Steer clear of Online Dating Sites Frauds

With over 1,000 online dating sites, fraudsters are regularly trolling these websites finding vulnerable sufferers. It is crucial to remain vigil while shopping for Prince Charming. Whether it seems too good to be real, it really could be. Ladies should hear their unique abdomen. Here are a few precautions to try assist prevent internet dating cons.

1. He requests for money.

There is absolutely absolutely no reason a guy you just found online should really be requesting for money. You will end up given every sob tale in publication, but remember that discover those who use the internet and come up with a living by scamming vulnerable lady searching for love. Keep your cardiovascular system open however your budget closed.

2. Keep local.

Maintaining local web interactions is better than lesbians chat freeting with a man exactly who life couple of hours out. In addition it indicates the two of you convey more in keeping. If you can talk about local restaurants, pubs, theaters and stores, then you can certainly think you have got similar tastes. You’ll be able to assume this guy is who he says he or she is.


“You shouldn’t close your self removed from the

likelihood of locating true love.”

3. Grammar is important.

This is not to label, however, if the guy you’re speaking with says he had been born and increased in the United States and continuously utilizes odd verbiage and terms that a lot of Americans never, it’s a red flag. He may be an overseas scammer looking for entry to your finances.

4. Never reveal personal information.

Until you fulfill some body and feel comfortable with him, never display where you work, where you live, the final name or any other private information.

5. Stick to paying websites.

While there’s no promise, making use of a website where the man must enter a credit card number and spend a monthly charge implies there will be significantly less fraudsters to sift through.

In case you are suspicious of a potential Prince Charming, there are many methods to shield yourself. You are able to upload the individual’s profile picture on and discover where otherwise the picture has actually made an appearance on the Internet — like swiped from someone else’s Twitter page. Additionally, check out and to see if this too-good-to-be-true prince has actually conned other individuals. Never shut your self off from the potential for locating true love. Simply take precautions and shield your self.

The Worst Situations a man Can Perform When Kissing a Girl

As any unmarried individual knows, an initial hug can be the a lot of stressful part of the online dating experience.

Don’t get worried, men. We are right here to save lots of you against embarrassment and from becoming permanently described as “Trouty Mouth” by the big date along with her pals (yes, this is certainly an actual nickname for 1 of your exes.)

We sincerely wish we don’t have to protect well-known decorum, including pop an Altoid in advance and get away from drowning your self in cologne.

Alternatively, we’d like to cover (within viewpoint) the main points to remember – the wouldn’ts. Very kindly, for any passion for Gosling, prevent these very first kiss mistakes:

1. Kissing in a general public place

People feel very in a different way about community shows of passion, but usually a primary kiss isn’t a thing that’s meant to go-down in front of a real time business audience.

We’ve all had dudes move around in for any hug in high-traffic areas and we happened to be all horrified because of it.

One of the dates in fact got up in the center of a congested cafe and attacked us although we remained within our seat. Can you say terrifying?

Needless to say, it’s not constantly possible to be completely by yourself, but a dimly-lit street part or top stoop is ideal.

2. Selecting the wrong moment

Did your go out merely finish telling you about her favored childhood dog that passed away when she was actually 8? Could You Be paying attention to her passionately explain the woman work for show for The united states? It should be not the best time to use planting one on her.

Being attentive to the feeling and common atmosphere on the date will help ready the period for one thing intimate without comically inappropriate.

“You shouldn’t open up your mouth super

broad (analyzing you, Trouty Mouth).”

3. Utilizing too much tongue. Or lips. Excess something, actually.

Repeat after you, guys: much less. Is. A Lot More.

Please don’t make united states choose from kissing you and breathing.

We know you are keen on united states. We realize you’re thrilled. And that’s hot! Nevertheless technicians of a kiss are essential, and a general guideline is always to keep it straightforward, particularly in first.

Never open up orally extremely wide (considering you, Trouty Mouth). You shouldn’t give your own day an unwanted tonsillectomy. You shouldn’t get crazy licking or kissing the woman every where.

Fundamentally, begin slowly and leave us wishing more.

4. Acquiring handsy

Slow the roll, guys. There’s sufficient time for copping a feel later on.

If circumstances get well, a first hug can easily lead to a complete make-out period (or you’re happy, further). If that takes place, feel free to get…touchy.

But throughout that very first time, it’s a great phone call to pay attention to the kiss instead feeling some one up who is ella knoxm you found an hour or so ago.

Place it in this way: If the hug sucks, you’ll in fact never have the opportunity is handsy. And what a shame that might be.

5. Waiting long to help make a move

This is maybe not a free move to choose silver in the first 15 minutes of satisfying some one, which is just as awful.

Our very own general rule of thumb is if things are going really, go for the hug towards the end for the next big date.

A primary day hug is not required, but you should, if you’re experiencing it, go for it. To be honest should you decide wait a long time, we’re going to assume you are just not interested.

All of our last little word of advice is actually have a sense of wit! If circumstances have somewhat uncomfortable (let’s not pretend, that is constantly a possibility), simply laugh it off.

You’ll find nothing hotter than some guy who doesn’t just take himself as well severely.

Pic supply:

Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu trở thành nhân chứng của hoà bình

Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu trở thành nhân chứng của hoà bình


Trong sứ điệp được ký bởi Đức Hồng Y Pietro Parolin, gửi đến Đức Tổng Giám Mục Mario Delpini của giáo phận Milano và các tham dự viên của Lễ hội Truyền giáo tại Milano, bắc Ý, Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu trở thành nhân chứng của hoà bình và nuôi dưỡng tinh thần truyền giáo.

Lễ hội Truyền giáo được tổ chức từ ngày 29/9 đến 02/10, bởi Hội Truyền giáo Ý, Hiệp hội các dòng Truyền giáo Ý, và Tổng Giáo phận Milan.

Trong sứ điệp, Đức Thánh Cha đánh giá cao Lễ hội Truyền giáo, vì trong thời đại đang thay đổi hiện nay, điều quan trọng là phải thể hiện đặc điểm truyền giáo của đức tin và của Giáo hội để loan báo cho con người ngày nay rằng “Thiên Chúa luôn ở với chúng ta và yêu thương chúng ta”.

Đức Thánh Cha hy vọng những ngày cử hành, cầu nguyện, lắng nghe và thảo luận có thể nuôi dưỡng trong mọi người ý thức rằng truyền giáo không phải là phần thêm vào của đức tin, nhưng là trọng tâm của đời sống Giáo hội, là điều Kitô hữu không thể bỏ qua nếu không muốn huỷ hoại chính mình.

Đức Thánh Cha nhận xét rằng trước những thách đố và thảm kịch chiến tranh, hơn bao giờ hết cần phải nhấn mạnh khía cạnh quan trọng của sứ vụ, đó là làm chứng cho hòa bình. Các Kitô hữu xác tín rằng hòa bình đích thực là một hồng ân của Đấng Phục sinh. Tới lượt mình, các Kitô hữu được kêu gọi chia sẻ hồng ân này cho những người khác, cùng nhau dệt nên sự thật, công lý và lòng thương xót. Sự thật không thể tách rời khỏi công lý và lòng thương xót. Cả ba cần thiết để xây dựng hòa bình. Chứng tá hòa bình này là một sự dấn thân để trong mọi môi trường trở thành người truyền giáo.

Đức Thánh Cha đặc biệt khuyến khích các bạn trẻ chăm chú nhìn vào những chân trời hiện sinh để loan báo Tin Mừng giải thoát cho những ai đang mệt mỏi, thất vọng. Và ngài kết luận với lời mời gọi các tín hữu vun trồng tinh thần truyền giáo để lan toả hương thơm tình yêu Thiên Chúa, theo gương sẵn sàng của Đức Maria khi đến thăm người chị họ Elisabeth.

Ngọc Yến

Đức Thánh Cha: Lãng phí thực phẩm là lãng phí con người

Đức Thánh Cha: Lãng phí thực phẩm là lãng phí con người


Nhân Ngày Quốc tế Nhận thức về Thất thoát và Lãng phí Thực phẩm, ngày 29/9, Đức Thánh Cha đã gửi sứ điệp đến ông Khuất Đông Ngọc (Qu Dongyu), Tổng Giám đốc Tổ chức Nông Lương của Liên Hiệp Quốc (FAO), trong đó ngài mời gọi mỗi người tái định hướng lối sống của mình một cách có ý thức và trách nhiệm, để mọi người đều có được lương thực cần thiết, đồng thời nhấn mạnh rằng “lãng phí thực phẩm là lãng phí con người”.

Trong sứ điệp, trước hết Đức Thánh Cha nhắc lại rằng, khi thực phẩm không được sử dụng đúng cách, bị thất thoát hoặc lãng phí, là người ta đang sống một “nền văn hóa vứt bỏ”. Đây chính là biểu hiện của sự không quan tâm đến những gì có giá trị cơ bản.

Đức Thánh Cha viết: “Cả sự thất thoát và lãng phí lương thực đều là những sự thật đáng trách, vì chúng chia rẽ nhân loại giữa những người có quá nhiều và những người thiếu những thứ cần thiết, làm gia tăng bất bình đẳng, tạo ra bất công và từ khước người nghèo”.

Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng, tiếng kêu của những người đói khát, phải được vang lên ở các trung tâm nơi đưa ra quyết định. Tiếng kêu này không thể bị im lặng hoặc bị bóp nghẹt bởi những lợi ích khác. Ngài nhắc lại: “Cần phải thu gom để tái phân phối, không sản xuất để vung vãi. Tôi đã nói điều này, và tôi sẽ không mệt mỏi nhấn mạnh, lãng phí thực phẩm là lãng phí con người”.

Để điều này không xảy ra, theo Đức Thánh Cha toàn thể cộng đồng quốc tế phải dấn thân hành động để chấm dứt “nghịch lý của sự dư thừa”, mà Thánh Gioan Phaolô II đã tố cáo tại Hội nghị Quốc tế về Dinh dưỡng vào năm 1992. Thực tế, thế giới có thực phẩm cần thiết để không ai đi ngủ với bụng đói. Tuy nhiên, vấn đề là sự công bằng xã hội, nghĩa là cách thức quản lý các nguồn lực và việc phân phối của cải phải được điều chỉnh.

Thực phẩm không thể là đối tượng của đầu cơ. Sẽ là điều gây tai tiếng khi các nhà sản xuất lớn khuyến khích tiêu dùng để làm giàu nhưng không quan tâm đến nhu cầu thực sự của con người. Mặt khác, lãng phí hoặc thất thoát thực phẩm còn góp phần đáng kể vào sự gia tăng phát thải khí nhà kính, do đó, gây ra biến đổi khí hậu và các hậu quả tai hại của nó.

Đức Thánh Cha kết luận: “Điều cấp bách hiện nay là các quốc gia, các hiệp hội và mọi người phải phản ứng một cách hiệu quả và trung thực với tiếng kêu đau lòng của những người đói khát đòi công lý. Mỗi người chúng ta được mời gọi định hướng lại lối sống của mình một cách có ý thức và trách nhiệm, để không ai bị bỏ lại phía sau và mọi người đều nhận được lương thực cần thiết, cả về số lượng và chất lượng. Chúng ta mắc nợ những người thân yêu của chúng ta, các thế hệ tương lai và những người đang bị ảnh hưởng bởi sự khốn cùng về kinh tế và hiện sinh”.

Ngọc Yến

Tính Bất Khả Ngộ thường bị hiểu sai – Ý nghĩa thật sự của Tính Bất khả ngộ của Đức Giáo Hoàng là gì?

Tính Bất Khả Ngộ thường bị hiểu sai – Ý nghĩa thật sự của Tính Bất khả ngộ của Đức Giáo Hoàng là gì?


Tính bất khả ngộ của Giáo hoàng, được Công đồng Vaticano I long trọng xác định trong Hiến chế Tín lý “Mục tử Đời đời” (Pastor Aeternus) năm 1870, từ lâu đã gây tranh cãi và thường xuyên bị hiểu lầm trong và ngoài Giáo hội.

Một số người Công giáo hậu Công đồng lập luận rằng Đức Giáo hoàng không thể sai lầm, nên trong tương lai, Giáo hội không cần thiết phải có các công đồng nữa. Cách chung, người Tin Lành cho rằng tuyên bố này không tìm thấy trong Thánh kinh và trái với những lời dạy của Hội thánh sơ khai, mặc dù người Công giáo chỉ ra lời hứa của Chúa Kitô là sẽ luôn ở lại với Giáo hội của Ngài và gởi Chúa Thánh Thần đến để “dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em” (Ga 14,26).

Nhưng các nhà thần học tiếp tục không đồng ý cách giải thích các tuyên bố về huấn quyền của giáo hoàng, như gần đây đã trở nên rõ ràng khi Học viện Giáo hoàng về Sự Sống đã đăng tải ý ám chỉ rằng Thông điệp “Sự sống Con người” (Humanae Vitae) của Đức Giáo hoàng Phaolo VI lên án biện pháp tránh thai nhân tạo, không bị khống chế bởi tính bất khả ngộ của Giáo hoàng.

Vậy, Giáo hội Công giáo hiểu như thế nào về tính bất khả ngộ?

Công Đồng đã nói gì

Điều mà Công đồng Vatican I đã thực sự dạy trong Công đồng năm 1870, về định nghĩa ơn bất khả ngộ thì rất giới hạn. Trước hết, Hiến chế Tín lý “Mục tử Đời đời” dạy rằng khi Đức Giáo hoàng đưa ra một xác quyết cách trang trọng liên quan đến đức tin hoặc phong hóa, thì ngài “được hưởng ơn bất khả ngộ mà Chúa Cứu Thế muốn Giáo hội của Ngài phải được ban tặng.” Nói cách khác, không thể sai lầm không phải là thứ thuộc về riêng giáo hoàng, nhưng là đặc sủng của toàn thể Giáo hội. Thứ hai, ơn này bị giới hạn trong những tín điều được mạc khải thánh liên quan đến đức tin và phong hóa; ơn này không phải để tuyên bố những học thuyết mới được biết đến. Thứ ba, những định nghĩa như thế phải đại diện cho việc thực thi nhiệm vụ của giáo hoàng, nghĩa là “từ ngai tòa thánh Phêrô” (ex cathedra) theo thẩm quyền tông đồ tối cao của ngài. Cuối cùng, ơn bất khả ngộ phải liên quan đến một điều gì đó được gìn giữ bởi Giáo hội hoàn vũ.

Công đồng Vaticano II (1962- 1965) không “sửa đổi” giáo huấn của Vaticano I, theo nghĩa chặt của từ này, nhưng đã diễn giải lại theo những cách đáng chú ý. Công đồng Vaticano II bao gồm các giám mục trong việc thực thi ơn bất khả ngộ của Giáo hội. Công đồng cũng cho thấy giáo dân đóng một vai trò quan trọng. Trước hết, chúng ta hãy xem xét việc bao gồm các giám mục.

“Hiến chế Tín lý về Giáo hội” (Lumen Gentium) nói rằng: “Ơn bất khả ngộ của chính Giáo hội cũng hiện hữu nơi Giám mục đoàn khi các ngài sử dụng quyền giáo huấn tối thượng cùng với Đấng kế vị thánh Phêrô” (LG, số 25 ). Trong bình luận của mình về “Lumen Gentium”, cha Karl Rahner, S.J., công nhận rằng các giám mục, khi các ngài hiệp nhất trong việc giảng dạy giáo thuyết “chắc chắn phải được gìn giữ”, có thể tuyên bố giáo thuyết một cách không thể sai lầm. Điều này đề cập đến điều được gọi là “huấn quyền phổ quát thông thường” vốn đang liên quan đến một số vấn đề gây tranh cãi ngày nay.

Nhưng cha Rahner cho thấy một sự khác biệt quan trọng. Ngài lưu ý rằng bản văn Công đồng nói: “được gìn giữ” chứ không nói “được tin”, vì hầu hết đều đồng ý rằng không phải mọi giáo thuyết được giảng dạy một cách nhất trí là không thể sai lầm. Nhưng phân loại điều này thì đi xa hơn mối bận tâm về vấn đề kỹ thuật, như chúng ta sẽ thấy bên dưới.

Đối với việc đưa giáo dân vào đặc sủng không thể sai lầm, ngôn ngữ của Công đồng mang tính gián tiếp hơn. “Lumen Gentium” nại đến vai trò trung gian của Thánh Thần trong việc xác định giáo thuyết, không chỉ trong phẩm trật, mà còn trong toàn thể Hội thánh: “Toàn thể tín hữu, được Chúa Thánh Thần xức dầu (x. 1Ga 2,20. 27), không thể sai lầm trong đức tin. Họ biểu lộ đặc tính ấy nhờ cảm thức siêu nhiên về đức tin của toàn thể dân Chúa, khi “từ các Giám mục cho đến người giáo dân rốt hết” đều đồng ý về những điều liên quan đến đức tin và phong hóa (LG, số 12).

Và một vài đoạn sau đó: “Do tác động của cùng một Chúa Thánh Thần, Giáo hội không thể không chấp nhận những phán quyết đó, và Chúa Thần Thần bảo vệ và phát triển toàn thể đoàn chiên Chúa Kitô trong sự hợp nhất đức tin (LG, Số 25). Như đã đề cập từ đầu, ơn bất khả ngộ không được sử dụng để tuyên bố các giáo thuyết mới, mà để bảo toàn đức tin của Hội thánh. Ơn bất khả ngộ hoặc quyền giáo huấn “ngoại thường” của Đức Giáo hoàng chỉ được thực thi hai lần, khi Đức Giáo hoàng Piô IX xác định tín điều Đức Maria Vô nhiễm Nguyên Tội (năm 1854) và Đức Piô XII xác định tín điều Đức Maria Hồn Xác Lên Trời (năm 1950), trong cả hai trường hợp, các ngài chỉ tuyên tín sau khi tham khảo ý kiến Giáo hội thông qua một cuộc thăm dò ý kiến của các giám mục. Huấn quyền giảng dạy những gì Giáo hội tin tưởng.

Đức Giáo hoàng Phanxicô và ơn bất khả ngộ

Đức Phanxicô đã thực hiện một số bước để khôi phục sự hiểu biết toàn diện hơn về thẩm quyền giáo huấn. Khởi đầu triều giáo hoàng của ngài, trong cuộc phỏng vấn nổi tiếng với Antonio Spadaro, S.J., khi được hỏi về cách ngài hiểu nguyên tắc “đồng cảm thức với Giáo hội” của Thánh Inhaxiô Loyola, ngài nhấn mạnh rằng: cảm thức cùng với Giáo hội không có nghĩa là chỉ cảm thức với phẩm trật. Ngài nói “Dân thánh thiện, trung thành của Thiên Chúa” tự nó tạo thành một chủ thể, trong một cuộc hành trình xuyên suốt lịch sử. “Và tất cả những tín hữu, xét như một toàn thể, thì không thể sai lầm trong các vấn đề về đức tin, và mọi người biểu lộ ơn bất khả ngộ trong đức tin (infallibilitas in credendo), sự bất khả ngộ này trong niềm tin, thông qua một cảm thức siêu nhiên về đức tin của tất cả những người đi cùng nhau.”

Ngài nói thêm, “Khi cuộc đối thoại giữa dân chúng với các giám mục và giáo hoàng diễn ra trên con đường này, và là cuộc đối thoại chân thực, thì nó được Chúa Thánh Thần trợ giúp. Vì vậy, cảm thức cùng với Giáo hội không chỉ liên quan đến các nhà thần học.” Richard Gaillardetz, một thần học gia tại Đại học Boston, đã đưa ra một nhận xét đáng chú ý về điểm này vào năm 2014: Chúng ta đừng bỏ qua sự táo bạo của tuyên bố này. Đức Phanxicô đang nói rằng chúng ta có thể tin tưởng vào sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần đối với các giám mục với điều kiện là các ngài phải cởi mở để lắng nghe người khác. Nhãn quan này trái ngược hẳn với những quan niệm gần như máy móc về sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần thường được các nhà lãnh đạo Giáo hội viện dẫn.

Tháng 6 năm 2014, Ủy ban Thần học Quốc tế đã xuất bản một văn bản quan trọng có tựa đề “Cảm thức Đức tin trong trong Đời sống của Giáo hội” (Sensus Fidei  in the Life of the Church) nhằm phát triển sự hiểu biết của Đức Phanxicô về Dân Chúa như một chủ thể. Khi tập trung vào sensus fidei (cảm thức về đức tin) và sensus fidelium(cảm thức của người tín hữu), bản văn đã lấy lại một nguyên tắc bắt nguồn sâu xa trong cả Thánh kinh và Thánh truyền lẫn truyền thống thần học nhưng lâu nay bị coi nhẹ trong lịch sử Công giáo. Văn bản của ủy ban giải thích rằng, các tín hữu “không chỉ đơn thuần là những người lãnh nhận thụ động những điều được phẩm trật giảng dạy và các nhà thần học giải thích: đúng hơn họ là những chủ thể sống động và tích cực trong Giáo hội.”

Trong khi cảm thức của các tín hữu không thể bị thu hẹp theo ý kiến ​​của đa số và cần phải được phân định bởi huấn quyền, các tín hữu có vai trò trong việc phát triển giáo thuyết và sự giảng dạy về luân lý của giáo hội, và họ phải được tham khảo ý kiến. Về mặt thần học, sự phân biệt trước đây giữa một giáo hội giảng dạy (ecclesia docens), vốn dành riêng cho phẩm trật, và một Giáo hội học tập (ecclesia discens), không còn phù hợp nữa. Sự thống nhất giữa hai chiều kích giảng dạy và học tập là hữu cơ. Do đó, Công đồng đã trục xuất “bức tranh biếm họa về phẩm trật chủ động và giáo dân thụ động” (số 4).

Đức Phanxicô đã tìm cách diễn đạt viễn tượng này về toàn thể Giáo hội như một chủ thể, được Chúa Thánh Thần hướng dẫn. Trong bài diễn văn khai mạc tiến trình Thượng Hội đồng thế giới, mà đỉnh điểm với cuộc họp của Thượng Hội đồng Giám mục ở Rôma vào tháng 10 năm 2023, ngài mời gọi [Giáo hội hãy là và trở nên] một Giáo hội lắng nghe, một Giáo hội mà trong đó tất cả những người được rửa tội đều tham gia tích cực vào đời sống và sứ mạng của Giáo hội.

Diễn giải những lời dạy mang tính giáo huấn

Không phải lúc nào cũng dễ dàng nhận ra một giáo thuyết là giáo huấn nhất quán của huấn quyền thông thường, như các sử gia thường chỉ ra. Điều mà Giáo hội tin tưởng không phải lúc nào cũng rõ ràng. Nhiều giáo huấn nhất quán của huấn quyền thông thường cuối cùng đã bị thay đổi vì cách thức tiếp nhận của Giáo hội. Trong cuốn sách Infallibility on Trial: Church, Conciliarity and Communion (tạm dịch Tính Bất Khả Ngộ trong Xét Xử: Giáo hội, Công đồng tính và Sự Hiệp thông) năm 1992, Luis M. Bermejo đã đưa ra một số ví dụ, trong số đó có sự bất khả thi của ơn cứu độ bên ngoài Giáo hội được công đồng Laterano IV (năm 1215) và Florence (năm 1442) giảng dạy; sự khoan dung của chế độ nô lệ được Laterano III (năm 1179), Laterano IV (năm 1215), Lyons V (năm 1245) và Lyons II (năm 1274) chuẩn nhận; và sự biện hộ cho việc sử dụng tra tấn của Laterano II (năm 1179) và Vienne (năm 1311).

Trong suốt triều đại giáo hoàng của Đức Gioan Phaolo II, một loạt các tài liệu về thẩm quyền được ban hành bởi Bộ Giáo lý Đức tin tại thời điểm Đức Hồng Y Joseph Ratzinger làm Bộ Trưởng. Các tài liệu đưa ra về chủ trương thẩm quyền tối đa về mặt giáo thuyết, hay còn gọi là “chủ trương bất khả ngộ đáng sợ.” Một trường hợp điển hình là Tông thư “Truyền chức Linh mục” (Ordinatio Sacerdotalis) của Đức Gioan Phaolo II, vốn tuyên bố rằng Giáo hội không có thẩm quyền phong chức linh mục cho phụ nữ và phán quyết này phải được gìn giữ cách dứt khoát. Khi các câu hỏi về thẩm quyền của Tông thư được đưa ra, C.D.F. đã công bố một tuyên bố rằng: giáo huấn của giáo hoàng thuộc về kho tàng đức tin và đã được giảng dạy một cách không thể sai lầm bởi huấn quyền thông thường và phổ quát.

Nhưng nhiều nhà thần học vẫn tiếp tục đặt câu hỏi về tính chính xác của tuyên bố đó. Viết trên tạp chí America, nhà giáo luật nổi tiếng Ladislas Örsy, S.J., lập luận rằng phản ứng của C.D.F. chỉ phản ánh cách giải thích và thẩm quyền của Bộ đó; nó không tác động đến sức thuyết phục của Tông thư. Francis Sullivan, S.J., lúc đó là người đứng đầu cơ quan thẩm quyền huấn giáo, đã viết rằng vẫn còn một câu hỏi là liệu các giám mục của Giáo hội có nhất trí hay không trong việc dạy rằng: loại trừ phụ nữ khỏi chức vụ linh mục là chân lý mạc khải. Ngài kết luận, “Trừ khi đây là trường hợp hiển nhiên, tôi không biết làm thế nào có thể chắc chắn rằng giáo thuyết này được giảng dạy một cách không sai lầm bởi huấn quyền thông thường và phổ quát.”

Trong bài bình luận của mình về Tự sắc “Để bảo vệ Đức tin”  (Ad Tuendam Fidem) của Đức Gioan Phaolo II, áp đặt các hình phạt đối với những người phản đối những giáo huấn “dứt khoát” nhưng không phải là những giáo huấn không thể sai lầm, Đức Hồng y Ratzinger đã bao gồm việc phong thánh và tuyên bố của Đức Giáo hoàng Lêô XIII trong Sắc chỉ “Apostolicae Curae” tuyên bố tính vô hiệu của việc phong chức linh mục Anh giáo như là chân lý “được kết nối với sự mặc khải bởi sự cần thiết của lịch sử”, được bảo toàn cách dứt khoát, ngay cả khi không được mạc khải. Các nhà thần học khác, trong số đó có Avery Dulles, S.J., tìm thấy ví dụ về “Apostolicae Curae” gây tranh cãi. Do đó, vẫn còn nhiều tranh cãi lớn nữa về điều gì sẽ được đưa vào sự dạy dỗ dứt khoát của huấn quyền phổ quát thông thường.

Cuộc tranh luận hiện tại

Tháng 6 năm nay, Học viện Giáo hoàng về Sự sống đã xuất bản một tập san: “Đạo đức Thần học về Sự sống: Kinh thánh, Truyền thống, Những Thách đố Thực tế (“Theological Ethics of Life: Scripture, Tradition, Practical Challenges”) gồm các bài viết được đưa ra tại một hội thảo học thuật vào năm vừa qua. Một số nhà thần học trong tập san này gợi ý rằng, trong một số trường hợp, các cặp vợ chồng có thể chọn thực hiện biện pháp tránh thai nhân tạo một cách hợp pháp. Đáp lại cuộc tranh cãi này, Học viện Giáo hoàng đã đăng tin rằng Thông điệp của Đức Giáo hoàng Paul VI lên án việc tránh thai nhân tạo không bị khống chế bởi tính bất khả ngộ của Giáo hoàng- nhưng thực ra điều này đã được Đức Tổng Giám mục Ferdinando Lambruschini khẳng định khi trình bày thông điệp tại một cuộc họp báo vào ngày 29 tháng 7 năm 1968. Cuộc tranh luận diễn ra sau việc đăng tin đầu tiên, lần đăng tin thứ hai vào ngày 8 tháng 8 đã tái khẳng định bản tin trước đó, nhưng sau đó chúng đã bị rút lại.

Thẩm quyền của Thông điệp “Sự sống Con người” (Humanae Vitae) đã bị tranh luận từ lâu. Việc phát hành Thông điệp đã dẫn đến một sự bất đồng quan điểm chưa từng có trong giới thần học gia, vốn cho rằng việc sử dụng các biện pháp tránh thai là một quyết định của lương tâm đối với các cặp vợ chồng. Một số Hội đồng Giám mục đã có cách tiếp cận vấn đề cách tương tự. Đối với nhiều giáo dân Công giáo, thông điệp đánh dấu chấm dứt sự tin tưởng của họ vào thẩm quyền giáo huấn về các vấn đề tính dục. Nhưng các nhà thần học khác đã chứng tỏ tính không thể sai lầm trong giáo huấn của thông điệp này, gồm John C. Ford, S.J. và Dr. Germain Grisez trong một bài viết năm 1978 trên Tạp chí Nghiên cứ Thần học (Theological Studies).

Sự tán thành và đối thoại

Không phải tất cả các giáo huấn của Giáo hoàng đều có thẩm quyền như nhau, như Công đồng Vaticanô II đã cẩn thận chỉ ra. Việc giảng dạy trong lãnh vực giáo thuyết có thể thay đổi; những giáo thuyết được suy xét hoặc không thể sai lầm vì sự mặc khải thần linh thì không thể thay đổi; hai hình thức giảng dạy này có mức độ đáp ứng khác nhau từ phía các tín hữu. Các giáo huấn của huấn quyền giáo hoàng đích thực, ngay cả khi giáo hoàng không nói từ Ngai tòa Thánh Phêrô (ex cathedra), vẫn có được “sự tán thành của tín hữu” hoặc “sự phục tùng của tín hữu”. Tuy nhiên, những giáo thuyết được tuyên bố là không thể sai lầm là “không thể sửa đổi” và phải được tuân thủ với “sự phục tùng đức tin” (LG, số 25). Ai từ chối tín điều, sẽ bị đặt ra bên ngoài cộng đoàn đức tin, nghĩa là bị phạt vạ tuyệt thông.

Tạp chí America gần đây đã dẫn lời Đức Tổng Giám mục Vincenzo Paglia, Viện trưởng Học viện Giáo hoàng về Sự Sống, ngài đã mô tả vai trò của học viện là cung cấp một không gian cho các cuộc thảo luận học thuật; nó không bị giới hạn trong việc giải thích các bản văn của huấn quyền. Điều này phản ánh cách tiếp cận của Đức Thánh Cha Phanxicô, người tiếp tục nhấn mạnh mối tương quan giữa lương tâm, chuẩn mực và phân định. Ngài ưa thích điều này hơn là kết án.

Tính bất khả ngộ của Giáo hoàng không phải lúc nào cũng được hiểu đúng. Một số người thuộc cánh hữu nghĩ rằng huấn quyền có thể giải quyết mọi thắc mắc hoặc vấn đề bằng một tuyên bố. Những người thuộc cánh tả thường trở nên thiếu kiên nhẫn và bất đồng về sự can thiệp của tính bất khả ngộ. Đức Thánh Cha Phanxicô đã cố gắng đi trên một ranh giới tinh tế giữa những thái cực này. Quá nhiều cộng đồng tôn giáo ngày nay thiếu các quà tặng hay ân sủng của sự kiên nhẫn hoặc chừng mực; không có cấu trúc giảng dạy có thẩm quyền, các cộng đồng tôn giáo thường trở thành mồi ngon của giọng nói to nhất hoặc người có khả năng nói lôi cuốn nhất. Kết quả là mất đoàn kết và đôi khi là bạo lực. Khả năng giảng dạy với thẩm quyền của Công giáo, trong một số trường hợp thậm chí là không thể sai lầm, là một trong những món quà tuyệt vời của Thiên Chúa dành cho giáo hội.

Thomas P. Rausch, SJ

Chuyển ngữ: Francis Xavier Đoàn Công Trình, SJ

([…] Chú thích của người dịch)


8/10  Thứ Bảy trong tuần thứ Hai Mươi-Bảy Mùa Quanh Năm

Gl 3:22-29; Tv 105:2-3,4-5,6-7; Lc 11:27-28


Chúa Giêsu đã đến để đem Tin Mừng cứu độ cho nhân loại. Nơi nào Ngài đặt chân đến, thì nơi đó Vương quyền và Nước Thiên Chúa xuất hiện.

Trong đoạn này, Chúa Giêsu muốn đề cao những người “lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa”. Chúa Giêsu đã đề cao họ bằng cách coi họ còn trọng hơn mẹ ruột của Ngài.

Nhưng nói thề không phải là Chúa Giêsu coi rẻ Đức Maria, trái lại còn gián tiếp ca tụng Người: Người vừa là mẹ ruột đã sinh ra Ngài, vừa là một người luôn lắng nghe và thực hiện lời Thiên Chúa.

Nhận thấy quyền năng và sự khôn ngoan nơi các phép lạ cũng như lời nói và việc làm của Chúa Giêsu, một người phụ nữ trong đám đông không thể cầm mình được. Bà đã lên tiếng ca ngợi Chúa Giêsu cách gián tiếp bằng cách ca ngợi người mẹ đã cưu mang Ngài: “Hạnh phúc thay bà mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm”. Nhưng Chúa Giêsu đáp lại: “Ðúng hơn phải nói rằng: “Hạnh phúc thay kẻ lắng nghe và giữ Lời Thiên Chúa”.

Một cái gì đó hụt hẫng, một cái gì đó tiếc nuối, một cái gì đó khát khao, … Rất có thể đó sẽ là tâm trạng chung của nhiều độc giả khi đọc Tin Mừng hôm nay. Chỉ vỏn vẹn hai câu ngắn, nhưng nội dung và sứ điệp Tin Mừng sẽ dài, nếu không muốn nói là rất dài. Bởi vì, đề tài Tin Mừng nói đến chạm vào vấn đề muôn thưở của đời người: hạnh phúc.

Đã là người, hẳn ai cũng khát khao hạnh phúc, ai cũng kiếm tìm hạnh phúc, ai cũng muốn sống cuộc sống hạnh phúc. Nhưng nỗi khát khao ấy, cuộc kiếm tìm ấy, ước muốn ấy cứ dai dẳng, cứ trồi sụt, cứ ẩn hiện mãi hoài, cứ trải dài trong phận người, cứ bền bỉ với dòng dời. Rất hiếm người khẳng định mình có hạnh phúc, đang hạnh phúc và mãi hạnh phúc. Thế mà Chúa Giêsu lại khẳng khái nói: hạnh phúc sẽ thuộc về người nào biết lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa.

Lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa – đây chính là cái giá phải trả để mua hạnh phúc thật, hạnh phúc Nước Trời. Nhưng làm thế nào để nghe được Lời Chúa, làm sao để kiên cường tuân giữ Lời Chúa giữa một môi trường luôn ầm ào với đủ thứ âm thanh khủng bố thính giác, với đủ thứ lo toan và mời mọc khiến lòng người không một phút lặng bình, với đủ thứ bậc thang giá trị khiến trí khôn không biết đâu mà chọn lựa ?

Có lẽ đã nhìn thấy trước những rối ren, những bóng mờ che kín hồn người, nên Chúa Giêsu đã mượn hình ảnh huyết tộc để gắn kết những người đang nghe Chúa lại với Chúa và với nhau: ai có khao khát nghe Lời Chúa và can đảm tuân giữ Lời Chúa, sẽ được ở trong gia đình của Ngài, được là mẹ, là chị em, anh em với Ngài. Khẳng định ấy hẳn sẽ khích lệ và thuyết phục được nhiều tâm hồn thiện chí và khát khao Lời Chúa.

Còn tôi, bạn và anh chị, lúc này ta đang dành cho Chúa, cho tâm linh mình những phút quý báu hiện với Lời và nghe Lời, ta có thấy lòng mình khát khao hơn, kiên cường hơn, tin mến hơn, cậy trông hơn để đặt hai chân trên con đường mang tên lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa ? Ta có muốn tìm xem đâu là rào cản khiến ta không nghe được tiếng Chúa, đâu là cớ vấp ngã khiến ta mau chóng rời khỏi đường piste tuân giữ lời Chúa? Đâu là ảo ảnh khiến ta chỉ rao báo Lời trên môi miệng mà không làm chứng cho Lời bằng cuộc sống, khiến đời tác viên Tin Mừng thành tác viên của tin buồn, tin thất vọng, tin sợ hãi, tin bất hạnh ?

Thành tâm mở lòng, khiêm tốn phơi bày những góc khuất trong hồn ta, trong đời ta và để cho ánh sáng Thần Khí, ánh sáng Ngôi Lời, ánh sáng Tình yêu chỉ cho ta thấy những chỗ cần phải cắt tỉa, những chỗ cần phải sửa chữa và nhất là khơi lên trong ta sức sống mới mãnh liệt, ngõ hầu ta tìm thấy và sống trong hạnh phúc thật.

Chúa Giêsu không có ý phủ nhận vai trò của Mẹ Maria trong việc cưu mang, sinh hạ và nuôi dưỡng Ngài; nhưng qua những lời trên đây, Ngài mạc khải mối tương quan sâu xa giữa Ngài và Mẹ Maria; mối tương quan ấy không chỉ dừng lại ở huyết nhục, nhưng hơn ai hết, Mẹ là người đã triệt để lắng nghe và giữ Lời Thiên Chúa: cả cuộc đời Mẹ, từ biến cố Truyền tin cho đến khi đứng dưới chân Thập giá, Mẹ đã đón nhận Lời Chúa, qua tiếng Xin Vâng.

Một đời sống đạo đức gương mẫu vẫn luôn là một hấp lực và tác động người khác hơn cả những gì được viết trong sách vở. Mẹ Maria đã nêu gương cho chúng ta trong việc lắng nghe và thực thi Lời Chúa. Ðó là mối phúc mà ai trong chúng ta cũng có thể đạt được. Ước gì chúng ta tìm được hạnh phúc trong việc cưu mang Lời Chúa: cưu mang bằng cách lắng nghe, đón nhận và tuân giữ, để rồi một khi Lời Chúa đã trở thành sức sống, chúng ta có thể đem sự sống đó đến cho những người xung quanh.

Lắng nghe và giữ lời Chúa: Trong Tin Mừng Luca, rất nhiều lần Chúa Giêsu đề cao việc lắng nghe và giữ lời Chúa (Thí dụ chuyện Mác-ta và Maria). Hôm nay một lần nữa Chúa Giêsu đề cao những kẻ lắng nghe và giữ lời Ngài, thậm chí coi họ còn trọng hơn mẹ ruột của Ngài nữa.

Diễm phúc của Đức Mẹ: “Phúc cho Mẹ không phải vì đã cho Chúa bú mớm, nhưng vì đã để lời Ngài biến thành xương thịt của mình. Trong thinh lặng, Mẹ đã nghiền ngẫm và để lời Chúa thành chính sự sống của Mẹ”


Hiệu lực của Kinh Mân Côi

7/10 Thứ Sáu

Đức Mẹ Mân Côi

Gl 3:7-14; Tv 111:1-2,3-4,5-6; Lc 11:15-26

Hiệu lực của Kinh Mân Côi

Mỗi năm tháng 10 về, Giáo Hội dành riêng để tôn kính và làm các việc lành phước đức để dâng kính Đức Mẹ. Tháng 10 là tháng, Giáo Hội khuyên nhủ con cái Mẹ hãy siêng năng lần hạt Mân Côi và mau mắn đến với Mẹ. Hôm nay, Giáo Hội mừng kính lễ Mẹ Mân Côi. Chúng ta hãy nhìn lên Mẹ, noi gương bắt chước Đức Mẹ và qua Mẹ chúng ta đến với Chúa. Chúng ta càng ngày càng yêu mến Mẹ, càng ngày càng làm cho nhiều người hiểu biết Mẹ và tôn kính Mẹ.

Lễ Đức Mẹ Mân Côi mà chúng ta mừng hôm nay liên hệ đến một biến cố trong lịch sử Giáo Hội. Ngày 7-10-1571, vua Hồi Giáo mang đại quân hướng về La Mã và thề hứa sẽ biến đền thờ Thánh Phêrô thành một “chuồng ngựa”. Đạo binh Công giáo đã ra nghênh chiến trong khi ở hậu phương giáo dân lần chuỗi Mân Côi cầu xin với Đức Mẹ . Người Công giáo đã chiến thắng tại vịnh Lepant, chặn được sức tiến vũ bão của Hồi giáo. Để ghi ơn Đức Mẹ, Đức Giáo Hoàng Piô V đã thiết lập lễ kính Đức Mẹ Mân Côi.

Năm 1571, trước cơn đe doạ đạo Chúa bị tàn phá, Đức Thánh Cha Piô V, đã truyền cho Hội Thánh cầu nguyện bằng chuỗi Mân côi, với hy vọng Chúa sẽ cứu. Khấn cầu đó đã được Chúa chấp nhận. Chiến thắng ở vịnh Lepante ngày 7 tháng 10 năm 1571 đã là cơ sở để Đức Thánh Cha thiết lập lễ Đức Mẹ Mân côi. Hằng năm cứ đến ngày 7 tháng 10, Hội Thánh đề cao chuỗi Mân côi như một nguồn hy vọng.

Năm 1629, trước cơn dịch tả nguy hiểm lan rộng trên nước Ý, tu sĩ Timoteo Ricci đã lập ra chuỗi Mân côi liên tiếp. Thầy tính rằng: Mỗi năm có 8.760 giờ. Căn cứ vào đó, thầy làm ra 8.760 tấm vé. Mỗi vé ghi tháng, ngày, giờ. Rồi cho rút thăm. Ai được vé nào thì cam kết đọc chuỗi Mân côi tháng ngày giờ đó. Mục đích có ý xin ơn chết lành cho những người hấp hối, xin ơn trở lại cho những người tội lỗi, xin ơn bình an cho các dân tộc.

Từ sáng kiến đó, phong trào kinh Mân côi liên tiếp được thành lập và lan rộng. Năm 1657, Đức Giáo Hoàng Alexandre VII chấp nhận phong trào đạo đức này, và ban cho nhiều ân xá.

Năm 1826, trước nhu cầu truyền giáo cho các vùng xa xôi, bà Pauline Jaricot, thành Lyon, đã có sáng kiến lập ra phong trào “Kinh Mân côi sống”. Cứ 10 nguời thì thành một nhóm nhỏ. Mỗi người trong nhóm cam kết đọc 10 kinh Kính Mừng mỗi ngày. Hơn nữa, mỗi người trong nhóm sẽ tìm thêm 5 người. Năm người này cũng hứa đọc 10 kinh Kính Mừng mỗi ngày. Và cứ thế nhân lên số người đọc kinh Kính Mừng.

Mỗi tháng, bà Pauline phổ biến cho các nhóm một bản suy gẫm Lời Chúa, hướng về truyền giáo.

Đầu thế kỷ XX, trước tình hình suy giảm đức tin tại Pháp, cha Joseph Eyquem lập ra những hội Mân côi. Sinh hoạt của những người theo hội này cũng là đọc 10 kinh Kính Mừng mỗi ngày. Ngoài ra, họ họp nhau mỗi tháng một lần. Cuộc họp không tổ chức ở nhà thờ, nhưng ở nhà tư, lúc ở nhà này, khi ở nhà khác. Cuộc họp gồm đủ mọi thành phần. Những tín hữu bình thường, những người ly dị, những người rối vợ rối chồng, những người xa tránh các bí tích. Họ cầu nguyện, trao đổi, chia sẻ và giúp đỡ nhau vượt qua các thử thách.

Nói chung, khi gặp những khó khăn nguy hiểm, cả trong đạo lẫn ngoài đời, người ta đã chạy lại với Đức Mẹ. Họ khẩn cầu Mẹ bằng chuỗi Mân côi. Và thực sự chuỗi Mân côi đã đem lại cho các tâm hồn những hy vọng lành thánh.

Kinh Mân Côi giúp ta gắn bó với Chúa. Hai mươi mầu nhiệm diễn tả cuộc đời của Chúa Cứu thế, đồng thời cũng phác họa đời sống chúng ta. Cuộc đời được dệt nên bằng một chuỗi những vui buồn. Những ai kiên trung cậy trông vào Chúa trong mọi biến có vui buồn ấy, sẽ trở thành môn đệ chân chính của Đức Giêsu. Đức Mẹ đã thực hiện điều ấy và Mẹ đang mời gọi chúng ta tiến bước theo Chúa Giêsu, Con của Mẹ.

Tràng hạt Mân Côi cũng tượng trưng cho tình liên đới giữa con người với nhau. Là những đóa hoa trong vườn hoa cuộc đời, chúng ta liên kết với nhau làm thành một chuỗi hoa hồng. Những đóa-hoa-cuộc-đời được gắn liền với nhau bằng tình mến Chúa yêu người, làm cho cuộc sống này thêm tươi đẹp và thi vị hơn.

Khi ước mong trở thành những đóa hồng dâng kính Đức Mẹ, mỗi người chúng ta cũng cần phải là một đóa hoa để trao tặng cho nhau. Những nghĩa cử thân thiện, những lời động viên khích lệ hoặc sự chia sẻ tinh thần vật chất mà chúng ta thực hiện xuất phát từ tình mến, đó chính là những đóa hoa lòng mà chúng ta trao tặng cho nhau. Những đóa hoa ấy không tàn phai theo thời gian, nhưng mãi mãi thắm sắc ngát hương, làm nên một cuộc sống an bình. Đó là ý nghĩa của Kinh Mân Côi mà chúng ta đọc hằng ngày.

Tràng chuỗi mân côi được xem là phương thuốc thần diệu để diệt trừ tận gốc căn bệnh trầm kha nầy vì chuỗi mân côi dạy ta biết vâng phục thánh ý Thiên Chúa như Mẹ Maria và Chúa Giê-su.


Hiệu Lực Của Lời Cầu Nguyện

6/10 Thứ Năm

Thứ Năm trong tuần thứ Hai Mươi-Bảy Mùa Quanh Năm

Gl 3:1-5; Lc 1:69-70,71-72,73-75; Lc 11:5-13

Hiệu Lực Của Lời Cầu Nguyện

Cầu nguyện và xin ơn là một nhu cầu thiết yếu của người  Ki-tô hữu, vì khi cầu nguyện sẽ liên kết mỗi chúng ta với Thiên Chúa là nguồn sự sống, giúp chúng ta biết được ý Chúa muốn ta làm gì, cầu nguyện nói lên một tâm hồn đơn sơ, khiêm tốn của người môn đệ Chúa Giêsu.

Hơn nữa, cầu nguyện còn xác tín niềm tin tưởng và sự phó thác hoàn toàn của mình vào Thiên Chúa, đồng thời kêu xin Chúa ban cho ta những ơn cần thiết. Chính vì thế, Chúa Giêsu đã khuyến khích và thúc giục chúng ta hãy cầu xin: “ Cứ xin sẽ được, cứ tìm sẽ thấy, cứ gõ cửa sẽ mở cho” (Lc 11, 9).

Một lời kêu mời tha thiết “ cứ xin”, “cứ tìm”, “cứ gõ”, qua đó cũng nói lên rằng  phải rất kiên trì. Để chứng minh Chúa Giêsu đã đưa ra một ví dụ dạy chúng ta phải biết kiên trì với Thiên Chúa trước những nhu cầu cần thiết. Gương người bạn đến gõ cửa nhà bạn mình để xin được giúp đỡ. Người đời dù quen hành động theo lý do ích kỷ, thế mà cũng phải chịu thua sự kiên trì của người xin. “ Huống chi” Thiên Chúa vốn là người Cha nhân lành, luôn đối xử với chúng ta theo tình thương, Ngài mang trong mình bản chất nhân hậu và giàu ân sủng, Ngài rất vui thích ban mọi ơn lành và nhưng không cho con người. Bởi thế, nếu chúng ta kiên trì cầu xin với Thiên Chúa, thì chắc chắn sẽ được nhận lời.

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dạy chúng ta: “Cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho”. Ngài đưa ra hai dụ ngôn để nhắc nhở chúng ta kiên tâm trong lời cầu nguyện và siêng năng cầu nguyện cùng Chúa. Ngài đoan hứa Thiên Chúa là người Cha tốt lành sẽ ban cho chúng ta những gì chúng ta cầu xin, đặc biệt Ngài sẽ ban cho chúng ta món quà tuyệt hảo là Thánh Thần, nhờ đó chúng ta sẽ tìm được hạnh phúc đích thực.

Chúa Giêsu kể cho ta dụ ngôn về một người nài nỉ hàng xóm thức dậy lấy bánh cho anh ta về đãi khách lúc nửa đêm. Theo luật về lòng hiếu khách của người Do thái, việc tiếp đãi khách bộ hành lúc nửa đêm thì không chỉ là bổn phận của một cá nhân mà là bổn phận của cả cộng đoàn. Điều này có nghĩa là khi có một vị khách vãng lai ghé tới một thôn làng lúc nửa đêm, thì tất cả các gia đình đều phải có trách nhiệm tiếp đãi tử tế vị khách này.

Dĩ nhiên trong một thôn làng nhỏ bé, các gia đình đều có thể biết rõ về nhau. Vì lẽ đó, người đi xin bánh để về tiếp khách lúc nửa đêm biết rõ nhà hàng xóm còn bánh nên anh cố nài nỉ cho bằng được người hàng xóm thức dậy mà lấy bánh cho anh ta. Nếu người hàng xóm không chịu dậy lấy bánh thì ông ta sẽ phải xấu hổ với dân làng!

Chúa Giêsu dùng hình ảnh nói trên để dạy ta biết liên lỉ cầu xin Thiên Chúa ban những điều tốt lành cho ta. Nếu người hàng xóm còn biết sợ bị làm phiền hay sợ phải xấu hổ với dân làng mà phải thức dậy lấy bánh cho người đến gõ cửa lúc nửa đêm, thì huống chi Thiên Chúa, Đấng vốn đầy yêu thương, lại là cha của mỗi người chúng ta và cũng là Đấng mà thánh Augustinô bảo rằng chẳng ngủ bao giờ, nhưng luôn tỉnh thức để đáp ứng những nhu cầu của ta, thì chắc chắn Ngài sẽ đáp ứng những điều ta cầu xin.

Trong thực tế, có lẽ chúng ta đã cầu xin rất nhiều, thế mà nhiều khi chúng ta chẳng nhận được. Tại sao thế? Thánh Giacôbê trả lời: “Anh em không có, là vì anh em không xin; anh em xin mà không được là vì anh em xin với tà ý, để lãng phí trong việc hưởng lạc”. Do đó, khi cầu nguyện, chúng ta hãy ý thức điều chính yếu chúng ta phải nhắm tới trước hết, đó là “Xin cho Ý Cha được thể hiện dưới đất cũng như trên trời”. Thiên Chúa là Cha, Ngài khôn ngoan thấu suốt những nhu cầu của chúng ta và sẽ ban cho những gì lợi ích cho phần rỗi chúng ta. Ðiều cần thiết là phải kiên trì trong niềm tin và xác tín Thiên Chúa yêu thương và ban cho những điều vượt quá sự mong ước của chúng ta.

Lời cầu xin hằng ngày cũng là một thách đố lớn cho mỗi người chúng ta, không phải lúc nào chúng ta cũng đón nhận một kết quả mau lẹ như ý muốn. Thế nên, lại một lần nữa Chúa mời gọi chúng ta hãy kiên trì trong cầu nguyện. Thực vậy, trong bất cứ lãnh vực nào của cuộc sống con người, ai tập được tính kiên trì người đó kể như đã thành công.

Trong đời sống thiêng liêng cũng vậy, và còn hơn thế nữa, bởi suốt đời người Kitô hữu phải kiên trì cầu nguyện và tập luyện nhân đức mới mong sống gắn bó mật thiết được với Thiên Chúa. Cũng như thân xác không thể sống và phát triển được nếu con người không ăn uống, thì cũng thế, linh hồn con người không thể sống nếu không có cầu nguyện. Đặc biệt khi cầu nguyện phải  xác tín rằng: Thiên Chúa là Cha nhân từ luôn yêu thương chúng ta, Ngài có làm cho chúng ta được toại nguyện hay không, hoặc Ngài nhận lời chúng ta theo cách nào thì cũng đều là vì lợi ích cho linh hồn chúng ta mà thôi.

Nên khi cầu nguyện chúng ta hãy đến với Chúa với tấm lòng khiêm nhường hạ mình. Hãy trình bày cho Chúa tất cả những ưu tư, gánh nặng của mỗi người chúng ta như người con nhỏ bé đến với cha mình, và tin tưởng đón nhận những gì Thiên Chúa cho là tốt  đối với chúng ta nhất.

Thật vậy, cuộc đời ta càng gian truân, vật vả, khổ đau, thì ta càng khao khát được bình an, hạnh phúc, mà không có hạnh phúc đích thực nào ở trần gian này có thể so sánh được cái hạnh phúc vĩnh cửu là sự sống đời đời mai sau. Bởi vậy, điều Chúa muốn ta làm ấy là liên lỉ cầu xin cho được biết trung kiên khao khát món quà ân sủng của Ngài là Nước Trời mai hậu.

Nguyện xin Chúa củng cố chúng ta trong đời sống và tâm tình cầu nguyện, cho chúng ta biết xin những gì đẹp lòng Chúa và phó thác tất cả cho tình yêu thương quan phòng của Chúa.


Ý Nghĩa Của Kinh Lạy Cha

5/10     Thứ Tư trong tuần thứ Hai Mươi-Bảy Mùa Quanh Năm

Gl 2:1-2,7-14; Tv 117:1,2; Lc 11:1-4

Ý Nghĩa Của Kinh Lạy Cha

Trước mắt các môn đệ, hẳn là Đức Giêsu xuất hiện ra như là vị thầy về cầu nguyện. Còn trước mặt Người, các ông quả là những người đang chập chững tập cầu nguyện. Do đó, các ông đã xin Người dạy cầu nguyện. Đàng khác, vào thời Chúa Giê-su, các nhóm tôn giáo được phân biệt nhờ có một kiểu cầu nguyện riêng. Lời xin của các môn đệ Chúa Giê-su cho thấy các ông ý thức mình là một cộng đoàn.

Cầu nguyện với Thiên Chúa là Cha theo ý Chúa Giêsu muốn qua lời kinh Lạy Cha là một việc làm hết sức mới mẻ và đồng thời cũng hết sức đòi hỏi. Thói quen chúng ta đọc kinh Lạy Cha quá thường, làm cho chúng ta mất đi ý thức về sự mới mẻ và về đòi hỏi quan trọng đối với Thiên Chúa cũng như đối với anh chị em. Ðối với Thiên Chúa, mọi đồ đệ cần phải tôn vinh Ngài và vâng phục thánh ý Ngài. Ðối với anh chị em, người đồ đệ Chúa không thể nào tránh né bổn phận tha thứ như Chúa đã tha thứ. Chúng ta hãy ý thức lại để cho sự mới mẻ này đòi hỏi kinh Lạy Cha thấm nhập sâu vào con người chúng ta và hướng dẫn mọi hoạt động lớn nhỏ hàng ngày của người Kitô chúng ta.

Khi cầu nguyện, Chúa Giêsu muốn chúng ta đặt mình trong mối tương quan với Thiên Chúa là Cha và mọi người là anh em với nhau. Trong tương quan này, chúng ta đến với Thiên Chúa không như đầy tớ kêu xin chủ, mà là những người con cùng chia sẻ trách nhiệm với Cha; nếu không thì cần gì phải xin “cho danh thánh Cha vinh hiển, Triều Đại Cha mau đến”?

Bởi Thiên Chúa luôn muốn danh thánh Ngài vinh hiển, mà Thiên Chúa được vinh hiển khi con người được thông phần hạnh phúc với Ngài, bởi theo thánh Irênê: “Vinh quang của Thiên Chúa là con người được sống”: Thiên Chúa sẽ vinh hiển nếu con người không bỏ đói đồng loại của mình; Thiên Chúa sẽ vinh hiển nếu con người không hận thù cấu xé lẫn nhau; Thiên Chúa sẽ vinh hiển nếu con người biết lánh xa những điều xấu và không nô lệ cho sự dữ. Vì vậy, cầu xin là cách chúng ta mở lòng để sẵn sàng hành động cùng Thiên Chúa, còn không thì chúng ta xin sẽ chẳng được, vì chúng ta xin mà không biết mình xin gì! (Mc 10, 38).

“Nguyện cho danh thánh Cha vinh hiển” (c.2) là một lời cầu nguyện truyền giáo; là lời xin cho mọi người nhận ra sự hoàn mỹ tốt lành của Cha mà nhận biết Cha – Đấng tạo thành trời đất. Cách đặc biệt hơn như chúng ta đã từng biết: “Vinh quang Thiên Chúa là con người được sống và sống dồi dào” (Thánh I-rê-nê). Thế nhưng, ngày nay vẫn còn biết bao con người sống kiếp lam lũ lầm than, đói nghèo, không có điều kiện để sống đúng với nhân phẩm; những nạn kỳ thị chủng tộc, giai cấp, phân biệt đối xử giới tính; những trẻ em bị bóc lột sức lao động, không được chăm sóc; những nạn buôn người….

Tất cả làm nên một khoảng ‘trời đen’ của nhân loại khiến cho mọi con người, nhất là người Ki-tô hữu chân chính phải nhức nhối, không thể dửng dưng làm ngơ. Vì vậy, lời cầu xin cho “Danh thánh Cha vinh hiển” cũng là lời cầu nguyện cho nhân loại có được một cuộc sống dồi dào, hạnh phúc; có thể tận hưởng được những ân phúc, ân lộc mà Thiên Chúa ban cho qua thiên nhiên, qua vũ trụ và con người, hầu con người được sống xứng đáng với phẩm giá là con Thiên Chúa; và đồng thời biết chung tay xây dựng cuộc sống tốt đẹp; đẩy lui những bất công còn tồn đọng trong xã hội, thắp sáng ngọn lửa tin yêu xua đi những mây mù hắc ám góp phần làm lành mạnh môi trường sống của nhân loại.

“Xin cho chúng con lương thực hằng ngày” (c.3)

Lương thực là để nuôi dưỡng đời sống con người. Có lương thực nuôi dưỡng phần xác, có lương thực nuôi dưỡng tinh thần, có lương thực nuôi dưỡng linh hồn. Con người có đầy đủ những lương thực trên nuôi dưỡng thì mới phát triển hài hòa, quân bình hầu có đầy đủ năng lực để sống, làm việc và phục vụ với hết khả năng, nhiệt tâm và tình yêu.

Thế nhưng, ngày nay có rất nhiều người (nếu không nói là đại đa số) chỉ biết  chăm lo phát triển vật chất, thỏa mãn những nhu cầu thể lý, tìm kiếm ‘vinh thân phì gia’ mà đời sống tâm linh lại èo uột có nguy cơ chết yểu. Cái đói thể lý người ta có thể rất dễ nhận ra và dễ quan tâm; nhưng ngược lại, cái đói tâm linh thì người ta không dễ nhận ra và thường bỏ mặc không quan tâm, mặc dù nó là tác nhân gây ra nhiều hậu quả vô cùng tai hại ảnh hưởng đến hạnh phúc và đời sống sung mãn của con người. Chúng ta hãy cầu xin Cha ban cho chúng ta có đầy đủ lương thực hằng ngày để sống và thi hành ý Cha.

“Xin tha tội cho chúng con, vì chính chúng con cũng tha cho mọi người mắc lỗi với chúng con” (c. 4).

Điều kiện để được tha thứ là chính bản thân mình phải biết sống thứ tha. Tại sao tôi cầu mong Thiên Chúa tha thứ mọi tội lỗi tôi; tha nhân đối xử khoan dung đối với tôi, mà tôi lại hà khắc với người anh em. Tha thứ không phải là chuyện dễ làm. Tuy nhiên, chúng ta hãy mở lòng mình ra trước Thiên Chúa, khiêm tốn xin ơn chữa lành để ta có thể hòa giải với Thiên Chúa, với chính bản thân, để có thể sống hòa giải với tha nhân.

Bởi vì, nếu tôi không thể tha thứ cho chính mình thì tôi rất khó để có thể tha thứ cho người khác thật lòng. Có những người nhiệt tâm, thiện ý có thừa, họ cho rằng đối với bản thân họ thì việc tha thứ cho tha nhân thật dễ hơn là tha thứ cho chính mình rất nhiều. Chúng ta không thể phủ nhận suy nghĩ của họ.

Tuy nhiên, nó thường chỉ đúng khi người ta tha thứ những khuyết điểm của người khác mà những khuyết điểm ấy không trực tiếp làm tổn thương đến bản thân họ (nhất là đến danh dự, lòng tự trọng). Tôi biết có những người rất tốt lành, nhưng lại mang trong lòng những vết thương không xóa nổi; hay nói khác đi, tận đáy lòng họ chưa thể tha thứ cho người làm tổn hại đến mình, làm mất thanh danh tiếng tốt của mình. Họ có thể quên tạm thời, nhưng khi có những hoàn cảnh, sự kiện gợi đến, lòng họ vẫn sôi lên nỗi niềm cay đắng. Những vết thương như thế phải cần rất nhiều ơn Chúa để chữa lành và cho chúng ta thấy để sống tha thứ không phải là chuyện dễ. Xin Chúa giúp chúng ta biết sống khiêm tốn, chân nhận và chấp nhận những giới hạn của bản thân và sống khoan dung đối với tha nhân.

“Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ” (c.4)

Con người ngày nay phải đương đầu với rất nhiều thứ cám dỗ về danh, lợi, thú. Thậm chí người ta có thể coi nó là mục tiêu để đạt tới trong cuộc đời. Có những người để cho danh, lợi cuốn hút đến bất chấp thủ đoạn. Có những người chạy theo lạc thú trong những cuộc tình và coi nó như một ‘mốt thời thượng’ mà đánh mất tình yêu thủy chung, coi nhẹ đời sống hôn nhân gia đình…và còn biết bao nhiêu thứ cám dỗ khác nữa.

Vì vậy, lời cầu xin “chớ để chúng con sa chước cám dỗ” phải tha thiết hơn bao giờ hết – xin Chúa giúp chúng ta có được đôi mắt tâm linh sáng suốt để biết biện phân những giá trị cao đẹp trong cuộc đời và chọn chúng làm mục tiêu hướng tới để hoàn thành sứ mạng và ơn gọi mà Thiên Chúa trao phó cho mỗi con người.

Tin Mừng Thánh Matthêu ghi Kinh Lạy Cha trong văn mạch Chúa Giêsu đang dạy cho các môn đệ mình cách thi hành những việc đạo đức (làm việc đạo đức cách kín đáo, đừng phô trương). Còn Tin Mừng Lc ghi kinh này sau khi một môn đệ xin Chúa Giêsu dạy cho nhóm môn đệ mình một bài kinh riêng của nhóm, để phân biệt với các nhóm tín ngưỡng khác.

Như thế Kinh Lạy Cha là kinh nguyện độc đáo của Kitô giáo. Tìm hiểu Kinh Lạy Cha, ta có thể biết những điểm độc đáo của sự cầu nguyện Kitô giáo là gì. Điểm độc đáo đầu tiên là Kitô hữu được gọi Thiên Chúa là Cha (Abba) một cách rất thân thương gần gũi.


Lắng Nghe và Chiêm Niệm

4/10 Thứ Ba

Thánh Phanxicô thành Assisi, Tu Sĩ

Gl 1:13-24; Tv 139:1-3,13-14,14-15; Lc 10:38-42

Lắng Nghe và Chiêm Niệm

Thánh Phanxicô Assisi là một người nghèo hèn nhưng đã làm bàng hoàng và gây nguồn cảm hứng cho  Giáo hội bởi ngài sống sát với Phúc Âm – không trong ý nghĩa cực đoan hẹp hòi, nhưng thực sự sống theo những gì Ðức Giêsu Kitô đã nói và hành động, một cách vui vẻ, không giới hạn và không một chút tự tôn.

Cơn trọng bệnh đã giúp chàng thanh niên Phanxicô nhận ra sự trống rỗng của một đời sống vui nhộn khi còn là người thủ lãnh của  nhóm trẻ ở Assisi. Sự cầu nguyện – thật lâu giờ và thật kham khổ -đã giúp ngài trút bỏ mọi sự để theo gương Ðức Kitô, đến độ ngài đã ôm lấy một người cùi mà ngài gặp trên đường. Ðiều đó nói lên sự tuân phục những gì ngài đã nghe được trong khi cầu nguyện: “Phanxicô! Mọi sự con yêu quý và khao khát nơi thân xác con, thì đó chính là điều con phải khinh miệt và ghét bỏ, nếu con muốn biết ý định của Thầy. Và khi con bắt đầu thi hành điều này, tất cả những gì đối với con dường như ngọt ngào và đáng yêu sẽ trở nên quá quắt và cay đắng, nhưng tất cả những gì mà con thường hay tránh né sẽ trở nên thật ngọt ngào và cực kỳ vui sướng.”

Từ Thánh giá trong một nguyện đường bỏ hoang ở San Damiano, Ðức Kitô nói với ngài, “Phanxicô, hãy đi xây dựng nhà của Thầy, vì nó đã gần sụp đổ.” Phanxicô trở nên một người lao động hoàn toàn khó nghèo và thấp hèn.

Chắc chắn ngài đã đoán ra được ý nghĩa sâu xa hơn của câu “xây dựng nhà của Thầy.” Nhưng ngài không bằng lòng chấp nhận việc đi xin từng cục gạch về xây lại nguyện đường hoang phế ấy. Ngài từ bỏ tất cả những gì ngài có, ngay cả đống quần áo ngài cũng trao lại cho cha của mình (là người đòi Phanxicô bồi thường những gì ngài đã cho người nghèo), để ngài hoàn toàn thuộc về “Cha trên trời.” Thời gian ấy, ngài bị coi là một thầy tu quá khích, đi ăn xin từng nhà này sang nhà khác, khi ngài không thể kiếm ra tiền bằng cuộc việc của mình được, khiến các bạn cũ phải buồn rầu và ghê tởm, và bị những người thiếu suy nghĩ nhạo cười.

Nhưng cái gì thật sự chân chính tất phải dần dần  tỏ lộ. Người ta bắt đầu nhận ra rằng con người này đang cố gắng trở nên một Kitô hữu đích thực. Ngài thực sự tin vào điều Ðức Kitô dạy: “Hãy đi công bố nước trời! Ðừng mang theo vàng bạc, tiền của trong túi, đừng mang theo bao bị, giầy dép, gậy gộc” (Lc 9, 1-3).

Quy luật đầu tiên của Phanxicô cho những người muốn theo ngài là thu lượm tất cả những lời dạy của Phúc Âm. Ngài không có ý thành lập một dòng tu, nhưng một khi Tu hội thành hình, ngài đã bảo vệ nó và chấp nhận mọi hình thức tổ chức có cơ cấu luật pháp cần thiết để nâng đỡ nó. Sự tận tụy và trung thành với Giáo hội của ngài quả thật là điều tuyệt đối cần thiết và phải được đề cao trong một thời đại mà nhiều phong trào cải cách khác nhau lại dường như nhằm phá vỡ sự hợp nhất của Giáo hội.

Ngài bị xâu xé giữa một đời sống hoàn toàn tận hiến cho sự cầu nguyện và một đời sống tích cực rao giảng Tin Mừng. Và ngài đã quyết định theo đuổi đường rao giảng Tin Mừng, nhưng luôn luôn trở về sự tĩnh mịch bất cứ khi nào có cơ hội. Ngài muốn đến truyền giáo ở Syria và Phi châu, nhưng trong cả hai trường hợp ngài đều bị đắm tàu và đau nặng. Ngài cũng cố gắng hoán cải các vua Hồi giáo ở Ai Cập trong lần Thập tự Chinh thứ năm.

Trong những năm cuối cùng của cuộc đời ngắn ngủi (ngài từ trần khi 44 tuổi) ngài gần như mù và đau nặng. Hai năm trước khi chết, ngài được in năm Dấu thánh, là những vết thương thực sự của Ðức Kitô ở tay chân và cạnh sườn của ngài.

Trong giờ phút cuối cùng, ngài lập đi lập lại phần phụ thêm của Bài ca anh Mặt Trời, “Ôi lạy Chúa, con ca tụng Chúa vì người chị tử thần.” Ngài hát Thánh vịnh 141:

Trước thánh nhan Chúa, hỡi địa cầu, hãy rung chuyển,

trước thánh nhan Chúa Trời nhà Giacóp,

Người biến đá tảng thành hồ ao,

và sỏi đá nên mạch nước dồi dào.

Và khi đã đến giờ lìa đời, ngài xin cha bề trên cho ngài cởi quần áo ra để nằm chết trần truồng trên mặt đất, giống như Ðức Giêsu Kitô.

Thánh Phanxicô Assisi trở nên nghèo hèn chỉ vì ngài muốn giống Ðức Kitô. Ngài coi vũ trụ được tạo dựng như là một sự biểu lộ khác của vẻ đẹp của Thiên Chúa. Trong năm 1979,  ngài được đặt làm bổn mạng của khoa sinh thái. Ngài hãm mình phạt xác (để rồi sau này ngài phải xin lỗi anh “Thể xác”) để có thể hoàn toàn tuân thủ  Thánh ý Chúa. Sự khó nghèo của ngài đi đôi với sự khiêm tốn, mà nhờ đó ngài hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa tốt lành. Nhưng tất cả những điều ấy chỉ để dẫn vào tâm điểm của đời sống tâm linh của ngài: Sống đời sống Phúc Âm, đã được tóm lược nơi lòng bác ái của Chúa Giêsu và được tỏ lộ cách tuyệt hảo nơi Bí tích Thánh Thể.

Tin Mừng hôm nay có thể được lắng nghe và suy niệm với nỗi thao thức ấy. Chúa Giêsu hẳn không làm một cuộc so sánh về hai thái độ: một của Marta tất bật với việc tiếp đãi khách, và một của Maria ngồi bên chân khách để trò chuyện. Trong thực tế, cả hai thái độ này đều cần thiết: tinh thần hiếu khách được biểu lộ cụ thể và tích cực qua việc chuẩn bị bữa ăn, nhưng cũng được thể hiện không kém qua sự hàn huyên ân cần. Chúa Giêsu đề cao thái độ của Maria, nhưng không hề giảm thái độ của Marta. Ngài chỉ muốn mượn hình ảnh của Maria đang ngồi dưới chân Ngài để nói lên thái độ cơ bản mà con người phải có đối với Thiên Chúa, đó là thái độ lắng nghe và chiêm niệm.

Hơn bao giờ hết, sự hiện diện của những người hiến dâng cho việc cầu nguyện và chiêm niệm là một trong những kho tàng quí giá nhất của thời đại chúng ta, để nhắc nhở cho thế giới rằng cuộc sống con người không chỉ giản lược vào điều mà thánh Phaolô gọi là chuyện ăn, chuyện uống, tôn thờ cái bụng, và rằng cuộc sống chỉ có giá trị và đứng vững vì chính chiều kích siêu việt, thiêng liêng của nó.

Trong một bài nói chuyện với các nữ tu của một Dòng Kín tại Mêhicô năm 1979, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã đề cao sự hy sinh của họ như sau:

“Cuộc sống của chị em quan trọng hơn bao giờ hết; sự hiến thân trọn vẹn của chị em đầy tính thời sự. Trong một thế giới đang đánh mất dần ý thức về thần linh, trong một thế giới đề cao quá mức những thực tại vật chất, hỡi các nữ tu thân mến, các chị lại dấn thân vào các tu viện Kín để làm chứng cho những giá trị mà các chị sống cho. Các chị là những chứng nhân của Chúa cho thế giới ngày nay; với lời cầu nguyện, các chị đang thổi một luồng sinh khí mới vào trong Giáo Hội và con người ngày nay”.

Những lời của Ðức Gioan Phaolô II không chỉ đề cao chứng từ của các Tu sĩ chiêm niệm, mà còn nhắc nhở cho các Kitô hữu về chính chứng từ của sự cầu nguyện của họ. Có những người hiến thân trọn vẹn cho sự cầu nguyện, nhưng cầu nguyện không phải là độc quyền của một số người, mà phải là hơi thở cho tất cả những ai có niềm tin. Có những giây phút dành cho việc cầu nguyện đã đành, nhưng người Kitô hữu phải sống thế nào để biến cả cuộc sống của họ thành lời cầu nguyện. Chiêm niệm không chỉ là hoạt động dành riêng cho một số người hay một số giờ hoặc một số nơi nhất định. Chiêm niệm chính là thái độ tìm kiếm, lắng nghe và suy niệm bao trùm mọi sinh hoạt của người Kitô hữu.

Nguyện xin Chúa nung nấu sự khát khao trong tâm hồn chúng ta, để chúng ta luôn hướng về Ngài, tìm kiếm Ngài và kết hiệp với Ngài trong mọi sự. Nguyện xin Mẹ Maria là Ðấng luôn cất giữ và suy niệm mọi sự trong lòng, hướng dẫn chúng ta trong thái độ cầu nguyện và chiêm niệm của Mẹ.