Xét mình kỹ thuật số cho linh mục và tu sĩ
Nội dung
Xét mình kỹ thuật số cho linh mục và tu sĩ
Có những buổi xét mình ta cúi xuống rất sâu trước những lỗi lầm đã quen gọi tên, nhưng lại bỏ quên một miền đang âm thầm chiếm lấy nhiều giờ nhất, hút đi nhiều năng lượng nhất và kín đáo uốn lại cách ta nhìn Chúa, nhìn người khác, nhìn chính mình: miền kỹ thuật số. Chiếc điện thoại nhỏ đến mức có thể nằm gọn trong túi áo dòng, nhưng đôi khi lại đủ lớn để chen vào giữa ta với Thiên Chúa, giữa người mục tử với đoàn chiên, giữa một cộng đoàn với nhau. Bởi thế, linh mục và tu sĩ hôm nay cần một cuộc xét mình không chỉ về những gì mình đã làm trên mạng, mà còn về kiểu người mình đang trở thành sau hàng ngàn giờ sống trước màn hình. Tôi có cầm điện thoại trong giờ kinh, miệng đọc Thánh Vịnh mà mắt vẫn tìm một thông báo mới? Tôi có để những lời “Lạy Chúa, xin mau phù trợ con” trôi qua trên môi trong khi lòng mình đang bận với một bài đăng, một tin nhắn, một con số tương tác? Tôi có nhân danh công việc mục vụ để hợp thức hóa một sự lệ thuộc mà nếu thành thật, tôi phải gọi đúng tên là không còn làm chủ được mình? Tôi có còn biết đứng trước nhà tạm mà không cần kiểm tra điện thoại, còn biết ngồi yên trong thinh lặng mà không thấy bứt rứt, còn biết để cho một câu Lời Chúa ở lại đủ lâu đến mức nó làm đau, chữa lành và hoán cải tôi không?
Tôi có nhờ máy soạn bài giảng rồi bước thẳng lên tòa giảng mà chưa từng quỳ xuống với bản văn ấy? Tôi có nói những lời rất đúng về Thiên Chúa nhưng đó lại là những lời chưa đi qua cầu nguyện, chưa đi qua thao thức, chưa đi qua nước mắt và cuộc chiến nội tâm của chính mình? Một bài giảng có thể tròn trịa, mạch lạc, đầy trích dẫn, thậm chí gây xúc động, mà vẫn không phải là lời chứng, bởi người nói chưa từng để lời ấy chạm đến đời mình. Máy có thể giúp ta tìm một ý tưởng, sửa một câu văn, sắp xếp một bố cục; nhưng máy không thể thức đêm bên một người hấp hối, không thể run tay khi xức dầu cho một em bé, không thể mang nỗi đau của một gia đình vào Thánh lễ sáng hôm sau. Lời rao giảng phải đi qua thân xác người rao giảng. Nếu không, đó chỉ là âm thanh mang dáng dấp Tin Mừng mà thiếu hơi ấm của Nhập Thể. Tôi phải tự hỏi: bài giảng tuần này được sinh ra từ đâu — từ một cuộc gặp gỡ với Chúa và với dân Người, hay chỉ từ vài mệnh lệnh tôi gõ vào máy?
Tôi có xem những điều mà tôi khuyên đoàn chiên đừng xem không? Tôi có giảng về sự trong sạch nhưng lại nuôi trong bóng tối những hình ảnh làm đục đôi mắt mình? Tôi có nói với người trẻ về tự do trong khi chính tôi bị thuật toán dẫn đi từ tò mò đến thỏa hiệp, từ thỏa hiệp đến thói quen, từ thói quen đến một căn phòng kín không muốn ai bước vào? Không có vùng riêng tư nào hoàn toàn nằm ngoài đời thánh hiến, bởi điều tôi bí mật nhìn ngắm sẽ dần dần dạy tôi cách nhìn con người. Một người mục tử quen tiêu thụ thân xác người khác như hình ảnh sẽ khó còn nhìn đoàn chiên bằng đôi mắt của Đức Kitô. Một tu sĩ để trí tưởng tượng bị chiếm đóng sẽ mang sự phân tán ấy vào giờ kinh, bàn ăn, cộng đoàn và sứ vụ. Điều cần làm không phải là ghét bỏ chính mình, nhưng là thôi nói dối, gọi đúng tên vết thương, tìm người đồng hành, lãnh nhận Bí tích Hòa giải và chấp nhận những kỷ luật cụ thể đủ mạnh để bảo vệ ơn gọi.
Tôi có buồn, có ghen, thậm chí âm thầm khó chịu vì bài của mình ít người thích hơn bài của một anh em không? Tôi có biến việc loan báo Tin Mừng thành cuộc thi dành ảnh hưởng, trong đó Danh Chúa được nhắc đến nhưng tên tôi mới là điều tôi muốn người ta nhớ? Tôi có vui thật lòng khi một linh mục khác giảng hay hơn, một cộng đoàn khác làm tốt hơn, một người trẻ không thuộc nhóm mình lại giúp được nhiều người hơn mình không? Chiếc nút “thích” rất nhỏ, nhưng có thể chạm đúng vào một cái tôi chưa chịu chết. Nó làm lộ ra cơn đói được công nhận đang ẩn dưới những lời đạo đức. Có khi ta tưởng mình đang đau vì Tin Mừng không được đón nhận, nhưng thật ra ta chỉ đau vì mình không được chú ý. Có khi ta gọi đó là nhiệt thành tông đồ, nhưng ở đáy lòng lại là sự khao khát đứng giữa sân khấu. Xét mình kỹ thuật số buộc ta hỏi một câu rất thật: nếu điều tốt được thực hiện mà không ai biết đến tôi, tôi còn vui không?
Tôi có viết trên mạng điều tôi không dám nói trước mặt người ấy không? Tôi có dùng khoảng cách của màn hình để trở nên cay độc hơn, cứng rắn hơn, thiếu công bằng hơn con người thật của mình? Tôi có chia sẻ một tin chưa kiểm chứng chỉ vì nó phù hợp với điều tôi muốn tin? Tôi có dùng tòa giảng, trang cá nhân hay uy tín của đời tu để ám chỉ, chế giễu hoặc thanh toán một tổn thương riêng? Tôi có núp sau chữ “bảo vệ sự thật” để làm nhục một con người? Sự thật của Tin Mừng không cần đến sự độc ác để được bảo vệ. Nếu một lời không thể nói trước khuôn mặt của người anh em, dưới ánh mắt của Đức Kitô và với ý muốn cứu người ấy, có lẽ lời đó chưa nên được viết. Mạng xã hội thường làm cho người khác hiện ra như một quan điểm cần đánh bại; còn đời thánh hiến phải nhắc ta rằng phía sau mỗi tài khoản là một con người có cha mẹ, có vết thương, có những đêm mất ngủ, có một linh hồn mà Đức Kitô đã đổ máu để cứu chuộc.
Tôi có lưu giữ những hình ảnh của người khác theo cách thiếu tôn trọng không? Tôi có chụp trẻ em, người nghèo, người bệnh, người đang khóc hoặc người vừa lãnh nhận một bí tích chỉ để tạo nên một bài đăng gây xúc động? Tôi có xin phép họ không? Tôi có tự hỏi họ sẽ cảm thấy thế nào khi hình ảnh yếu đuối nhất của mình bị đưa ra trước đám đông? Người nghèo không phải phông nền cho lòng bác ái của tôi. Trẻ em không phải chất liệu quảng bá cho sinh hoạt giáo xứ. Nước mắt của một gia đình không phải nội dung để tăng tương tác. Có những khoảnh khắc càng thánh thiêng càng cần được che chở; có những khuôn mặt càng đau khổ càng cần được gìn giữ khỏi ánh nhìn tò mò. Đức ái không chỉ là đến gần người bị thương; đôi khi đức ái còn là cất điện thoại đi để nỗi đau của họ không bị biến thành một màn trình diễn.
Tôi có biết ai trong đoàn chiên đang cô đơn lúc 22 giờ không? Tôi biết bao nhiêu người đã xem bài mình, nhưng tôi có biết người nào đang khóc? Tôi biết chỉ số tiếp cận trong tuần, nhưng có biết em thiếu niên nào đang bị bắt nạt, người mẹ nào đang tuyệt vọng, người già nào nhiều ngày không có ai gọi cửa, người trẻ nào đang đứng bên bờ vực mà vẫn đăng những tấm hình vui vẻ? Mục tử không chỉ là người phát nội dung cho đám đông; mục tử là người nhận ra một con chiên đang mất hút trong đêm. Giữa hàng ngàn tài khoản, Đức Kitô vẫn hỏi ta về một cái tên. Có thể bài đăng của ta đến với mười ngàn người, nhưng nếu ta không có thời giờ trả lời một người đang kêu cứu, thành công ấy cần được xét lại trước mặt Chúa. Đoàn chiên không chỉ cần một linh mục xuất hiện đều đặn trên màn hình; họ cần một người có thể được tìm thấy khi đời họ tối lại.
Tôi đã đọc trọn vẹn văn kiện nào của Công đồng trong năm nay chưa, hay chỉ lặp lại những câu được trích sẵn trên mạng? Tôi có còn đủ kiên nhẫn để đọc một trang thần học khó, ở lại với một lập luận dài, lần theo một chú thích, học hỏi trước khi lên tiếng không? Chữ viết tay của tôi bây giờ ra sao? Nó còn mang nhịp của một con người suy nghĩ, hay bàn tay tôi chỉ còn quen lướt và gõ? Bao lâu rồi tôi chưa chép lại một đoạn Tin Mừng, viết một lá thư tay, ghi tên những người cần cầu nguyện vào một cuốn sổ? Chúng ta có thể trở nên rất nhanh trong việc tìm kiếm mà lại rất nghèo trong việc ghi nhớ; biết nơi lấy câu trả lời nhưng không còn một kho tàng nội tâm; lưu hàng ngàn tài liệu mà không có lấy một lời được nghiền ngẫm đến thành xương thịt. Người giảng Lời mà không còn đọc sâu sẽ sớm phải sống nhờ những câu chữ vay mượn. Người không còn viết bằng tay đôi khi cũng đang đánh mất sự chậm rãi cần thiết để nghe linh hồn mình nói.
Và cuối cùng, tôi còn ngồi trong tòa giải tội trước những khuôn mặt người thật bao nhiêu giờ, so với số giờ tôi ngồi trước màn hình? Tôi còn đi thăm bệnh, ăn một bữa cơm nghèo, lắng nghe một câu chuyện kể vụng về, kiên nhẫn với một người già nói mãi một điều bao nhiêu lần? Màn hình cho ta cảm giác đang hiện diện khắp nơi, nhưng có thể che giấu sự thật rằng ta không thật sự ở với ai. Thừa tác vụ không được hoàn tất bằng việc xuất hiện liên tục; nó được hoàn tất bằng sự trao ban. Đoàn chiên không chỉ cần thấy khuôn mặt mục tử qua một video đẹp. Họ cần nghe tiếng ghế khẽ động khi cha ngồi xuống bên giường bệnh, cần thấy bàn tay cha đặt lên đầu đứa trẻ, cần gặp một ánh mắt không vội vàng trong tòa giải tội. Họ cần một con người bằng xương bằng thịt, có hơi thở, có giọng nói, có sự mệt nhọc và lòng kiên nhẫn — một con người đã để mình thuộc về Chúa đủ sâu để có thể thuộc về họ.
Cuộc xét mình này không nhằm hành hạ ta, cũng không nhằm làm ta sợ kỹ thuật. Nó chỉ muốn đưa ta trở về với sự thật, bởi ân sủng chỉ chữa lành điều ta dám đặt dưới ánh sáng. Ta xét mình để lấy lại đôi mắt, lấy lại sự thinh lặng, lấy lại tự do, lấy lại khuôn mặt người mục tử đã có lúc bị che khuất sau màn hình. Ta xét mình để một lần nữa trở thành người thật trước mặt Thiên Chúa thật và giữa những con người thật. Đức Hồng Y muốn sinh viên cảm được cả hơi thở và nước bọt của người thầy, bởi giáo dục cũng như đức tin không được truyền chỉ bằng thông tin, nhưng bằng một đời sống hiện diện. Kitô giáo bắt đầu không phải bằng một thông điệp được gửi xuống từ xa, nhưng bằng Ngôi Lời đã làm người và cư ngụ giữa chúng ta. Vì thế, giữa một thời đại có thể sản xuất vô số lời mà không cần thân xác, ơn gọi linh mục và đời thánh hiến càng phải trở thành dấu chỉ của Nhập Thể: một tiếng nói đã cầu nguyện, một bàn tay đã phục vụ, một đôi mắt còn biết khóc, một khuôn mặt không qua bộ lọc, một con người thật sự có mặt.
Lm. Anmai, CSsR
Chi tiết
- Ngày: 30/08/2026
- Tác giả: linh muc Anton Maria Vũ Quốc Thịnh
