Chúa vì con đã tha thứ quá nhiều, nhưng tại vì Chúa đã làm gương xấu cho con”.
Vì thế, các mục tử hãy tạo điều kiện hết sức có thể để giúp mọi người đến với Thiên Chúa và Giáo Hội. Tuy nhiên, chọn lựa hành xử theo lòng thương xót không có nghĩa là “laissez faire” – để mặc cho người ta muốn làm gì thì làm. Lòng thương xót Chúa là ân ban nhưng không luôn bao hàm sự hy sinh, kỷ luật và hoán cải từ phía con người.
2- Mục tử hơn là công chức
Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã nhiều lần lưu ý rằng chúng ta cần tránh một thứ quan niệm giảm thiểu và phiến diện về linh mục. Theo đó, thiên chức này được coi như là một “thứ nghề nghiệp”, một “địa vị” hay “một đặc ân” trong Giáo Hội. Vì thế các mục tử hành xử như những “công chức” của Giáo Hội. Nếu là công chức, thì sau khi làm xong phận vụ, họ được tự do sống cho riêng mình. Lối nhìn này chỉ chú trọng tới chức năng mà ít chú trọng tới căn tính linh mục. Nếu căn tính của linh mục trống rỗng, thường sẽ được lấp đầy bởi những lối sống không phù hợp với chính sứ vụ linh mục. Linh mục không phải là công chức, mà còn cao cả hơn một công chức !
Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong Tông Huấn về Pastores Dabo Vobis định nghĩa căn tính và sứ vụ linh mục như sau:
“Linh mục là hình ảnh sống động và trong suốt của Đức Kitô Linh Mục (Cf. PDV 12). Nhờ bí tích Truyền Chức Thánh, linh mục được biến biến đổi ngay trong chính con người của mình, nên đồng hình dạng với Đức Giêsu Kitô Đầu và Mục Tử; linh mục tham dự vào sứ vụ “loan báo Tin Mừng cho người nghèo nhân danh Chúa Kitô và thay mặt Chúa Kitô” (PDV, số 18).
Khi nói về mối liên hệ giữa linh mục với Chúa Kitô và Dân Chúa, Đức Giáo Hoàng Phanxicô quả quyết: “Linh mục chân chính là người được Thiên Chúa xức dầu để phục vụ Dân Chúa, linh mục có quan hệ mật thiết với Chúa Giêsu: khi thiếu quan hệ này, thì linh mục trở thành người không còn được xức dầu nữa, thành người thờ ngẫu tượng, thờ thần là cái tôi của mình”. Đức Giáo Hoàng nói thêm: “Nếu linh mục xa Chúa Giêsu, linh mục phải tìm bù trừ tình trạng này bằng những thái độ trần tục khác. Và như thế có những thứ linh mục kinh tài, linh mục doanh nhân…”.
Vượt lên chủ nghĩa công chức (fonctionnalisme), Đức Giáo Hoàng mời gọi các mục tử hãy “mang lấy mùi chiên”. Mang lấy mùi chiên là gì nếu không phải là trở nên một người mục tử ở giữa đoàn chiên, gần gũi với đàn chiên và sống chết cho đàn chiên.
Nhưng theo thiển ý, để mang “mùi chiên” trước hết linh mục phải có “mùi mục tử”, để chiên ngửi thấy mùi đó mà theo như Chúa Giêsu nói: “Chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta” (Ga 10,27). Mùi mục tử là mùi hương nhân đức của Chúa Giêsu; là mang lấy tâm tình và cách sống của Chúa; là nên giống Chúa Giêsu. Linh mục được xức dầu để có mùi mục tử. Đây là yếu tố làm nên căn tính của linh mục.
Như thế, nếu linh mục không có “mùi mục tử” thì chỉ là những kẻ chăn thuê, chỉ là người quản trị, là một công chức. Công tác mục vụ chỉ là một thứ dịch vụ. Chức linh mục chỉ là một thứ nghề nghiệp, hay một địa vị trong Giáo Hội mà thôi. Từ đó ta mới hiểu tầm quan trọng của chữ “là linh mục” (l’être) quan trọng biết bao so với chữ “làm linh mục” (le faire).
3- Thay đổi cung cách và phương thức phục vụ
Câu chuyện thần thoại cổ của Sufi nói về Người săn dưa hấu phần nào làm sáng tỏ vấn đề đang được nói ở đây:
Ngày xưa, có một người đi lạc vào trong một thế giới gọi là đất của những Kẻ Ngu Xuẩn. Ít lâu sau, anh thấy một số người đang gặt lúa mì trong ruộng tan tác, tán loạn. Họ bảo anh: “Trong ruộng có một con quái vật”. Anh nhìn và phát hiện ra đó không phải là quái vật mà chỉ là một quả dưa hấu. Anh tự nguyện giết con “quái vật” ấy giùm họ. Anh cắt cuống dưa, rồi xắt thành từng miếng mỏng, và bắt đầu ăn. Dân bắt đầu sợ anh hơn cả trước đây họ sợ quả dưa hấu. Họ lấy đòn cản đuổi anh đi và nói: “Không đuổi hắn đi, hắn sẽ giết chúng ta mất”.
Rồi sau đó, một người khác cũng lạc vào vùng đất ấy, và anh này cũng gặp phải những chuyện y như anh trước. Nhưng, thay vì tình nguyện giết chết “quái vật”, anh này đồng ý với dân làng làm con quái vật ấy đúng là nguy hiểm thật, rồi cùng với dân làng, anh rón rén bỏ chạy, anh đã chinh phục được dân. Anh ở lại với dân ấy một thời gian dài cho tới khi, từng bước một, anh dạy họ những sự kiện căn bản, giúp họ không chỉ sợ dưa hấu, mà thậm chí còn gieo trồng dưa hấu nữa.[3]
Trong câu chuyện này, người thứ nhất đến với dân, anh có lòng tốt, có thiện chí, và đã làm mọi sự có thể để giúp họ, nhưng kết quả là anh càng làm thì dân càng sợ anh và xa lánh anh. Tại sao? Tại vì anh chưa đứng về phía dân, chưa lắng nghe họ và hiểu họ. Anh thất bại !
Trái lại, người thứ hai đến với dân, nhưng anh có một lối tiếp cận khác, anh đứng về phía họ, suy nghĩ và hành xử như họ. Dần dần anh chinh phục được họ và từ đó, anh biến đổi dân từ việc sợ “quái vật dưa hấu” đến việc biết cách trồng dưa hấu. Anh đã thành công !
Câu chuyện trên chứa đựng những bài học thật ý vị cho các mục tử khi thi hành sứ vụ. Trong giáo phận, có rất nhiều mục tử thành công, được giáo dân yêu mến và kính trọng, bởi vì các ngài đã sống như người thứ hai trong câu chuyện. Tuy nhiên, cũng không thiếu những mục tử thất bại hay gặp khó khăn và không được đón nhận bởi vì đã hành xử như người thứ nhất.
Trong bối cảnh xã hội hôm nay, các mục tử cần có một sự hoán cải về cung cách và phương thức phục vụ. Cuộc hoán cải này bao gồm sự thay đổi về lối sống, thái độ và cách thế hiện diện khi phục vụ.
Con người thời nay sống vô cảm, hời hợt và chuộng hình thức bên ngoài. Người mục tử là người sống đơn giản, bình dị, chân thành và thân thiện với mọi người.
Con người thời nay thích khẳng định mình bằng quyền lực, của cải vật chất, thích “gồng mình” để tỏ ra quan trọng, hơn người, nhưng lại hay đòi hỏi nhiều và thường hay bất mãn với cuộc sống. Người mục tử sống như là một người phục vụ bình thường, vui tươi, thánh thiện, biết đón nhận mọi hoàn cảnh với thái độ an nhiên tự tại và âm thầm phục vụ theo tinh thần men muối giữa đời.
Thay vì lấy trọng tâm mục vụ là công việc và thành quả hay vật chất, người mục tử biết lấy con người làm trọng tâm của mục vụ, từ đó hằng ngày xây dựng tốt các mối tương quan liên vị với mỗi người trong cộng đoàn cách thân thiện và thánh thiện. Để nhờ những nhịp cầu này, người mục tử đưa các linh hồn đến với Thiên Chúa.
Thay vì thích dùng quyền áp đặt và bắt người khác làm theo ý mình, người mục tử khiêm tốn, nhẹ nhàng đối thoại, biết tôn trọng ý kiến người khác, đa diện trong cách nhìn, mềm dẽo trong cách hành xử, biết thấu hiểu và cảm thương những hoàn cảnh và nỗi đau của từng người trong cộng đoàn được giao phó.
Noi gương Đức Kitô, Đấng không phân biệt đối xử, người mục tử biết mở rộng cửa đón tiếp mọi người mà không loại trừ ai, tận tụy phục vụ họ, đặc biệt là những người đau khổ, nhỏ bé, các trẻ em, những người gặp khó khăn, bị loại trừ và người nghèo. Mục tử phải mang tình yêu và lòng thương xót của Vị Mục Tử Nhân Lành đến cho mọi người.[4]
Khi phục vụ người khác, người mục tử biết đón nhận họ như họ là, không thành kiến và chấp nhận những ưu điểm cũng như cả những khuyết điểm của họ. Từ đó, khi có thể, với sự kiên nhẫn và khôn ngoan, vị mục tử dần dần tìm cách để chinh phục họ, hướng dẫn và giúp họ thay đổi theo những tiêu chuẩn và giá trị Tin Mừng. Có lẽ đây là bí quyết để thành công trong mục vụ.
Khi thi hành tác vụ, các mục tử có thể bị chính quyền, các nhóm lợi ích, đảng phái chính trị lôi kéo đứng về phía họ để giải quyết những vấn đề liên quan hay để tìm sự hậu thuẫn và lợi ích khác nhau. Các mục tử cần cẩn trọng, khôn ngoan và có lập trường rõ ràng để biết phân định từng vấn đề, phân biệt phạm vi và sứ vụ của mình, để khỏi bị lôi kéo vào một vị trí không thuộc sứ mạng của người mục tử. Với tư cách là người của Giáo Hội, các mục tử biết đứng về phía Dân Chúa để hướng dẫn và bảo vệ họ.
Ngoài ra, câu chuyện trên còn nói thêm điều này nữa. “Ta thường nghĩ rằng phục vụ có nghĩa là cho người khác một cái gì đó, dạy cho họ nói năng, hành động hoặc cư xử; nhưng nay phục vụ khiêm tốn, đích thực trước hết chính là giúp người khác khám phá ra rằng họ đang sở hữu những tài năng rất lớn nhưng thường ẩn khuất, đến độ họ có thể hơn cả những gì ta có thể làm cho họ”.[5]
4- Đón nhận đau khổ khi thi hành sứ vụ
Tình yêu và đau khổ luôn đi liền với nhau. Bởi vì yêu thương nên mới đau khổ. Chân lý đó được minh chứng qua cuộc đời và sứ mạng của Đức Kitô. Quả thế, khi thi hành sứ vụ, thập giá luôn gắn liền với sứ vụ cứu độ của Đấng Cứu Thế. Đức Giêsu cũng phải trải qua những kinh nghiệm thất bại, chống đối, bị sỉ nhục mà tột đỉnh của nó là cái chết đau đớn trên thập giá.
Cuộc đời không phải luôn là một thảm hoa màu rực rỡ mà không có những gai nhọn. Sẽ rất ảo tưởng nếu chỉ thấy đời mục tử toàn là những thành công mà không có thất bại, đau khổ và chống đối. Trong cuộc sống của người mục tử, có những nỗi đau vì không được cảm thông; có những hiểu lầm vì không được lắng nghe; có những thất bại xảy ra ngoài ý muốn.
Vì thế, người mục tử không chỉ biết đón nhận những thành công nhưng còn phải biết đón nhận những thất bại và đau khổ trong đời sống linh mục. Có thể nói đau khổ thường gắn liền với sứ vụ mục tử. Chính đau khổ làm cho vị mục tử nên giống Đức Kitô hơn. Khi đau khổ, chỉ có ai biết ngước nhìn lên thập giá mới khám phá ý nghĩa của đau khổ. Thập giá là sức mạnh để các mục tử không quỵ ngã trước thử thách. Thập giá mang lại hy vọng để kiên nhẫn đón nhận những biến cố đau thương của ngày Thứ Sáu và biết hy vọng đời chờ hoa quả cứu độ của ngày Chúa Nhật Phục Sinh.
Khi suy mầu nhiệm sự Thương, chúng ta ngắm: “Thứ ba thì ngắm Đức Chúa Giêsu chịu đội mão gai, ta hãy xin cho được chịu mọi sự sỉ nhục bằng lòng”. Như thế, chúng ta xin cho biết đón nhận những đau khổ, chịu sỉ nhục và cả thất bại trong đời sống của mình theo thánh ý Chúa.
Nếu chúng ta biết đón nhận đau khổ và thất bại trong mục vụ với thái độ đức tin, thì đó sẽ là cơ hội giúp chúng ta lớn lên về các nhân đức. Thánh Ignatiô Loyola tự rèn luyện mình bằng cách xin chịu đau khổ và sỉ nhục như là phương thế để tránh sự kiêu ngạo và vì danh Chúa được vinh hiển. Theo ngài, có ba bậc khiêm nhường: thứ nhất là xin Chúa dẫn ta tới sự nghèo khó tinh thần tột bậc, bậc thứ hai là xin Chúa dẫn ta đến sự ước ao chịu những nhục nhã và khinh bỉ đối lập với danh vọng thế gian, bởi vì do hai điều này mà có sự khiêm nhường; bậc thứ ba là sự khiêm nhường đối lập với kiêu ngạo; và từ ba bậc thang này dẫn ta tới mọi nhân đức.[6]
Tạm kết
Nếu để tìm một hình ảnh sống động của một mục tử trong Giáo Hội hiện nay đang thu hút và lôi cuốn mọi người, thì không ai khác hơn chính là Đức Giáo Hoàng Phanxicô.
Với cương vị là một vị Giáo Hoàng đứng đầu Giáo Hội, ngài có bao nhiêu bổn phận và bận rộn công việc hằng ngày, nhưng vị Giáo Hoàng đó mỗi lần xuất hiện với dân chúng, người ta gặp thấy một vị mục tử hồn nhiên, vui tươi, thân thiện và khiêm tốn. Đức Phanxicô toát lên một vẽ đẹp đáng quý và đáng yêu của một người mục tử chân chính, một mục tử có niềm vui thực sự của Chúa Kitô, một mục tử có đầy tràn Thần Khí. Vị Giáo Hoàng này không áp đặt ai, không loại trừ ai, nhưng với cung cách khiêm tốn, chân thành, và khôn ngoan, Ngài thu phục mọi người về với Chúa. Ngài quả là tấm gương phản chiếu dung mạo đích thực của vị Mục Tử nhân lành. Bởi vì Ngài đã sống những giá trị của Tin Mừng và thực thi sứ vụ mục tử theo một cung cách rất nhân bản và nhân văn.
Dịp tĩnh tâm linh mục giáo phận Vinh 31/12/2015
Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Hương
[1] www.vatican2voice.org/91docs/opening_speech.htm. All papal quotes for this book are from the Vatican website.
[2] x. PO 14.
[3] Shah Indries, The Way of the Sufi, New York: E. P. Dutton & Co., Inc. 1970 tr. 207 tt.
[4] Kim Chỉ Nam về Tác vụ và Đời sống Linh mục, Nxb. Tôn giáo 2013, tr. 89.
[5] Henri Neuwen et alii, Lòng thương xót, Nxb. Tôn giáo 2002, tr. 106-107.
[6] Ignatiô Loyola, Linh Thao, 146.
2021
ĐTC tiếp tân đại sứ cạnh Toà Thánh của một số nước
ĐTC tiếp tân đại sứ cạnh Toà Thánh của một số nước
Công bằng vắc-xin
Ngỏ lời với các tân đại sứ, Đức Thánh Cha nhắc rằng gần một năm trước, khi vắc-xin bắt đầu được sử dụng thì những dấu hiệu hy vọng dường như đang xuất hiện ở phía chân trời, nhiều người tin rằng đại dịch sẽ chóng qua. Nhưng một năm sau, dù đã đạt được nhiều tiến bộ kể từ đó, chúng ta thấy Covid-19 vẫn đang gây ra đau đớn và khổ sở như thế nào, chưa kể đến thiệt hại về nhân mạng. Đức Thánh Cha lưu ý rằng điều quan trọng là cộng đồng quốc tế tăng cường nỗ lực hợp tác để mọi người dân đều được tiếp cận nhanh chóng với vắc xin. Đây là sự công bằng.
Trách nhiệm của mọi người
Đại dịch nhắc nhở rằng chúng ta là “một cộng đồng toàn cầu, nơi vấn đề của một người là vấn đề của mọi người” (Fratelli tutti, 32). Và theo Đức Thánh Cha, qua kinh nghiệm này chúng ta cần học và thấy rõ điều quan trọng là cùng nhau. Đức Thánh Cha hy vọng rằng “thông qua trải nghiệm này, cộng đồng quốc tế sẽ nhận thức rõ hơn về sự thật rằng chúng ta là một gia đình nhân loại; mỗi người chúng ta đều có trách nhiệm đối với anh chị em của mình, không có ngoại lệ. Đây là sự thật thúc đẩy chúng ta giải quyết không chỉ cuộc khủng hoảng y tế hiện nay, mà tất cả các vấn đề đang gây đau khổ cho nhân loại và ngôi nhà chung của chúng ta – nghèo đói, di cư, khủng bố, biến đổi khí hậu, nói chung – theo cách liên đới và không cô lập.”
Học đối thoại
Đề cao vai trò của các đại sứ cạnh Toà Thánh, Đức Thánh Cha nói rằng trong khi đại dịch cho thấy những điều tốt đẹp nhất của con người trong các hành động quảng đại, phục vụ và hy sinh của cá nhân và tập thể, thì cần phải thực hiện nhiều hơn nữa ở cấp độ thể chế và liên chính phủ để thúc đẩy một “văn hóa gặp gỡ” trong việc phục vụ công ích của gia đình nhân loại của chúng ta. Và các đại sứ thể hiện vai trò của họ qua sự hiện diện ngoại giao và sự tham gia của họ trong cộng đồng quốc tế. Họ hiểu cần nuôi dưỡng các mối quan hệ và tạo điều kiện hiểu biết lẫn nhau giữa những người thuộc các nền văn hóa và nguồn gốc khác nhau để cùng nhau xây dựng một thế giới công bằng hơn qua sự đối thoại; họ nhận ra “sức mạnh kiên nhẫn và nhu mì của đối thoại” (Gặp gỡ chính quyền xã hội dân sự và ngoại giao đoàn, Nicosia – Síp, ngày 2/12/2021). Hồng Thủy – Vatican News
